Nhà phân tâm học cho rằng trong tuổi ấu thơ có một thời kỳ đời con gái chợt để ý nó thiếu mất cơ quan sinh dục của con trai: ở cái chỗ mà đứa con trai đeo một bộ phận ngộ nghĩnh thì nó lại gần như chẳng có gì cả. Tội nghiệp, nó sinh mặc cảm.
Nền văn chương Á Đông xưa kia thiếu đi nụ cười có thể buồn lòng vì chỗ thua thiệt đó. Tuy rằng trong cả hai trường hợp sự so sánh đều không đúng: đứng đắn khác với cười cợt, cũng như con gái khác với con trai chứ không phải là một thứ con trai chưa hoàn tất.
Vả lại ở Âu Tây, nơi mà các người trí thức hay cười, không phải lúc nào họ cũng cười. Ở Nga, suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 người ta cười thế nào mà đến nỗi Alexandre Blok coi như ai nấy mắc bệnh. Nhà thơ cho rằng cái cười nhạo báng quỷ quái đó rốt cuộc thành ra là một hình thức nổi loạn chống báng mọi thứ trên đời, nó là một căn bệnh thấm nhiễm vào cả một thế hệ mà thầy thuốc không biết tên gì. Nhà thơ bèn đặt tên cho nó là bệnh mỉa mai. Đó cũng là tên cuốn sách của ông, ra đời vào năm 1908.
Đúng nửa thế kỷ sau, vào năm 1958, một người Nga ký tên Abraham Tertz phát giác rằng giới trí thức gần đây ở nước ông đã hết cười, họ có thái độ giống tổ tiên mình hồi thế kỷ 18 mà khác các bậc cha chú hồi thế kỷ 19. Thế kỷ thứ 18 và thứ 20 giống nhau ở một niềm tin lạc quan; trước tin ở nữ hoàng Catherine đệ II, sau tin ở Staline. Sống vào những thời kỳ như thế người ta không chút nghi ngờ về vận mệnh dân tộc, về các giá trị tinh thần. Các tác giả cũng như các nhân vật tiểu thuyết không phân vân thắc mắc, chỉ cố gắng vượt nhau trên những tiêu chuẩn đạo đức mà ai nấy đều chấp nhận. Họ đua nhau, khuyến khích nhau, làm gương cho nhau và giải thích cho nhau. Văn giới đề huề trong không khí đứng đắn, nhất là xây dựng. Không khí văn học ở ta trước kia cũng gần như vậy. "Trai thì trung hiếu làm đầu, gái thì tiết hạnh là câu sửa mình," ai nấy có con đường rõ rệt để noi theo. Trong truyện, trong tuồng, các nhân vật ra sức gánh chịu những hy sinh dồn dập để làm người trung nghĩa. Và trung thì rồi phải thắng nịnh, chính thắng tà, lành thắng dữ. Y như là tiến bộ thắng phản động, mới thắng cũ, tốt thắng xấu trong văn chương hiện thực xã hội ở Liên Xô.
Sống với quan niệm như vậy thì còn gì để chua chát mỉa mai? Cho nên không có cái cười bệnh hoạn. Tuy vậy, theo cái cách Abraham Tertz trình bày sự việc, ông không lấy làm hân hoan về sự lành bệnh ở xứ ông. Trái lại. Kể ra ông Tertz hoi khó tính: sống như vậy có chút ngây ngô, nhưng mà sung sướng. Cả xã hội có được tin tưởng, con người ở đời có được sự ổn định trong tinh thần, thế là quý hóa rồi, ranh mãnh mà chi, tinh quái mà chi.
Có điều là ở Âu Tây thì người ta chỉ chịu yên lành một thời kỳ nào đó, rồi lại nghi ngờ, soát xét, công kích chế giễu, phá đổ lung tung, còn ở Á Đông ta thì trong mấy nghìn năm chính vẫn thắng tà ngon lành, không có gì trục trặc đáng ngại, cho nên trông nét mặt người trí thức một mực trang nghiêm đĩnh đạc.
* * *
Cười hay không cười là tùy theo một quan niệm sống, mà cũng còn tùy theo bản chất tự nhiên của tâm hồn. Có hạng người dù khi chống đối kích bác bất quá họ có thể phẫn nộ chứ không chế giễu mỉa mai.
Cười là để mà công kích. Nhưng công kích bằng cách nhạo báng tức là nhằm vào thắng lợi hơn là nhằm vào sự phải trái. Muốn cho rõ đâu là phải trái lẽ ra cứ tha hồ biện bác chỉ trích, nêu ra từng khuyết điểm một của đối phương, chứng minh rõ ràng, kỳ cho đến bao giờ hết đường chối cãi. Đó là thái độ thẳng thắn. Kẻ hay hài hước không làm như thế: họ làm cho đối thủ bị quỵ ngã trước khi thất lý, đối thủ bị hạ không phải vì sai quấy mà vì lố bịch.
Nếu thành tâm tìm sự phải trái, đôi bên đối thoại có thể chọn nơi vắng vẻ để bình tĩnh lý luận. Còn thắng lợi là chuyên cốt phô trương. Chế nhạo ai là để cho thiên hạ xung quanh cười, chứ không phải để cho đối thủ tự cười hay để chính mình phát cười. Kẻ chế nhạo kêu gọi đến phản ứng của tập thể, kêu gọi sự liên minh của quần chúng. Kẻ ấy nghĩ đến sự thắng lợi "vẻ vang" trước mặt đám đông, trong khi người biện luận chân thành không cần biết tới thái độ của quần chúng mà chỉ nghĩ đến vấn đề đang bàn cãi, hay nhiều lắm là đến kẻ đang bàn cãi với mình, đủ rồi.
Bên Âu châu có câu: "Rira bien qui rira le dernier." Chúng ta cũng vậy, chúng ta bảo nhau:
"Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước hôm sau người cười."
Trên "tiếu trường" cũng như trên chiến trường, ai nấy đều muốn đoạt lấy thắng lợi cuối cùng.
* * *
Đọc truyện, ta thường gặp nhiều tác giả có cái cười bao dung, hiền lành. Lỗ Tấn cười mà thương AQ.; Alphonse Daudet giễu cợt một cách âu yếm các cụ già, và ngay cả câu chuyện về Tartarin cũng không có ác ý. Tuy vậy, cái thương đó là thương hại, tội nghiệp, là từ trên thương xuống. Không ai ước mong ở vào một tình trạng để được lòng thương ấy.
Mặt khác nụ cười làm dễ dàng sự giao tiếp; đến tìm gặp ai mà được đón chào với nụ cười là điều may mắn. Tuy vậy ta cũng để ý thấy chẳng ai cười hay chọc cười trước những nhân vật tôn quý hay những bậc tuổi tác, nếu chưa được thân mật. Trong cái cười vẫn có gì bất kính. Trước khách lạ, dù có chuyện gì, người lịch sự vẫn giấu nụ cười. Các cô gái nhà lành thủ sẵn cây quạt che nụ cười, để giữ nết na. Cười là mất cả nết na.
Như vậy dù rằng cười là vui, nhưng trong ấy rõ ràng có cái gì xấu xa, không thanh nhã, có thể bảo hẳn là đáng ghét. Cái đó trong số những nhà nghiên cứu về hài tính có vị cho rằng bởi vì con người đến khi trưởng thành vẫn còn mang trong tiềm thức những lưu tích của tuổi ấu thơ, cái lưu tích ấy bất ngờ lộ ra làm cho mình hóa buồn cười, cho nên cái cười xác nhận ưu thế của kẻ đã chộp được chỗ "yếu" của người khác; có vị cho rằng sống là linh động, là uyển chuyển, kẻ nào lộ ra một phản ứng máy móc sẽ bị cười. Cười, cho dù nó là sự trừng phạt của xã hội đối với những phần tử không chịu thích ứng với cuộc sống, hay là sự tố giác dấu vết của thời con nít, thì nó vẫn làm cho người ta khó chịu. Bergson đã nghĩ nếu trong tâm hồn những người cao thượng nhất mà tạo hóa không lưu lại một chút tàn ác thì tiếng cười không sao có thể thành công được. Bergson còn có cách nói hay ho, thi vị hơn: kết thúc công cuộc tìm hiểu về tiếng cười, ông ví nó với mớ bọt để nổ giòn trên mặt nước, trông trắng xóa vui mắt, nhưng nếm thử một chút thì lại có vị đắng chát.
Nếu không nói đến thi vị ta suýt quên mất Baudelaire. Nhà thơ lại lên giọng y như một triết gia. Theo ông, cái cười là của ác quỷ ma vương. Kẻ hiền nhân không cười. "Hiền nhân sẽ run sợ nếu đã trót cười; hiền nhân sợ hãi cái cười, cũng như sợ hãi những trò vui thế tục, sợ hãi điều tà dâm. Người ấy dừng lại bên bờ cười cợt cũng như bên bờ vực cám dỗ..." (Tác phẩm của Baudelaire quả thực không để gợi ra nụ cười: ông rất có thể là một hiền nhân, mặc dù bậc hiền nhân này không hề kiêng kỵ thứ tội lỗi gọi là của xác thịt. Trái lại là khác!)
Như vậy cũng phải. "Hiền nhân quân tử ai là chẳng." Nhưng chuyện gì chẳng đừng được, chứ chuyện cười thì phải tránh xa. Trên bậc thang giá trị, cái cười ở một chỗ không thể nào thấp hơn.
Mặt khác, hiền nhân chưa phải là bậc cao nhất. Cao hơn hiền có các vị thánh, dĩ nhiên càng phải xa tiếng cười thêm nữa. Ở Á Đông ta, Khổng tử được tôn là thánh, ngay từ hồi còn thơ ấu đã có dáng nghiêm chỉnh đạo mạo, thích bày trò cúng tế hơn là chuyện nô đùa nghịch ngợm; lớn lên, ngoài các sách do ngài cầm bút trước tác không kể, ngay tới trong những câu trò chuyện của ngài do học trò nhặt nhạnh ghi chép cũng không có câu nào cốt phô bày một chút dí dỏm.
Lại trên thánh nhân, còn có các đấng cứu thế siêu phàm, quyền phép vạn năng. Trong kinh Tân ước bên đạo Kitô, cũng như trong các pho kinh Phật, có nhiều lời tuyệt đẹp, người nghiên cứu về văn pháp tha hồ tìm trong chúng mọi hình ảnh tu từ, nhưng mà tìm một câu hài hước thì không thấy.
* * *
Yêu dân yêu nước là hay, nhưng yêu thế nào mà đem đặt một dân tộc trong đó có mình lên trên mọi dân tộc khác, đem ra so sánh ví von với thánh, với hiền, với Phật, với Chúa, thì quả là khả ố. Ít ra cũng khả ố bằng cái cười. Bởi vậy, nên trả những lời quá khích lại cho Tây phương, vì chính chỉ có các văn sĩ triết gia Tây phương mới có những lời công kích cái cười nặng nề.
Rốt cuộc, ít nhất ta cũng có thể yên trí rằng văn học cổ điển của ta trước đây thiếu hài tính đó không phải là điều thua sút đáng buồn.
Vậy mà từ khi tiếp xúc với Tây phương ta đã đâm mê cái duyên dáng lém lỉnh của họ. Một người như Nhất Linh, về già, suy nghĩ chán rồi bèn tuyên bố: "Tuyệt đích, đối với tôi là viết giản dị mà không nhạt nhẽo, rất bình thường mà vẫn sâu sắc, giọng văn hơi điểm một chút khôi hài rất nhẹ, kín đáo." Ông tiếc cho Tolstoi đã gần tới chỗ tuyệt đích nhưng lại thiếu đi "chút duyên của một nụ cười quyến rũ." Tại sao lại phải có "một chút khôi hài" ấy? Đó là sở thích của riêng ông, ông không cắt nghĩa. Nhất Linh là người chủ trương tờ tạp chí trào phúng đầu tiên ở nước ta, cái thích cười ý nhị của ông là cái thích trọn một đời không chán. Mối quyến rũ ấy thật say người dài lâu.
Từ Nhất Linh về sau, số nhà văn Việt Nam say mê giọng văn hài hước càng ngày càng đông. Người văn nghệ Á Đông ước ao cái "tuyệt đích" ấy trong khi người văn nghệ Âu Tây coi nó đáng run sợ, phải chăng cũng giống như trường hợp cô gái nhỏ ao ước chút bộ phận mà lắm bậc nam nhi xem như là của nợ gây nhiều phiền lụy chỉ mong thiến vứt đi.
(Riêng về Tolstoi, tâm hồn ông thực là xa chuyện giễu cợt. Ông như một giáo chủ tâm tâm niệm niệm suy tìm chân lý. Thái độ ông là một thứ thái độ thành tâm xây dựng. Những vị giáo chủ, những người "xây dựng", tin tưởng, không dùng tới tiếng cười. Tiếng cười là công cụ của những kẻ hoài nghi, phá hoại).
* * *
Trải qua đến vài nghìn năm, người trí thức Đông phương cố giữ cho được chững chạc. Trong vòng một trăm năm nay, họ dần dần hóa thành những kẻ hóm hỉnh, lắm khi xỏ xiên.
Sự chuyển biến trong thái độ tinh thần như vậy tưởng cũng là điều lớn lao chứ không phải sao? Cốt cách con người biến đổi hẳn đi. Vậy mà ít ai để ý, không ai kêu gọi tự bảo vệ trước một ảnh hưởng như thế của tinh thần Tây phương.
Chuyện nói cười, từ nghìn xưa dân tộc nào cũng có. Việc thật giản dị, tưởng ở đâu và thời nào cũng thế, ai ngờ mỗi thời mỗi xứ khác nhau xa. Dần dà trong cách đùa cợt, ta học theo lối những ai đâu xa lạ, khác biệt phong thái của tổ tiên. Văn hóa bị ảnh hưởng bên ngoài quyến rũ xâm nhập từ những phía ít ngờ nhất, biết ra thì đã muộn. Con cháu giữ gìn một truyền thống văn hóa của cha ông còn khó hơn bậc phụ huynh giữ gìn cái "trong trắng" của con gái đến tuổi mười tám đôi mươi.
1-1967