Chợ Lớn là một nửa của Sài Gòn - Chợ Lớn, tức một nửa của đô thị lớn nhất miền Nam. Ở Chợ Lớn đầy người Tàu! Ngoài Trung ngoài Bắc không có nơi nào người Tàu hiện diện đông đảo như thế. Đã vậy, ở miền Nam, người Tàu không phải chỉ ở Chợ Lớn mà còn tỏa sâu về các tỉnh, về quê: "Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều châu". Đông đảo và khắp cùng, đâu đâu cũng có họ.
Ấy là cái rộng rãi trong không gian. Nói về cái dài lâu trong thời gian thì người Tàu đã có mặt gần một lượt với chúng ta từ buổi đầu, đã dự phần khai phá miền Nam này. Mạc Cửu, Dương Ngạn Địch, v.v... họ chia nhau với chúa Nguyễn cái công mở nước cho ta.
Sự có mặt người Tàu trong quá khứ đưa tới một kết quả: ảnh hưởng văn hóa của họ rất sâu đậm. Nhưng điều làm cho chúng ta lo lắng nhất là chuyện trước mắt, trong hiện tại: quyền lực kinh tế của họ thật lớn lao.
Người Tàu là cả một vấn đề của miền Nam, và chỉ của miền Nam thôi. Ở Trung Bắc không có chuyện trầm trọng đó.
Ở miền Nam, người Miên cũng là một vấn đề nữa.
Cà Mau, Sóc Trăng, Sa Đéc, Ba Thắc, Cần Giờ, Cái Tắc, Trà Cú, Nha Mân, Trà Luộc v.v... một số địa danh từ tỉnh đến thôn ấp, từ sông lớn đến rạch con, từ chỗ thị trấn đến hòn cù lao v.v... vốn do người Miên lưu lại. vết tích ấy có thể không quan trọng, vì không phải là đặc điểm của miền Nam: những Lào Kay, Móng Cáy, Pleiku, Kontum v.v... ngoài Bắc ngoài Trung, cha ông chúng ta cũng không đặt ra mà chỉ phiên âm ra thôi.
Ngót trăm rưởi ngôi chùa Miên ở một tỉnh Vĩnh Bình có thể cũng không quan trọng nữa chăng? Chùa Miên ở đây không coi như tháp Chàm ngoài Trung được sao?
- Cái rắc rối là không thể coi như vậy được. Ngoài kia, tháp là cổ tích; trong này, chùa vẫn sống động. Chùa quy tụ tín đồ đông đảo, giữ vai trò của nó trong sinh hoạt xã hội hiện tại. Ngót một triệu người Miên chia nửa dân số ở một vài tỉnh Hậu Giang, chiếm tuyệt đại đa số ở một số quận, cái tập thể ấy vẫn giữ nếp sống riêng của họ, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn tự ngôn ngữ của họ.
Món cà ri, tô bún nước lèo, cái khăn quấn đầu, chiếc cà ràng trên bếp v.v... đã được người Việt chấp nhận. Ảnh hưởng văn hóa Miên đã len lỏi vào nếp sống chúng ta ở miền Nam từ lâu, nhưng sự hiện diện của người Miên lâu lâu vẫn làm ngỡ ngàng chúng ta bằng những biến cố như các vụ "thổ dậy" trong thời kháng chiến, vụ đòi "quyền thiểu sổ" mới đây... Bởi vì họ vẫn hiện diện riêng biệt.
* * *
So với mười bảy triệu dân miền Nam thì họ là thiểu số thật. Người Miên: thiểu số; người Hoa: cũng thiểu số nữa.
Tuy vậy các nhóm thiểu số này không giống trường hợp người Mán, người Mường... ở Bắc, hay người Rhadé, người Bahnar... ở Trung. Các sắc dân Mán, Mường, Rhadé, Bahnar... chỉ có "nơi này làm quê hương", cũng như chúng ta vậy. Còn người Miên người Hoa thì có khác.
Người Miên, tổ tiên của họ đã có một thời dựng nên kỳ quan Đế Thiên Đế Thích; người Tàu, ai cũng biết quá khứ của họ còn huy hoàng gấp mấy. Trong lịch sử, cả hai, họ dựa lưng vào những nền văn minh rực rỡ. Và trong hiện tại, họ dựa lưng vào những quốc gia độc lập. Người Miên sống bên cạnh chúng ta nhưng đã chắc đâu không xúc động về những tin Sihanouk bị lật đổ, những tin chiến sự quanh Nam Vang? Người Tàu thì dù sống ở đâu chắc chắn cũng cứ xúc động hoặc về các thành công về vũ khí nguyên tử của Trung Quốc, hoặc về sự rắc rối bang giao giữa Hoa Kỳ với Đài Loan.
Nói người Miên, người Tàu, là cách nói quen miệng theo ngôn ngữ thông dụng hàng ngày. Kẻ phát ngôn có ý thức, đúng phép tắc, thì phải nói là người Việt gốc Miên và người Việt gốc Hoa. Ý thức đây là ý thức muốn hòa đồng các khối người kia làm một vào dân tộc ta.
Trên pháp lý đã có sự hòa đồng ấy. Nhưng trên thực tế, những tập thể gốc này gốc nọ vẫn có nếp sống riêng, tâm tư riêng, quyền lợi riêng, nguyện vọng riêng... Như vậy không phải là lỗi ở chúng ta: Có quốc gia nào trên thế giới mà hòa đồng trộn vẹn, mà "tiêu hóa" nổi những tập thể người Tàu chẳng hạn? Hoặc đông đảo như ở Mã Lai, hoặc bị hạn chế như tại Hoa Kỳ, Anh v.v..., người Tàu ở đâu cũng tồn tại như một xã hội riêng biệt.
Cũng như thế, họ sẽ tồn tại và phát triển ở xứ ta.
* * *
Nói đến nếp sống riêng, tâm tư riêng... miền Nam không phải chỉ có những khối chủng tộc. Còn có những khối tôn giáo nữa. Nếp sống riêng ở đây là nếp sống tinh thần.
Thì ở ngoài Bắc ngoài Trung cũng có Phật giáo, Công giáo vậy.
Nhưng, một là trong Nam có nhiều tôn giáo hơn: ngoài các khối Phật giáo, Công giáo, còn có những khối Hòa Hảo, Cao Đài, mỗi khối quy tụ vài triệu tín đồ; hai là - theo cách nói của một học giả miền Nam, ông Hồ Hữu Tường - "quần chúng trong Nam là một khối quần chúng đượm nồng ảnh hưởng tôn giáo" (Tạp chí Liên Minh, số 3): trong Nam tôn giáo có địa vị cực quan trọng trong đời sống của quần chúng.
Như vậy đâu có nghĩa là phải có mâu thuẫn giữa các khối ấy?
Đâu có cái nghĩa bất lợi ấy? Chỉ có điều tất nhiên là những kẻ cùng thiết tha với niềm tin tưởng chung thì muốn gần nhau hơn và không dễ chan hòa vào một cộng đồng khác tin tưởng.
Như vậy miền Nam, miền đất mới mẻ nhất của xứ sở, có chứa trong lòng nó khá nhiều khối người khác nhau về chủng tộc, về tôn giáo. Nó sẽ tiêu hóa các khối đó như thế nào để đạt lý tưởng thuần nhất?
* * *
Thời kỳ chúng ta có những hiện tượng trái ngược cùng xảy ra một lượt.
Nhờ phương tiện lưu thông nhanh chóng, thế giới thu hẹp lại, xứ xứ gần nhau, biên giới quốc gia tưởng chừng mờ nhạt dần: sau thị trường chung Âu châu, người ta nghĩ đến một siêu quốc gia Âu châu... Nhưng đồng thời với xu hướng liên hợp, cũng lại xuất hiện xu hướng phân hóa trong lòng các quốc gia.
Hồi giáo và Ấn giáo đã chia hai nước Ấn độ, rồi lý do chủng tộc lại chia đôi Đông Hồi với Tây Hồi. Ở Gia nã đại, khối tiếng Anh và khối tiếng Pháp đòi phân ly. Ở Hoa Kỳ, khối da đen da trắng ở Anh quốc, tôn giáo ly khai tại Ái Nhĩ Lan. Ở Bỉ, ở Nam Tư ở Tây Ban Nha v.v... đâu đâu cũng có những manh nha đòi tự trị của từng khối người.
Tại Pháp, những khối dân Breton, Alsacien, Basque v.v... cũng muốn tách biệt. Người Basque chẳng hạn đòi thành lập một quốc gia riêng, có quốc ca (Gorodi), có quốc ngữ (Gora Euzkadi Askatuta: Tổ quốc Basque muôn năm!) Đề tựa cuốn Le procès de Burgos của Gisèle Halini nói về vụ “tổ quốc Basque” này, Jean-Paul Sartre cho rằng đó không phải là chuyện ngẫu nhiên mà là kết quả của một tình trạng mới. Trước kia, tại nhiều nơi, sự thống nhất quốc gia đã được thực hiện với ít nhiều cưỡng bách, đe dọa: nếu các nhóm dân không cấp tốc kết tập làm một, nước sẽ yếu, sẽ bị lân bang xâm chiếm. Bây giờ, vũ khí nguyên tử và sự liên hệ quốc tế chặt chẽ không cho phép nước này chiếm nước nọ dễ dàng. Hết bị đe dọa, các khối ly tán.
Riêng về điều ấy, chúng ta không lo. Gì chứ đe dọa thì miền Nam chưa hết. Tuy nhiên, sự kết tập vẫn bất ổn thế nào...
- Chính vì đã quen thích nghi với một tình thế như vậy mà lần này ta có thể chịu đựng nổi cuộc thử thách mới chăng ?
2-1973