Đối với những người chỉ tìm hiểu trong sách vở thì chúng ta, và cả người Tàu nữa, là những dân tộc không biết cười.
Văn học Trung Hoa từ xưa tới nay phong phú vô kể: muốn tìm trong đó thơ văn lâm ly thống thiết, không thiếu gì; muốn tìm những truyện ly kỳ quái đản, cũng không thiếu gì; thậm chí muốn tìm những cái tục tĩu (tức cái phát kiến rất mới mẻ của Âu Tây) thì tưởng Kim Bình Mai cũng cống hiến được nhiều đoạn không hổ thẹn với các danh phẩm của Lawrence, Miller. Thế nhưng bị yêu cầu xuất trình một tác phẩm hoạt kê, trào lộng cho có giá trị, chắc chắn cả ta lẫn Tàu đều lúng túng.
Balzac, Goethe, Hugo v.v... phải nể nang các đối thủ da vàng, nhưng Molière thì có quyền khinh địch. Những nhân vật nổi tiếng của chúng ta - xuất hiện từ trang sách - dù nghèo, dù giàu, dù khôn, dù dại, dù thiện, dù ác, đều không có gì đáng cười: Lục Vân Tiên, Thúy Kiều, Thôi Oanh Oanh, Tống Giang v.v... Ai có thể tìm được ở Á Đông một nhân vật như Don Quichotte, như Tartarin, như Harpagon? Ai có thể tìm được ở Á Đông những thói tục và tính nết lố lăng như đã mô tả trong các Lá thư Ba Tư của Monstesquieu và trong tác phẩm của La Bruyère?
Chúng ta không tưởng tượng ra những điều lố bịch, mà trong khi biện luận cũng không có cái ý biến kẻ đối thoại hay lập luận của họ thành ra lố bịch. Hai cái lưỡi lợi hại nhất trong lịch sử chính trị Trung Quốc ngày xưa là của Tô Tần và Trương Nghi. Đọc Đông Chu liệt quốc thấy hai người lý luận ghê gớm thật, nhưng họ không dùng tài ấy để chế giễu ai. Trong Tam quốc chí, Khổng Minh một mình giữa đám quần thần Đông Ngô, biện bác thao thao bất tuyệt, lần lượt hạ hết người này đến người khác: đó là một trận chiến hẳn hoi, nhưng từ đầu tới cuối Khổng Minh thẳng thắn dùng những khí giới hợp pháp mà không hề giở đến những món ám khí như mỉa mai, nhạo báng. Vẫn theo sách vở, Trang tử bắt bẻ Huệ tử, rồi Mạnh tử, Tuân tử, Mặc tử, rồi Vương An Thạch, Tô Đông Pha v.v... công kích nhau, luận cứ sắc bén, lời lẽ lắm khi cũng gắt gao, nhưng tuyệt không có cái lối làm cho đối phương đau ngầm vì những châm biếm hiểm hóc.
Các nhà trí thức bên Âu Tây khác xa. Voltaire có lần bảo miệng lưỡi của Elie Fréron là độc địa; hãy xem mồm mép của kẻ chỉ trích:
"L'autre jour, au fond d'un vallon,
Un serpent mordit Jean Fréron.
Que pensez-vous qu'il arriva?...
Ce fut le serpent qui creva!"
(Hôm nọ, ở cuối một miền thung lũng,
Một con rắn cắn phải Jean Fréron.
Các bạn có biết rồi chuyện gì xảy ra không?...
Thưa: chính con rắn bị (trúng độc) chết đấy!)
So với Voltaire, nhà phê bình đáng thương nọ may ra chỉ đáng là con rắn trong thung lũng. Vô phúc cho ai phải bút chiến với những đối thủ như thế. Mà không riêng gì hai tay kỳ phùng địch thủ này đâu, hình như ai nấy đều vậy cả. Có một văn loại riêng dành cho những ai thích ; trổ tài đay nghiến nhau, gọi là satire. Ở Âu Tây, phàm là người trí thức thì ăn nói phải có cái duyên dáng, dí dỏm riêng, gọi là esprit, là humour. Cái đặc trưng của trí thức ấy làm cho người nghe chuyện thường khi cười mỉm, nhưng lắm lúc bị đau vô tả.
Không hiểu cái nhu cầu muốn chọc cười ở Âu Tây nó mạnh mẽ đến thế nào mà có những trường hợp ta không thể không lấy làm lạ lùng. Thân nhau như Sartre với Camus mà khi có điều trái ý nhau bài trả lời đầu tiên của Sartre đã nhuốm giọng mỉa mai chế giễu. Ở ta, giữa ông Trần Trọng Kim với ông Phan Khôi không nghe nói có mối thân tình nào đặc biệt. Thế mà ở cuối bộ Nho giáo, ông Trần cho in lại mấy bài trả lời ông Phan, bây giờ có dịp ngồi đọc lại chắc không ai không thán phục cái giọng ôn tồn, hòa nhã, không có chút gì kiểu cách, chứng tỏ một thái độ nghiêm chỉnh và chân thành trong khi thảo luận. Không biết, so ông Phan với ông Trần, cái kiến thức về Khổng giáo của bên nào hơn bên nào; nhưng về chỗ biết tự chủ kiềm giữ được háo thắng, được lòng giận hờn, giữ được cái thăng bằng bình thản trong tâm hồn, cái thành tâm đi tìm chân lý, riêng về những chỗ ấy ông Trần có vẻ xứng đáng là người đứng ra lãnh trách nhiệm trình bày quan niệm về lễ nghĩa, nhân ái, thành tín, về trung dung v.v... của Khổng tử, trình bày mà dễ được tin cậy hơn ông tú Phan.
Người viết ở Á Đông không hay châm biếm, mà người vẽ cũng không. Hí họa có mặt trên báo chí Tây phương từ lâu lắm. Nhiều bậc vua chúa, nhiều nhân vật chính trị, văn học của họ từ ba bốn thế kỷ trước đã lưu lại đến ngày nay những hình dáng, điệu bộ buồn cười. May phước cho các hôn quân, gian thần ở Á Đông, họ không bị bêu hình để chế giễu. Hình như trước khi quen biết người Tây, chúng ta chưa biết tới môn hí họa, chưa có một nhà hí họa nào danh tiếng.
Chúng ta ít cười như vậy, chúng ta không dùng cái cười làm phương tiện trong phạm vi tư tưởng cũng như nghệ thuật, trong công việc đi tìm chân lý cũng như đi tìm cái đẹp, cho nên ở Á Đông chúng ta hầu như không có ai quan tâm nghiên cứu đến cái cười. Trong kho sách vở mênh mông của nước Trung Hoa, cuốn nào là cuốn chuyên khảo về cái cười? Các triết gia lớn, Lão tử, Khổng tử v.v... có câu nào là câu nói đến cái cười?
Bên Âu Tây thì từ Aristote đến ngày nay, về cái cười không bao giờ ngớt những lời bàn luận, suy cứu, không có nhà triết học nào coi thường nó. Trái lại, còn có kẻ cho rằng:
"Mieux est de ris que de larmes écrire,
Pour ce que rire est le propre de l’homme."
(Viết về cái cười vẫn hơn viết về cái khóc,
Bởi vì cười là đặc điểm của con người).
Khi Bergson cho xuất bản cuốn sách xuất sắc của ông nghiên cứu về hài tính, ông cho rằng không tài nào mà nêu ra và bình luận cho hết những ý kiến của tiền nhân, ông chỉ giới thiệu một số tác phẩm chính yếu về vấn đề này đã in ra trong vòng ba mươi năm vừa qua mà thôi. Danh sách gồm ba mươi mốt tác giả và hơn chừng ấy tác phẩm. Đó là những thứ chính yếu. Như vậy, không có năm nào không có một vài công trình nghiên cứu quan trọng về tiếng cười ra đời.
Cuộc thảo luận về tiếng cười ở Âu Tây hào hứng cho đến nỗi nó lôi cuốn cả những nhà thơ mà danh tiếng không có chút gì liên quan đến chuyện pha trò, như Baudelaire và Breton chẳng hạn.
Bên đó người ta đua nhau viết về cái cười nhiều như vậy mà bên ta không mấy ai viết, có phải ta không biết cái nào hơn cái nào kém đâu. Đó chỉ vì cái cười không phải đặc điểm của ta. Câu nói của Rabelais, đáng lẽ nên thêm vào một chữ "... là đặc điểm của con người Tây phương."
* * *
Dĩ nhiên, Tây phương không giữ mãi cái cười làm của riêng cho họ được, Đông với Tây mỗi ngày mỗi gần nhau. Đầu năm nay, nhờ vô tuyến truyền hình, người dân ở Đông Kinh đã có thể trông thấy con chim bồ câu đậu trên nóc điện Elysée cùng một lúc với người dân Paris, ông De Gaulle đọc diễn văn, đọc một tiếng người đôi bên cùng nghe một lượt, nháy mắt một cái đôi bên cùng thấy một lượt. Có tiếp xúc, có gần gụi nhau, là có ảnh hưởng lẫn nhau.
Tiếng cười truyền sang giới văn học trí thức Á Đông đã lâu. Bút chiến với một người như Lỗ Tấn thì bị thua chắc phải đau, bởi vì ngay đối với những nhân vật mà ông thương xót như A.Q, như Khổng Ất Kỷ v.v... ông ấy còn châm chọc nữa là.
Ở Việt Nam, người như ông Tú Xương quả là rất nhạy, về Âu Tây, ông có biết sâm-banh với sữa bò, có học được tiếng "mét-xì", có trông thấy "bà đầm ngoi đít vịt" v.v... nhưng còn tư tưởng của họ, văn hóa của họ, ông đã kịp có thì giờ nghiên cứu đâu, sách vở của họ ông đã đọc đâu được? Thế mà giọng thơ của ông bỗng nổi lên trào lộng, khác hẳn giọng lưỡi những ông tú khác ở đất nước này xưa nay. Cho hay cái cười không phải là cái khó học.
Vả lại đây không phải là chuyện kỹ thuật: không phải trước ta không biết cách pha trò, học xong mấy bí quyết của người Tây, hay đọc sách họ ta bắt chước được mấy phương pháp, thế là ta pha trò được.
Không phải thế. Ta không pha trò là vì theo quan niệm văn hóa, trong bầu không khí sinh hoạt văn hóa của ta, nụ cười không tiện nở ra, không tự thấy thích hợp. Khi cuộc sống đổi theo một chiều hướng thuận lợi nào đó, tự nhiên nụ cười có thể nở ra, khỏi cần chờ ta học hỏi.
Trước khi người Âu đến xứ này, có một nhà thơ thường được coi là hay bỡn cợt: Hồ Xuân Hương. Tuy vậy xem kỹ bà đâu có ý định chọc cười?
"Thân em vừa trắng lại vừa tròn."
Thân em như thế có gì đáng cười?
"Hòn đá xanh rì lún phún rêu."
hay
"Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không."
Đều là những câu tự nó không có giọng hài hước. Chúng ta cười là cười vì cái "khám phá" hay ho của mình.
Vả lại Hồ Xuân Hương đâu có chế giễu, châm biếm về chuyện gì khác đâu; bà chỉ có mỗi một cái tật hay nói tới "chuyện ấy" mà rồi thiên hạ cười. Nếu cần phải nêu ra một sở trường của bà thì đó là cái sở trường nói tục nửa úp nửa mở, chứ không phải là sở trường trào phúng. Người có óc trào lộng gặp chuyện gì cũng đùa giỡn được; ít ra thì suốt đời cũng tìm được hơn một đề tài để cười.
* * *
Trong trường hợp của Hồ Xuân Hương còn có điều đáng lưu ý nữa. Đó là không ai nghĩ bà có thể có ý góp những bài thơ Đánh đu, Đánh cờ người v.v... của bà vào một tác phẩm, như Ức trai thi tập của Nguyễn Trãi, Bạch vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng hạn. Một ý tưởng như vậy vào thời bấy giờ có lẽ là quá lố. Trong khi viết dăm ba câu tục tĩu chắc chắn bà không nghĩ rằng mình làm văn học. Bất quá là nghịch một tí chơi rồi bỏ qua.
Ngay cả đến thơ hài hước Tú Xương sau này cũng thế, lúc sinh thời tác giả không hề gom góp vào một tập nào cả.
Chuyện ma chuyện quái, chuyện huyền hoặc, bùa phép, chuyện hồ ly, chuyện yêu tinh: có thể cho vào sách được, đặt cho nó nhan đề được, lắm khi thành sách nổi tiếng được (Liêu Trai, Việt điện u linh v.v...). Chuyện giang hồ kỳ hiệp đấm đá nhau, loanh quanh nhảm nhí, để tiêu khiển giết thì giờ: có thể cho vào sách được. Nhưng những trò nghịch ngợm thì không; thơ hài hước, thơ phú không đúng đắn thì không. Chỉ có những bài rải rác vương vãi đây đó mà không có thi tập.
Tại sao vậy?
Có lẽ là vì chúng ta chỉ đùa nghịch ngoài đời chứ không đùa nghịch trong sách vở. Thực vậy, làm sao có thể tưởng tượng rằng suốt ba bốn nghìn năm tổ tiên chúng ta ai nấy đều luôn luôn nghiêm chỉnh? Làm gì đến nỗi chúng ta có những tổ tiên rầu rĩ như vậy được. Trái lại, bao nhiêu tập tục hội hè, bao nhiêu giai thoại còn truyền lại, chứng tỏ các cụ ngày xưa khi vui cũng vui đến nơi đến chốn. Có điều bước vào thư phòng làm công việc lập ngôn, thì các cụ không tự cho phép nham nhở, nghịch ngợm nữa.
Vì lẽ ấy mà trong khi ở các danh tác của chúng ta được ấn hành thời trước thiếu tiếng cười thì tiếng cười vẫn không ngớt rúc rích trong ca dao, trong các câu đối, các truyện tiếu lâm. Nhiều nhà nghiên cứu văn học gần đây xét rằng các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, ra đời vào khoảng thời Lê mạt, và cho rằng thế kỷ 18 ở ta đặc sắc về một dòng văn chương trào phúng khỏe mạnh. Cái dòng khỏe mạnh đó gồm có Hồ Xuân Hương mà ta đã biết (với một ngữ ngôn có nhiều gần gụi với ngữ ngôn tiếu lâm của dân gian vì những lối nói tục, nói lái), và gồm các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn vừa kể, loại truyện truyền khẩu trong dân gian. Trên sân khấu hát bộ của chúng ta ngày xưa thỉnh thoảng có một "thằng" hề chạy ra pha trò lung tung rồi chạy vào. Những chuyện huyên thiên của nó không có trong vở tuồng, toàn là tự nó "cương" ra. Người viết tuồng không chịu viết những câu bông lơn như thế, nhưng khi quần chúng khán giả cần giải trí một chút thì vở tuồng chính có thể ngừng lại, chờ đợi, cho phép trò giải trí kia diễn ra bên lề, xong rồi tự dẹp đi, để cho tuồng chính tiếp tục, trịnh trọng, uy nghi không thèm biết tới những gì vừa xảy ra. Trận cười vừa xảy ra thuộc về sự sinh hoạt, để thỏa mãn một nhu cầu sinh hoạt: ngồi chăm chỉ hơi lâu khán giả cần một trận cười cũng như cần đứng dậy bẻ lưng, cần giải khát v.v..., trận cười ấy không thuộc về nghệ thuật, nó không dính líu tới nội dung vở tuồng, không được phép ảnh hưởng tới kết cấu vở tuồng.
Đông Phương Sóc, Trạng Quỳnh, không phải là những tác giả, hay những nhân vật của văn học chính thống như các cụ quan niệm. Ở Á Đông chúng ta, lấy tiếng cười làm tiêu chuẩn, thì giữa cuộc sống với văn chương có một ranh giới. Bước vào đền thờ hình như người Hồi giáo bỏ lại giày dép bên ngoài; chúng ta thì bước vào lãnh vực văn chương tư tưởng, trước kia chúng ta phải gác bỏ nụ cười lại bên ngoài.
* * *
Chúng ta là những ai? Lời lẽ trên đây đã tỏ ra mơ hồ, lúng túng ở chỗ ấy. Khi thì nói người Việt và người Tàu, khi thì nói người Á Đông. Á Đông còn có Nhật, Triều Tiên v.v..., mà nền văn học chưa được nghiên cứu tường tận tại Việt Nam.
Thái độ nghiêm trang trong sách vở là riêng của người Việt và người Tàu hay là của cả Á Đông, không dám chắc, nên đàng tiếp tục ấm ớ mơ hồ về nội dung của hai chữ "chúng ta".
Những nghệ sĩ trí thức của chúng ta khi làm việc trước thư lập ngôn đều một vẻ ngay tình. Nghe bên Tây phương khúc khích, họ ngoảnh nhìn, thấy bộ dạng người trí thức Tây phương - Voltaire chẳng hạn - mặt gầy, lưỡng quyền nhô cao, mắt sáng, môi mỏng, thấy cái vẻ thông minh mà ranh mãnh, tàn ác ấy, chắc họ không khỏi e ngại.
* * *
Các nghệ sĩ triết nhân của chúng ta ngày xưa thiếu đi chút hóm hỉnh tinh quái, nhận xét nhỏ nhặt này tuy vậy mà cũng liều lĩnh.
Hình như các sách nghiên cứu văn học không mấy ai thèm chú ý tới điều ấy. Người ta tìm hiểu Đông phương tính, dân tộc tính đã nhiều. Người ta nói đến tinh thần tổng hợp, óc thực tế của dân tộc đã nhiều. Dân tộc còn được xem như tình cảm phong phú, trí óc lại thông minh, mà còn thêm đức tính hiếu hòa nữa. Bên cạnh những đặc điểm hệ trọng như vậy, ít cười là điều nhảm nhí quá chăng?
1-1967