Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tám

❊ ❊ ❊

Ông Willard lái xe đưa tôi tới Adirondacks.

Hôm đó là một ngày sau lễ Giáng sinh, bầu trời xám xịt lơ lửng trên đầu, xung quanh toàn là tuyết. Tôi cảm thấy nhộn nhạo trong dạ dày, ngơ ngẩn và thất vọng, tôi luôn trở nên như vậy ngay sau lễ Giáng sinh, như thể những cành thông và đèn nến, những món quà lấp lánh trang kim, ngọn lửa trong lò sưởi, con gà tây dành cho Giáng sinh và cả tiếng đàn hát được hứa hẹn, cuối cùng đều khiến tôi hụt hẫng.

Cứ đến lễ Giáng sinh, hầu như tôi lại ước mình là người Công giáo.

Ban đầu, ông Willard lái xe rồi tới phiên tôi lái. Tôi không biết chúng tôi đang nói về chuyện gì, nhưng cảnh đồng quê chìm sâu dưới những lớp tuyết phủ, bày ra một triền núi ảm đạm, những cây linh sam mọc tràn từ những ngọn đồi xám vươn tới tận ven đường, một màu xanh thăm thẳm chuyển sắc đen, tôi mỗi lúc lại cảm thấy buồn chán hơn.

Tôi thực muốn bảo ông Willard đi tiếp một mình, còn tôi sẽ đi nhờ xe trở về nhà.

Nhưng khi thoáng nhìn khuôn mặt của ông Willard - mái tóc bạc húi cua như trẻ con, cặp mắt xanh trong, đôi má hồng hào, tất cả pha tuyết sương như chiếc bánh ngọt trong đám cưới, toát lên vẻ ngây thơ, đáng tin cậy - tôi biết là mình không thể làm vậy. Tôi phải thực hiện chuyến thăm viếng này tới cùng.

Trưa đến, bầu trời bớt xám xịt đi đôi chút, chúng tôi đậu xe tại một khúc quẹo phủ băng, chia nhau những chiếc sandwich kẹp cá ngừ, bánh quy yến mạch, vài trái táo và một bình cà phê đen mà bà Willard đã chuẩn bị sẵn cho bữa trưa của chúng tôi.

Ông Willard hiền hậu nhìn tôi. Sau đó ông hắng giọng và phủi những mẩu bánh vương trên áo. Tôi tin rằng ông sắp sửa nói ra một điều gì đó hệ trọng bởi vì ông rất nhút nhát, tôi đã nghe ông hắng giọng kiểu đó trước diễn thuyết một buổi hội thảo quan trọng về kinh tế học.

“Nelly và bác luôn muốn có một đứa con gái.”

Trong một thoáng điên rồ, tôi cứ tưởng ông Willard sắp sửa bảo rằng bà Willard mang bầu và họ đang mong đợi một đứa con gái. Rồi ông nói: “Nhưng bác chưa thấy một đứa con gái nào tốt hơn cháu.”

Ông Willard hẳn sẽ nghĩ rằng tôi phải phát khóc vì sung sướng khi ông nói muốn trở thành bố tôi. “Nào, nào,” ông vỗ nhẹ lên vai tôi rồi hắng giọng một hay hai lần nữa. “Bác nghĩ chúng ta hiểu nhau mà.”

Ông mở cửa xe phía bên mình rồi vòng qua phía bên tôi, hơi thở của ông phả lên thành làn khói ngoằn ngoèo trong không khí màu xám. Tôi chuyển sang chỗ mà ông vừa để lại, ông nổ máy xe và chúng tôi đi tiếp.

Tôi không chắc mình đang mong chờ gì nơi dưỡng đường Buddy đang điều trị.

Tôi nghĩ mình mong chờ một biệt thự bằng gỗ nằm trên đỉnh một ngọn núi thấp, với những thanh niên nam nữ có đôi má ửng hồng, tất cả đều đẹp đẽ chỉ trừ đôi mắt ánh lên bệnh lao phổi, đang nằm dưới những tấm chăn dày trên ban công ngoài trời.

“Mắc bệnh lao cũng giống như sống với một trái bom trong phổi,” Buddy từng gửi thư cho tôi như thế. “Ta chỉ biết nằm yên lặng, hy vọng nó sẽ không nổ.”

Tôi thấy khó tưởng tượng ra cảnh Buddy nằm yên. Toàn bộ triết lý sống của anh là phải hoạt động từng giây một. Ngay cả dạo chúng tôi đi nghỉ hè ở bãi biển, anh cũng không bao giờ chịu nằm yên phơi nắng giống như tôi. Anh chạy tới chạy lui, chơi bóng hoặc hít đất liên tục để giết thời gian.

Ông Willard và tôi ngồi trong phòng tiếp khách đợi giờ tĩnh dưỡng điều trị buổi chiều chấm dứt.

Toàn bộ dưỡng đường xem ra được thiết kế toàn một màu nâu đỏ của gan. Đồ gỗ màu đen thẫm, ghế da màu nâu xém, những bức tường trước đây hẳn là màu trắng nhưng đã phải đổi màu bởi mốc meo và ẩm thấp. Một tấm thảm nâu lốm đốm được trải kín sàn nhà.

Trên một chiếc bàn cà phê thấp, những vệt bẩn tròn và bán nguyệt hằn lên lớp gỗ sẫm, tôi thấy một vài số tạp chí cũ Time và Life. Tôi giở trang giữa tờ gần nhất. Khuôn mặt của Eisenhower đang rạng rỡ nhìn tôi, cái đầu hói và sắc diện vô hồn tựa khuôn mặt của một bào thai đựng trong bình.

Một lúc sau, tôi nghe tiếng nước chảy ri rỉ. Thoạt tiên tôi cứ nghĩ là do hơi ẩm tích tụ trên vách tường nứt nhỏ xuống, nhưng rồi tôi nhận ra nó xuất phát từ một vòi phun nhỏ ở góc phòng.

Vòi phun này là một đoạn ống chỉ vài inch nhô ra từ một đường ống thô ráp, từ đó yếu ớt phun lên một ít bọt nước nhỏ, và rớt ngay xuống một chậu đá chứa thứ nước vàng khè, chẳng làm sủi chút tăm nào. Đáy chậu lót bằng gạch trắng hình lục lãng thường thấy trong các phòng vệ sinh công cộng.

Có tiếng chuông reo, tiếng mở cửa và khép lại từ xa. Sau đó Buddy bước vào.

“Chào bố.”

Buddy ôm lấy bố, và ngay lập tức mặt mày rạng rỡ, anh đi về phía tôi và chìa tay ra. Chúng tôi bắt tay nhau, bàn tay anh mập mạp và ẩm ướt.

Ông Willard và tôi ngồi xuống ghế đi văng bọc da. Buddy ngồi trên mép của chiếc ghế bành đối diện. Anh không ngừng mỉm cười như thể có một sợi dây vô hình nào đó treo khóe miệng anh lên.

Tôi ngàn vạn lần không mong muốn Buddy sẽ phát phì. Bất cứ lúc nào tôi hình dung về anh ở dưỡng đường này, tôi đều thấy đôi má hóp trơ xương và đôi tròng mắt lọt giữa những hốc mắt không chút thịt.

Nhưng giờ những chỗ lõm trên người Buddy đột nhiên phình ra. Bụng anh căng phồng dưới lớp áo nylon màu trắng chật ních, đôi má tròn trĩnh và hồng hào như một cặp trái hạnh. Ngay cả tiếng cười của anh cũng đầy vẻ no đủ.

Anh bắt gặp ánh mắt của tôi. “Do ăn nhiều đấy,” anh nói. “Hết ngày này qua ngày khác, họ nhồi nhét và chỉ cho bọn anh nằm thôi. Nhưng đừng lo, bây giờ anh đã được phép có giờ đi dạo ra ngoài, chắc chắn anh sẽ gầy bớt sau vài tuần nữa.” Anh nhảy nhót, cười tươi tắn ra vẻ chủ nhà. “Em có muốn tham quan phòng anh không?”

Tôi nối bước Buddy, còn ông Willard theo sau tôi, đi qua đôi cánh cửa lùa bằng thủy tinh mờ, xuống một hành lang âm u màu nâu sẫm như gan, phảng phất mùi sáp và một mùi mơ hồ như hoa dành dành bị vò nát.

Buddy mở một cánh cửa màu nâu và chúng tôi bước vào trong một căn phòng hẹp.

Chiếc giường lộn xộn, trải ga trắng có sọc nhỏ màu xanh, chiếm phần lớn không gian. Cạnh đó là bàn ngủ có đặt bình nước và một cái ly, chiếc nhiệt kế bạc cắm trong một cái bình khử trùng màu hồng. Một cái bàn khác, chất hàng đống sách, giấy má và một lô chậu đất nung lớn nhỏ có phủ sơn nằm giữa chân giường và cánh tủ.

“Ồ,” ông Willard hít một hơi. “Xem ra cũng tiện nghi đấy.”

Buddy bật cười.

“Những cái này là gì?” Tôi cầm lên một cái gạt tàn bằng đất sét có hình lá hoa súng với những nét gân vàng tinh tế trên nền xanh. Buddy vốn không hút thuốc.

“Cái gạt tàn,” Buddy nói, “dành cho em đấy.”

Tôi đặt cái gạt tàn xuống: “Em có hút thuốc đâu.”

“Anh biết,” Buddy nói. “Dẫu vậy anh nghĩ có thể em sẽ thích nó.”

“Nào,” ông Willard mím đôi môi mỏng dính như tờ giấy. “Bố nghĩ mình phải đi thôi. Để cánh trẻ các con lại với nhau…”

“Vâng. Bố cứ đi đi ạ.”

Tôi rất ngạc nhiên. Tôi cứ tưởng thế nào ông Willard sẽ ngủ lại đây một đêm để sáng hôm sau đưa tôi về.

“Cháu cũng về chứ ạ?”

“Ồ không,” ông Willard rút vài tờ giấy bạc trong ví ra đưa cho Buddy. “Kiếm cho Esther một chỗ ngồi tốt trên xe lửa. Nó có thể ở lại đây một vài ngày.”

Buddy tiễn bố ra cửa.

Tôi cảm thấy như bị ông Willard bỏ rơi. Hẳn ông đã lên kế hoạch từ trước, nhưng Buddy cho rằng không phải thế, đơn giản chỉ vì bố anh ta không chịu nổi cảnh ốm đau, đặc biệt là của chính con trai mình. Ông nghĩ rằng mọi bệnh từ tâm sinh. Cả đời ông chưa bao giờ ốm lấy một ngày.

Tôi ngồi xuống giường của Buddy. Đơn giản vì chẳng còn chỗ nào khác để ngồi.

Buddy lục lạo trong đống giấy má ra vẻ nghiêm túc. Rồi anh ta trao cho tôi một tờ tạp chí mỏng bìa xám: “Mở trang mười một.”

Tờ tạp chí xuất bản đâu đó ở Maine đầy ắp thơ và những đoạn văn tự thuật, ngăn cách nhau bằng những dấu hoa thị. Ở trang mười một tôi đọc được một bài thơ nhan đề Bình minh ở Flonda. Tôi lướt qua hết bức hình này đến bức hình khác, những ngọn đèn hình trái dưa, những cây cọ màu xanh đồi mồi và những vỏ sò có khía như những kiến trúc cổ Hy Lạp.

“Không tệ.” Mặc dù tôi thấy chúng dở ẹc.

“Ai viết thế?” Buddy hỏi với nụ cười ngây ngô, kỳ lạ.

Mắt tôi nhìn xuống tên tác giả phía dưới, bên góc phải của trang giấy: BS. Willard.

“Em không biết,” nhưng tôi nói liền lúc đó. “Tất nhiên rồi, em biết là anh, Buddy. Anh đã viết bài thơ đó.”

Buddy dấn về phía tôi.

Tôi dịch ra sau. Tôi biết rất ít về bệnh lao phổi, và tôi cho rằng đó là một thứ bệnh rất nguy hiểm, bởi diễn biến âm thầm của nó. Tôi nghĩ Buddy chắc chắn đang mang trong mình những mầm bệnh lao chết người đó.

“Đừng lo,” Buddy cười lớn. “Không phải dương tính đâu.”

“Dương tính?”

“Em sẽ không bị lây đâu.”

Buddy ngừng lại lấy hơi, như thể đang leo giữa chừng một con dốc thẳng đứng.

“Anh muốn hỏi em một điều,” gần đây anh chàng học được một thói quen xấu, xoáy cái nhìn vào mắt tôi như muốn xuyên vào đầu để biết rõ những gì đang diễn ra trong đó.

“Anh từng nghĩ nên viết thư hỏi em.”

Một chiếc phong bì xanh nhạt có phù hiệu Yale ở mặt sau lướt qua mắt tôi.

“Nhưng rồi anh quyết định tốt hơn nên chờ em tới,” anh ngưng lại. “Em không muốn biết đó là chuyện gì sao?”

“Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi bằng một giọng không hứa hẹn.

Buddy ngồi xuống bên cạnh tôi. Anh lấy tay ôm ngang lưng tôi, vuốt lọn tóc xuôi từ tai tôi xuống. Tôi ngồi yên. Rồi nghe tiếng anh ta thì thầm: “Em muốn trở thành bà Buddy Willard không?”

Tôi muốn phá lên cười thật lớn.

Tôi nghĩ câu hỏi này nhẽ ra đã khiến tôi lúng túng bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian năm, sáu năm trời thầm yêu trộm nhớ Buddy.

Buddy thấy tôi ngần ngừ.

“Ồ, anh có chút vấn đề hiện tại,” Anh mau mắn nói. “Anh đang điều trị bằng thuốc chứa Aminosalicylic acid, và còn có thể mất đi một, hai xương sườn, nhưng anh vẫn sẽ trở lại trường Y vào mùa thu tới. Chậm lắm cũng không quá mùa xuân năm sau…”

“Em nghĩ mình phải nói với anh điều này, Buddy ạ.”

“Anh biết rồi,” Buddy nói cứng. “Em đã có người khác?”

“Không phải vậy.”

“Thế thì chuyện gì?”

“Em sẽ không bao giờ lấy chồng.”

“Em điên à?” Buddy bùng lên. “Em sẽ thay đổi ý định thôi.”

“Không. Em đã quyết định rồi.”

Nhưng Buddy vẫn tiếp tục rạng rỡ.

“Anh còn nhớ,” tôi nói tiếp, “cái đêm anh bắt xe cùng em về trường sau buổi diễn kịch không?”

“Có chứ.”

“Anh còn nhớ đã hỏi em thích sống ở đâu nhất, đồng quê hay thành thị không?”

“Và em nói…”

“Em đã nói thích sống ở cả đồng quê lẫn thành thị.”

Buddy gật đầu.

“Còn anh,” tôi bất ngờ mạnh mẽ nói, “anh đã cười, cho rằng em có mọi biểu hiện của bệnh thần kinh và anh đã lấy câu hỏi đó từ một bản trắc nghiệm ở giờ tâm lý học tuần đó.”

Nụ cười trên khuôn mặt Buddy nhạt dần.

“Phải, anh nói đúng. Em bị thần kinh. Em không thể nào vừa sống cả ở đồng quê lẫn thành thị.”

“Nhưng em có thể sống qua lại giữa hai nơi đó,” Buddy gợi ý. “Em có thể thỉnh thoảng lên phố, hoặc thỉnh thoảng về quê.”

“Nếu vậy thì điều đó có gì là thần kinh đâu?”

Buddy không trả lời.

“Sao nào?” Tôi truy hỏi, và nghĩ thầm rằng anh không thể chiều chuộng những người bị bệnh này, đối với họ đó là điều tệ hại nhất, anh sẽ làm cho họ hỏng bét.

“Không liên quan,” Buddy nói một cách yếu ớt.

“Thần kinh, hừ!” Tôi bật cười nhạo báng. “Nếu thần kinh nghĩa là muốn hai thứ đối nghịch nhau cùng một lúc, thì em thần kinh chết đi được. Em sẽ bay tới bay lui giữa hai nơi đối nghịch nhau này suốt quãng đời còn lại.”

Buddy đặt tay lên tay tôi.

“Hãy để anh bay cùng em.”

Tôi đứng ở đầu dốc trượt trên đỉnh Pisgah nhìn xuống. Tôi không có việc gì phải leo lên đây cả. Trước đây tôi chưa bao giờ trượt tuyết. Tuy nhiên tôi nghĩ mình nên thưởng thức phong cảnh này khi có điều kiện.

Bên trái tôi, dây kéo lần lượt đưa những người trượt tuyết lên đỉnh núi vốn đã đầy những vết trượt, tuyết hơi tan dưới trưa nắng, khiến đỉnh núi đông cứng lại và bóng như gương. Không khí lạnh thấu vào hai lá phổi và xoang mũi khiến cảm giác trong lành đến khó tin.

Chung quanh tôi, những người trượt tuyết mặc áo đủ màu đỏ, xanh, trắng đang lao xuống sườn dốc, trông giống những mảnh quốc kỳ Mỹ bay tan tác. Dưới chân đường trượt, những giai điệu quen thuộc vẳng ra từ túp lều bằng ván ghép phá tan bầu tĩnh lặng.

Jungfrau một dòng xanh

Đôi ta dưới mái tranh…

Tiếng hát vừa du dương vừa rộn rã uốn lượn quanh tôi như dòng suối vô hình trong sa mạc tuyết. Chỉ một động tác đẹp đẽ mà bất cẩn là tôi sẽ văng nhanh xuống theo sườn dốc, hướng về khoảng sân màu vàng nhạt bên lề đường, nơi Buddy Willard đang đứng lẫn trong đám khán giả.

Suốt buổi sáng, Buddy đã dạy tôi trượt tuyết.

Thoạt tiên, Buddy mượn ván và gậy trượt tuyết của một người bạn trong làng, giày là của vợ một bác sĩ lớn hơn tôi một cỡ, chiếc áo khoác màu đỏ là mượn từ cô y tá thực tập. Anh tỏ ra ngoan cố một cách đáng kinh ngạc.

Tôi liền nhớ lại Buddy đã từng đoạt giải thưởng ở trường Y về việc thuyết phục thân nhân của người quá cố để họ cho phép mổ xẻ tử thi phục vụ mục đích khoa học. Tôi không nhớ giải thưởng là gì, mà chỉ nhớ Buddy mặc áo choàng trắng, chiếc ống nghe thò lên từ một bên túi như một phần cơ thể anh, mỉm cười, cúi chào, và khuyên nhủ họ hàng của người chết đang khiếp hãi ký vào giấy hiến xác.

Kế đó, Buddy mượn vị bác sĩ của mình chiếc xe hơi, ông này cũng mắc bệnh lao và tỏ ra rất thông cảm, sau đó, chúng tôi lái xe đi ngay sau tiếng chuông báo hiệu giờ đi dạo vang lên, dọc theo những hành lang âm u của dưỡng đường.

Buddy cũng chưa bao giờ trượt tuyết trước đây, nhưng anh ta cho rằng những nguyên tắc căn bản rất đơn giản, hơn nữa, do thường xuyên quan sát những huấn luyện viên và học viên, anh có thể dạy tôi mọi điều cần thiết.

Nửa giờ đầu, tôi ngoan ngoãn chạy ngoằn ngoèo lên một sườn dốc thấp rồi chống mạnh cặp gậy và trượt thẳng xuống. Buddy tỏ ra hài lòng với sự tiến bộ của tôi.

“Tốt lắm, Esther,” anh nhận xét khi tôi trượt xuống đến lần thứ hai mươi. “Bây giờ lên cao bằng dây cáp rồi trượt xem.”

Tôi liền dừng lại thở hổn hển, mặt đỏ bừng.

“Nhưng em chưa biết cách trượt zigzag. Những người trượt từ trên đỉnh xuống đều biết làm điều đó.”

“Ồ em trượt xuống nửa đường là được rồi, không cần lấy đà nhiều đâu.”

Sau đó, Buddy theo tôi đến chỗ dây cáp, chỉ cho tôi cách nắm sợi dây, bảo tôi nắm khép tay lại và đi lên.

Tôi không nghĩ đến chuyện cưỡng lại ý anh.

Tôi nắm chặt lấy sợi dây cáp thô ráp như thân rắn, để nó kéo mình lên.

Dây cáp lắc la lắc lư kéo tôi lên rất nhanh, đến nỗi tôi không hy vọng thoát ra giữa đường. Trước và sau tôi đều có người đi trượt, tôi sẽ va đập vào những ván, những gậy ngay phút đầu buông tay; không muốn gặp rắc rối, tôi yên lặng bám vào sợi dây cáp.

Nhưng khi lên tới đỉnh, tôi bắt đầu ân hận.

Buddy vẫn dõi theo, nhận ra tôi trong chiếc áo màu đỏ đang chần chừ. Anh lấy tay khua loạn vào không khí trông tựa như chiếc cối xay gió màu kaki. Sau đó tôi thấy anh ra hiệu cho tôi xen vào khoảng trống giữa dòng người đang trượt. Nhưng tôi bồn chồn lo lắng, cổ họng khô đắng, con đường trắng xóa từ chỗ tôi tới anh như mờ hẳn đi.

Một người từ bên trái cắt qua, một người khác từ bên phải, tay Buddy vẫn tiếp tục yếu ớt vẫy như một cái ăng ten phía bên kia cánh đồng lúc nhúc những sinh vật bé nhỏ di động, hoặc giống như những dấu chấm than lấp lánh.

Mắt tôi vượt qua quang cảnh nhộn nhạo này hướng về phía xa.

Bầu trời mở to đôi mắt xám xịt, mênh mông nhìn tôi, sương giăng kín bốn phương tám hướng khiến ánh nắng trở nên trắng bợt, tĩnh lặng, trải dài suốt núi này đồi nọ, rồi dựng lại dưới chân tôi.

Sâu thẳm trong tôi có một giọng nói vang lên rằng chớ có điên rồ, để bảo vệ làn da mình, hãy buông bỏ ván trượt và đi xuống dưới theo con đường tuyết phủ, hai bên là những rặng thông, chạy trốn như một con muỗi chán ghét. Ý nghĩ rằng tôi có thể tự giết chết bản thân lạnh lùng hình thành trong đầu tôi như một cái cây hay một bông hoa.

Tôi đưa mắt ước chừng khoảng cách tới chỗ Buddy.

Lúc này anh đã bỏ tay xuống, trông anh chỉ như là một thanh gỗ của hàng rào phía sau - bất động, nâu sẫm và vô cảm.

Ra tới rìa đỉnh đồi, tôi cắm đầu gậy trượt vào trong lớp tuyết, lao mình xuống như bay đến mức biết rằng mình không cách nào dừng lại được, bất kể bởi kỹ năng hay ý chí.

Tôi thẳng một mạch lao xuống.

Một cơn gió mạnh không biết từ đâu thốc vào miệng tôi, hất tung mái tóc tôi bay ngang về phía sau. Tôi đang lao xuống, nhưng mặt trời nhợt nhạt không vì thế mà cao hơn. Nó lơ lửng trên những ngọn đồi nhấp nhô như một cái trục vô tri vô giác mà thiếu nó thì cả thế giới này cũng không tồn tại.

Trong thân thể tôi như có một điểm nhỏ nhoi đang bay về phía ấy. Tôi cảm thấy hai lá phổi căng ra hít trọn thinh không, núi non, cây cối và con người. Tôi thầm nghĩ: “Hạnh phúc là thế đấy.”

Tôi lao thẳng xuống, vượt qua những người trượt theo đường zigzag: những học viên, chuyên gia… Những năm những tháng sống giả tạo, những nụ cười, những thỏa hiệp đều lùi vào dĩ vãng.

Cây cối, con người hai bên tôi cứ lùi lại sau lưng như đường hầm u tối mà tôi đang vươn tới điểm sáng cuối đường, viên sỏi dưới đáy giếng, em bé trắng trẻo xinh xắn nép mình trong lòng mẹ.

Răng của tôi nghiến lên băng kêu lạo xạo. Tuyết tan tràn xuống họng tôi.

Khuôn mặt Buddy hiện ra phía trên tôi, to và gần sát, như một hành tinh lạc lối. Vài khuôn mặt lấp ló sau lưng anh. Xa xa những điểm đen lỗ chỗ trên mặt đất trắng xóa. Từng chút, từng chút một, thế giới cũ lại phục hồi, như dưới cây đũa phép của một bà tiên.

“Em đã làm rất tốt,” một giọng quen thuộc lọt vào tai tôi, “cho tới khi gã kia lọt vào đường trượt của em.”

Mọi người đang tháo đồ ra cho tôi và nhặt lại đôi gậy trượt ở nơi chúng bị hất tung lên trời rồi mỗi cái rớt xuống một đống tuyết riêng. Sau lưng tôi là hàng rào của lều nghỉ.

Buddy cúi xuống tháo ủng và vài lớp tất len trắng cho tôi. Bàn tay đầy đặn của anh ta nắm lấy chân trái tôi, từ từ dịch lên mắt cá, sờ nắn và thăm dò như thể đang khám xét vũ khí.

Mặt trời trắng muốt trên đỉnh đầu vẫn lạnh lùng tỏa sáng. Tôi muốn mài giũa mình vào đó, cho tới khi nào trở nên tinh khiết, mỏng manh, và sắc bén như lưỡi dao.

“Em sẽ lên tiếp,” tôi nói. “Em sẽ trượt lần nữa.”

“Không, không được đâu em.”

Một thoáng thỏa mãn, kỳ quặc lướt qua khuôn mặt của Buddy.

“Không được đâu em,” anh ta lặp lại cũng một nụ cười. “Chân em bị gãy hai chỗ, phải bó bột hàng tháng trời đấy.”

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.