Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hai Mươi

❊ ❊ ❊

Một lớp tuyết mới phủ kín sân nhà thương điên, không phải màn tuyết lắc rắc của đêm Giáng sinh, mà một trận tuyết đổ cao bằng đầu người của tháng Giêng, thứ tuyết đủ để đóng cửa cả trường học, công sở và nhà thờ, để lại một hay nhiều trang trống trơn trên sổ ghi chép, sổ công tác và những lịch trình.

Một tuần nữa, nếu tôi vượt qua kỳ phỏng vấn của Ban giám đốc, chiếc xe đen lớn của Philomena Guinea sẽ chở tôi về phía tây và để tôi lại trước cánh cổng sắt của trường đại học.

Đúng giữa mùa đông!

Massachusetts sẽ chìm trong thanh tĩnh như đá cẩm thạch. Tôi hình dung những ngôi làng tuyết trong tranh của Grandma Moses[1], những dải đầm lầy xào xạc tiếng cỏ hương bồ xơ xác, những cái vũng nhỏ nơi loài ếch nhái và cá nheo mơ màng dưới lớp váng băng, và những cánh rừng đu đưa.

Nhưng bên dưới mặt tuyết phẳng như đá và tinh khiết đó, địa hình địa vật vẫn như cũ, và thay vì châu Âu hay San Francisco hay Sao Hỏa, tôi vẫn chỉ thấy một phong cảnh ấy, với sông suối, núi đồi, và cỏ cây. Về mặt nào đó, sau sáu tháng sa ngã, dường như việc khởi đầu lại từ nơi mà tôi đã kiên quyết từ bỏ chỉ là một chuyện vặt.

Dĩ nhiên mọi người sẽ biết chuyện tôi.

Bác sĩ Nolan đã thẳng thắn nói rằng nhiều người sẽ đối đãi thận trọng với tôi, hoặc thậm chí né tránh tôi, như né người hủi đeo chuông vậy. Khuôn mặt của mẹ tôi trong lần đầu mà cũng là lần cuối bà đến viện tâm thần kể từ sinh nhật lần thứ hai mươi của tôi, bồng bềnh trong đầu như một vầng trăng nhợt nhạt oán thán. Có một đứa con gái trong nhà thương điên! Tôi đã mang họa đến cho bà. Dù vậy, rõ ràng bà đã quyết định tha thứ cho tôi.

“Ngã ở đâu thì lại đứng lên ở đó, Esther.” Bà nói với nụ cười ngọt ngào của người vì nghĩa quên thân. “Chúng ta sẽ vờ như đó chỉ là một cơn ác mộng.”

Một cơn ác mộng.

Đối với người ở trong quả chuông thủy tinh, trống rỗng và ngưng đọng như một đứa bé chết non, bản thân thế giới là một cơn ác mộng.

Một cơn ác mộng.

Tôi nhớ rõ mọi thứ.

Tôi nhớ về những tử thi, về Doreen, về câu chuyện về cây vả, về viên kim cương của Marco, người thủy thủ trên tàu Common, cô y tá mắt lác của bác sĩ Gordon với cái nhiệt kế vỡ, tay da đen phục vụ hai loại đậu, chín cân mà tôi đã tăng vì tiêm insulin và hòn đá nổi lên giữa trời và biển như một cái đầu lâu xanh.

Có lẽ sự quên lãng, như một thứ băng tuyết, sẽ làm chúng tê cóng và khuất lấp.

Nhưng chúng là một phần của tôi. Chúng là khung cảnh trong tôi.

“Một người đàn ông muốn gặp chị!”

Cô y tá lấm lem tuyết tươi cười thò đầu vào cửa, và trong một thoáng bối rối, tôi tưởng chừng như mình thật sự đã quay lại trường đại học, với những đồ đạc đỏm dáng màu trắng, phong cảnh đồi núi và cây cỏ trắng xóa, bàn ghế sứt mẻ đã được thay mới trong căn phòng cũ, và quang cảnh sân trường trơ trụi. “Một người đàn ông muốn gặp chị!” Cô gái trực nhật vừa nói qua điện thoại ký túc xá.

Có gì khác biệt giữa chúng tôi, những người ở Belsize và những cô gái chơi bài bridge, tán gẫu và học hành ở trường đại học, nơi tôi sẽ trở về? Những cô gái ấy cũng ở trong một quả chuông nào đó thôi!

“Mời vào!” Tôi nói và Buddy Willard, cầm mũ lưỡi trai kaki trên tay, bước vào.

“Ồ, Buddy.” Tôi nói.

“Ừ, Esther.”

Chúng tôi đứng đó, nhìn nhau. Tôi chờ đợi một chút cảm động, một chút xao xuyến dù chỉ thoáng qua. Không có gì. Không có gì ngoài nỗi chán ngán ghê gớm. Hình dáng Buddy trong chiếc áo khoác kaki có vẻ nhỏ bé và xa lạ với tôi như những cây cột nâu mà anh ta đứng dựa lưng vào ngày này năm ngoái ở cuối bãi trượt tuyết.

“Anh đến đây bằng gì?” Cuối cùng tôi hỏi.

“Bằng xe của mẹ.”

“Giữa trời tuyết thế này?”

“Ừ.” Buddy cười. “Anh mắc kẹt trong một trận mưa tuyết ngoài kia. Đụn tuyết to tướng. Anh có thể mượn xẻng ở đâu không?”

“Có thể mượn xẻng ở chỗ người coi sân bãi.”

“Tối quá.” Buddy quay đi.

“Đợi chút, để em phụ giúp anh.”

Buddy nhìn tôi và trong mắt anh ta, tôi thấy lóe lên một tia sáng kỳ lạ - vẫn cái vẻ tò mò xen lẫn cảnh giác mà tôi thấy trong mắt nữ khoa học gia Thiên Chúa giáo, trong mắt thầy giáo tiếng Anh cũ của tôi và trong mắt cha xứ nhà thờ Giáo hội Nhất Thể, những người thường đến thăm tôi.

“Ồ, Buddy,” tôi cười, “em khỏe mà.”

“Ồ, anh biết, anh biết Esther.” Buddy vội vã nói.

“Chính anh mới là người không nên đi xúc cái xe ra khỏi tuyết, chứ không phải em.”

Và Buddy để mặc tôi làm gần hết.

Chiếc xe bị trượt trên đường đồi trơn bóng dẫn đến nhà thương điên và một bánh xe trượt khỏi đường khiến nó bị ngập hẳn trong tuyết.

Mặt trời nhô lên khỏi màn mây xám, chiếu ánh sáng rực rỡ của mùa hè xuống sườn dốc hiu quạnh. Ngừng tay đứng nhìn xuống dải đất hoang sơ ấy, tôi cảm thấy nỗi phấn khích sâu thẳm như khi nhìn cơn đại hồng thủy nuốt trôi cây cối và đồng cỏ cao ngang lưng - như thể trật tự thường ngày của thế giới đã dịch chuyển đôi chút và bước vào một giai đoạn mới.

Tôi biết ơn chiếc xe và đống tuyết. Nó đã ngăn Buddy hỏi tôi cái câu mà tôi biết anh sẽ hỏi, và cuối cùng anh ta đã hỏi, bằng một giọng thì thầm và âu lo trong bữa trà chiều ở Belsize. DeeDee quan sát chúng tôi qua miệng tách trà của cô ta như một con mèo ghen tị. Sau cái chết của Joan, cô ta đã phải trở lại Wymark một thời gian, nhưng giờ cô ta ở lại đây với chúng tôi.

“Anh thường băn khoăn…” Buddy đặt tách trà xuống đĩa với tiếng lách cách vụng về.

“Anh băn khoăn điều gì?”

“Anh thường băn khoăn… Ý anh là, anh nghĩ em có thể nói cho anh biết điều gì đó.” Buddy bắt gặp ánh mắt tôi và lần đầu tiên tôi thấy anh ta đã thay đổi như thế nào. Thay cho nụ cười tự tin trước kia, thường xuyên xuất hiện dễ dàng như ánh đèn flash của người thợ chụp ảnh, giờ đây khuôn mặt anh ta trang nghiêm, thậm chí dè dặt - khuôn mặt của một người thường không đạt được những gì mình muốn.

“Em sẽ nói những gì có thể, Buddy ạ.”

“Em có nghĩ rằng có gì đó trong anh khiến cho phụ nữ phát điên không?”

Không kìm được, tôi cười phá lên, có lẽ vì vẻ nghiêm trọng trên khuôn mặt Buddy và cái nghĩa phổ biến của từ “phát điên” trong một câu hỏi như thế.

“Ý anh là,” Buddy vội vàng, “anh hẹn hò với Joan, rồi với em và đầu tiên là em… đi, rồi sau đó là Joan…”

Tôi lấy một ngón tay đẩy mẩu bánh mì vào một giọt trà nâu còn đọng lại.

“Dĩ nhiên không phải tại anh!” Tôi nghe như tiếng bác sĩ Nolan nói. Tôi đã hỏi bà về Joan và đó là lần duy nhất tôi nhớ cái giọng giận dữ của bà: “Không ai gây ra điều đó. Cô ta tự gây ra.” Rồi bác sĩ Nolan kể cho tôi về những bác sĩ tâm thần giỏi nhất cũng có một số bệnh nhân của họ tự tử, và nếu có người phải chịu trách nhiệm thì chính là bản thân họ, nhưng trái lại, nhiều người đã chối bỏ việc đó…

“Anh không phải băn khoăn về chúng tôi, Buddy.”

“Thật chứ?”

“Chắc chắn.”

“Vậy tốt quá,” Buddy thở ra, “nhẹ cả người.”

Rồi anh ta uống cạn tách trà của mình như một chén thuốc bổ.

***

“Tớ nghe nói cậu sắp rời đi.”

Tôi nhịp bước bên cạnh Valerie cùng vài người y tá. “Chỉ khi nào bác sĩ đồng ý. Tớ có cuộc phỏng vấn ngày mai.”

Tuyết vón cục nghiến ken két dưới chân, tôi nghe âm thanh nước chảy và nhỏ giọt thánh thót khắp nơi, vì mặt trời ban trưa đang làm tan những cột băng và lớp tuyết cứng, nhưng chúng sẽ rắn chắc và bóng loáng trở lại trước khi màn đêm buông xuống.

Dưới ánh nắng tưng bừng đó, bóng những cây thông đen túm tụm ngả màu hoa oải hương tím, tôi đi dạo một lát với Valerie, xuôi theo cái mê cung quen thuộc của những con đường mòn đã được dọn sạch tuyết trong nhà thương điên. Bác sĩ, y tá và bệnh nhân lướt trên lối đi san sát giống như đang di chuyển trên bánh xe, bị tuyết che khuất ngang lưng.

“Phỏng vấn!” Valerie khịt mũi. “Tầm phào ấy mà! Nếu họ muốn cho cậu ra, họ sẽ cho ra thôi.”

“Hy vọng là thế.”

Trước bậc thềm Caplan, tôi tạm biệt khuôn mặt dửng dưng, giống như Công chúa Tuyết của Valerie, tựa hồ bất cứ mảy may điều gì, dù tốt hay xấu, đều chẳng quan hệ tới cô, tôi đi tiếp một mình, thở ra khói trắng ngay cả trong không khí đầy ánh nắng như thế này. Tiếng kêu vui vẻ cuối cùng của Valerie là: “Tạm biệt nhé! Hẹn gặp lại.”

“Mong là không.” Tôi nghĩ thầm.

Nhưng tôi không dám chắc. Tôi không dám đảm bảo. Làm sao tôi có thể biết được một ngày nào đó - ở trường đại học, ở châu Âu, bất kỳ đâu - quả chuông ác mộng kia, với sự méo mó đến ngạt thở, sẽ không chụp xuống một lần nào nữa?

Và Buddy đã chẳng nói, như để tự trả thù bản thân vì để mặc tôi đào cái xe lên, còn anh ta phải đứng xem, rằng “Anh tự hỏi không biết bây giờ em sẽ cưới ai, Esther?”

“Gì cơ?” Tôi nói, xúc một xẻng đầy tuyết đổ thành đống và nheo mắt tránh trận mưa lấp lánh những bông tuyết mềm.

“Anh tự hỏi không biết bây giờ em sẽ cưới ai, Esther? Khi em đã ở đây,” Buddy khoa tay, bao bọc cả ngọn đồi, hàng thông và những tòa nhà băng phủ kín, phá vỡ khung cảnh hài hòa.

Và dĩ nhiên tôi không biết ai sẽ cưới mình khi tôi đã kinh qua từng ấy chuyện. Tôi tuyệt nhiên không biết.

***

“Tôi có một hóa đơn ở đây, Irwin ạ.”

Tôi nói lặng lẽ vào ống nghe điện thoại trả tiền trong hành lang lớn của khu quản trị nhà thương điên. Lúc đầu tôi ngờ người trực điện thoại ngồi bên bảng nút có thể nghe trộm, nhưng cô ta chỉ tiếp tục cắm và rút những cái nút nhỏ xíu, không hề liếc mắt.

“Được thôi.” Irwin đáp.

“Hóa đơn 20 đô la cho một lần khám khẩn cấp vào tháng Mười hai và tái khám một tuần sau đó.”

“Được thôi.” Irwin nói.

“Bệnh viện nói họ gửi tôi hóa đơn này vì không thấy trả lời từ phía anh.”

“Được rồi, được rồi, anh sẽ viết séc bây giờ. Anh sẽ viết một tờ séc trống.” Giọng của Irwin thoáng thay đổi. “Khi nào anh sẽ gặp em?”

“Anh thực sự muốn biết ư?”

“Rất muốn.”

“Không bao giờ.” Tôi nói và cúp máy một cách dứt khoát.

Tôi thoáng tự hỏi liệu Irwin có gửi tấm séc đến bệnh viện không, rồi lại nghĩ: “Dĩ nhiên anh ta sẽ gửi, anh ta là một giáo sư Toán học, anh ta sẽ không muốn hở ra manh mối nào.”

Không hiểu sao tôi cảm thấy phấn khích và thanh thản khôn cùng.

Giọng nói của Irwin chẳng có nghĩa lý gì với tôi.

Kể từ lần đầu và cũng là lần cuối gặp nhau, đây là cuộc trò chuyện đầu tiên của tôi với anh ta, tôi chắc chắn rằng đó sẽ là lần cuối cùng. Irwin hoàn toàn không có cách nào để liên lạc với tôi, trừ khi đến căn hộ của cô y tá Kennedy, nhưng sau khi Joan mất, cô y tá đã chuyển đi nơi khác không để lại dấu vết.

Tôi hoàn toàn tự do.

***

Cha mẹ Joan mời tôi đến dự đám tang.

Bà Gilling bảo tôi là một trong những người bạn thân nhất của Joan.

“Em không bắt buộc phải đi, em biết đấy,” bác sĩ Nolan bảo tôi. “Em có thể viết thư cho họ rằng chị bảo em không nên tham dự.”

“Em sẽ đi.” Tôi đáp và tôi đã đi. Suốt lễ tang giản dị đó, tôi tự hỏi mình đang chôn cất điều gì.

Trên ban thờ và bên chiếc quan tài nằm lọt thỏm giữa những tràng hoa nhợt nhạt phủ tuyết, là bóng đen của một thứ gì đó không còn nữa. Những khuôn mặt trên các dãy ghế quanh tôi ngả màu sáp dưới ánh nến, và những cành thông, còn sót lại từ Giáng sinh, gửi vào không khí lạnh giá một mùi hương tang tóc.

Bên cạnh tôi, đôi má Jody đỏ hồng như hai trái táo ngon, và đây đó tôi nhận ra khuôn mặt của những cô gái ở trường đại học và ở thành phố quê nhà, những người quen biết Joan. DeeDee và cô y tá Kennedy ở hàng ghế phía trước cúi mái đầu trùm khăn của họ.

Rồi phía sau quan tài, những bông hoa, khuôn mặt của cha xứ và những người tới chia buồn, tôi thấy bãi cỏ bao bọc quanh nghĩa trang thành phố, giờ đây ngập trong tuyết đến đầu gối, những bia mộ đá nhô lên như những ống khói không có khói.

Sẽ có một cái hố đen ngòm sâu gần hai mét đào trong đất cứng. Bóng đen này sẽ nuốt bóng đen kia và lớp đất màu vàng đặc chủng nơi đây sẽ hàn gắn vết thương màu trắng, và rồi một lớp tuyết khác sẽ lấp đi những dấu vết mới mẻ trên ngôi mộ Joan.

Tôi hít một hơi thật dài và lắng nghe tiếng đập quen thuộc của trái tim mình.

Tôi tồn tại, tôi tồn tại, tôi tồn tại.

***

Các bác sĩ đang họp giao ban hàng tuần - việc cũ, việc mới, chấp nhận, từ chối, và phỏng vấn. Tôi bồn chồn lật giở cuốn Địa lý quốc gia rách nát trong thư viện, đợi đến lượt mình.

Bệnh nhân cùng y tá đi kèm bước lòng vòng qua những kệ sách, thấp giọng trò chuyện với cô thủ thư, cũng là một nữ sinh trong viện tâm thần. Liếc nhìn cô ta - cận thị, giống một gái già, khá nổi bật - tôi tự hỏi làm thế nào cô ta biết mình đã hoàn toàn tốt nghiệp, và không giống những vị khách, cô ta bình an và mạnh khỏe.

“Đừng sợ,” bác sĩ Nolan nói, “chị cũng ở đó cùng những bác sĩ khác, em biết mà. Có vài vị khách và bác sĩ Trưởng khoa Vining, sẽ hỏi em vài câu, rồi em có thể đi.”

Nhưng bất chấp lời bảo đảm của bác sĩ Nolan, tôi vẫn sợ chết khiếp.

Tôi đã hy vọng rằng, lúc bước vào, tôi sẽ cảm thấy vững tâm và hiểu rõ những gì phía trước - rốt cuộc tôi đã được “phân tích”. Thay vào đó tất cả những gì tôi thấy là những dấu chấm hỏi.

Tôi tiếp tục ném những cái nhìn bồn chồn về phía cửa phòng họp đóng chặt. Đường may trên tất dài của tôi thẳng tắp, đôi giày đen đã nứt nẻ nhưng được đánh bóng loáng, bộ đồ len đỏ rực rỡ như tôi mong muốn. Vài thứ mới, vài thứ cũ…

Nhưng không phải tôi sắp làm đám cưới. Nên tôi nghĩ sẽ có một lễ nghi nào đó cho lần sinh thứ hai này - chắp nối, vá víu và được chấp nhận - tôi đang cố tìm từ gì cho thích hợp thì bác sĩ Nolan bỗng hiện ra và vỗ nhẹ vào vai tôi.

“Đi nào, Esther.”

Tôi đứng lên và đi theo bà đến cửa phòng đang mở.

Dừng lại lấy hơi trên ngưỡng cửa, tôi thấy vị bác sĩ tóc bạc, người đã nói với tôi về những con sông và những người hành hương vào ngày đầu tiên tôi đến đây, khuôn mặt tái nhợt như xác chết, lỗ rỗ của cô Huey, cùng những đôi mắt mà tôi nghĩ là mình nhận ra sau những khẩu trang trắng.

Những con mắt và khuôn mặt cùng quay cả về phía tôi, và được chúng hướng dẫn, như thể bằng một cuộn chỉ thần kỳ, tôi bước vào phòng.

HẾT

❀ ❀ ❀

[1] Tên thật là Anna Mary Robertson Moses, họa sĩ bắt đầu vẽ tranh từ tuổi 78.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.