Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sự Phát Sinh Và Bành Trướng Của Nền Sản Xuất Lương Thực - Chương 4. Sức Mạnh Của Nhà Nông

❊ ❊ ❊

Hồi ở tuổi thiếu niên, vào năm 1956, tôi sống suốt mùa hè ở bang Montana, làm việc cho một nông dân luống tuổi tên là Fred Hirschy. Ông sinh ở Thụy Sĩ, đến tuổi thiếu niên thì di cư sang Mỹ, sống ở miền Tây Nam Montana và gầy dựng một trong những nông trại đầu tiên ở vùng này. Hồi ông mới đến, hầu hết người châu Mỹ bản địa chuyên săn bắt hái lượm vẫn còn sống ở đó.

Các bạn tá điền của tôi là những người da trắng thô kệch hễ mở mồm là tuôn ra hàng tràng những lời tục tĩu, làm việc suốt các ngày thường để cuối tuần lại tiêu bằng hết tiền lương ở quán rượu địa phương. Tuy nhiên, trong số các tá điền có một người thuộc bộ lạc Blackfoot của người Anh-điêng tên là Levi cư xử rất khác với đám thợ thuyền lỗ mãng: lịch sự, ân cần, tỉnh táo, ăn nói đàng hoàng. Ông là người Anh-điêng đầu tiên mà tôi dành hầu hết thời gian bên cạnh, và tôi đâm ra khâm phục ông.

Chính vì vậy tôi đã thất vọng ê chề khi một chiều Chủ nhật kia ngay cả Levi cũng say khướt, chân nam đá chân chiêu và văng tục sau một tối chủ nhật say bí tỉ. Trong số những lời chửi của ông có một câu hằn sâu vào ký ức tôi: “Mẹ kiếp nhà anh, Fred Hirschy, mẹ kiếp cái con tàu đã đưa anh từ Thụy Sĩ sang đây!” Lời đó đã khiến tôi đau đớn ngộ ra rằng ở trường người ta vẫn dạy tôi cũng như bọn trẻ khác về cái gọi là công cuộc chinh phục hào hùng miền Viễn Tây nước Mỹ nhưng đối với người Anh-điêng cái công cuộc đó thực chất là gì? Gia đình Fred Hirschy tự hào về ông, một nhà nông tiên phong đã thành công trong những điều kiện khó khăn. Nhưng bộ lạc của Levi gồm các thợ săn và chiến binh lừng danh thì bị các nhà nông da trắng xâm lăng kia cướp đoạt đất đai. Làm cách nào những nhà nông đã chiến thắng các chiến binh lừng danh đó được?

Suốt hầu hết quãng thời gian từ khi tổ tiên người hiện đại tách ra khỏi tổ tiên các loài vượn lớn, cách đây khoảng 7 triệu năm, mọi con người trên Trái đất đều kiếm cái ăn hoàn toàn chỉ bằng cách hái lượm quả dại và săn bắt thú hoang, như bộ lạc Blackfoot vẫn làm vào thế kỷ XIX. Chỉ trong vòng 11.000 năm trở lại đây một số dân tộc mới chuyển sang cái gọi là sản xuất lương thực, nghĩa là thuần hóa thú hoang và cây dại rồi ăn thịt thú nuôi và các cây trồng. Ngày nay, hầu hết các dân tộc trên thế giới tiêu thụ lương thực do chính họ làm ra hoặc do ai đó khác sản xuất cho họ. Với tốc độ thay đổi như hiện nay thì chỉ trong vài thập niên nữa số ít những bộ lạc săn bắt hái lượm còn sót lại sẽ từ bỏ cách sống của mình, sẽ tan rã hoặc diệt vong, qua đó hàng bao triệu năm con người gắn bó với lối sống săn bắt hái lượm rồi sẽ cáo chung.

Mỗi dân tộc trên thế giới đạt tới sản xuất lương thực vào một thời điểm khác nhau vào thời tiền sử. Một số dân tộc, chẳng hạn người châu Úc bản địa, chẳng bao giờ đạt tới sản xuất lương thực cả. Trong số những dân tộc đã đạt tới sản xuất lương thực, một vài dân tộc (như Trung Hoa cổ đại) tự mình phát triển nền sản xuất lương thực mà không phụ thuộc vào ai, trong khi những dân tộc khác (kể cả Ai Cập cổ đại) thì tiếp thu sản xuất lương thực từ các dân tộc láng giềng. Song, như ta sẽ thấy, một cách gián tiếp, sản xuất lương thực là một điều kiện tiên quyết cho việc phát triển súng, vi trùng và thép. Vì vậy, những khác biệt địa lý dẫn đến dân tộc này hay dân tộc khác có chuyển thành nhà nông và nhà chăn nuôi hay không, nếu có thì vào thời gian nào, có thể lý giải một phần lớn tại sao số phận về sau của các dân tộc lại tương phản nhau đến vậy. Trước khi đi sâu vào sáu chương kế tiếp nhằm thấu hiểu xem những khác biệt về địa lý trong sản xuất lương thực đã phát sinh như thế nào, chương này sẽ lần theo những mối liên hệ chủ yếu mà qua đó sản xuất lương thực đã dẫn đến những ưu thế khiến Pizarro có thể bắt sống Atahualpa và dân tộc của Fred Hirschy có thể tước đoạt đất đai từ dân tộc của Levi (Hình 4.[1]).

Liên kết đầu tiên là liên kết trực tiếp nhất: càng có nhiều phương tiện chứa calori ăn được thì càng có nhiều người hơn. Trong số các loài cây dại và thú hoang, chỉ có một thiểu số nhỏ là con người ăn được hoặc đáng cho họ săn bắt hay hái lượm. Hầu hết các loài đều vô dụng, chúng ta không thể dùng làm thức ăn, vì một hay một số những nguyên nhân sau: không tiêu hóa được (như vỏ cây), độc (như bướm sâu bông tai hay nấm độc), giá trị dinh dưỡng thấp (sứa), chế biến quá nhiêu khê (các loại hạt quá nhỏ), khó săn bắt (ấu trùng của hầu hết côn trùng), hoặc săn bắt rất nguy hiểm (như tê giác). Hầu hết sinh khối (tức vật chất sống) trên mặt đất nằm dưới dạng gỗ và lá mà phần lớn không thể tiêu hóa được đối với con người.

Bằng cách chọn và nuôi trồng các loài cây và thú mà chúng ta ăn được, sao cho chúng bao hàm 95% chứ không phải 0,1% sinh khối trên một hécta đất, chúng ta có lượng calori ăn được lớn hơn nhiều trên mỗi hécta. Kết quả là, nếu chăn nuôi gia súc và làm nông, một hécta có thể nuôi sống nhiều người hơn - tiêu biểu là nhiều hơn từ 10 đến 100 lần - so với săn bắt hái lượm. Sức mạnh của những con số trần trụi này chính là lợi thế quân sự đầu tiên trong nhiều lợi thế quân sự của những bộ lạc sản xuất lương thực so với các bộ lạc săn bắt hái lượm.

40

Hình 4.[1]: Các nhân tố ảnh hưởng đến những mẫu hình chung của lịch sử

Sơ đồ chuỗi nhân quả dẫn tới các nhân tố trực tiếp (như súng, vi trùng và thép) cho phép một số dân tộc đi chinh phục những dân tộc khác, cho đến những nhân tố tối hậu (như hướng trục của các lục địa). Chẳng hạn, các bệnh truyền nhiễm đa dạng của con người đã tiến hóa ở những khu vực nơi có nhiều loài cây và thú hoang dã thích hợp cho sự thuần hóa, một phần bởi các cây trồng và vật nuôi sinh ra từ đó đã giúp nuôi sống những quần thể người đông đúc nơi mà bệnh truyền nhiễm có thể duy trì, một phần bởi các căn bệnh đã tiến hóa từ những vi trùng của bản thân các loài thú đã được thuần hóa.

Ở những xã hội loài người có sở hữu gia súc, các loài gia súc nuôi được nhiều người hơn bằng bốn cách khác nhau: cung cấp thịt, sữa, phân bón, kéo cày. Trước hết và một cách trực tiếp nhất, gia súc trở thành nguồn chính cung cấp protein động vật cho xã hội thay vì thú hoang. Chẳng hạn, ngày nay, người Mỹ có xu hướng nhận nguồn protein động vật chủ yếu từ bò, lợn, cừu và gà, trong khi thịt thú hoang chẳng hạn thịt nai chỉ là món xa xỉ ít khi đụng tới. Ngoài ra, một số loài gia súc lớn được dùng làm nguồn cung cấp sữa và sản phẩm từ sữa như bơ, phó mát, sữa chua. Các loài hữu nhũ cho sữa bao gồm bò, cừu, dê, ngựa, tuần lộc, trâu, bò yak, lạc đà Arập và lạc đà Bactrian. Bằng cách đó, trong suốt cuộc đời mình các loài hữu nhũ này cho ta nhiều calori hơn gấp mấy lần so với nếu ta chỉ giết chúng mà ăn thịt.

Các loài gia súc hữu nhũ lớn cũng tương tác với các loại cây trồng theo hai cách để nâng cao năng suất cây trồng. Trước hết, như bất kỳ người làm vườn hoặc làm nông nào ngày nay vẫn biết qua kinh nghiệm, năng suất cây trồng có thể nâng cao đáng kể nếu được bón phân chuồng. Thậm chí dù ngày nay ta có phân bón tổng hợp do các nhà máy hóa chất sản xuất, nguồn phân bón chính cho cây trồng ở hầu hết các xã hội hiện đại vẫn là phân súc vật, đặc biệt là bò, song ngoài ra còn có bò yak và cừu. Phân súc vật còn có giá trị làm nguồn chất đốt ở các xã hội truyền thống.

Ngoài ra, gia súc hữu nhũ còn tương tác với cây trồng để nâng cao năng suất lương thực bằng cách kéo cày, nhờ đó con người có thể cày cấy những mảnh đất mà trước đây không mang lại hiệu quả cao trong trồng trọt. Các loài vật kéo cày gồm bò, ngựa, trâu, bò Bali và loài lai giữa bò thường với bò yak. Sau đây là một ví dụ về giá trị của chúng: những nhà nông tiền sử đầu tiên ở Trung Âu, cái gọi là nền văn hóa Linearbandkeramik phát sinh khoảng trước 5.000 năm trCN một chút, chỉ bó hẹp ở những vùng đất đủ mềm để có thể cày cấy bằng những cây gậy chọc cầm tay. Chỉ hơn một ngàn năm sau, khi xuất hiện cày do bò kéo, các nông dân đó mới có thể mở rộng canh tác ra những vùng đất rắn rộng hơn nhiều. Tương tự, các nông dân châu Mỹ bản địa ở vùng Đồng bằng Lớn Bắc Mỹ vốn đã trồng trọt ở các thung lũng sông, nhưng canh tác trên đất rắn ở vùng cao thì phải đợi đến khi người châu Âu di cư sang vào thế kỷ XIX đem theo chiếc cày do gia súc kéo.

Trên đây là những cách trực tiếp mà qua đó việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi dẫn đến sự gia tăng dân số loài người nhờ cung cấp được nhiều lương thực hơn so với lối sống săn bắt hái lượm. Còn có một cách gián tiếp hơn, ấy là hệ quả của lối sống định cư vốn trở nên cần thiết khi người ta chuyển sang sản xuất lương thực. Trong các xã hội săn bắt hái lượm, người ta thường xuyên di chuyển để tìm lương thực hoang dã, nhưng các nhà nông thì phải thường xuyên sống ở gần ruộng vườn mình. Việc cư trú cố định còn góp phần làm tăng mật độ dân số bằng cách cho phép rút ngắn khoảng cách giữa những lần sinh. Một bà mẹ săn bắt hái lượm đang chuyển trại đi nơi khác thì chỉ có thể mang theo một đứa con bởi còn phải đèo bòng bao nhiêu thứ đồ lỉnh kỉnh khác. Bà ta không thể sinh thêm một đứa nữa chừng nào đứa trước chưa thể đi đủ nhanh để theo kịp bầy đoàn chứ không tụt lại đằng sau. Trên thực tế, các bộ lạc săn bắt hái lượm du cư chủ động sinh con cách bốn năm một đứa bằng các biện pháp như kéo dài thời gian cho con bú nhằm làm mất kinh (lactational amenorrhoea), tiết dục, giết trẻ em và phá thai. Ngược lại, những người định cư, do không bị ràng buộc vì chuyện mang con cái theo trên đường du cư, có thể sinh bao nhiêu con cũng được miễn là đủ sức nuôi ăn. Khoảng cách giữa hai lần sinh đối với nhiều dân tộc làm nông là khoảng hai năm, bằng một nửa so với các dân tộc săn bắt hái lượm. Tỷ suất sinh cao hơn ở những người sản xuất lương thực, cùng với khả năng nuôi được nhiều người hơn trên một hécta, cho phép họ đạt mật độ dân số cao hơn nhiều so với những người săn bắt hái lượm.

Một hệ quả riêng biệt của lối sống định cư là nó cho phép người ta tích trữ lương thực thặng dư, bởi việc tích trữ sẽ là vô nghĩa nếu người ta không cư trú ngay gần đó đặng canh chừng chỗ lương thực dự trữ. Tuy một số dân tộc săn bắt hái lượm du cư thỉnh thoảng cũng có thể để dành lương thực đủ ăn không chỉ trong vài ngày, song một phần thặng dư này chẳng có ích gì lắm đối với họ vì họ không thể bảo vệ nó. Nhưng lương thực dự trữ là rất quan trọng để có thể nuôi những người làm các công việc chuyên môn ngoài sản xuất lương thực, mà số này thì nhất định rất đông. Chính vì vậy mà các xã hội săn bắt hái lượm ít có hoặc hoàn toàn không có các chuyên gia toàn thời gian như vậy; những người này chỉ xuất hiện đầu tiên ở các xã hội định cư.

Hai loại chuyên gia như vậy là vua và quan lại. Các xã hội săn bắt hái lượm có xu hướng tương đối bình đẳng, không có quan lại chuyên nghiệp và tù trưởng cha truyền con nối, có tổ chức chính trị quy mô nhỏ ở cấp độ bầy người hay bộ lạc. Đó là do tất cả những người săn bắt hái lượm đủ sức khỏe đều có nghĩa vụ dành hầu hết thời gian cho việc tìm lương thực. Ngược lại, khi người ta đã có thể tích trữ lương thực thì một nhóm tinh hoa về chính trị có thể nắm quyền kiểm soát chỗ lương thực do người khác sản xuất ra, nắm quyền đánh thuế, không phải tự nuôi sống mình mà dành toàn bộ thời gian cho các hoạt động chính trị. Vì lý do này, các xã hội nông nghiệp quy mô trung bình thường được tổ chức thành tù trưởng quốc, còn vương quốc thì chỉ phát triển ở các xã hội nông nghiệp quy mô lớn mà thôi. So với các bộ lạc săn bắt hái lượm, các đơn vị chính trị phức tạp này có nhiều khả năng hơn trong việc dấy lên những cuộc chiến tranh chinh phục kéo dài. Một số dân săn bắt hái lượm ở những môi trường đặc biệt trù phú, chẳng hạn vùng bờ biển tây bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và bờ biển Ecuador cũng phát triển thành xã hội định cư, tích trữ lương thực và có những tù trưởng quốc sơ khai, nhưng họ đã không đi xa hơn trên đường chuyển hóa thành vương quốc.

Lương thực thặng dư tích trữ hình thành nhờ việc đánh thuế có thể nuôi cả những chuyên gia toàn thời gian khác nữa ngoài vua và quan lại. Nó có thể được dùng để nuôi binh lính chuyên nghiệp, điều có liên quan trực tiếp nhất đến các cuộc chiến tranh chinh phục. Đó là nhân tố quyết định trong việc đế quốc Anh rốt cuộc đã đánh bại người bản địa Maori ở New Zealand dù họ có vũ trang đầy đủ. Tuy người Maori cũng giành được vài chiến thắng oanh liệt nhưng đấy chỉ là tạm thời, họ không duy trì nổi một đội quân thường trực trên chiến địa và rốt cuộc cũng bị làm hao mòn bởi 18.000 quân chuyên nghiệp của Anh. Lương thực dự trữ cũng cho phép nuôi sống giới tăng lữ, những người mang lại sự bảo chứng về tôn giáo cho các cuộc chiến tranh chinh phạt; các thợ thủ công chẳng hạn như thợ luyện kim, thợ làm gươm, súng và các kỹ thuật khác; và các thư lại, những người có thể lưu trữ nhiều thông tin hơn gấp bội so với chỉ ghi nhớ trong đầu.

Từ trước đến giờ tôi đã nhấn mạnh những giá trị trực tiếp và gián tiếp của cây trồng và vật nuôi với tư cách là lương thực. Tuy nhiên, chúng còn có những công dụng khác, chẳng hạn như cho ta mặc ấm và cung cấp những chất liệu có giá trị. Cây trồng và vật nuôi cung cấp sợi may quần áo, chăn đệm, lưới và dây. Hầu hết các trung tâm thuần hóa cây trồng lớn đều phát triển không chỉ các cây trồng cho lương thực mà cả cây trồng cho sợi, nhất là bông vải, sợi lanh (cung cấp vải lanh) và gai dầu. Một số vật nuôi cung cấp sợi động vật, đặc biệt là len từ cừu, dê, lạc đà Nam Mỹ, lụa từ tằm. Xương gia súc là nguyên liệu quan trọng làm vật dụng đối với các dân tộc thời Đồ đá trước khi nghề luyện kim xuất hiện. Da bò được dùng làm da thuộc. Một trong các cây trồng đầu tiên ở nhiều vùng tại châu Mỹ được trồng không phải để lấy lương thực, chẳng hạn cây bầu nậm mà quả được dùng làm vật chứa.

Các loài gia súc hữu nhũ lớn còn cách mạng hóa xã hội loài người thêm một bước do chúng trở thành phương tiện giao thông đường bộ chính của chúng ta cho tới khi đường sắt được phát triển vào thế kỷ XIX. Trước khi loài vật được thuần hóa, phương tiện chính để vận chuyển người và hàng hóa trên đất liền là trên lưng người. Các loài hữu nhũ lớn đã thay đổi điều đó: lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, người ta có thể vận chuyển hàng hóa nặng cũng như người với số lượng lớn và qua những khoảng cách lớn trên bộ một cách nhanh chóng. Các gia súc dùng làm vật cưỡi là ngựa, lừa, bò yak, tuần lộc, lạc đà Arập và lạc đà Bactrian. Các con vật thuộc năm loài này, cùng với loài llama, cũng được dùng để mang hành lý. Bò và ngựa được buộc vào xe để kéo, còn tuần lộc và chó thì kéo xe trượt tuyết ở Bắc Cực. Ngựa trở thành phương tiện chủ yếu để vận chuyển đường dài trên hầu hết lục địa Âu-Á. Ba loài lạc đà được thuần hóa (lạc đà Arập, lạc đà Bactrian và llama) đóng vai trò tương tự ở nhiều vùng lần lượt tại Bắc Mỹ và Arập, Trung Á và dãy Andes.

Đóng góp trực tiếp nhất của việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi đối với các cuộc chiến tranh chinh phục là từ loài ngựa Âu-Á; vai trò quân sự của chúng cũng tương tự như xe jeep và xe tăng trong chiến tranh thời cổ đại trên lục địa này. Như tôi đã nhắc tới ở Chương 3, chúng đã cho phép Cortés và Pizarro, dù chỉ mang theo một dúm quân mạo hiểm ít ỏi, vẫn lật đổ được các đế quốc Aztec và Inca. Còn sớm hơn thế rất nhiều (khoảng 4.000 năm trCN), khi người ta còn cưỡi ngựa không có yên cương, ngựa có thể đã là nhân tố quân sự trọng yếu khi những người nói các ngôn ngữ Ấn-Âu bành trướng về phía Tây từ [vùng đất nay là] Ukraina. Các ngôn ngữ này rốt cuộc đã thay thế tất cả các ngôn ngữ Tây Âu từng tồn tại trước đó ngoại trừ tiếng Basque. Khi về sau ngựa được thắng vào xe, các trận đánh có xe do ngựa kéo (được phát minh vào khoảng 1.800 năm trCN) đã làm thay đổi triệt để hình thái chiến tranh ở vùng Cận Đông, khu vực Địa Trung Hải và Trung Hoa. Chẳng hạn, vào năm 1674 trCN, ngựa thậm chí còn cho phép một dân tộc ngoại bang, người Hyksos, chinh phục nước Ai Cập mà lúc bấy giờ chưa có ngựa, rồi tạm thời chiếm ngôi hoàng đế Ai Cập.

Về sau, khi người ta đã phát minh ra yên ngựa và bàn đạp, ngựa đã cho phép người Hung nô và làn sóng các dân tộc khác từ vùng thảo nguyên châu Á tràn sang lấn chiếm lãnh thổ đế quốc La Mã và những nước kế thừa đế quốc này, với đỉnh cao là người Mông Cổ chinh phục hầu hết châu Á và nước Nga vào thế kỷ XIII và XIV. Chỉ khi xe tải và xe tăng xuất hiện trong Thế chiến thứ nhất thì cuối cùng ngựa mới bị soán mất ngôi vị là phương tiện tấn công và vận chuyển nhanh chủ yếu trong chiến tranh. Lạc đà Arập và lạc đà Bactrian cũng đóng vai trò tương tự trong khu vực địa lý của mình. Trong tất cả các ví dụ trên, các dân tộc có ngựa (hay lạc đà) thuần hóa, hoặc có những phương tiện cải tiến để sử dụng chúng, đều có ưu thế quân sự to lớn so với các dân tộc không có chúng.

Cũng có tầm quan trọng tương đương trong các cuộc chiến tranh chinh phục là những vi trùng đã tiến hóa ở các xã hội loài người có gia súc. Các bệnh truyền nhiễm như đậu mùa, sởi và cúm đã nảy sinh như những loài vi trùng chỉ riêng có ở người, xuất phát từ sự biến dị của một số vi trùng thủy tổ rất giống như vậy đã từng lây nhiễm ở động vật (Chương 11). Những người đã thuần hóa thú vật là nạn nhân đầu tiên của các vi trùng mới tiến hóa này, nhưng sau đó những người này đã có được kháng thể cần thiết đối với các căn bệnh mới. Khi những người đã được miễn nhiễm một phần này tiếp xúc với các dân tộc khác vốn chưa từng tiếp xúc với các vi trùng đó, bệnh dịch sẽ xảy ra, giết chết có thể tới 99% những người chưa tiếp xúc. Vậy là, các vi trùng mà về sâu xa bắt nguồn từ các loài vật thuần hóa đã đóng vai trò quyết định trong việc người châu Âu chinh phục người châu Mỹ bản địa, người châu Úc, người Nam Phi và cư dân hải đảo Thái Bình Dương.

Nói ngắn gọn, việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi có ý nghĩa lớn hơn nhiều chứ không chỉ mang lại nhiều lương thực hơn và cho phép nâng cao dân số. Thặng dư lương thực có được nhờ cây trồng và vật nuôi, cũng như (ở một số khu vực) các phương tiện vận chuyển do súc vật kéo để vận chuyển lương thực thặng dư đó, đã là điều kiện tiên quyết để có những xã hội định cư, tập trung hóa về chính trị, phân chia giai tầng về xã hội, phức tạp về kinh tế và cách tân về công nghệ. Vì vậy, cuối cùng thì việc có cây trồng và vật nuôi thuần hóa đã giải thích vì sao các đế quốc, chữ viết và vũ khí bằng thép đã phát triển sớm nhất ở Âu-Á, phát triển muộn hơn hoặc hoàn toàn không phát triển ở các châu lục khác. Việc sử dụng ngựa và lạc đà trong quân sự, cũng như sức mạnh giết người của các vi trùng phát sinh từ vật nuôi, đã hoàn tất danh mục những mối liên quan chủ chốt giữa sản xuất lương thực với chiến tranh chinh phục, điều mà chúng ta sẽ khảo sát sau đây.

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.