Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ba

❊ ❊ ❊

La liệt trên bàn tiệc được tạp chí Ladies’ Day tổ chức là những trái bơ bổ đôi nhồi thịt cua và nước sốt mayonnaise, những chiếc đĩa đựng thịt bò nướng tái và thịt gà nguội, thi thoảng, những đĩa thủy tinh đầy trứng cá đen caviar lại được mang lên. Sáng hôm đó, tôi không có thì giờ để ăn điểm tâm tại khách sạn, chỉ uống vội một tách cà phê quá lửa, đắng đến nỗi mũi tôi chun lại, nên bụng đói cồn cào.

Trước khi đặt chân đến New York, tôi chưa từng được đi ăn tại nhà hàng nào ra hồn cả. Dĩ nhiên không kể tới tiệm Howard Johnson, nơi tôi thường đến ăn khoai tây chiên, burger phô mai và hoa quả dầm kem vani với bạn bè kiểu như Buddy Willard. Tôi không biết vì lẽ gì, nhưng tôi mê chuyện ăn uống hơn bất cứ việc gì trên đời. Bất kể ăn uống bao nhiêu tôi cũng không tăng cân. Như một ngoại lệ, suốt mười năm trời tôi vẫn giữ nguyên cân nặng.

Tôi mê những món ngập bơ, phô mai và kem chua. Ở New York, chúng tôi có nhiều lần được tham dự các bữa “ăn chùa” với bạn bè trong tạp chí hay cùng những vị khách danh giá viếng thăm, tôi dần dần có thói quen nhìn lướt xuống những tờ thực đơn viết tay đồ sộ, nơi mà một đĩa đậu tí xíu cũng lên tới năm mươi hoặc sáu mươi xu, cho tới khi chọn những món cao quý nhất, đắt tiền nhất để gọi một lượt.

Chúng tôi luôn luôn được thanh toán các khoản chi phí này, nên tôi chẳng có gì phải lo lắng. Tôi ăn nhanh đến nỗi không đợi ai cả, dù có người chỉ gọi mỗi món salad bếp trưởng và nước nho ép để giảm béo. Hầu hết những người tôi gặp ở New York đều đang cố làm mình gầy bớt đi.

“Tôi muốn gửi lời chào mừng tới các cô gái xinh đẹp nhất, thông minh nhất mà ban biên tập chúng tôi được hân hạnh đón tiếp,” vị chủ trì bữa tiệc vừa mập vừa hói ồ ề cất giọng vào chiếc micro cài ve áo. “Bữa tiệc này chỉ là một bằng chứng nhỏ nhỏ của lòng hiếu khách mà ban Nấu và Nếm của tạp chí Ladies’ Day dành cho chuyến viếng thăm của quý vị.”

Một tràng vỗ tay thanh tao đầy vẻ nữ tính vang lên, rồi chúng tôi ngồi cả vào chiếc bàn rất lớn có trải khăn lanh.

Mười một đứa con gái chúng tôi làm ở tạp chí, cùng với hầu hết những người phụ trách biên tập, và toàn thể nhóm Nấu và Nếm trong những chiếc áo blu trắng toát, tóc tai buộc lại gọn gàng và đều trang điểm một cách tuyệt mỹ bằng màu trái đào.

Chỉ có mười một người chúng tôi vì Doreen vắng mặt. Vì lý do nào đó, họ đã xếp chỗ cô nàng ngồi cạnh tôi, chiếc ghế vẫn đang để trống. Tôi giữ tấm card ghi chỗ ngồi cho cô - một chiếc gương nhỏ có viết chữ “Doreen” một cách hoa mỹ ở trên đầu và những bông hoa cúc viền quanh một vòng tròn bạc nơi có khuôn mặt của cô.

Doreen đang suốt ngày chơi bời cùng Lenny Shepherd. Cô dành hết thời giờ rảnh rỗi của mình với Lenny Shepherd.

Một giờ trước khi bữa tiệc bắt đầu tại tạp chí Ladies’ Day - tờ tạp chí lớn dành cho phái đẹp với một trang đôi in ảnh màu rực rỡ về các bữa ăn, chủ đề và địa điểm thay đổi theo từng tháng - chúng tôi được dẫn đi tham quan những căn bếp sang trọng vô ngần, và được dạy cho thấy việc chụp ảnh một cái bánh táo dưới ánh sáng chói lòa khó khăn ra sao, vì kem cứ liên tục tan ra, phải được chống bằng những cây tăm ở đằng sau, và phải thay cái mới mỗi khi nó bắt đầu chảy nhoe nhoét.

Đồ ăn la liệt bày trong những căn bếp làm tôi choáng váng. Không phải vì ở nhà chúng tôi không được ăn tử tế, mà bởi bà ngoại tôi luôn luôn nấu nướng những món xương xẩu bạc nhạc. Câu cửa miệng của bà mỗi lần chúng tôi đưa miếng thịt đầu tiên lên là: “Bà mong các cháu sẽ cảm thấy ngon vì nó gần tám mươi xu một cân đấy,” điều đó luôn làm cho tôi cảm thấy như mình đang nhai những đồng xu thay vì xơi những món ăn ngon ngày Chủ nhật.

Trong khi chúng tôi đứng đằng sau ghế của mình lắng nghe bài diễn văn, tôi lén cúi đầu và kín đáo tăm tia vị trí đặt những bát caviar. Một bát được đặt rất chiến thuật giữa tôi và chiếc ghế trống của Doreen.

Tôi nhận thấy cô nàng ngồi đối diện với tôi không thể với tới nó do có cả một núi bánh ngọt hạnh nhân ngăn ở giữa, còn Betsy ngồi ở bên phải tôi chắc cũng ngoan ngoãn không vòi tôi chia phần cho, nếu tôi cứ để nó xa khỏi tầm với, tận cùi chỏ của tôi, gần đĩa bánh mì bơ. Vả lại, còn một bát caviar khác được đặt ngay bên phải của cô gái ngồi cạnh Betsy, cô nàng có thể ăn phía bên đó.

Ông ngoại tôi và tôi có một câu truyện tiếu lâm. Ông làm bồi bàn trưởng tại một câu lạc bộ gần thành phố tôi ở, mỗi Chủ nhật bà ngoại tôi lái xe đưa ông về nhà vì ông được nghỉ ngày thứ Hai. Anh trai tôi và tôi luân phiên đi cùng bà, và ông tôi thường phục vụ bữa ăn tối Chủ nhật cho bà ngoại và một trong hai anh em tôi, như thể chúng tôi là khách thường xuyên của câu lạc bộ. Ông thích giới thiệu cho tôi những món cao lương mỹ vị, rồi khi lên chín tuổi tôi đặc biệt khoái khẩu món súp khoai tây nghiền, trứng cá caviar và cá cơm tẩm bột.

Câu truyện tiếu lâm là sau này trong đám cưới của tôi, ông tôi thấy rằng tôi đã có đủ số caviar mà tôi có thể ăn. Gọi là tiếu lâm bởi vì tôi chưa từng có ý định lấy chồng và ngay cả khi tôi có ý định đó, ông tôi cũng không thể có đủ caviar trừ phi cướp sạch chúng trong bếp của câu lạc bộ và mang ra ngoài trong một chiếc va li.

Dưới những tiếng leng keng của ly nước, đồ bạc và đồ sứ xương, tôi lấy đầy một đĩa thịt gà rồi phủ lên đó một lớp caviar dày như thể người ta trét bơ lạc lên một miếng bánh mì. Sau đó tôi nhón tay bốc từng miếng thịt gà, cuộn chúng lại để trứng cá không rơi ra, rồi đánh chén.

Sau một hồi băn khoăn không biết nên dùng loại thìa nào cho món này, tôi phát hiện ra rằng nếu bạn làm một điều sai sót ở bàn tiệc, nhưng với vẻ ngạo mạn như thể bạn rất tự tin là đã làm việc ấy một cách đúng đắn, bạn sẽ lọt lưới ngon lành và không ai nghĩ bạn là người hạ đẳng hoặc kém học thức. Họ sẽ nghĩ rằng bạn là một mẫu người độc đáo và rất hóm hỉnh.

Tôi học được mẹo này chính vào hôm Jay Cee dẫn tôi đi ăn trưa với một thi sĩ nổi tiếng. Ông ta bận một cái áo khoác bằng vải tuýt nâu nhàu nhĩ và đầy vết bẩn, quần màu xám và một cái áo len hở cổ hai màu xanh đỏ, vào một nhà hàng cực kỳ trang trọng với nhiều vòi phun nước, những ngọn đèn chùm, nơi tất cả mọi thực khách đều mặc comple tối màu cùng sơ mi trắng tinh.

Vị thi sĩ đó ăn salad bằng tay, hết lá nọ tới lá kia, trong khi đàm luận với tôi về sự đối nghịch giữa thiên nhiên và nghệ thuật. Tôi chẳng thể rời mắt khỏi những ngón tay chuối mắn trắng nhợt qua lại tới lui giữa đĩa salad và miệng của thi sĩ kèm từng lá rau xà lách một. Chẳng có ai cười cợt hoặc thì thầm bình phẩm cả. Nhà thơ đã biến việc ăn salad bằng tay là cách tự nhiên và hợp lý duy nhất.

Không có ai trong ban biên tập hoặc thành viên của tờ Ladies’ Day ngồi gần tôi, còn Betsy thì dễ thương và thân thiện, thậm chí cô còn tỏ ra không hứng thú gì món caviar, vì thế tôi càng tự tin hơn. Khi tôi chén hết đĩa gà kèm caviar thứ nhất, tôi làm một đĩa nữa. Tiếp đó quay sang tấn công món salad và quả bơ nhồi thịt cua.

Bơ là loại hoa quả khoái khẩu của tôi. Chủ nhật nào ông tôi cũng mang về một trái lén giấu dưới đáy túi đồ, nằm dưới sáu chiếc sơ mi bẩn thỉu và tờ Họa báo Chủ nhật. Ông dạy tôi cái cách ăn, dùng xoong chưng nho và nước xốt kiểu Pháp rồi rưới vào ly đựng bơ. Tôi nhớ món nước xốt đượm mùi cố hương ấy. Món thịt cua thành ra nhạt nhẽo vô vị.

“Show diễn áo lông thế nào?” Tôi hỏi Betsy khi không còn lo lắng về việc tranh giành món caviar nữa. Tôi lấy thìa súp gom nốt những vụn trứng mặn màu đen cuối cùng trên đĩa rồi liếm sạch.

“Tuyệt vời.” Betsy mỉm cười. “Họ đã chỉ cho chúng mình thấy cách làm một cái khăn quàng cổ đa năng từ đuôi chồn cùng với dây chuyền vàng, loại mà bạn có thể kiếm được hàng mĩ ký ở tiệm Woolworth’s với giá một đô la chín mươi tám xu. Hilda đã chạy đến kho bán sỉ lông thú ngay sau đó và mua một bó đuôi chồn đại hạ giá, rồi ghé qua tiệm Woolworth’s, sau đó khâu toàn bộ lại với nhau ngay trên xe buýt.”

Tôi nhìn về phía Hilda, cô nàng đang ngồi ở phía bên kia của Betsy. Quả thực, cô đang mang một chiếc khăn quàng cổ trông có vẻ đắt tiền làm bằng lông đuôi thú, một đầu còn treo toòng teng sợi dây chuyền mạ vàng.

Tôi không thân thuộc lắm với Hilda. Cô nàng cao khoảng một mét tám, đôi mắt xanh to hơi xếch, đôi môi dày, đỏ mọng đúng chuẩn người Slav. Cô làm mũ và đang tập sự tại ban Biên tập Thời Trang, nên không gần gũi với nhóm viết lách như Doreen, Betsy và tôi, chúng tôi chuyên viết những bài báo, đôi khi cũng đề cập tới đề tài sức khỏe và sắc đẹp. Tôi không hiểu Hilda hay đọc không, nhưng cô làm được những cái mũ khiến người ta phải sửng sốt. Hilda học tại một trường chuyên dạy làm mũ ở New York, mỗi ngày cô lại đội một chiếc mũ mới tới sở, mũ do chính tay cô làm từ những cọng rơm, lông thú, dải ruy băng hoặc vải mạng, tất cả đều rất tinh tế.

“Thật là kỳ diệu.” Tôi nói. “Kỳ diệu!” Tôi lại nhớ tới Doreen, cô nàng hẳn sẽ thì thầm một vài câu mỉa mai nhạo báng món lông lá tuyệt diệu mà Hilda đang mang để chọc cười tôi.

Lòng tôi chợt nặng trĩu. Sáng hôm trước tôi mới vừa bị lột mặt nạ bởi chính tay Jay Cee, lúc này tôi thấy mọi nghi ngờ khó chịu về chính bản thân mình đang dần trở thành sự thực, và tôi không thể giấu giếm sự thật lâu hơn nữa. Sau mười chín năm trời chạy theo điểm số, các giải thưởng và những khoản trợ cấp nọ kia, tôi đang cố ngừng lại, chậm lại và rũ bỏ mọi cuộc đua.

“Sao cậu không đi xem buổi trình diễn áo lông với bọn tớ nhỉ?” Betsy hỏi. Tôi có cảm tưởng như cô đang lặp lại câu hỏi của cô một phút trước đó, nhưng tôi không để ý. “Cậu đi chơi với Doreen phải không?”

“Không!” Tôi đáp. “Tớ cũng muốn đi xem buổi trình diễn đó, nhưng Jay Cee gọi điện bảo tớ tới văn phòng.” Tôi bịa ra cái chuyện mình muốn đi xem buổi trình diễn, nhưng cố thuyết phục mình rằng đó là sự thực, vì thế những điều Jay Cee đã làm có thể thực sự khiến tôi bị tổn thương.

Tôi bảo Betsy rằng sáng hôm diễn ra buổi trình diễn áo lông, tôi phải nằm lì trên giường. Nhưng tôi không kể cho cô nghe là trước đó Doreen đã vào phòng tôi và nói: “Cậu đi dự buổi trình diễn đó làm quái gì, Lenny và tớ sẽ tới đảo Coney, sao cậu không đi với bọn tớ luôn? Lenny sẽ kiếm cho cậu một anh chàng điển trai, hôm ấy rồi cũng chẳng ra cái quỷ gì với tiệc tùng buổi trưa rồi đến chiều là buổi công chiếu phim, sẽ chẳng ai nhớ tới bọn mình đâu.”

Điều ấy hấp dẫn tôi trong thoáng chốc. Buổi trình diễn hẳn là sẽ rất ngốc nghếch. Tôi chưa bao giờ quan tâm tới áo lông thú cả. Cuối cùng tôi quyết định sẽ ở lỳ trên giường tới chán thì thôi, sau đó ra công viên trung tâm nằm cả ngày trên bãi cỏ nào dài nhất mà tôi có thể tìm thấy tại chốn trụi lủi, toàn ao tù nuôi vịt trời thế này.

Tôi bảo Doreen rằng mình sẽ không đi xem buổi trình diễn, không tới dự tiệc và không xem công chiếu phim, nhưng tôi cũng chẳng đến đảo Coney nốt, tôi sẽ chỉ ở trên giường thôi. Doreen đi rồi, tôi liền tự hỏi tại sao mình lại không thể thỏa chí theo đuổi những gì mình nên làm. Điều đó khiến tôi buồn bã và mệt mỏi. Sau đó tôi lại tự nhủ tại sao mình lại không thể thỏa chí theo đuổi những gì mình không nên làm, giống như Doreen ấy, và điều này lại càng làm cho tôi buồn bã và mệt mỏi hơn.

Tôi không biết lúc ấy là mấy giờ, nhưng tôi nghe tiếng bọn con gái í ới gọi nhau ngoài hành lang chuẩn bị đi xem buổi trình diễn áo lông, và sau đó hành lang trở lại yên tĩnh. Rồi khi tôi đang nằm ngửa trên giường mắt đăm đăm nhìn lên trần nhà trống trải, trắng xóa, sự yên tĩnh mỗi một dâng cao đến mức tôi cảm thấy màng nhĩ có thể nổ tung ra, thì đột nhiên chuông điện thoại reo.

Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc máy điện thoại đến cả phút. Ống nghe vẫn hơi rung rinh trên cái đế màu xương, nên tôi có thể khẳng định rằng chuông vừa đổ. Tôi nghĩ có thể mình đã cho ai đó số điện thoại ở một buổi khiêu vũ hay tiệc tùng gì đó rồi quên bẵng đi. Tôi nhấc ống nghe lên và nói bằng một giọng khàn khàn nhưng dễ nghe.

“Alô.”

“Jay Cee đây,” bà ta bắn liền một tràng nhanh như máy. “Tôi băn khoăn không biết cô có định đến văn phòng hôm nay không?”

Tôi co mình vào trong chăn. Tôi không hiểu tại sao Jay Cee lại nghĩ rằng tôi sẽ tới văn phòng. Chúng tôi có thời gian biểu in rõ ràng để có thể theo dõi hoạt động của tất cả mọi người, và chúng tôi dành phần lớn các buổi sáng, buổi chiều để tham gia các sự kiện trong thành phố. Tất nhiên, một số sự kiện đi hay không tùy bạn.

Tôi im lặng một lát rồi nhẹ nhàng nói: “Tôi cũng đang định đi xem buổi trình diễn áo lông thú đây ạ.” Dĩ nhiên là tôi chưa hề có ý nghĩ như thế, nhưng tôi chẳng nghĩ ra cách nào khác để đáp.

“Tớ bảo với bà ấy là tớ định đi xem buổi trình diễn,” tôi nói với Betsy. “Nhưng bà yêu cầu tớ đến văn phòng gặp bà ta một chút, và có đôi việc cần làm.”

“À ừm,” Betsy thốt lên đầy cảm thông. Cô nàng hẳn đã trông thấy những giọt nước mắt nhỏ xuống đĩa đồ tráng miệng có bánh trứng đường và kem brandy của tôi, bởi vì cô đẩy đĩa tráng miệng chưa hề đụng đến của mình sang cho tôi, còn tôi bắt đầu lơ đãng tấn công chúng khi đã chén hết phần của mình. Tôi có chút lúng túng và những giọt nước mắt, nhưng lần này tôi khóc thực sự. Jay Cee đã nói với tôi những điều tồi tệ.

Khi tôi bước vào văn phòng lúc khoảng 10 giờ, bà Jay Cee đứng dậy, đi vòng qua bàn để đóng cửa lại. Tôi ngồi trong chiếc ghế xoay trước bàn máy chữ đối diện bà. Bà ta cũng ngồi trong một chiếc ghế xoay sau bàn làm việc phía đối diện tôi, cửa sổ đằng sau lưng bà đầy ắp những chậu cây cảnh, sum suê như một mảnh vườn nhiệt đới.

“Công việc này không hấp dẫn cô phải không, Esther?”

“Ồ, có chứ, có chứ ạ!” Tôi nói. “Tôi thấy nó rất hấp dẫn.” Tôi có cảm giác như mình đang hét lên để tăng sức thuyết phục, nhưng tôi kiềm chế được.

Suốt đời tôi luôn tự nhủ rằng việc học, đọc, viết và làm như điên chính là sở thích của tôi, và điều đó xem ra là sự thực. Tôi đã làm mọi việc khá ổn để luôn đạt điểm A, rồi khi tôi đăng ký vào học trường Cao đẳng, chẳng có ai đọ nổi với tôi nữa.

Tôi là ký giả của tờ báo địa phương tại trường học, là biên tập viên của một tạp chí văn học kiêm thêm chân thư ký của Hội đồng kỷ luật chuyên giải quyết những vi phạm trong trường và ngoài xã hội - một loại tổ chức khá phổ biến, tôi lại còn được một nữ thi sĩ danh tiếng đồng thời là giáo sư đại học đỡ đầu và giới thiệu tới các trường đại học lớn nhất ở bờ Đông, với lời hứa hẹn về một học bổng toàn phần. Giờ đây tôi đang học việc với biên tập số dzách của một tạp chí thời trang trí thức, và tôi đã làm được cái quái gì ngoài việc quanh đi quẩn lại như một con ngựa thồ ngu xuẩn?

“Tôi rất thích mọi thứ ở đây.” Những lời lẽ tuôn xuống mặt bàn làm việc của Jay Cee thớ lợ, vô giá trị như mớ tiền âm phủ.

“Vậy thì tốt,” giọng Jay Cee hơi châm chọc. “Cô có thể học được rất nhiều điều ở tạp chí trong một tháng này, cô biết đấy, chỉ cần cô xắn tay áo lên thôi. Cô gái ở đây trước cô không ngại ngần gì bất cứ buổi trình diễn thời trang nào. Cô ấy đã đi thẳng từ văn phòng này tới làm cho tờ Time đấy.”

“Chà,” tôi vẫn tiếp tục bằng một giọng ủ ê. “Nhanh như vậy sao.”

“Tất nhiên là cô còn một năm nữa ở trường Đại học,” Jay Cee tiếp tục nói, giọng đã dịu đi một chút. “Cô có dự tính gì sau khi tốt nghiệp?”

Tôi luôn bị ám ảnh trong đầu rằng phải cố kiếm được một học bổng lớn hoặc một khoản trợ cấp sung túc để có thể sang du học đâu đó bên châu Âu, sau đó tôi nghĩ mình sẽ trở thành một giáo sư và ra một vài tập thơ, hoặc ra một vài tập thơ rồi thành một biên tập viên gì đấy. Thường thì những kế hoạch đó luôn sẵn sàng ở ngay đầu lưỡi tôi.

“Tôi thực chưa biết nữa.” Bản năng của tôi chợt lên tiếng. Tôi cảm thấy sốc khi nghe bản năng mình nói thế, bởi ngay lúc thốt ra điều đó, tôi hiểu là đấy là sự thực.

Điều đó có vẻ đúng, tôi nhận ra liền, cũng giống như bạn nhận ra một người vô danh nào đấy vẫn thường quanh quẩn hàng năm trời trước cửa nhà bạn, rồi đột ngột đi vào, tự giới thiệu như là bố của bạn và ngoại hình giống y hệt bạn, đến mức bạn hiểu rằng ông ta thực sự là bố của mình, còn cái người cả đời bạn vẫn gọi bằng bố lại chỉ là một người giả mạo.

“Tôi thực chưa biết nữa.”

“Nếu thế thì cô sẽ chẳng bao giờ tiến lên được,” Jay Cee ngưng lại. “Cô biết ngoại ngữ chứ?”

“Ồ, tôi có thể đọc được một chút tiếng Pháp, tôi nghĩ thế, và tôi luôn mong muốn được học tiếng Đức.” Tôi vẫn nói với mọi người là mình muốn học tiếng Đức suốt năm năm nay rồi.

Mẹ tôi nói tiếng Đức suốt thời niên thiếu của bà ở Mỹ nên bị bọn trẻ ở trường ném đá trong suốt chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Người cha chỉ biết nói tiếng Đức của tôi đã chết từ khi tôi mới lên chín, ông đến từ một xóm làng tăm tối nào đấy bên nước Phổ. Anh trai của tôi tham gia chương trình Thử nghiệm lối sống quốc tế, bấy giờ đang ở Berlin và nói tiếng Đức như một người bản địa.

Điều tôi không nói ra là cứ mỗi lần tôi cầm một cuốn tự điển tiếng Đức hay một cuốn sách tiếng Đức lên, thì những dòng chữ chi chít màu đen và nhằng nhịt làm cho trí óc tôi khép chặt như miệng ngao.

“Tôi luôn nghĩ là mình thích làm ở ngành xuất bản,” tôi cố gắng quay lại chủ đề nhằm có thể khôi phục khả năng mồm mép con buôn của mình. “Tôi nghĩ mình sẽ xin vào làm việc tại một nhà xuất bản.”

“Cô cần phải biết tiếng Pháp và tiếng Đức,” Jay Cee tàn nhẫn nói. “Và có lẽ thêm một vài ngoại ngữ khác nữa, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý, tốt hơn nữa thì tiếng Nga. Cứ vào tháng Sáu, hàng trăm cô gái tràn về New York muốn được làm biên tập viên. Cô phải tỏ ra có gì đó trội hơn đám người loàng xoàng này. Cô nên học thêm vài ngoại ngữ.”

Tôi không dám tiết lộ cho bà Jay Cee biết rằng tôi chẳng còn một khoảng trống nào trong thời gian biểu của năm cuối để dành cho việc học ngoại ngữ. Tôi đang theo một chương trình dành riêng cho sinh viên ưu tú, dạy người ta suy nghĩ một cách độc lập, và ngoại trừ một khóa về Tolstoy và Dostoevsky cùng với một buổi hội thảo về sáng tác thơ ca nâng cao, còn lại tôi dành hết thời giờ để viết về chủ nghĩa mơ hồ trong các tác phẩm của James Joyce. Tôi chưa chọn được đề tài cho mình vì chưa đọc xong cuốn Finnegans Wake, nhưng giáo sư rất thích luận đề này và hứa sẽ cung cấp cho tôi các tài liệu về ý tưởng những đứa trẻ sinh đôi.

“Tôi sẽ cố thu xếp ạ,” tôi bảo Jay Cee. “Có lẽ tôi sẽ theo một lớp cấp tốc dạy tiếng Đức căn bản mới mở.” Lúc đó tôi nghĩ mình có thể thực hiện được điều này. Tôi có cách để thuyết phục cô trưởng khoa cho phép tôi làm những việc ngoại lệ. Bà luôn coi tôi như là một loại thử nghiệm thú vị.

Tại trường, tôi có hai môn học bắt buộc là Vật lý và Hóa học. Tôi đã theo học một khóa thực vật học và đạt kết quả rất tốt. Suốt năm học, tôi chưa từng trả lời sai một câu hỏi kiểm tra nào, và có lúc tôi đã nảy ra ý định sẽ trở thành một nhà thực vật học, nghiên cứu những loài cỏ dại ở châu Phi và các khu rừng mưa Nam Mỹ. Bởi lẽ bạn dễ nhận được những khoản trợ cấp lớn khi nghiên cứu những vấn đề bất thường ở những vùng đất khắc nghiệt hơn là trợ cấp khi nghiên cứu về nghệ thuật ở Ý hoặc học tiếng Anh tại Anh. Không có nhiều cạnh tranh trong lĩnh vực đó.

Thực vật học cũng ổn, bởi tôi thích cắt lá, đặt chúng dưới kính hiển vi, vẽ lại sơ đồ của bánh mỳ mốc, hay những chiếc lá dương xỉ trong chu kỳ sinh trưởng có hình trái tim kỳ quặc, điều đó xem ra hết sức chân thực với tôi.

Còn môn Vật lý, ngày đầu tiên đi học quả là tiến vào địa ngục.

Thầy giáo người thấp bé, da ngăm ngăm, giọng nói the thé, tên là Manzi, mặc bộ comple bó màu xanh đứng trước lớp, tay cầm một quả cầu nhỏ bằng gỗ. Thầy đặt quả cầu trên một đường rãnh dốc rồi thả cho nó lăn xuống. Sau đó thầy bắt đầu thao thao bất tuyệt về việc gọi a là gia tốc, gọi t là thời gian, rồi bất thình lình ông viết nguệch ngoạc đầy một bảng đen những chữ, số và ký hiệu khiến tôi nhìn mà chết ngất.

Tôi mang cuốn sách Vật lý về ký túc xá. Đó là một cuốn sách dầy cộp bằng giấy xốp in roneo, bốn trăm trang không một hình ảnh hay tranh vẽ nào cả, chỉ toàn là sơ đồ và công thức, sách bìa cứng màu đỏ như gạch. Cuốn sách này do thầy Manzi viết để giảng dạy môn Vật lý cho các nữ sinh, nếu có hiệu quả tốt thì ông sẽ cố gắng để xuất bản nó.

Thế là tôi nghiền ngẫm những công thức đó, đến lớp tôi quan sát những quả cầu lăn xuống đường dốc và lắng nghe tiếng chuông reo. Đến cuối học kỳ, đa phần lớn bạn bè đều thi trượt, còn tôi thì đạt điểm A. Tôi nghe thầy Manzi nói với một nhóm nữ sinh đến than phiền môn học quá khó rằng: “Không, nó đâu có quá khó, có người đạt điểm A đấy thôi.” “Ai vậy hả thầy?” Họ hỏi, nhưng thầy chỉ lắc đầu không đáp, và nở một nụ cười ngọt ngào với tôi.

Kinh nghiệm này khiến tôi có ý tưởng thoát được môn Hóa vào học kỳ tới. Tôi đã có thể đạt được điểm A môn Vật lý, nhưng đó là cả một quá trình kinh khủng. Môn này khiến tôi phát ốm mỗi khi học nó. Điều khiến tôi không thể chịu đựng được là nó đem tất cả mọi thứ quy về một vài chữ hay số. Thay vì những hình vẽ chiếc lá, sơ đồ hệ hô hấp của chúng được phóng to hay những từ ngữ mê ly như diệp hồng tố và diệp hoàng tố trên bảng, là những công thức gớm ghiếc, tù túng, ngoằn ngoèo như giun mà thầy Manzi viết bằng một thứ phấn đỏ đặc biệt.

Tôi biết Hóa học còn đáng sợ hơn, vì tôi đã thấy một bảng tuần hoàn lớn của chín mươi có lẻ nguyên tố treo trong phòng thí nghiệm và tất cả những từ ngữ đẹp đẽ hoàn hảo như vàng, bạc, cobalt và nhôm đều bị rút gọn lại thành những chữ viết tắt xấu xí với các số thập phân đằng sau. Nếu phải căng óc thêm với mớ này, tôi sẽ phát điên. Tôi sẽ tiêu đời mất. Nửa đầu năm học vừa rồi, tôi lết qua nổi là nhờ nỗ lực khủng khiếp.

Vì thế tôi đến gặp cô trưởng khoa với một kế hoạch khôn ngoan.

Kế hoạch đó là tôi cần thêm thời gian để theo một lớp về Shakespeare, dẫu thế nào thì tôi cũng là học viên khoa Anh ngữ mà. Cô cũng như tôi đều thừa hiểu rằng tôi sẽ lại đạt điểm A môn Hóa, vậy thì cần gì phải tham gia thi cử? Sao không để tôi chỉ đến lớp tham dự và lắng nghe rồi bỏ qua điểm số cùng tín chỉ? Đó là một trường hợp vinh dự giữa những người danh giá với nhau, nội dung thì quan trọng hơn hình thức, còn điểm số cũng là một việc ngớ ngẩn khi bạn đã biết chắc rằng mình sẽ đạt điểm A, phải thế không? Kế hoạch của tôi càng được củng cố bởi thực tế là nhà trường từ khóa sau sẽ bỏ tín chỉ các môn Tự nhiên ở năm học thứ hai, vì thế chúng tôi là lớp cuối cùng phải theo quy chế cũ.

Thầy Manzi hoàn toàn đồng ý với kế hoạch của tôi. Tôi nghĩ ông lấy làm hãnh diện vì tôi thích thú những giờ giảng của thầy, không vì một lý do vật chất nào như tín chỉ hay điểm A, mà vì vẻ đẹp của chính môn Hóa học. Tôi nghĩ mình khá là khéo léo khi đề nghị được tham dự các buổi dạy môn Hóa, ngay cả khi đã chuyển sang học Shakespeare. Điều đó không hẳn là cần thiết, nhưng để tỏ ra rằng tôi không dễ dàng từ bỏ môn Hóa học.

Tất nhiên, kế hoạch của tôi sẽ chẳng thành công nếu tôi không đạt được một điểm A ở học kỳ đầu. Giả như bà trưởng khoa hiểu được rằng tôi đã sợ hãi và buồn bã đến mức nghiêm túc suy nghĩ đến một biện pháp tuyệt vọng là xin giấy chứng nhận của bác sĩ là thể trạng tôi không hợp với môn Hóa học, những công thức làm cho tôi đại loại như xây xẩm mặt mày, hẳn bà sẽ thèm không lắng nghe tôi lấy một phút, và không đắn đo bắt tôi theo phải học ngay.

Kết quả là Hội đồng nhà trường thông qua đơn của tôi, sau này cô trưởng khoa kể lại với tôi rằng nhiều vị giáo sư cảm động vì việc đó. Họ cho rằng đây là một bước thực sự của quá trình trưởng thành trí thức.

Tôi phá lên cười khi nghĩ đến phần còn lại của năm học ấy, tôi đến dự giờ học Hóa mỗi tuần năm lần, không bỏ một buổi. Thầy Manzi đứng ở dưới cùng giảng đường lớn, cũ kỹ, ọp ẹp, đang tạo ra những ngọn lửa xanh, đỏ, và những đám khói vàng bằng cách đổ dung dịch từ một ống nghiệm này vào một ống nghiệm khác. Tôi bỏ ngoài tai những lời giảng của thầy, giả vờ như đó chỉ là tiếng vo ve của con muỗi ở xa xăm, ngồi thưởng thức ánh sáng chói lòa và những ngọn lửa đủ màu sắc rồi viết đầy các trang vở những điệu dân ca Ý hay những bài sonnet.

Thầy Manzi thi thoảng lại ngước nhìn và thấy tôi đang hí hoáy ghi chép, thầy liền nở một nụ ngọt ngào khen ngợi. Tôi đoán thầy nghĩ rằng tôi đang chép tất cả những công thức đó không phải vì chuyện thi cử như những nữ sinh khác, mà bởi không cưỡng nổi sức hấp dẫn của buổi thuyết trình này.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.