Ban Mê Thuột là một thị trấn lớn của Cao nguyên Trung phần. Có thời lừng lẫy, hồi 1955, nó từng là thủ phủ hành chánh cấp vùng. Từ đó, nó là một tên quen thuộc trong địa lý nước nhà. Ít người nghĩ rằng Ban Mê Thuột quen thuộc lừng lẫy ấy, nằm giữa Cao nguyên để nêu lên một vấn đề thân tộc học từ bao lâu nay mà không được chú ý đến.
Ban Mê Thuột là lối phiên âm của người Pháp. Theo một cách giải thích tại địa phương, thực ra đó là "Buôn Ama Y Thuột", nghĩa là: Làng của cha cậu Y Thuột.
Không phải chỉ cậu Thuột mới có một người cha được xưng hô như thế: bao nhiêu đàn ông Rhadé khác đều thế cả. Tại thị xã Ban Mê Thuột hiện nay có con đường lớn mang tên Ama Trang Long (cha của Trang Long là một chiến sĩ chống Pháp).
Thiết tưởng không dễ tìm thấy những tên đường tên xứ đặt theo kiểu ấy ở nơi nào khác, trong nước hay ngoài nước ta, mặc dù lối gọi tên người của đồng bào Rhadé có phần nào giống với lối gọi của người Việt Nam dưới Kinh. Ở ta, tại thôn quê, đối với một người đã có con, ta cũng tránh gọi tên tục và chỉ gọi bằng tên con: ông Danh tức cha cậu Danh, bà Hòa tức mẹ cô Hòa v.v... Nhưng giữa ta và Rhadé vẫn có một chút khác biệt: Ta gọi tắt, đồng hóa tên cha với tên con; người Rhadé thì nói đầy đủ, minh bạch: ama, cha của...
Chút khác biệt ấy đưa tới những dị đồng xa hơn.
Người Rhadé sở dĩ phải minh bạch là vì một người đàn ông trong đời mình không phải chỉ "mượn" một tên con mà thôi. Lúc bé, cậu A được gọi là A; khi cậu có vợ, được gọi là chồng (ung nũ) cô B chẳng hạn; khi có con, được gọi là cha (ama) thằng C; đến ngày có cháu, lại được xưng là ông (ae nũ) bé D... Rắc rối thế, cho nên không thể không minh bạch.
Trong tục lệ của ta dường như chỉ có một dụng ý tế nhị, tránh kêu đích danh một kẻ đã trưởng thành. Còn ở người Rhadé, trong cuộc sống sinh lý của con người sinh trưởng và truyền giống lại mai sau, mỗi thắng lợi đều được ca ngợi, tuyên dương trước tập thể: mỗi lần đổi tên, người đàn ông như được thăng lên một trật... Nhưng ai dám vội nói nhiều về các ý nghĩa? Một địa danh, một chút xíu chứng cớ đó, bất quá nó chỉ có thể gợi lên vấn đề, khiến ta ngờ rằng ở đây có một quan niệm về tương quan thân thuộc ngộ nghĩnh. Trước khi rút được cái ý nghĩa của những khác lạ ngộ nghĩnh ấy, còn nhiều tìm tòi.
Lối gọi tên của người Rhadé cũng thấy phổ biến ở xã hội M'Nông (ông Trang Long kể trên là người M'Nông), và ở sắc dân Jarai sống tại Phú Bổn. Nhưng người Jarai ở Pleiku không dùng lối gọi ấy.
Người Jarai Pleiku thì lại có cái ngộ nghĩnh trong sự xưng hô. Ở đây, rể và dâu đều gọi chung là ană pơtâu; cha chồng, mẹ chồng, cha vợ, mẹ vợ, đều là tơhmua cả; anh rể, chị dâu đều là ai cả... Không phải người Jarai không phân biệt phái tính: chị là amai, anh là ayong, cha là ama, mẹ là ami v.v... Nhưng chỉ có sự phân biệt phái tính trong thân thuộc mình, còn đối với những thành phần "ngoại nhập" thì sự xưng hô thật là sơ lược, không cần quan tâm đến chuyện nam nữ.
Những cách xưng hô của các sắc dân nọ hẳn là có phản ảnh cơ cấu thân tộc riêng biệt của họ, đối với của chúng ta có những chỗ khác nhau đáng chú ý. Những chỗ khác ấy không chắc sẽ còn tồn tại lâu dài, nếu không ghi nhận kịp thời, có thể một ngày kia sự tìm hiểu sẽ thành khó vì quá muộn.
Hiện nay, tại các đơn vị quân đội trên Cao nguyên, thỉnh thoảng gặp trường hợp một binh nhì mười tám tuổi khai tình trạng gia đình: một vợ chín con. Anh ta không nói dối: theo tục lệ, sau khi các người anh lớn qua đời, anh ta cưới chị dâu và nuôi tất cả đàn con của anh.
Cũng hiện nay, trên Cao nguyên, nhiều gái Thượng đi làm sở Mỹ, cũng lừa chồng đẻ con da trắng tóc vàng; cũng có đám con gái Thượng "bụi đời", chống đối cha mẹ; lại cũng có những cô gái thượng lấy chồng Mỹ, và trao đổi thư từ ra rít với California, Texas v.v... Anh Dj... một người bạn Jarai đã lớn tuổi, kể lại những nông nỗi ấy, rồi lắc đầu: "Vậy đó ông, không khác gì người Kinh". Anh vội vàng tiếp theo: "Xin lỗi!" (Anh xin lỗi vì đã bảo người Thượng không thua người Kinh, hay bắt đầu ngao ngán về người Kinh?) Dù sao, quả thực trong nếp sống người Thượng đang có những biến chuyển nhanh chóng. Nhất là từ ngày buôn ấp bất an, người Thượng phải dồn về các ấp tân sinh, các trại tạm cư gần đô thị.
Con gái Thượng đã "bụi đời", đã tiến hăng thế, sức mấy mà con trai mười sáu mười bảy chịu tiếp tục ôm lấy một bà chị dâu nhăn nheo với đàn con chín đứa? Cơ cấu thân tộc cũ chẳng bao lâu nữa sẽ tan vỡ.
Thân tộc, cơ cấu, Claude Lévi-Strauss v.v... những món thời thượng đó, nhiều người vui lòng nói đến lắm. Nhưng nói với những dẫn chứng về dân Trobiandais, dân Pueblos, dân Iroquois, dân Esquimaux v.v... kia. Mấy khi có dẫn chứng về cuộc sống quanh ta? Những hành trình ra hành trình vào dân tộc học vẫn theo các con đường lạ hoắc. Giá có được cuộc hành trình bằng con đường ama Trang Long, ama Trang Gưh!