Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5. Kẻ-có Và Kẻ-không-có Trong Lịch Sử

❊ ❊ ❊

Lịch sử loài người phần lớn bao hàm những cuộc xung đột không cân sức giữa những kẻ-có và những kẻ-không-có: giữa những dân tộc có sức mạnh của nghề nông và các dân tộc không có nó, hay giữa dân tộc có nghề nông sớm hơn với dân tộc có nghề nông muộn hơn. Chẳng lạ gì rằng sản xuất lương thực không bao giờ phát sinh ở nhiều khu vực lớn trên trái đất, bởi những lý do sinh thái khiến cho ngay cả ngày nay cũng rất khó hay thậm chí không thể làm việc đó. Chẳng hạn, cả trồng trọt lẫn chăn nuôi đều không hề phát triển trong thời tiền sử ở vùng Bắc Cực của châu Mỹ, trong khi yếu tố duy nhất của sản xuất lương thực từng phát sinh ở vùng Bắc Cực của lục địa Âu-Á là chăn nuôi tuần lộc. Sản xuất lương thực cũng không thể nảy sinh tự phát ở các vùng sa mạc xa nguồn nước cần thiết để tưới tiêu, chẳng hạn miền trung Australia và nhiều vùng ở miền tây Hoa Kỳ.

Thay vào đó, cái mà chúng ta cần lý giải là: tại sao sản xuất lương thực mãi đến thời hiện đại mới phát sinh ở một vài khu vực rất thích hợp về sinh thái mà ngày nay nằm trong số những trung tâm trồng trọt và chăn nuôi trù phú nhất trên thế giới. Chiếm hàng đầu trong số các khu vực đầy khúc mắc này, nơi các dân tộc bản địa vẫn đang sống bằng săn bắt hái lượm vào thời điểm các nhà thực dân châu Âu xuất hiện, là California và các bang ven bờ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, đồng bằng pampas ở Argentina, miền tây nam và đông nam Australia và hầu hết vùng Cape của Nam Phi. Giá như chúng ta khảo sát thế giới tại thời điểm 4.000 năm trCN, hàng ngàn năm sau khi sản xuất lương thực đã nảy sinh ở những vùng phát nguyên cổ nhất, hẳn chúng ta cũng sẽ rất ngạc nhiên khi thấy những vùng mà ngày nay là vựa lúa mì trù phú thì hồi đó chưa hề có sản xuất lương thực, bao gồm toàn bộ phần còn lại của Hoa Kỳ, nước Anh và hầu hết nước Pháp, Indonesia và toàn bộ châu Phi hạ xích đạo. Khi ta lần ngược trở lại đến tận lúc khởi nguyên của sản xuất lương thực, những vùng sớm nhất lại cho ta một ngạc nhiên khác. Những vùng sản xuất lương thực cổ xưa nhất còn lâu mới là những vựa lúa ngày nay; ngược lại, ngày nay chúng được xếp vào hàng những khu vực có phần khô hạn hoặc bị thoái hóa về sinh thái: Iraq và Iran, Mexico, vùng Andes, một số vùng của Trung Hoa, vùng Sahel của châu Phi. Tại sao sản xuất lương thực phát triển đầu tiên ở những vùng có vẻ như khá cằn cỗi đó và chỉ về sau mới phát triển ở những vùng trồng trọt và chăn nuôi phì nhiêu nhất ngày nay?

Những khác biệt địa lý liên quan đến việc sản xuất lương thực phát sinh bằng cách nào cũng khó mà lý giải được. Ở một vài nơi, sản xuất lương thực phát triển một cách độc lập, do người dân địa phương tiến hành thuần hóa cây dại và thú hoang. Ở hầu hết các nơi khác, sản xuất lương thực được du nhập vào dưới dạng cây trồng và vật nuôi đã được thuần hóa ở nơi khác. Các vùng phát nguyên sản xuất lương thực không độc lập này vốn dĩ đã thích hợp cho sản xuất lương thực từ trước khi các loài được thuần hóa kia được du nhập đến, vậy thì tại sao các dân tộc sống ở đó đã không tự mình trở thành nhà nông hay người chăn nuôi bằng cách thuần hóa cây dại và thú hoang ở chính khu vực của mình, chứ không phải viện đến sự trợ giúp từ bên ngoài?

Trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực đã nảy sinh độc lập, tại sao thời điểm nó xuất hiện lại khác nhau đến thế, chẳng hạn, ở châu Á sớm hơn ở miền đông Hoa Kỳ tới hàng ngàn năm còn ở miền đông Australia thì chẳng bao giờ xuất hiện? Trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực đã được du nhập từ nơi khác đến vào thời tiền sử, tại sao thời điểm du nhập cũng khác nhau nhiều đến thế, chẳng hạn ở tây nam châu Âu sớm hơn ở tây nam Hoa Kỳ tới hàng ngàn năm? Lại nữa, trong số các khu vực nơi sản xuất lương thực được du nhập đến, tại sao ở một số khu vực (tỉ như tây nam Hoa Kỳ) các cư dân săn bắt hái lượm bản địa đã tiếp nhận cây trồng và vật nuôi từ những người láng giềng và tiếp tục tồn tại như những người làm nông, trong khi ở các khu vực khác (chẳng hạn Indonesia và hầu hết châu Phi hạ xích đạo) sự du nhập sản xuất lương thực lại khiến những người săn bắt hái lượm bản địa bị những người sản xuất lương thực từ nơi khác đến xâm lấn và chiếm chỗ một cách tàn bạo? Tất cả những câu hỏi đó bao hàm những sự tiến hóa có ý nghĩa quyết định trong việc những dân tộc nào là kẻ-không-có còn những dân tộc nào là kẻ-có trong lịch sử.

Trước khi mong trả lời được các câu hỏi đó, ta cần phải hình dung làm sao xác định được những khu vực nào là nơi đã phát nguyên nền sản xuất lương thực, tại sao nó lại phát sinh ở đó, một loài cây hay thú đã được thuần hóa lần đầu tiên ở đâu và khi nào. Bằng chứng rõ rệt nhất là kết quả nhận diện vết tích cây trồng và vật nuôi ở các di chỉ khảo cổ. Hầu hết các loài cây và loài vật được thuần hóa đều khác biệt về hình thái so với tổ tiên hoang dã của chúng: chẳng hạn, trâu bò và cừu nhà có kích thước nhỏ hơn, gà và táo được thuần hóa có kích thước lớn hơn, vỏ hạt của một số loài đậu trồng mỏng và mịn hơn, dê nhà có sừng xoắn hình ốc vít chứ không phải hình mã tấu. Vì vậy di tích các loài cây trồng và vật nuôi ở một di chỉ khảo cổ đã xác định niên đại có thể được nhận diện và cho bằng chứng mạnh mẽ về nền sản xuất lương thực tại nơi đó và vào thời đó, trong khi một di chỉ mà chỉ có vết tích của các loài hoang dã thì không thể cho bằng chứng về sản xuất lương thực mà chỉ tương ứng với lối sống săn bắt hái lượm. Đương nhiên là những người sản xuất lương thực, nhất là những người chỉ mới chuyển sang, vẫn tiếp tục hái lượm một số loài cây dại và săn bắt một số loài thú hoang, nên vết tích lương thực ở di chỉ của họ bao gồm cả các loài hoang dã lẫn các loài đã thuần hóa.

Các nhà khảo cổ xác định niên đại sản xuất lương thực bằng cách phân tích cácbon phóng xạ tại di chỉ. Phương pháp này dựa trên sự phân rã chậm của cácbon phóng xạ C14, một thành phần rất nhỏ của cácbon, đơn vị cấu thành sự sống ở mọi nơi, thành đồng vị không phóng xạ nitơ 14. Cácbon 14 liên tục được tạo ra trong không khí bởi các tia vũ trụ. Cây cối tiếp nhận cácbon trong không khí, mà trong đó tỷ lệ C14 so với đồng vị C12 chiếm đa số là gần như ổn định (ta biết tỷ lệ này vào khoảng một trên một triệu). Cácbon này của cây cối tiếp tục làm nên cơ thể của các loài vật ăn cỏ đã ăn cây đó, kế đó lại làm nên cơ thể của các loài ăn thịt đã ăn các loài ăn cỏ đó. Tuy nhiên, khi cây hoặc thú chết đi, cứ mỗi 5.700 năm thì phân nửa hàm lượng C14 bên trong chúng lại phân rã thành C12, cho đến sau khoảng 40.000 năm thì hàm lượng C14 còn rất thấp, khó đo được hoặc khó phân biệt được với những lượng C14 nhỏ do nhiễm phải các chất của thời đại ngày nay. Vì vậy, tuổi của vật chất ở một di chỉ khảo cổ có thể tính bằng tỷ lệ C14/C12 trong vật chất đó.

Phương pháp phân tích phóng xạ có thể gặp một số vấn đề kỹ thuật, trong đó hai vấn đề đáng được nhắc tới ở đây. Một là, cho tới thập niên 1980, xác định niên đại bằng phóng xạ cácbon vẫn đòi hỏi phải có một lượng cácbon tương đối lớn (vài gam), nhiều hơn gấp bội so với khối lượng cácbon trong vài hạt đậu hoặc mảnh xương. Vì vậy, các nhà khoa học thường phải xoay sang xác định niên đại các chất liệu tìm thấy ở bên cạnh trong cùng một di chỉ mà họ cho là “gắn liền” với di tích lương thực, nghĩa là chúng ắt đã phải bị con người vứt bỏ cùng một lúc với những lương thực đó. Một chất liệu thường được chọn coi như “gắn liền” với di tích lương thực là than còn lại từ các đống lửa.

Nhưng các di chỉ khảo cổ không phải lúc nào cũng bao gồm những thứ được người xưa vứt bỏ trong cùng một ngày. Các vật chất tích tụ lại ở những thời gian khác nhau có thể bị trộn lẫn vào nhau bởi sâu bọ, các loài gặm nhấm và những nhân tố khác làm đất bị đùn lên. Vì vậy, tàn than từ một đống lửa có thể lại nằm gần di tích một loài cây hoặc thú đã chết và bị ăn thịt trước hoặc sau đó đến hàng ngàn năm. Các nhà khảo cổ ngày càng cố khắc phục khó khăn này bằng cách chỉ xác định niên đại bằng một kỹ thuật mới gọi là phép đo phổ khối gia tốc (accelerator mass spectrometry), tức là đo cácbon phóng xạ dựa trên các mẫu thật nhỏ nhờ vậy cho phép xác định niên đại một hạt đậu, một mẩu xương hay một mảnh lương thực thừa duy nhất. Trong một số trường hợp, người ta đã tìm thấy sự khác biệt lớn giữa các niên đại mới xác định gần đây dựa trên phương pháp trực tiếp mới (vốn cũng có những khó khăn của mình) với những niên đại dựa trên phương pháp gián tiếp trước kia. Trong số những niên đại gây tranh cãi mà chưa có lời giải đáp, có lẽ quan trọng nhất đối với mục đích của cuốn sách này là niên đại khi sản xuất lương thực khởi phát ở châu Mỹ: các phương pháp gián tiếp vào các thập niên 1960 và 1970 cho kết quả rất sớm là 7.000 năm trCN, nhưng niên đại được xác định gần đây dựa trên phương pháp trực tiếp lại không sớm hơn 3.500 năm trCN.

Khó khăn thứ hai khi xác định niên đại bằng phương pháp cácbon phóng xạ, ấy là tỷ lệ C14/C12 trong không khí thật ra không hẳn là không đổi mà có dao động chút ít theo thời gian, nên phép tính niên đại theo cácbon phóng xạ dựa trên giả định rằng tỷ lệ đó không đổi ắt hẳn không tránh khỏi những sai sót nhỏ mang tính hệ thống. Về nguyên tắc, việc sai sót này có lớn hay không đối với mỗi niên đại trong quá khứ có thể xác định được nhờ những loài cây lâu năm mà mỗi năm lại cho một vòng thân mới, bởi ta có thể đếm các vòng này để biết niên đại chính xác trong quá khứ cho mỗi vòng, và một mẫu cácbon của gỗ được xác định niên đại theo cách này có thể được phân tích để tìm tỷ lệ C14/C12. Bằng cách này, ta có thể “điều chỉnh” các niên đại cácbon phóng xạ đo được nhằm tính đến những dao động của tỷ lệ cácbon trong không khí. Hiệu quả của việc điều chỉnh này là, đối với những vật thể có niên đại biểu kiến (nghĩa là chưa được điều chỉnh) trong khoảng từ 1.000 đến 6.000 năm trCN, thì niên đại thật (đã điều chỉnh) sẽ sớm hơn khoảng từ vài thế kỷ đến một ngàn năm. Gần đây một số mẫu có phần xưa hơn đã bắt đầu được điều chỉnh bằng một phương pháp thay thế dựa trên một quá trình phân rã phóng xạ khác và cho kết luận rằng các mẫu mà bề ngoài có niên đại khoảng 9.000 năm trCN thật ra là có niên đại khoảng 11.000 năm trCN.

Các nhà khảo cổ thường phân biệt các niên đại đã điều chỉnh với niên đại chưa điều chỉnh bằng cách viết niên đại đã điều chỉnh bằng chữ hoa còn niên đại chưa điều chỉnh thì bằng chữ thường (chẳng hạn 3.000 BC. và 3.000 bc.). Tuy nhiên, văn liệu khảo cổ có thể gây nhầm lẫn ở điểm này, bởi nhiều sách và báo chí vẫn ghi các niên đại chưa điều chỉnh bằng chữ hoa (BC.) mà không ghi chú rằng các niên đại này thật ra chưa được điều chỉnh. Các niên đại mà tôi đưa ra trong sách này cho các sự kiện trong vòng 15.000 trở lại đây là niên đại đã được điều chỉnh. Ấy là do tính tới những sai biệt mà độc giả có thể nhận thấy giữa các niên đại trong sách này với những niên đại trong một số sách tham khảo chuẩn trước đây về thời kỳ đầu của sản xuất lương thực.

Một khi đã nhận ra và xác định niên đại các di tích cổ của cây trồng và vật nuôi, làm sao ta biết cây hay con vật đó đã thực sự được thuần hóa ở một nơi gần di chỉ đó chứ không phải được thuần hóa ở nơi khác rồi mang đến di chỉ đó? Có một phương pháp là kiểm tra bản đồ phân bố địa lý các cây dại và thú hoang vốn là tổ tiên của cây trồng hay vật nuôi đó và lập luận rằng việc thuần hóa ắt phải diễn ra ở nơi các loài tổ tiên hoang dã đó từng sống. Chẳng hạn, đậu chickpea được trồng rộng rãi bởi các nhà nông truyền thống ở vùng Địa Trung Hải và Ethiopia phía đông Ấn Độ - ngày nay Ấn Độ vẫn chiếm 80% sản lượng chickpea trên thế giới. Thế nên người ta có thể nhầm tưởng rằng chickpea đã được thuần hóa ở Ấn Độ. Nhưng hóa ra loài cây dại tổ tiên của chickpea lại chỉ mọc ở miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Lập luận rằng chickpea đã được thuần hóa ở đó được hậu thuẫn bởi sự kiện là, di tích xưa nhất cho thấy chickpea có lẽ được thuần hóa tại các di chỉ khảo cổ thời Đồ đá đều nằm ở miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và vùng lân cận phía bắc Syria cách đây khoảng 8.000 năm trCN; mãi hơn 5.000 năm sau thì bằng chứng khảo cổ về chickpea mới xuất hiện trên tiểu lục địa Ấn Độ.

Một phương pháp thứ hai để xác định địa điểm thuần hóa cây trồng hay vật nuôi là điền lên bản đồ niên đại khi mỗi loài thuần hóa xuất hiện lần đầu tiên tại từng địa điểm. Vị trí nơi loài đó xuất hiện sớm nhất có thể là nơi loài đó được thuần hóa đầu tiên, nhất là nếu loài hoang dã tổ tiên của nó cũng sinh sống ở đó, và nếu niên đại xuất hiện đầu tiên tại các địa điểm khác đều muộn dần về sau, với khoảng cách ngày càng xa dần khỏi vị trí được cho là nơi thuần hóa đầu tiên, gợi ý rằng loài này đã được truyền bá dần sang các vùng đó. Chẳng hạn, lúa mì emmer được trồng sớm nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào khoảng 8.500 năm trCN. Chẳng bao lâu sau, loài cây này tiến dần về phía tây, đến Hy Lạp vào khoảng 6.500 năm trCN và Đức vào khoảng 5.000 năm trCN. Các niên đại này gợi ý rằng lúa mì emmer đã được thuần hóa đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, kết luận này được hậu thuẫn bởi thực tế là loài cây hoang tổ tiên của lúa mì emmer chỉ giới hạn trong khu vực từ Israel đến miền tây Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tuy nhiên, như ta sẽ thấy, trong nhiều trường hợp sẽ có nhiều phức tạp nảy sinh, khi cùng một loại cây hay con vật đó được thuần hóa một cách độc lập ở nhiều khu vực khác nhau. Các trường hợp này thường có thể phát hiện khi phân tích những khác biệt về hình thái, di truyền hoặc nhiễm sắc thể nảy sinh từ đó giữa các mẫu của cùng một loài cây trồng hay vật nuôi ở nhiều khu vực khác nhau. Chẳng hạn, nòi bò u Ấn Độ có những chiếc bướu không có ở các loài gia súc ở tây Âu-Á, và phân tích di truyền cho thấy tổ tiên các loài bò Ấn Độ và tây Âu-Á ngày nay đã tách khỏi nhau từ hàng trăm ngàn năm trước, rất lâu trước khi có bất cứ loài nào được thuần hóa ở bất cứ đâu. Nghĩa là, loài bò đã được thuần hóa một cách độc lập ở Ấn Độ và ở tây Âu-Á trong vòng 10.000 năm trở lại đây, bắt đầu từ những phân loài bò hoang Ấn Độ và tây Âu-Á vốn đã tách khỏi nhau từ hàng trăm ngàn năm trước.

Giờ ta hãy trở lại những câu hỏi trước đây về sự phát sinh nền sản xuất lương thực. Ở đâu, khi nào và bằng cách nào sản xuất lương thực đã phát triển ở nhiều vùng khác nhau của trái đất?

Ở một thái cực là những khu vực nơi sản xuất lương thực phát sinh cùng một lúc và độc lập với nhau, với sự thuần hóa nhiều loại cây bản địa (ở một số trường hợp là thú hoang) trước khi du nhập bất cứ loài cây hay con nào từ nơi khác. Chỉ có năm khu vực như vậy, nơi mà ngày nay ta có bằng chứng chi tiết và đáng tin cậy: Tây Nam Á, còn được gọi là Cận Đông hay Lưỡi liềm Phì nhiêu; Trung Hoa; vùng Trung Mỹ (thuật ngữ này dùng để gọi miền trung và nam Mexico cũng như các vùng lân cận của Trung Mỹ); vùng Andes ở Nam Mỹ, có thể cả vùng lòng chảo Amazon; và miền đông Hoa Kỳ (Hình 5.[1]). Thật ra, một số hay tất cả các trung tâm này có thể bao gồm một số trung tâm kế cận nhau nơi mà sản xuất lương thực đã phát sinh ít nhiều độc lập với nhau, như vùng thung lũng Hoàng Hà của Bắc Trung Hoa và thung lũng Dương Tử của Nam Trung Hoa.

2

Ảnh 1: Các đầu giáo lớn bằng đá từng được sử dụng bởi các thợ săn Clovis, những người đã sống ở khắp Bắc Mỹ vào khoảng 13.000 năm trước.

3

Ảnh 2: Paran, một người dân cao nguyên New Guinea thuộc dân tộc Foré. Các ảnh từ 2 đến 5 là của bốn người bạn New Guinea của tôi mà cuốn sách này đề tặng.

4

Ảnh 3: Esa, một người dân cao nguyên New Guinea thuộc dân tộc Foré.

5

Ảnh 4: Kariniga, một người dân vùng đất thấp phía nam New Guinea thuộc dân tộc Tudawhe.

6

Ảnh 5: Sauakari, một người dân vùng đất thấp duyên hải phía bắc New Guinea.

7

Ảnh 6: Hai người New Guinea vùng đất thấp trên một chiếc xuồng độc mộc giữa một phụ lưu của sông Ruồi (Fly River).

8

Ảnh 7: Một thợ săn vùng đất thấp New Guinea mang cung tên và túi đựng lưới.

9

Ảnh 8: Một phụ nữ vùng đất thấp New Guinea đang đốn một cây cọ sago để lấy tinh bột.

10

Ảnh 9: Một phụ nữ người Tasmania bản địa Úc, một trong những người cuối cùng sống sót trong số những người sinh trước khi người châu Âu di cư đến Australia.

11

Ảnh 10: Javier Martin Moreno, một kỵ sĩ Tây Ban Nha ngày nay, đang biểu diễn nghệ thuật cưỡi ngựa mà các kỵ sĩ Tây Ban Nha vào thế kỷ XVI từng sử dụng để chăn bò và đánh bại người Inca.

Ảnh 11: Ví dụ về những thanh kiếm thép mà binh sĩ Tây Ban Nha từng sử dụng để đánh bại các đạo quân Inca đông hơn gấp bội; đây là kiếm của vua Ferdinand Đệ nhị xứ Tây Ban Nha.

Ảnh 12: Tranh in về một tàu buồm châu Âu thế kỷ XV đang giương hết buồm, với bánh lái đuôi tàu (một phát minh của Trung Quốc) ở đằng sau dùng để lái.

Ảnh 13: Bốn phụ nữ và trẻ em Quechua ở vùng cao nguyên Peru.

Ảnh 14: Một cậu bé Quechua cùng những con lạc đà châu Mỹ (llama), loài gia súc lớn duy nhất được thuần hóa để mang vác ở Tân Thế giới.

Ảnh 15: Nền bậc thang bằng đá ở Chichero, Thung lũng Thiêng của người Inca tại Peru.

Ảnh 16: Phục dựng trận đánh Cajamarca vào năm 1532, khi 169 người Tây Ban Nha đánh bại đạo quân Inca đông tới 80.000 người và bắt sống hoàng đế Atahualpa của Inca.

41

Hình 5.[1]: Các trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực

Dấu chấm hỏi biểu thị rằng người ta vẫn chưa rõ liệu sự phát sinh nền sản xuất lương thực ở trung tâm đó có thật là do chịu ảnh hưởng sự bành trướng sản xuất lương thực từ những trung tâm khác, hoặc (trong trường hợp New Guinea) những cây trồng sớm nhất ở khu vực đó là gì.

(Các địa danh, theo chiều kim đồng hồ, lần lượt Tân Thế giới rồi đến Cựu Thế giới)

Ngoài năm khu vực này - nơi sản xuất lương thực chắc chắn đã phát sinh từ đầu - còn có bốn khu vực khác: vùng Sahel của châu Phi, Tây Phi xích đạo, Ethiopia và New Guinea cũng là ứng viên cho cái vinh dự này. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp đều có đôi điều chưa chắc chắn. Mặc dù các loài cây dại bản địa rõ ràng là đã được thuần hóa ở vùng Sahel của châu Phi nằm ngay phía nam sa mạc Sahara, nhưng chăn nuôi gia súc có thể đã phát sinh sớm hơn trồng trọt ở vùng này, và người ta cũng chưa chắc liệu đó là những loài gia súc được thuần hóa một cách độc lập ở Sahel hay là gia súc có nguồn gốc từ vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và sau khi được du nhập vào Sahel chúng đã tạo cú hích để người ta tiến hành thuần hóa cây dại. Cũng tồn nghi như vậy là việc liệu có phải các cây trồng Sahel này sau đó đã kích thích việc thuần hóa các loài cây dại bản địa ở Tây Phi nhiệt đới (việc này thì chúng ta biết chắc) và liệu có phải việc du nhập các loài cây trồng Tây Nam Á là tác nhân kích thích việc thuần hóa các loài cây dại bản địa ở Ethiopia hay không. Còn về phần New Guinea, các nghiên cứu khảo cổ đã cho bằng chứng về việc nghề nông đã xuất hiện sớm hơn sản xuất lương thực ở bất cứ khu vực nào khác lân cận, nhưng các loại cây trồng ở đó thì chưa được nhận diện một cách xác quyết.

Bảng 5.[1] tóm lược - cho các khu vực thuần hóa cục bộ này cũng như các khu vực khác - một số loài cây trồng và vật nuôi nổi tiếng nhất cũng như niên đại thuần hóa sớm nhất được biết. Trong chín khu vực [được chọn làm] ứng viên cho [danh hiệu] trung tâm phát nguyên sản xuất lương thực độc lập, Tây Nam Á có niên đại xác định muộn nhất về cả thuần hóa cây trồng (khoảng 8.500 năm trCN) lẫn thuần hóa vật nuôi (khoảng 8.000 năm trCN); nó cũng là nơi có số niên đại cácbon phóng xạ chính xác về sản xuất lương thực thời kỳ đầu nhiều hơn gấp bội so với các khu vực khác. Các niên đại của Trung Hoa cũng sớm gần như vậy, trong khi niên đại ở miền đông Hoa Kỳ thì rõ ràng muộn hơn khoảng 6.000 năm. Đối với sáu khu vực ứng viên khác, các niên đại được xác định sớm nhất không thể bì với các niên đại của Tây Nam Á, nhưng ở sáu vùng đó có quá ít di chỉ sớm đã được xác định niên đại chính xác nên ta cũng chưa thể biết chắc chúng có thật sự muộn hơn so với Tây Nam Á hay không, nếu có thì muộn bao lâu.

Nhóm khu vực kế tiếp bao gồm các khu vực đã có thuần hóa một số loài cây và thú bản địa nhưng sản xuất lương thực ở đó chủ yếu vẫn dựa vào các loài cây và thú đã được thuần hóa ở nơi khác. Các loài thuần hóa được du nhập này có thể coi là các loài cây trồng và vật nuôi “sáng lập” bởi chúng đóng vai trò sáng lập ra nền sản xuất lương thực tại khu vực. Việc du nhập các loài thuần hóa “sáng lập” cho phép dân địa phương chuyển sang sống định cư, nhờ đó nâng cao khả năng xuất hiện những loài cây trồng địa phương từ các loài cây dại mà người ta hái lượm mang về nhà trồng một cách ngẫu nhiên song về sau thì trồng một cách có chủ ý.

Bảng 5.[1]. Ví dụ về các loài đã được thuần hóa ở từng khu vực[1]

Khu vực

Đã được thuần hóa

niên đại thuần hóa sớm nhất đã được xác minh

Cây trồng

Vật nuôi

Nguồn thuần hóa độc lập

1. Tây Nam Á

lúa mì, lúa mạch, ôliu

cừu, dê

8.500 trCN

2. Trung Hoa

lúa gạo, kê

lợn, tằm

trước 7.500 năm trCN

3. Trung Mỹ

ngô, đỗ, bí

gà tây

trước 3.500 năm trCN

4. Andes và Amazonia

khoai tây, khoai mì

lạc đà llama, chuột ghinê

trước 3.500 năm trCN

5. Đông Hoa Kỳ

hướng dương,
cây goosefoot

không

2.500 năm trCN

6. Sahel

lúa miến, gạo châu Phi

gà Guinea

trước 5.000 năm trCN

7. Tây Phi xích đạo

khoai lang châu Phi, cây cọ dầu

không

trước 3.000 năm trCN

8. Ethiopia

cà phê, cây teff[1]

không

?

9. New Guinea

mía, chuối

không

7.000 năm trCN?

Thuần hóa độc lập sau khi có sự du nhập các loài sáng lập từ nơi khác tới

10. Tây Phi

anh túc, yến mạch

không

6.000-3.500 năm trCN

11. Thung lũng Ấn hà

vừng, cà tím

bò bướu

7.000 năm trCN

12. Ai Cập

chà là sycamore, cây chuga

lừa, mèo

6.000 năm trCN

Ở ba hoặc bốn khu vực như vậy, các loài cây và vật nuôi sáng lập được du nhập từ Tây Nam Á. Một trong các khu vực đó là Tây và Trung Âu, nơi sản xuất lương thực phát sinh cùng với sự du nhập các cây trồng và vật nuôi từ Tây Nam Á vào khoảng 6.000 đến 3.500 năm trCN, nhưng ít nhất có một cây (cây anh túc, có thể cả yến mạch và vài cây khác) đã được thuần hóa ở đó một cách độc lập. Cây anh túc hoang chỉ giới hạn ở các vùng ven biển phía tây Địa Trung Hải. Hạt anh túc không có mặt tại các di chỉ khảo cổ của các cộng đồng làm nông sớm nhất ở Đông Âu và Tây Nam Á; chúng xuất hiện đầu tiên ở các di chỉ làm nông sớm ở Tây Âu. Ngược lại, dường như rõ một điều rằng sản xuất lương thực đã không tiến hóa một cách độc lập ở Tây Âu, mà chỉ được kích thích sau khi người ta du nhập các loài đã thuần hóa từ Tây Nam Á. Các xã hội làm nông ở Tây Âu nảy sinh từ đó đã tiến hành thuần hóa cây anh túc mà về sau được truyền bá về phía đông như một loại cây trồng.

Một khu vực khác nơi việc thuần hóa cục bộ dường như chỉ xuất hiện sau khi du nhập các loài cây trồng sáng lập từ Tây Nam Á là vùng thung lũng Ấn hà của tiểu lục địa Ấn Độ. Các cộng đồng làm nông sớm nhất ở vùng này vào thiên niên kỷ thứ bảy trước công nguyên đã dùng lúa mì, lúa mạch và những loài cây trồng khác vốn đã được thuần hóa trước đó ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và rõ ràng đã được truyền bá sang thung lũng Ấn hà qua ngả Iran. Chỉ về sau các loài cây thuần hóa có nguồn gốc từ các loài bản địa của tiểu lục địa Ấn Độ như bò bướu và cây vừng mới xuất hiện ở các cộng đồng làm nông ở thung lũng Ấn hà. Ở Ai Cập cũng vậy, sản xuất lương thực khởi phát vào thiên niên kỷ thứ sáu trCN với sự du nhập các loài cây trồng Tây Nam Á. Người Ai Cập sau đó tiến hành thuần hóa quả sung[2] và một loài rau địa phương gọi là chufa.

Mô hình như vậy có lẽ cũng đúng với Ethiopia, nơi lúa mì, lúa mạch và các loài cây trồng Tây Nam Á khác đã được trồng trong một thời gian dài. Người Ethiopia cũng đã thuần hóa nhiều loài hoang dã ở địa phương để có được các loài cây trồng mà hầu hết đến nay vẫn chỉ bó hẹp trong phạm vi Ethiopia, nhưng một trong số đó (hạt cà phê) thì đã được truyền bá ra khắp thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rõ liệu người Ethiopia đã trồng các loài cây địa phương đó từ trước hay chỉ sau khi du nhập các loài cây trồng của Tây Nam Á.

Ở các khu vực này và những khu vực khác nơi sản xuất lương thực tùy thuộc vào việc du nhập các loài cây trồng sáng lập từ nơi khác, liệu có phải những người săn bắt hái lượm địa phương đã tự mình tiếp thu các loài cây trồng sáng lập này từ các dân tộc làm nông láng giềng và từ đó tự chuyển sang làm nông? Hay các cây trồng sáng lập này đã được du nhập cùng với các dân tộc làm nông đến xâm chiếm đất rồi giao phối với những người săn bắt hái lượm bản địa và giết chết, thay thế hoặc áp đảo họ về số lượng?

Ở Ai Cập, dường như khả năng thứ nhất đã diễn ra: những người săn bắt hái lượm bản địa chỉ việc bổ sung các loại cây trồng và vật nuôi cũng như kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi Tây Nam Á vào thực đơn các cây dại và thú hoang của mình, sau đó dần dần giảm bớt tỷ trọng lương thực hoang dã. Nghĩa là, nhân tố kích thích cho sản xuất lương thực ra đời là các loại cây trồng và vật nuôi từ xa đến chứ không phải những dân tộc từ xa đến. Ở vùng bờ biển Đại Tây Dương của châu Âu có lẽ cũng vậy, ở đó những người săn bắt hái lượm bản địa hẳn đã tiếp thu cừu và ngũ cốc từ Tây Nam Á trong vòng nhiều thế kỷ. Ở vùng Cape của Nam Phi, những người săn bắt hái lượm Khoi bản địa đã trở thành người chăn nuôi (nhưng không thành nhà nông) bằng cách tiếp thu cừu và bò từ mãi Bắc Phi (nếu xét đến cùng thì từ Tây Nam Á). Tương tự, những người săn bắt hái lượm bản địa ở vùng tây nam Hoa Kỳ đã dần dần chuyển sang làm nông bằng cách tiếp thu các cây trồng của Mexico. Ở bốn khu vực này, sự khởi phát sản xuất lương thực không (hoặc ít) cho ta bằng chứng về việc thuần hóa các loài cây và thú bản địa, nhưng cũng không (hoặc ít) cho ta bằng chứng về việc dân tộc này thay thế dân tộc khác.

Ở cực đối lập là các khu vực mà ở đó sản xuất lương thực chắc chắn đã khởi đầu với sự xuất hiện đột ngột của những dân tộc từ xa tới mang theo các loại cây trồng và vật nuôi lạ. Lý do tại sao ta có thể biết chắc về việc này là bởi những sự kiện này đều xảy ra trong thời hiện đại và người trong cuộc là dân châu Âu, những kẻ đã ghi lại trong vô số cuốn sách về những gì đã diễn ra. Các khu vực này gồm California, vùng Tây Bắc ven Thái Bình Dương của Bắc Mỹ, đồng bằng pampas ở Argentina, Australia và Siberia. Cho tới những thế kỷ gần đây, các khu vực này vẫn chỉ gồm những người săn bắt hái lượm sinh sống - ở ba trường hợp đầu là người châu Mỹ bản địa, ở hai trường hợp sau là người châu Úc bản địa và người Siberia bản địa. Những người săn bắt hái lượm này bị giết chết, nhiễm bệnh, xua đuổi đi nơi khác, hoặc bị thay thế một phần lớn bởi những người trồng trọt và chăn nuôi châu Âu từ xa đến mang theo những loài của riêng mình, những người này không tiến hành thuần hóa loài hoang dã bản địa nào sau khi họ đến (ngoại trừ hạt macadamia ở Australia). Ở vùng Cape của Nam Phi, những người từ châu Âu đến đã gặp không chỉ những người săn bắt hái lượm Khoi mà cả những người Khoi chăn nuôi đang sở hữu một số loài gia súc nhưng không có loài cây trồng nào. Hệ quả là, một lần nữa, nghề nông lại khởi phát dựa trên những loài cây trồng từ nơi khác đến, không có sự thuần hóa các loài bản địa, và có sự thay thế dân tộc này bằng dân tộc khác trên quy mô lớn ngay ở thời hiện đại.

Cuối cùng, cũng một mô hình đó - sản xuất lương thực khởi đầu một cách đột ngột dựa trên những loài thuần hóa từ nơi khác đến, và có sự thay thế đột ngột quần thể dân cư này bằng quần thể dân cư khác trên quy mô lớn - dường như đã tự lặp lại ở nhiều khu vực trong thời tiền sử. Do thiếu tư liệu thành văn, ta phải tìm bằng chứng cho những cuộc thay thế dân cư thời tiền sử đó trong các báo cáo khảo cổ hoặc suy ra từ bằng chứng ngôn ngữ học. Những trường hợp được chứng minh rõ nhất là trường hợp khi chúng ta không còn nghi vấn gì rằng đã có việc những người sản xuất lương thực từ nơi khác mới đến chiếm chỗ của dân cư bản địa, những người này có bộ xương khác biệt thấy rõ so với những người săn bắt hái lượm bản địa đã bị họ chiếm chỗ, và những người sản xuất lương thực này mang đến không chỉ cây trồng và vật nuôi mà cả đồ gốm. Các chương sau sẽ mô tả hai ví dụ rõ rệt nhất như vậy: sự bành trướng của người Austronesia từ Nam Trung Hoa đến Philippines và Indonesia (Chương 17), và sự bành trướng của người Bantu ra khắp châu Phi hạ xích đạo (Chương 19).

Đông Nam Âu và Trung Âu là một bức tranh tương tự về sự khởi phát đột ngột của sản xuất lương thực (dựa trên các cây trồng và vật nuôi Tây Nam Á) và nghề gốm. Sự đột khởi này có lẽ cũng bao gồm sự thay thế những người Hy Lạp cổ và Đức cổ bằng người Hy Lạp mới và Đức mới, cũng như cái cũ đã nhường chỗ cho cái mới ở Philippines, Indonesia và châu Phi hạ xích đạo. Tuy nhiên, sự khác biệt về xương giữa những người săn bắt hái lượm ban đầu và những người làm nông thay thế họ ở châu Âu thì ít nổi bật hơn là ở Philippines, Indonesia và châu Phi hạ xích đạo. Vì lẽ đó mà riêng với châu Âu khả năng dân tộc này đã thay thế dân tộc khác là ít hơn và kém trực tiếp hơn.

Nói ngắn gọn, chỉ một ít khu vực trên thế giới đã phát triển nền sản xuất lương thực một cách độc lập, và ở những thời điểm rất khác nhau. Từ những khu vực hạt nhân này, những người săn bắt hái lượm ở một số khu vực lân cận đã học được cách sản xuất lương thực, trong khi các dân tộc ở những vùng lân cận khác nữa thì bị những người sản xuất lương thực từ các khu vực hạt nhân này xâm chiếm và thay thế - việc này cũng xảy ra ở những thời điểm rất khác nhau. Cuối cùng, các dân tộc ở một số khu vực mà về sinh thái vốn dĩ thích hợp cho sản xuất lương thực lại hoàn toàn không tự mình phát triển nghề nông cũng chẳng tiếp thu nghề nông vào thời tiền sử; họ vẫn cứ là những người săn bắt hái lượm cho đến khi cuối cùng thế giới hiện đại quét sạch họ. Vì vậy, các dân tộc ở những khu vực có lợi thế ban đầu về sản xuất lương thực cũng đã có được lợi thế ban đầu trên con đường dẫn đến súng, vi trùng và thép. Hệ quả là một chuỗi dài những xung đột giữa những kẻ-có và những kẻ-không-có trong lịch sử.

Giải thích như thế nào những khác biệt theo địa lý như trên về thời điểm và mô hình khởi phát nền sản xuất lương thực? Câu hỏi đó, một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời tiền sử, sẽ là chủ đề của năm chương tiếp theo đây.

❀ ❀ ❀

[1] . teff: một loài cây thân cỏ ở Bắc Phi, là cây mọc một năm, được trồng để lấy hạt. Tên Latinh là Eragrostis tef. – ND.

[2] . Tiếng Anh: sycamore fig. – ND.

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.