Có nhà khảo cứu ngoài Bắc để ý đến một sự trùng hợp kỳ lạ trong tiếng nói của rất nhiều dân tộc sống trên đất ta và trên cả miền Đông Nam Á, sự trùng hợp ở danh từ dùng để gọi con cá. Tiếng Mường cũng là cá, tiếng Xá là ca, tiếng Puộc là ca, tiếng Mãng ư là a, tiếng Thái là pa, tiếng Tày và Nùng là pia, tiếng Arem là ke, tiếng Vân Kiều là Xia, tiếng Rục là ca, tiếng Bahnar và Stieng là ca, tiếng Lào và tiếng Indonesia cũng là ca.
Hãy viện trợ thêm vài bằng chứng nữa thuộc ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên Trung phần: tiếng M'nông và tiếng Mạ là ca, tiếng Sédang là ka, tiếng Rhadé và Jarai là kan.
Điều ấy có ý nghĩa gì? - Nhà khảo cứu suy diễn rằng có lẽ từ rất xa xưa, từ khi ngôn ngữ mới thành hình trong các dân tộc cùng sống trên dải đất Đông Nam Á, khi tiếng nói của từng dân tộc chưa chia biết tách riêng, ngay từ thuở ấy con cá đã có tên gọi, đã được chú trọng, đã có vai trò lớn trong đời sống của các dân tộc nọ, đã quen thuộc, đã gần gũi với các dân tộc nọ.
Cá quen thuộc và gần gũi với người theo cách riêng biệt của nó: cách chui đầu vào nom vào đó, cách cắn câu!
Bởi vậy, tại Bảo tàng viện Paris, nhà khảo cứu để ý rằng trong sưu tập các loại dụng cụ đánh cá đan bằng nan trên thế giới, thì dụng cụ của dân Đông Nam Á là phong phú nhất.
Tôi không được chứng kiến cái sự phong phú ấy tại Paris. Nhưng một đêm ở Gia Nghĩa, được nghe kể về dăm ba hình thức bắt cá của người M'Nông và Mạ khá lý thú.
Ông bạn người địa phương - một ông bạn từng đi lính dưới thời Pháp thuộc, đóng quân gần khắp nơi ở Cao Nguyên, quá nửa đời người dành rất nhiều thì giờ cho các trò săn thú, bắn chim, đánh cá v.v... Ông bạn ấy kể:
- Người ở đây họ có thứ đó đan bằng ống lồ ô chẻ ra, khá hẹp. Bên trong, theo chiều dọc, họ buộc những cọng mây. Gai mây quay về một chiều, xuôi vào phía cuối đò: cá đi vào thì được, nhưng lúc muốn lui ra, ngược chiều gai mây, cá bị gai móc vào thịt.
Anh Y Y... người Mạ, ngồi bên cạnh lấy làm thích thú về cái mưu mẹo của đồng bào mình. Anh phát lên cười, giải thích:
- N'glẽ! Cái ấy, tên nó là n'glẽ.
- Lại còn thứ này nữa, tựa như cái bẫy chuột ở dưới ta. Họ vây lại một khoảnh nhỏ, ngay lối ra vào có một cái cửa treo cao lên bằng cần bẩy. Khi cá vào bên trong đông đảo, tranh nhau ăn mồi, làm động cần bẩy, cửa sập xuống, giữ cá lại...
Anh Y Y... sáng mắt lên, hãnh diện kêu:
- Mar!
Cái mar cái n'glẽ, không biết có chăng trong đám sưu tập phong phú nọ tại Bảo tàng viện Paris, điều ấy không dám quyết. Duy hình thức bắt cá sau đây thì chắc chắn không được trình bày tại Paris:
- Người ta buộc con ong vào một đầu sợi chỉ, buộc trái bưởi vào đầu khác. Thứ bẫy ngộ nghĩnh nọ được quăng xuống nước; con ong bay lên bị sợi chỉ giật rơi trên mặt nước, lại bay rồi lại bị giật rớt xuống... Cứ thế đến một lúc con ong bị cá chú ý vì những xao động gây trên mặt nước. Nó bị một con cá đớp, nuốt. Ong đốt cá. Ban đầu cá còn sức mạnh để lôi trái bưởi chạy tung tăng, rút trái bưởi chìm sâu. Nhưng rồi cá đuối sức, trái bưởi lại nổi lên, trôi lững đững... Người ta đón ở phía dưới dòng nước, vớt bưởi và cá lên.
Anh Y Y... lần này lắc đầu, không biết lối bắt cá ấy tên gọi là gì. Người Mạ không có lối đó chăng? Anh Y... về thành phố học hành quá sớm, không thông thạo về nghề cá của đồng bào mình chăng? Tôi ghi lại cả những lối anh Y... biết tên và cả lối mà anh không biết tên gọi. Một cuộc tìm tòi khảo sát nghiêm chỉnh của một người có kiến thức chuyên môn chắc chắn sẽ phát giác thêm nhiều cách thức kiếm sống gợi lại hình ảnh cuộc sinh hoạt của tổ tiên ta xưa kia.
Trong lúc chúng tôi chuyện trò, ông cụ ở nhà trọ ngồi đánh chắn. Bên ngoài, trời tối như mực. Thành phố không đèn. Đóm bay thưa thớt lạc loài mấy con. Sương xuống ướt đầm cây lá trong vườn... Mười hai giờ đêm còn trông thấy ông cụ tám mươi tuổi già trong đám chắn; ba giờ sáng, chợt thức giấc, thấy ông cụ cầm cây đèn cầy đi tìm cái điếu hút một điếu thuốc lào; năm giờ sáng lại bắt gặp ông cụ ngồi uống trà. Ông cụ phân trần: "Không ngủ được, ông ơi. Lắm đêm tôi chỉ chớp mắt được mươi phút, nửa giờ. Thế này còn khá; vào mùa gió dữ thì suốt đêm thao thức. Ông nghĩ: Cả nhà con cháu ngủ cả, một mình thức chòng chọc, lẩm thẩm, quanh quẩn, như lén như lút! Tôi chỉ mong cho được chết. Sống chừng này như cái cây đã khô bên trong: không còn sinh thú gì nữa..."
Lên đây, nhà xã hội học lần dò về cuộc sống cổ sơ; còn những vị có đầu óc triết lý, trong khung cảnh này, bên cạnh các sức mạnh thiên nhiên hoang dại, các vị ấy sẽ có chán chê thì giờ để miệt mài suy tưởng về các vấn đề của cuộc sống, về ý nghĩa kiếp người.
10-1971