Cách Đà Lạt chừng mười cây số có một trường tiểu học năm lớp. Bốn người trong số năm giáo viên thuộc nữ phái; và trong bốn cô giáo, ba cô là người Thượng.
Không biết chừng bao lâu nữa thì phụ nữ Thượng có người làm xã trưởng, quận trưởng v.v... Dầu sao cuộc tranh đấu cho nữ quyền, nếu có, tại xã hội người Thượng đã diễn ra êm thắm hơn ở xã hội người Kinh chúng ta mấy mươi năm trước: không có diễn thuyết ồn ào, không tốn giấy mực biện luận...
Nhưng điều làm cho tôi chú ý hôm ấy không phải là chuyện nữ quyền cao xa, mà là một chú bé chín tháng đang khóc oe oe trên lưng một cô giáo. Chú bé thật dễ thương, được mẹ địu trong tấm vải trắng sạch sẽ. Chú bé cũng ngoan: mẹ vuốt ve dỗ dành một tí là nín ngay, là lại yên lặng ngồi trong địu, bằng lòng giải trí một mình với ngón tay cái ngậm trong miệng...
Một cô giáo ngày hai buổi đều đều cõng con len lỏi giữa hai dãy bàn học trò hay đứng trước bảng đen giảng bài, đó là một hình ảnh lạ mắt đối với chúng ta từ miền xuôi đến. Lạ mắt và ngộ nghĩnh.
Nhưng một vị thanh tra quen nề nếp sinh hoạt giảng dạy ở các trường Sài Gòn, Gia Định, Long Xuyên, Cần Thơ v.v... chẳng hạn, nếu một vị thanh tra như thế được đổi lên đây, một hôm đến trường gặp chú bé vật vã khóc thét lên và làm xấu trên lưng cô giáo giữa bài chính tả thi lục cá nguyệt, hay giữa bài vệ sinh đang giảng ngon trớn v.v... không biết vị thanh tra phản ứng ra sao.
Thiết tưởng một vẻ khó chịu trên nét mặt của ông sẽ đặt cô giáo trước một tình trạng rất khó xử. Vì đó không phải là sự bất bình đối với một cá nhân, mà là sự phản đối trước nếp sống của một xã hội: trong xã hội hầu hết các sắc dân thiểu số ở thượng du, người ta vẫn địu con đi ra suối lấy nước, đi xuống khe bắt cá, đi vào rừng làm rẫy v.v..., người ta vẫn địu con theo bên mình trong khi đi làm mọi công việc khắp nơi; tại sao cô giáo lại không địu con vào lớp dạy học?
* * *
Chúng ta vừa nói đến một hình ảnh lạ mắt trong lớp học. Thật ra, riêng về cách bồng con, người đàn bà Việt Nam là cả một sự lạ mắt giữa các giống dân ở miền bán đảo này. Không sao? Gần như bao nhiêu sắc dân sống chung quanh ta: Rhadé, Bahnar, Sédang, Thái v.v... đều mang con sau lưng. Người Trung Hoa cũng mang con sau lưng. Thế mà riêng người Việt chúng ta cứ ngang bướng làm theo ý mình, từ nghìn xưa đến giờ không thay đổi: bồng con ngang hông. (Nghe nói người Mường, người anh em của chúng ta, trừ một vài nhóm địa phương, cũng bồng con theo kiểu người Kinh).
Sống giữa các dân tộc khác, chúng ta từng mượn của họ chữ viết, mượn nhiều tiếng nói, học cách canh tác của họ, cách ăn mặc của họ v.v..., nhưng về cách bồng con thì chúng ta phớt đều: ai làm kiểu nào mặc họ, ta giữ kiểu ta. Chẳng những thế, thỉnh thoảng ta còn trao cho người Tàu một dáng điệu của ta:
"Duyên em dầu nối chỉ hồng,
May ra: khi đã tay bồng tay mang".
Ấy là hình ảnh một cô Thúy Vân nào đó đồng hương với cụ Nguyễn Du, chứ con gái ông viên ngoại bên Tàu đâu có bận bịu gì đến tay nọ tay kia, dù phải mang con cái?
Chỗ sở trường của lối địu con người Tàu và người thượng du, là nó để hai tay được hoàn toàn rảnh rang. Như thế, một người có thể giữ đứa bé bên mình rất lâu không bị mỏi tay, và có thể vừa mang con vừa làm việc.
Lối của chúng ta thì trái lại. Tục ngữ chúng ta có câu: "Bồng con khỏi xay lúa, xay lúa khỏi bồng con". Bồng con là một công việc, không thể kiêm nhiệm.
Như vậy, người đàn bà Việt Nam hoặc không quyến luyến con cái, hoặc không đảm đang bằng những người đàn bà thuộc các dân tộc chung quanh chăng?
* * *
Không một ai trong chúng ta chịu ngừng lại ở một cảm tưởng như thế. Và một hôm đến chơi một ấp thượng ở Kiến Đức (tỉnh Quảng Đức), gần quốc lộ 14, vào khoảng mười giờ trưa, tôi có dịp nhận ra rằng không ngừng lại, đó không phải là một thái độ chủ quan, hoàn toàn dựa vào tình cảm.
Ấp Bu-ksơ vào giờ ấy vắng vẻ lạ thường: vài con gà thơ thẩn trên mái nhà, gió thổi làm tốc xòe lông đuôi; nhiều đàn gà khác kiếm ăn trong nhà, dạo chơi trên những tấm sạp vốn là chỗ nghỉ ngơi cho người vào ban đêm; trong nhà thì bếp lạnh tro tàn; ngoài sân hoang vắng trống trải, còn trơ mấy bãi phân voi... Thật ra bên cạnh đó cũng có vài đứa bé chơi đùa, và trong một vài ngôi nhà cũng có một cô gái ngồi duỗi chân dệt vải. Nhưng quả là ở dưới trung du, dù vào ngày mùa ai nấy phải đổ ra đồng làm lụng, cũng ít khi gặp một cảnh xóm làng vắng vẻ như thế.
Không phải hôm ấy tôi rơi vào một trường hợp đặc biệt. Nhiều anh em cán bộ chính quyền ở địa phương thường than rằng đi công tác tại các ấp Thượng là cả một sự vất vả. Phải dậy sớm, đi nhanh, đến ấp thật sớm; nếu không thì chẳng tiếp xúc được với dân làng; vì họ kéo nhau đi rẫy hết, bỏ ấp vắng tanh. (Vâng, chiều họ lại về; nhưng bấy giờ còn đủ thì giờ đâu mà hội họp nữa? trừ phi điều kiện an ninh cho phép ta ở lại ngủ đêm với họ).
Quang cảnh ở một ấp thượng náo nhiệt nhất là vào khoảng bốn năm giờ chiều. Người và voi từ rẫy về. Kẻ hái được mớ rau, mớ bầu bí, mớ bắp v.v... thì soạn hoa quả từ trong gùi ra, gia đình tíu tít. Người săn bắn được con cheo, con nai v.v... thì tính chuyện bán buôn. Rồi bếp được nổi lửa thổi cơm, khói xanh tỏa lên, gà vịt rộn ràng, trẻ con chí chóe v.v... Sau đó ánh nắng tắt, sương mù buông xuống, khói núi mờ mịt, màn đêm kéo đến, sinh hoạt lịm đi nhanh chóng.
Trong một nếp sống hàng ngày như thế, mẹ không địu con bên mình sao được? Đi rẫy không phải một giờ một buổi, mà là đi suốt ngày, cho nên không thể bỏ con lại nhà. Vả lại gần như cả nhà cùng đi rẫy, bỏ con lại thì ai trông nom.
* * *
Bảo rằng lề lối làm ăn sinh sống giải thích tất cả cách thức ẵm bồng con cái thì là liều lĩnh quá. Tuy nhiên, cứ xem cái kiểu nách con ngang hông với một tay luôn luôn kẹp vào sườn nó, ta không thể nào tưởng tượng người đàn bà Việt Nam dưới Kinh từng trải qua nếp sinh hoạt của người đàn bà Thượng. Người đàn bà Kinh không thể mang con theo trong lúc làm việc; tổ chức gia đình, lề lối sinh sống không bắt buộc họ phải làm như thế; nếu bị bắt buộc, họ đã nghĩ ra cách mang con kiểu khác.
Hiện thời giống người Tasaday bên Philippines mỗi ngày chỉ phải rời hang động có ba giờ đồng hồ là đã tìm kiếm đủ thức ăn. Tổ tiên chúng ta xưa kia cũng may mắn gặp cảnh an nhàn như thế chăng? Nhàn hơn cả tổ tiên các ông Lão tử, Trang tử, Bạch Thư Hương, Tô Đông Pha, Đào Uyên Minh v.v...? Dám lắm chứ, sao không? Chúng ta không có nhiều sách triết lý, nhiều thơ phú ca tụng chữ nhàn bằng họ, nhưng chúng ta có lối nách con: hùng hồn bằng mấy chứ lại.
Ngay từ cổ thời (từ thời chưa tách biệt với người Mường), chúng ta đã miễn công tác cho người chăm sóc trẻ con. Người ấy là bà mẹ, cũng có thể là ông nội, bà nội, là ông bác, bà cô già v.v... Chúng ta sắp xếp lối sống trong gia đình cách nào mà luôn luôn có hạng được nghỉ ngơi, ở nhà trông coi vườn tược con cái, trong lúc hạng trai tráng khỏe mạnh ra đồng làm việc, Chúng ta không huy động toàn bộ gia đình vào công việc kiếm ăn bên ngoài, đến nỗi xóm làng vắng vẻ, nhà cửa trống trơ...
Cô giáo Thượng địu con vào lớp, là vì cơ cấu xã hội, là vì tổ chức gia đình bắt cô phải thế. Bỏ con lại nhà, cô bỏ nó cho ai? Cô buộc ai ngưng công việc ngoài rẫy? Cô làm xáo trộn nề nếp sinh hoạt của tập thể đến thế sao? Cô muốn làm "cách mạng" sao chớ?
Cô đi dạy? Cô có địa vị? - Đồng ý. Chuyện nam nữ bình quyền, chuyện phụ nữ chức nghiệp v.v... coi vậy mà không quan trọng. Miễn cô cứ tiếp tục địu con trên lưng.
11-1972