Với tôi, lịch sử các đảo Thái Bình Dương từng được tóm lược trong một sự kiện thế này: tôi cùng ba người bạn Indonesia đi vào một cửa hiệu ở Jayapura, thủ đô của New Guinea thuộc Indonesia. Tên các bạn tôi là Achmad, Wiwor và Sauakari, còn chủ cửa hiệu tên là Ping Wah. Achmad, một viên chức chính phủ Indonesia, hành xử như ông chủ, bởi ông ta và tôi đang tổ chức một cuộc nghiên cứu sinh thái cho chính phủ và đã thuê Wiwor cùng Sauakari làm trợ lý tại chỗ. Nhưng Achmad chưa bao giờ đến vùng rừng núi New Guinea và không hề biết phải mua cái gì dự trữ. Kết quả thật khôi hài.
Đúng lúc các bạn tôi bước vào cửa hiệu, Ping Wah đang đọc một tờ báo tiếng Trung Quốc. Thấy Wiwor và Sauakari, ông ta vẫn tiếp tục đọc, nhưng vừa nhác thấy Achmad là ông ta liền lật đật dúi tờ báo xuống dưới quầy. Achmad nhặt một cái đầu rìu lên làm Wiwor và Sauakari cười ngất vì ông ta chúc ngược đầu rìu xuống. Wiwor và Sauakari bèn chỉ cho ông ta thấy phải cầm thế nào mới đúng để thử. Sau đó Achmad và Sauakari nhìn xuống cặp chân trần của Wiwor, ngón chân chõe hết ra bởi suốt đời không hề biết giày dép là gì. Sauakari nhặt đôi giày to nhất có trong hiệu đặng ướm vào chân Wiwor song đôi giày vẫn quá chật, lại khiến Achmad, Sauakari và Ping Wah cười lăn lộn. Achmad cầm lấy một cái lược nhựa rồi chải mái tóc thẳng, cứng và đen của mình. Liếc qua bộ tóc xoăn tít rắn câng của Wiwor, ông ta liền đưa lược cho Wiwor. Cái lược lập tức dính chặt vào tóc Wiwor, và ngay khi Wiwor cầm lược mà kéo thì lược gãy đôi ngay. Ai cũng cười, kể cả Wiwor. Wiwor đáp trả bằng cách nhắc Achmad rằng ông ta nên mua nhiều gạo bởi lên tới các làng vùng núi ở New Guinea thì sẽ chẳng có gì mua ngoại trừ khoai lang mà món đó thì sẽ làm Achmad sôi ruột - rồi sẽ vui lắm đây.
Mặc dù ai nấy cười nghiêng ngả, tôi vẫn cảm thấy có một sự căng thẳng ẩn đằng sau. Achmad là người Java, Ping Wah là người Trung Quốc, Wiwor là dân vùng cao New Guinea, còn Sauakari là dân vùng đất thấp duyên hải phía bắc New Guinea. Người Java thống trị chính phủ Indonesia, cái nhà nước đã sáp nhập vùng tây New Guinea vào Indonesia vào thập niên 1960 và đã dùng bom, súng máy nghiền nát các lực lượng New Guinea kháng cự. Về sau Achmad quyết định nán lại thị trấn, để tôi tiến hành nghiên cứu một mình cùng với Wiwor và Sauakari. Ông ta giải thích tại sao mình quyết định vậy bằng cách chỉ lên mái tóc thẳng, cứng của mình, khác xa tóc người New Guinea, rồi bảo rằng người New Guinea sẽ giết chết bất cứ ai có bộ tóc như vậy nếu họ tóm được anh ta ở nơi ngoài tầm hỗ trợ của quân đội.
Ping War đã giấu tờ báo đi bởi trên danh nghĩa việc du nhập chữ Trung Quốc vào New Guinea thuộc Indonesia là bất hợp pháp. Trên hầu khắp Indonesia, giới thương nhân đều là dân Trung Quốc nhập cư. Nỗi e ngại lẫn nhau giữa người Trung Quốc thống trị về kinh tế và người Java thống trị về chính trị vốn đã tiềm tàng từ lâu, đến năm 1966 thì bùng lên thành một cuộc cách mạng đẫm máu khi người Java tàn sát hàng trăm ngàn người Trung Quốc. Wiwor và Sauakari giống nhau ở chỗ, cũng như hầu hết những người New Guinea khác, đều oán ghét sự độc tài của người Java, nhưng họ cũng lại còn khinh khi nhau nữa. Dân vùng cao coi dân vùng thấp là lũ hết hơi chẳng biết ăn gì ngoài khoai sọ còn dân vùng thấp khinh dân vùng cao là bọn đầu to mọi rợ, cả vì bộ tóc to sù xoăn tít lẫn thói kiêu căng khét tiếng của dân này. Khi tôi dựng một trại biệt lập trong rừng cùng với Wiwor và Sauakari, chỉ trong vòng mấy hôm mà họ suýt nữa đã dùng rìu choảng nhau.
Những căng thẳng giữa các nhóm dân cư mà Achmad, Wiwor, Sauakari và Ping Wah là đại diện [là nhân tố] chi phối nền chính trị ở Indonesia, nước đông dân thứ tư thế giới. Những căng thẳng đó trong thời đại ngày nay có cội rễ sâu xa từ hàng ngàn năm trước. Mỗi khi nghĩ đến những luồng di dân lớn vượt biển, ta thường tập trung vào những luồng di dân từ sau khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ và việc từ đó trở đi người châu Âu chiếm lấy lãnh thổ của những người không phải châu Âu trong các thời kỳ lịch sử. Thật ra còn có những luồng di dân lớn vượt biển khác từ rất lâu trước thời của Columbus, đã từng có việc những dân tộc phi châu Âu này chiếm lấy đất đai của những dân tộc phi châu Âu khác. Wiwor, Achmad và Sauakari đại diện cho ba làn sóng người tiền sử đã từ nội địa châu Á di cư sang Thái Bình Dương. Những người vùng cao như Wiwor có lẽ đã xuất phát từ một làn sóng di cư xa xưa từ châu Á đến định cư ở New Guinea từ hơn 40.000 năm trước. Tổ tiên của Achmad đã từ miền duyên hải Nam Trung Quốc đặt chân đến Java vào khoảng 4.000 năm trước, hoàn tất việc giành chỗ những người vốn có liên hệ với tổ tiên của Wiwor ở vùng này. Tổ tiên của Sauakari thì đặt chân đến New Guinea vào khoảng 3.600 năm trước như một phần của chính làn sóng di cư đó từ miền duyên hải Nam Trung Quốc, trong khi tổ tiên của Wing Pah hiện vẫn đang chiếm cứ Trung Hoa.
Dòng di dân đã đưa tổ tiên của Achmad đến Java và tổ tiên của Sauakari đến New Guinea, được mệnh danh là cuộc bành trướng Nam Đảo, là một trong những dòng di dân lớn nhất trong 6.000 năm trở lại đây. Một nhánh của nó trở thành người Polynesia đến sinh sống ở các đảo xa xôi trên Thái Bình Dương và là những người đi biển cừ khôi nhất trong số các dân tộc Thời đại Đồ đá mới. Các ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay vẫn còn được dùng như tiếng mẹ đẻ ở khắp hơn một nửa chu vi thế giới, từ Madagascar đến đảo Phục Sinh. Trong cuốn sách này, những luồng di dân kể từ cuối các Thời đại Băng hà, [cái gọi là] cuộc bành trướng Nam Đảo chiếm một vị trí trung tâm, như một trong các hiện tượng quan trọng nhất cần được lý giải. Tại sao chính những người Nam Đảo, thoạt kỳ thủy vốn xuất thân từ nội địa Trung Quốc, đã di cư sang Java và phần còn lại của Indonesia và thay thế những cư dân nguyên thủy ở đó, chứ không phải người Indonesia di cư đến Trung Quốc và thay thế người Trung Quốc? Sau khi đã chiếm lĩnh toàn bộ Indonesia, tại sao người Nam Đảo lại không chiếm lĩnh được gì thêm ngoài một rẻo duyên hải hẹp của vùng đất thấp New Guinea, và tại sao họ đã hoàn toàn không thể đánh bật được dân tộc của Wiwor ra khỏi các vùng cao New Guinea? Hậu duệ của các di dân từ Trung Quốc đã chuyển hóa thành người Polynesia như thế nào?
Ngày nay dân số Java, hầu hết các đảo Indonesia khác (ngoại trừ các đảo ở cực đông) và Philippines tương đối đồng nhất. Về ngoại hình và di truyền, các cư dân đảo này tương tự với người Nam Trung Quốc, thậm chí còn gần dân Đông Nam Á nhiệt đới, nhất là dân bán đảo Mã Lai hơn nữa. Ngôn ngữ của họ cũng đồng nhất y như vậy: mặc dù có tới 374 ngôn ngữ được dùng ở Philippines cũng như tây và trung Indonesia nhưng tất cả các ngôn ngữ đó đều có quan hệ gần gũi nhau và nằm trong cùng một ngữ hệ con (Tây Mã Lai-Polynesia) thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Các ngôn ngữ Nam Đảo vươn đến tận nội địa châu Á trên bán đảo Mã Lai và vài nhóm nhỏ ở Việt Nam, Campuchia, gần các đảo cực tây Indonesia là Sumatra và Borneo[1], nhưng không hề xuất hiện ở đâu khác trong nội địa (Hình 17.[1]). Một số từ Nam Đảo được tiếng Anh vay mượn như “taboo” (điều húy kỵ) và “tattoo” (xăm mình) (từ một ngôn ngữ Polynesia), “boondocks” (chốn hoang sơ, xa chỗ văn minh) mượn từ một ngôn ngữ Tagalog của Philippines, “amok” (điên rồ, không kiểm soát được), “batik” (loại vải truyền thống sặc sỡ của Indonesia và Malaysia) và “oranggutan” (đười ươi) (từ tiếng Mã Lai).

Hình 17.[1]. Ngữ hệ Nam Đảo bao gồm bốn ngữ hệ con, ba trong số đó chỉ bó hẹp ở Đài Loan, còn một (Mã Lai-Polynesia) thì phổ biến rộng. Ngữ hệ con ngày đến lượt mình lại bao gồm hai ngữ hệ “cháu” là Tây Mã Lai-Polynesia (W-M-P, West Malayo-Polynesia) và Trung Mã Lai-Polynesia (C-E-M-P, Central Malayo-Polynesia). Ngữ hệ cháu C-E-M-P đến lượt nó lại chia thành bốn ngữ hệ “chắt”, gồm ngữ hệ Đại dương (Oceanic) rất phổ biến về phía Đông và ba ngữ hệ khác phân bố về phía Tây ở một khu vực nhỏ hơn nhiều gồm Halmahera, các đảo gần phía Đông Indonesia và chỏm cực Tây của New Guinea.
Sự đồng nhất đó về di truyền và ngôn ngữ của Indonesia và Philippines thoạt tiên cũng khiến người ta kinh ngạc như sự đồng nhất về ngôn ngữ ở Trung Quốc. Các hóa thạch lừng danh Homo erectus ở Java chứng minh rằng con người từng chiếm cứ ít nhất là vùng tây Indonesia trong suốt một triệu năm. Chừng đó là quá đủ thời gian để con người có thể tiến hóa một sự đa dạng về di truyền và ngôn ngữ cũng như phát triển để thích nghi với vùng nhiệt đới, chẳng hạn như da thẫm như nhiều dân tộc vùng nhiệt đới khác, thế nhưng người Indonesia và người Philippines thì da lại sáng.
Cũng lạ rằng người Indonesia và người Philippines lại giống người Đông Nam Á nhiệt đới và người Nam Trung Quốc đến thế, cả ở những đặc điểm thể chất khác ngoài màu da sáng và gen di truyền. Chỉ cần liếc qua bản đồ, ta sẽ thấy một điều hiển nhiên rằng Indonesia là con đường duy nhất để con người có thể đến được New Guinea và Australia vào 40.000 năm trước, nên người ta có thể suy ra một cách ngây thơ rằng người Indonesia hiện đại ắt phải giống người New Guinea hay người Australia bản địa mới phải. Trên thực tế, ở Philippines hay khu vực tây Indonesia chỉ có một vài nhóm dân cư là giống người New Guinea, đáng chú ý là người Negrito sống ở vùng núi Philippines. Cũng giống như ba nhóm dân khác trông giống người New Guinea mà tôi đã nhắc tới khi nói về Đông Nam Á nhiệt đới (Chương 16), người Negrito ở Philippines có thể là tàn dư còn sót lại của những cư dân vốn là tổ tiên dân tộc của Wiwor trước khi họ đặt chân tới New Guinea. Ngay cả những người Negrito đó cũng nói ngôn ngữ Nam Đảo tương tự như ngôn ngữ của người Philippines láng giềng, cho thấy rằng kể cả họ nữa (cũng như người Semang Negrito ở Malaysia và người Pygmy ở châu Phi) đã đánh mất ngôn ngữ nguyên thủy của mình.
Tất cả các sự kiện đó nói lên mạnh mẽ rằng rằng hoặc người Đông Nam Á nhiệt đới hoặc người Nam Trung Quốc sử dụng ngôn ngữ Nam Đảo đã bành trướng qua suốt Philippines và Indonesia vào một thời kỳ gần đây, giành chỗ toàn bộ cư dân đã sinh sống từ trước đó trên các đảo này - ngoại trừ người Negrito ở Philippines - đồng thời thay thế toàn bộ các ngôn ngữ đã tồn tại từ trước đó ở các đảo này. Sự kiện đó rõ ràng đã diễn ra rất gần đây, đến nỗi những kẻ thực dân đó không có đủ thời gian để tiến hóa được màu da thẫm, những ngữ hệ khác biệt, hay sự đa dạng hoặc khác biệt về di truyền. Các ngôn ngữ của họ dĩ nhiên là nhiều hơn gấp bội về số lượng so với tám ngôn ngữ chính của người Trung Quốc ở nội địa Trung Quốc, song không hề đa dạng hơn. Sở dĩ ở Philippines và Indonesia có lắm ngôn ngữ tương tự nhau đến vậy chỉ là do các đảo này chưa bao giờ trải qua một sự thống nhất về chính trị và văn hóa như Trung Quốc.
Các chi tiết phân bố ngôn ngữ cho ta những then chốt quý giá đặng có thể lần theo con đường bành trướng Nam Đảo giả định này. Toàn bộ ngữ hệ Nam Đảo bao gồm 959 ngôn ngữ chia thành bốn ngữ hệ con. Nhưng một trong các ngữ hệ con đó, nhóm Mã Lai-Polynesia, chiếm đến những 945 trong số 959 ngôn ngữ đó và trải rộng hầu như khắp toàn bộ phạm vi địa lý của ngữ hệ Nam Đảo. Trước khi diễn ra sự di cư vượt đại dương của những người châu Âu nói ngôn ngữ Ấn-Âu thì ngữ hệ Nam Đảo là ngữ hệ được phân bố rộng nhất trên thế giới. Điều đó gợi ý rằng ngữ hệ con Mã Lai-Polynesia chỉ gần đây mới tách khỏi ngữ hệ Nam Đảo và bành trướng xa ra khỏi quê hương Nam Đảo, làm phát sinh nhiều ngôn ngữ địa phương mà tất cả đều vẫn có họ hàng gần gũi với nhau bởi chúng có quá ít thời gian không đủ để phát triển được những khác biệt lớn về ngôn ngữ. Còn quê nhà Nam Đảo ấy nằm ở đâu thì chúng ta không nên nhìn về phía ngữ hệ con Mã Lai-Polynesia mà phải xét tới ba ngữ hệ con Nam Đảo còn lại, chúng khác nhau và khác nhóm Mã Lai-Polynesia một cách đáng kể hơn nhiều so với sự khác biệt giữa các nhóm nhỏ hơn trong nhóm Mã Lai-Polynesia với nhau.
Hóa ra cả ba ngữ hệ con đó đều có sự phân bố trùng khớp, cả ba đều được phân bố trên quy mô rất nhỏ bé so với quy mô phân bố của nhóm Mã Lai-Polynesia. Chúng chỉ bó hẹp ở các thổ dân bản địa đảo Đài Loan, chỉ cách Trung Hoa lục địa 90 dặm (hơn 140 km). Thổ dân đảo Đài Loan đã “một mình một cõi” làm chủ hòn đảo này mãi tới khi người Trung Quốc đại lục bắt đầu di cư đến với quy mô lớn trong một ngàn năm trở lại đây. Sau năm 1945 thì lại càng có nhiều người đại lục khác di cư đến Đài Loan, nhất là sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh bại Quốc dân Đảng vào năm 1949, khiến cho dân bản địa hiện nay chỉ còn chiếm 2% dân số Đài Loan. Việc ba trong bốn ngữ hệ con Nam Đảo tập trung ở Đài Loan gợi ý rằng, trong phạm vi Nam Đảo hiện nay, Đài Loan chính là quê hương nơi các ngôn ngữ Nam Đảo đã được sử dụng trong hầu hết lịch sử và do đó đã có đủ thời gian cần thiết để trở nên đa dạng [tiến hóa thành các ngôn ngữ khác nhau, ND]. Nếu đúng vậy thì mọi ngôn ngữ Nam Đảo khác, từ các ngôn ngữ Madagascar cho tới các ngôn ngữ trên đảo Phục Sinh, hẳn đã bắt nguồn từ một nhóm dân cư từ Đài Loan bành trướng ra các khu vực đó.
Giờ ta có thể quay lại các bằng chứng khảo cổ. Mặc dù di tích còn lại của các ngôi làng cổ không bao gồm những từ ngữ hóa thạch cùng xương thú và đồ gốm, song chúng vẫn tiết lộ cho ta về những dòng di dân và dòng di chuyển vật phẩm văn hóa mà ắt hẳn có cả ngôn ngữ đi kèm. Cũng như phần còn lại của thế giới, hầu hết địa vực Nam Đảo ngày nay - Đài Loan, Philippines, Indonesia và nhiều hòn đảo Thái Bình Dương - vốn là nơi sinh sống của những người săn bắt hái lượm không có đồ gốm, không có công cụ bằng đá đánh bóng, không có vật nuôi và cây trồng thuần hóa. (Ngoại lệ duy nhất đối với kết luận chung này là những hòn đảo Madagascar xa xôi phía đông Melanesia, Polynesia và Micronesia, nơi những người săn bắt hái lượm chưa bao giờ đặt chân tới và vẫn là vùng đất không người cho đến khi người Nam Đảo bành trướng đến). Những dấu hiệu khảo cổ đầu tiên về một cái gì không như vậy trong địa vực Nam Đảo là ở Đài Loan. Bắt đầu từ khoảng thiên niên kỷ thứ tư trCN, những công cụ đá đánh bóng và một phong cách đồ gốm trang trí đặc thù (gọi là đồ gốm Ta-p’en-k’eng) có xuất xứ từ đồ gốm xưa hơn ở vùng nội địa Nam Trung Quốc đã xuất hiện ở Đài Loan và vùng ven biển đối diện thuộc Trung Quốc đại lục. Di tích gạo và kê ở các di chỉ Đài Loan muộn hơn cho bằng chứng là đã có nghề nông ở vùng này.
Các di chỉ Ta-p’en-k’eng ở Đài Loan và miền duyên hải Nam Trung Quốc đều đầy xương cá và vỏ động vật thân mềm, cũng như chì lưới bằng đá và rìu lưỡi vòm thích hợp để đẽo xuồng gỗ. Rõ ràng là cư dân đầu tiên từ thời Đồ đá mới này ở Đài Loan đã có những phương tiện đi biển đủ để đánh bắt cá xa bờ và thường xuyên qua lại giữa Đài Loan với miền duyên hải Trung Quốc qua eo biển Đài Loan. Như vậy, eo biển Đài Loan rất có thể đã là cơ sở huấn luyện để người Trung Quốc lục địa trau dồi kỹ năng đi biển đặng có thể bành trướng ra khắp Thái Bình Dương.
Có một dạng vật phẩm đặc thù khiến người ta cho rằng văn hóa Ta-p’en-k’eng có quan hệ với các nền văn hóa Thái Bình Dương muộn hơn, ấy là cái tước vỏ cây, một công cụ bằng đá dùng để tước lớp vỏ sợi của một số loài cây đặng làm dây thừng, lưới và quần áo. Khi các dân tộc Thái Bình Dương đã bành trướng ra khỏi khu vực có các loài vật nuôi cho len cũng như các loại cây trồng cho sợi may quần áo, do đó cũng không thể may quần áo bằng sợi dệt được nữa, họ chỉ còn có thể dùng thứ “vải” bằng vỏ cây tước ra đó để làm quần áo mà thôi. Cư dân đảo Rennell, một hòn đảo Polynesia truyền thống mà mãi đến thập niên 1930 mới bị Tây phương hóa, đã bảo tôi rằng sự Tây phương hóa đã mang lại [ngoài những ích lợi khác] một ích lợi phụ tuyệt vời, ấy là hòn đảo đã trở nên yên tĩnh. Chẳng còn cái nỗi đi đâu cũng nghe tiếng đá tước vỏ cây từ sáng sớm đến tối mịt hết ngày này qua ngày khác nữa!
Trong vòng trên dưới một ngàn năm sau khi văn hóa Ta-p’en-k’eng đến được Đài Loan, bằng chứng khảo cổ cho thấy các nền văn hóa hiển nhiên bắt nguồn từ nó đã bành trướng càng ngày càng xa khỏi Đài Loan để rồi bao trùm khắp địa vực Nam Đảo (Hình 17.[2]). Những bằng chứng đó bao gồm các công cụ bằng đá, đồ gốm, xương lợn thuần hóa và di tích cây trồng. Chẳng hạn, đồ gốm Ta-p’en-k’eng có trang trí ở Đài Loan đã mở đường cho đồ gốm trơn không trang trí hay đồ gốm đỏ vốn cũng được phát hiện tại các di chỉ ở Philippines và trên các đảo Celebes[2] và Timor thuộc Indonesia. “Gói” sản phẩm văn hóa này - gồm đồ gốm, công cụ bằng đá và các loài thuần hóa - đã xuất hiện vào khoảng 3.000 năm trCN ở Philippines, khoảng 2.500 năm trCN trên các đảo Celebes, phía bắc đảo Borneo và đảo Timor thuộc Indonesia, khoảng 2.000 năm trCN ở Java và Sumatra, và khoảng 1.600 năm trCN ở khu vực New Guinea. Ở đó, như chúng ta sẽ thấy, sự bành trướng này ắt hẳn đã diễn ra với tốc độ tàu cao tốc, bởi những người mang theo gói sản phẩm văn hóa này đã phăng phăng thẳng tiến về phía đông vào khu vực Thái Bình Dương, ra xa ngoài quần đảo Solomon nơi trước đó chưa hề có bóng người. Những giai đoạn cuối cùng của cuộc bành trướng này, vào khoảng thiên niên kỷ đầu tiên sau năm 1, đưa tới kết quả là bất cứ hòn đảo nào ở Polynesia và Micronesia mà có khả năng nuôi sống con người thì đều đã có người đến sống. Thật đáng ngạc nhiên, cuộc bành trướng đó cũng đã vươn ào ạt về phía tây ngang qua Ấn Độ Dương đến tận bờ đông châu Phi, kết quả là người Nam Đảo đã định cư ở hòn đảo Madagascar.
Ít nhất là cho đến khi cuộc bành trướng Nam Đảo vươn tới miền duyên hải New Guinea, có lẽ người ta cũng đã có thể đi lại giữa các đảo bằng những chiếc thuyền buồm có hai dầm dọc mà đến ngày nay vẫn còn phổ biến ở khắp Indonesia. Kiểu thuyền này là một bước tiến lớn so với kiểu thuyền độc mộc giản đơn mà các dân tộc truyền thống trên khắp thế giới vẫn dùng để đi lại trên các dòng chảy sâu trong nội địa. Thuyền độc mộc, đúng như tên gọi, là một chiếc thuyền được đẽo ra từ một thân cây duy nhất rồi vạt nhọn hai đầu bằng rìu lưỡi vòm. Bởi thuyền độc mộc có đáy tròn do thân cây dùng để đẽo cây vốn có dạng tròn, nên chỉ cần phân phối trọng lượng mất cân bằng một chút là thuyền sẽ nghiêng về phía nặng hơn ngay. Bất cứ khi nào tôi được những người New Guinea đưa đi bằng thuyền độc mộc trên các dòng sông New Guinea, hầu như suốt cả chuyến đi tôi cứ sợ đến mất mật: hình như nhất cử nhất động của tôi đều có nguy cơ làm lật thuyền, hất tôi cùng với cái ống nhòm xuống nước mà làm bạn với cá sấu. Người New Guinea luôn có vẻ ung dung khi chèo thuyền độc mộc dọc ngang các sông hồ phẳng lặng, thế nhưng ngay cả người New Guinea cũng không thể chèo thuyền độc mộc ở ngoài biển dù sóng êm đi nữa. Vì vậy một thiết bị nào đó để giữ thăng bằng cho thuyền là nhân tố thiết yếu không chỉ đối với cuộc bành trướng Nam Đảo ra khắp Indonesia mà còn với cả sự di cư nguyên thủy đến Đài Loan.

Hình 17.[2]. Những con đường bành trướng của nhóm Nam Đảo, với niên đại phỏng đoán theo thời điểm họ đặt chân đến từng khu vực. 4a = Borneo, 4b = Celebes, 4c = Timor (khoảng 2.500 năm TCN), 5a = Halmahera (khoảng 1.600 năm TCN), 5b = Java, 5c = Sumatra (khoảng 2.000 năm TCN), 6a = quần đảo Bismarck (khoảng 1.600 năm TCN), 6b = bán đảo Mã Lai, 6c = Việt Nam (khoảng 1.000 năm TCN), 7 = quần đảo Solomon (khoảng 1.200 năm TCN), 8 = Santa Cruz, 9c = Tonga, 9d = New Caledonia (khoảng 1.200 năm TCN), 10b = nhóm đảo Society, 10c = nhóm đảo Cook, 11a = quần đảo Tuamotu (khoảng năm 1 CN)
Giải pháp là buộc hai thanh gỗ nhỏ hơn (hai cái “dầm”) song song với thân thuyền nhưng cách chừng vài bộ (khoảng trên dưới 1m, ND) mỗi thanh ở một bên, nối với thân thuyền bằng những cái sào buộc vuông góc với thân thuyền và dầm. Mỗi khi thân thuyền bắt đầu chênh về một bên, sức nổi của cái dầm ở bên đó ngăn không cho dầm bị hụp xuống dưới nước khiến cho thân thuyền gần như không thể nào lật úp được. Phát minh thuyền buồm hai dầm dọc có thể chính là đột phá công nghệ đã khơi nên cuộc bành trướng của người Nam Đảo ra khỏi vùng nội địa Trung Quốc.
Hai sự trùng hợp kỳ lạ giữa bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học hỗ trợ cho giả thuyết rằng những người đã mang văn hóa Đồ đá mới đến Đài Loan, Philippines và Indonesia cách đây hàng mấy ngàn năm là những kẻ dùng ngôn ngữ Nam Đảo và là tổ tiên của những người nói tiếng Nam Đảo vẫn còn sinh sống trên các hòn đảo đó ngày nay. Thứ nhất, cả hai loại bằng chứng đều nhất quán chỉ ra một điều: giai đoạn đầu tiên là những người Nam Đảo xuất phát từ miền duyên hải Nam Trung Quốc đến định cư ở Đài Loan, còn giai đoạn kế tiếp là họ từ Đài Loan đến chiếm lĩnh Philippines và Indonesia. Giá như cuộc bành trướng đó đã xuất phát từ bán đảo Mã Lai thuộc Đông Nam Á nhiệt đới đến hòn đảo Indonesia gần nhất là Sumatra, sau đó đến các hòn đảo Indonesia khác rồi cuối cùng mới đến Philippines và Đài Loan, thì ắt hẳn chúng ta sẽ tìm thấy sự phân hóa rất sâu sắc (phản ánh khoảng cách thời gian rất lớn) của ngữ hệ Nam Đảo giữa các ngôn ngữ hiện đại ở bán đảo Mã Lai và Sumatra, còn các ngôn ngữ ở Đài Loan và ở Philippines ắt hẳn đã tách nhau ra chỉ mới gần đây nhưng vẫn nằm trong một ngữ hệ con duy nhất. Thế nhưng, thực tế là sự phân hóa ngôn ngữ lớn nhất là ở Đài Loan, trong khi các ngôn ngữ ở bán đảo Mã Lai và ở Indonesia lại nằm trong cùng một ngữ hệ “cháu”: một nhóm gần đây thuộc ngữ hệ con Tây Mã Lai-Polynesia, ngữ hệ con này đến lượt mình lại là một nhóm tương đối gần đây thuộc ngữ hệ Mã Lai-Polynesia. Các chi tiết về mối quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ này hoàn toàn trùng hợp với bằng chứng khảo cổ rằng việc di cư đến bán đảo Mã Lai chỉ mới diễn ra gần đây và diễn ra sau chứ không phải trước việc di cư đến Đài Loan, Philippines và Indonesia.
Sự trùng hợp khác giữa bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ liên quan đến rào cản văn hóa mà những người Nam Đảo cổ đại từng sử dụng. Khoa khảo cổ cho ta bằng chứng trực tiếp về văn hóa dưới dạng đồ gốm, xương lợn, xương cá, vv. Thoạt tiên, ta có thể tự hỏi làm cách nào các nhà ngôn ngữ học - vốn chỉ nghiên cứu các ngôn ngữ đương đại, còn dạng thức thủy tổ của các ngôn ngữ đó vào thời đại chưa có văn tự thì họ không hề biết - lại có thể hình dung được liệu những người Nam Đảo sống ở Đài Loan vào 6.000 năm trước có nuôi lợn hay không. Giải pháp [của họ] là phục dựng hệ ngữ vựng của các ngôn ngữ cổ đại đã biến mất (cái gọi là nguyên ngôn ngữ, protolanguage) bằng cách so sánh hệ ngữ vựng của các ngôn ngữ vốn bắt nguồn từ chúng.
Chẳng hạn, các từ có nghĩa là “cừu” trong nhiều ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn-Âu phân bố từ Ailen đến Ấn Độ khá là giống nhau: “avis” trong tiếng Lithuania và tiếng Sanskrit, “ovis” trong tiếng La Tinh, “oveja” trong tiếng Tây Ban Nha, “ovtsa” trong tiếng Nga, “owis” trong tiếng Hy Lạp và “oi” trong tiếng Ailen. (Từ “sheep” trong tiếng Anh rõ ràng là từ một gốc khác, nhưng tiếng Anh vẫn còn giữ lại gốc nguyên thủy ở từ “ewe” cũng có nghĩa là cừu). So sánh sự chuyển hóa âm mà các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại đã trải qua trong lịch sử, ta có thể suy ra rằng dạng gốc là “owis” trong ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy đã được dùng vào khoảng 6.000 năm trước. Ngôn ngữ thủy tổ bất thành văn đó được gọi là tiếng Nguyên Ấn Âu (Proto-Indo-European).
Rõ ràng người Nguyên Ấn Âu vào 6.000 năm trước đã có nuôi cừu, phù hợp với bằng chứng khảo cổ. Tương tự, chúng ta có thể phục dựng gần 2.000 từ trong ngữ vựng của họ, trong đó có các từ như “dê”, “ngựa”, “bánh xe”, “anh (em)” và “mắt”. Nhưng không thể nào phục dựng được từ Nguyên Ấn Âu nào cho chữ “súng” chẳng hạn, bởi từ này trong mỗi ngôn ngữ Ấn-Âu ngày nay dùng một gốc khác nhau: “gun” trong tiếng Anh, “fusil” trong tiếng Pháp, “ruzhyo” trong tiếng Nga, vv. Điều đó chẳng có gì lạ: con người cách đây 6.000 năm không thể nào có một từ để gọi cây súng cả, bởi súng chỉ được phát minh trong vòng 1.000 năm trở lại đây. Chính vì không được thừa hưởng một gốc từ chung nào có nghĩa là “súng”, mỗi ngôn ngữ Ấn-Âu mới phải chế ra hoặc vay mượn một từ để gọi khi cây súng được phát minh.
Cũng theo cách đó ta có thể so sánh tiếng Đài Loan, tiếng Philippines, tiếng Indonesia và các ngôn ngữ Polynesia hiện đại nhằm phục dựng một ngôn ngữ Nguyên Nam Đảo từng được dùng trong quá khứ xa xôi. Chẳng có gì lạ rằng tiếng Nguyên Nam Đảo được phục dựng đó có những từ mang các nghĩa như “hai”, “chim”, “tai” và “chấy”: dĩ nhiên là những người Nguyên Nam Đảo biết đếm đến hai, đã biết tới chim, có tai và có chấy. Song điều thú vị hơn là ngôn ngữ được phục dựng này có những từ để gọi “lợn”, “chó” và “lúa”, những thứ ắt hẳn đã là một phần của văn hóa Nguyên Nam Đảo. Ngôn ngữ phục dựng đó đầy rẫy những từ biểu thị một nền kinh tế dựa trên nghề biển, như “thuyền chèo”, “buồm”, “sò lớn”, “bạch tuộc”, “bẫy cá” và “rùa biển”. Bằng chứng ngôn ngữ này về văn hóa của người Nguyên Nam Đảo, cho dù họ đã sống vào thời nào và ở nơi nào, thật trùng khớp với bằng chứng khảo cổ về những người biết làm đồ gốm, biết sản xuất lương thực và định hướng theo nghề biển của những người sống ở Đài Loan vào khoảng 6.000 năm trước.
Cũng có thể áp dụng đúng quy trình đó nhằm phục dựng tiếng Nguyên Mã Lai-Polynesia, ngôn ngữ cổ đại từng được những người Nam Đảo sử dụng sau khi di cư khỏi Đài Loan. Tiếng Nguyên Mã Lai-Polynesia có từ để gọi nhiều loại cây trồng nhiệt đới như khoai sọ, quả mì, chuối, khoai lang và dừa, trong khi với tiếng Nguyên Nam Đảo người ta không thể phục dựng từ nào để gọi các cây này. Như vậy, bằng chứng ngôn ngữ gợi ý rằng nhiều loại cây trồng nhiệt đới đã được bổ sung vào danh mục cây trồng của người Nam Đảo sau khi họ di cư từ Đài Loan. Kết luận này tương hợp với bằng chứng khảo cổ: khi các nhà nông Nam Đảo di cư từ Đài Loan (nằm cách xích đạo 23 độ về phía bắc) về phía nam đến vùng nhiệt đới xích đạo, họ ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các loài cây củ nhiệt đới và mang theo các loài này trong quá trình di cư sang các đảo Thái Bình Dương nhiệt đới.
Làm thế nào những nhà nông nói tiếng Nam Đảo xuất phát từ Nam Trung Quốc thông qua Đài Loan đó đã chiếm chỗ những người săn bắt hái lượm nguyên thủy ở Philippines và đông Indonesia một cách triệt để đến mức chẳng có bao nhiêu bằng chứng di truyền và thậm chí không một chút bằng chứng nào về ngôn ngữ từ dân tộc nguyên thủy đó còn lại đến ngày nay? Nguyên nhân ở đây cũng giống như nguyên nhân tại sao trước đó người châu Âu đã chiếm chỗ hoặc tiêu diệt người Australia bản địa trong vòng hai thế kỷ trở lại đây, tại sao người Nam Trung Quốc đã chiếm chỗ những người Đông Nam Á nhiệt đới bản địa: những nhà nông đó có dân số đông hơn nhiều, có công cụ và vũ khí ưu việt hơn, phương tiện đi biển và kỹ năng hàng hải phát triển hơn, và những căn bệnh truyền nhiễm mà các nông dân đó có ít nhiều kháng thể trong khi những người săn bắt hái lượm kia thì không. Tương tự, trên lục địa châu Á, các nhà nông nói tiếng Nam Đảo cũng đã chiếm chỗ của một số những người săn bắt hái lượm nguyên thủy trên bán đảo Mã Lai, bởi những người Nam Đảo đến chiếm cứ bán đảo này từ phía nam và phía đông (từ các đảo Sumatra và Borneo của Indonesia) cũng vào khoảng thời gian khi các nhà nông nói tiếng Nam Á đang tiến vào chiếm cứ bán đảo này từ phía bắc (từ Thái Lan). Những người Nam Đảo khác thì đến định cư ở một số vùng của Nam Việt Nam và Campuchia để trở thành tổ tiên của dân tộc Chăm thiểu số ở các nước đó ngày nay.
Tuy nhiên, các nhà nông Nam Đảo đã không thể bành trướng xa hơn vào nội địa Đông Nam Á bởi các nhà nông Nam Á và Thái-Kadai đã chiếm chỗ những người săn bắt hái lượm bản địa ở đó từ trước rồi, trong khi các nhà nông Nam Đảo chẳng có ưu thế nổi bật nào so với các nhà nông Nam Á và Thái-Kadai cả. Mặc dù ta suy ra rằng những người nói tiếng Nam Đảo đã xuất phát từ vùng duyên hải Nam Trung Quốc, nhưng các ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay không hề được sử dụng ở bất cứ đâu trong nội địa Trung Quốc, có lẽ vì chúng nằm trong số hàng trăm ngôn ngữ nguyên thủy của Trung Quốc vốn đã bị loại bỏ trong quá trình bành trướng của những người nói tiếng Hán-Tạng [từ lưu vực Hoàng Hà ở phía bắc, ND] về phía nam. Song các ngữ hệ gần gũi nhất với ngôn ngữ Nam Đảo lại được cho là ngữ hệ Thái-Kadai, Nam Á và Mèo-Dao. Như vậy, tuy các ngôn ngữ Nam Đảo ở Trung Quốc có thể đã không sống nổi qua những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến Trung Quốc, nhưng một số ngôn ngữ anh em của chúng thì đã sống sót được.
Chúng ta đã dõi theo những giai đoạn đầu tiên của cuộc bành trướng của người Nam Đảo từ duyên hải Nam Trung Quốc ra xa 2.500 dặm (3.200 km) về phía nam, ngang qua Đài Loan và quần đảo Philippines, đến phía tây và trung Indonesia. Trong quá trình bành trướng đó, người Nam Đảo đã dần dần chiếm cứ bất kỳ khu vực nào có thể sinh sống được trên các đảo này, từ vùng duyên hải cho đến sâu trong nội địa, từ đất thấp cho đến núi cao. Cho đến 1.500 năm trCN, những di tích khảo cổ quen thuộc đặc thù của họ gồm xương lợn và đồ gốm trơn men đỏ cho thấy họ đã vươn tới đảo Halmahera ở phía tây Indonesia, cách chỏm cực tây hòn đảo lớn đầy núi non New Guinea chưa đầy 200 dặm (320 km). Họ có đã tiến lên chinh phục cả hòn đảo đó như đã chinh phục những hòn đảo lớn đầy núi non khác là Celebes, Borneo, Java và Sumatra hay không?
Họ đã không làm vậy - chỉ cần nhìn qua nét mặt của hầu hết người New Guinea ngày nay là đủ rõ, và các nghiên cứu chi tiết về New Guinea cũng xác nhận điều đó. Bạn Wiwor của tôi và tất cả dân vùng cao New Guinea khác đều khác biệt thấy rõ so với người Indonesia, người Philippines và người Nam Trung Quốc ở chỗ nước da thẫm, tóc xoăn tít và nét mặt. Hầu hết dân nội địa và dân vùng duyên hải New Guinea trông cũng giống dân vùng cao, có khác chăng là họ thường cao hơn. Các nhà di truyền học đã không tìm được dấu chỉ di truyền Nam Đảo nào trong các mẫu máu của dân vùng cao New Guinea.
Nhưng các dân tộc ở miền duyên hải phía bắc và đông New Guinea, cũng như ở các quần đảo Bismarck và Solomon về phía bắc và đông New Guinea, lại bày ra một bức tranh phức tạp hơn. Về ngoại hình, họ là một thể trung gian giữa những người vùng cao New Guinea như Wiwor với những người Indonesia như Achmad, tuy rằng nhìn chung họ gần với Wiwor hơn. Chẳng hạn, anh bạn Sauakari của tôi là dân miền duyên hải phía bắc có mái tóc lượn sóng, một thể trung gian giữa mái tóc thẳng của Achmad với mái tóc xoăn tít của Wiwor, da thì sáng hơn da Wiwor chút ít tuy vẫn thẫm hơn nhiều so với da Achmad. Về mặt di truyền, cư dân các quần đảo Bismarck và Solomon cũng như dân miền duyên hải phía bắc New Guinea giống người Nam Đảo khoảng 15%, còn lại 85% là giống dân vùng cao New Guinea. Từ đó suy ra, người Nam Đảo rõ ràng đã đặt chân đến khu vực New Guinea nhưng đã không hoàn toàn thâm nhập được vào nội địa đảo này và đã bị pha loãng về di truyền bởi những cư dân New Guinea sinh sống trên vùng duyên hải phía bắc và các đảo lân cận từ trước đó.
Các ngôn ngữ hiện đại [ở khu vực này, ND] cũng đưa đến cùng một kết luận đó nhưng bổ sung thêm chi tiết. Ở Chương 15 tôi đã giải thích rằng hầu hết các ngôn ngữ New Guinea, được gọi là ngôn ngữ Papua, chẳng có liên hệ với bất cứ ngữ hệ nào khác trên thế giới. Không hề có ngoại lệ, mọi ngôn ngữ được nói trên vùng núi New Guinea, toàn bộ vùng đất thấp ở tây nam và trung-nam New Guinea kể cả vùng duyên hải và vùng nội địa phía bắc New Guinea đều là ngôn ngữ Papua. Song các ngôn ngữ Nam Đảo lại được nói trong phạm vi một dải hẹp nằm ngay trên miền duyên hải phía bắc và phía đông nam. Hầu hết ngôn ngữ ở các quần đảo Bismarck và Solomon là ngôn ngữ Nam Đảo, còn ngôn ngữ Papua chỉ được nói ở một số khu vực cách biệt trên vài đảo mà thôi.
Các ngôn ngữ Nam Đảo được nói ở các quần đảo Bismarck và Solomon cũng như vùng duyên hải phía bắc New Guinea là một ngữ hệ “cháu” riêng biệt gọi là nhóm Đại dương (Oceanic) thuộc về một ngữ hệ “con” được sử dụng ở Halmahera và vùng phía tây New Guinea. Mối liên hệ về ngôn ngữ này xác nhận điều mà ta có thể giả định khi nhìn trên bản đồ, rằng những người nói ngôn ngữ Nam Đảo ở khu vực New Guinea đã đặt chân đến đây qua ngả Halmahera. Các chi tiết về ngôn ngữ Nam Đảo và ngôn ngữ Papua cũng như sự phân bố chúng ở Bắc New Guinea minh chứng cho quá trình tiếp xúc lâu dài giữa những người Nam Đảo đến xâm chiếm vùng này với những người bản địa nói tiếng Papua. Cả ngôn ngữ Nam Đảo lẫn ngôn ngữ Papua ở vùng này đều cho thấy chúng chịu ảnh hưởng to lớn của nhau về từ vựng và ngữ pháp, khiến cho khó mà xác định liệu có phải một số ngôn ngữ nào đó về căn bản là tiếng Nam Đảo song chịu ảnh hưởng của tiếng Papua hay ngược lại. Nếu du hành từ làng này đến làng khác dọc theo miền duyên hải phía bắc hoặc các hòn đảo dọc theo bờ biển, ta sẽ đi qua đầu tiên là một làng nói tiếng Nam Đảo kế đó là một làng nói tiếng Papua, sau đó lại một làng khác nói tiếng Nam Đảo mà không hề có sự thay đổi nào về đặc điểm di truyền ở những nơi giáp ranh giữa hai ngôn ngữ đó.
Những điều nói trên gợi ý rằng hậu duệ người Nam Đảo và hậu duệ của cư dân nguyên thủy ở New Guinea đã trao đổi hàng hóa, kết hôn với nhau và tiếp thu gen di truyền cũng như ngôn ngữ của nhau trong suốt mấy ngàn năm dọc theo vùng duyên hải Bắc New Guinea và các hòn đảo lân cận. Sự tiếp xúc lâu dài đó đã khiến cho các ngôn ngữ Nam Đảo được phát tán hữu hiệu hơn so với gen di truyền Nam Đảo, kết quả là hầu hết cư dân quần đảo Bismarck và Solomon ngày nay nói tiếng Nam Đảo cho dẫu ngoại hình và hầu hết gen của họ vẫn là của người Papua. Song không một gen nào cũng không một ngôn ngữ nào của người Nam Đảo thâm nhập vào được nội địa New Guinea. Như vậy, việc người Nam Đảo xâm chiếm New Guinea đã mang lại kết quả khác hẳn so với khi họ xâm chiếm Borneo, Celebes và các hòn đảo lớn khác của Indonesia, nơi mà thế lực áp đảo của họ đã loại bỏ hầu như mọi dấu vết về gen di truyền và ngôn ngữ của những cư dân có mặt ở các đảo này từ trước đó. Để hiểu hơn những gì đã xảy ra ở New Guinea, giờ chúng ta hãy quay lại bằng chứng của ngành khảo cổ.
Vào khoảng 1.600 năm trCN, hầu như cùng một lúc với khi xuất hiện ở Halmahera, những dấu tích khảo cổ quen thuộc về sự bành trướng của người Nam Đảo - lợn, gà, chó, đồ gốm trơn men đỏ, rìu lưỡi vòm bằng đá mài và bằng vỏ sò khổng lồ - cũng xuất hiện ở khu vực New Guinea. Tuy nhiên, có hai nét đặc thù khiến cho thời điểm người Nam Đảo đặt chân đến New Guinea khác với thời điểm họ đặt chân đến Philippines và Indonesia trước đó.
Nét đặc thù thứ nhất là kiểu dáng đồ gốm, vốn là những đặc điểm thẩm mỹ không có ý nghĩa gì về mặt kinh tế song lại khiến các nhà khảo cổ nhận ra ngay lập tức đâu là một di chỉ Nam Đảo. Trong khi hầu hết đồ gốm Nam Đảo ở Philippines và Indonesia ở giai đoạn sớm đều không có trang trí, thì đồ gốm ở khu vực New Guinea lại được trang trí đẹp đẽ bằng những hoa văn hình học bố trí thành từng dải ngang. Về những phương diện khác, đồ gốm này vẫn giữ nguyên nước áo màu đỏ và hình dạng đặc thù của đồ gốm Nam Đảo xưa hơn ở Indonesia. Rõ ràng là những người Nam Đảo định cư ở khu vực New Guinea đã nảy ra ý tưởng “xăm hình” lên đồ gốm, hẳn là được gợi ý từ những họa tiết hình học họ vẫn dùng để trang trí vải bằng vỏ cây và xăm lên mình. Phong cách này được gọi là đồ gốm Lapita, đặt theo tên di chỉ khảo cổ Lapita nơi nó được mô tả.
Nét đặc thù quan trọng hơn nhiều mang lại sự khác biệt của các di chỉ Nam Đảo sớm ở khu vực New Guinea là sự phân bố của chúng. Ngược lại với các di chỉ ở Philippines và Indonesia, nơi mà ngay cả di chỉ Nam Đảo sớm nhất ta đã biết đều ở trên các hòn đảo lớn như Luzon, Borneo và Celebes, các di chỉ có đồ gốm Lapita ở khu vực New Guinea hình như chỉ bó hẹp trên những hòn đảo nhỏ ven các hòn đảo lớn hơn ở ngoài xa. Đến nay người ta chỉ tìm thấy đồ gốm Lapita ở một di chỉ duy nhất (Aitape) trên bờ phía bắc của bản thân đảo New Guinea và ở một vài di chỉ trên quần đảo Solomon. Hầu hết di chỉ Lapita ở khu vực New Guinea đều nằm trên quần đảo Bismarck, trên những hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi các hòn đảo lớn hơn của quần đảo này, đôi khi cũng nằm trên bờ của bản thân các hòn đảo lớn hơn đó. Bởi (như ta sẽ thấy) những người làm ra đồ gốm Lapita có khả năng đi biển xa hàng ngàn dặm, nên việc họ đã không di chuyển làng mình thêm vài dặm đến các hòn đảo lớn hơn trong quần đảo Bismarck hoặc thêm vài chục dặm đến New Guinea rõ ràng không phải là vì họ không có khả năng đi đến đó.
Chúng ta có thể phục dựng cơ sở tồn tại của đồ gốm Lapita từ những đống rác mà các nhà khảo cổ khai quật được ở các di chỉ Lapita. Người Lapita sống chủ yếu dựa vào hải sản gồm cá, cá heo, rùa biển, cá mập và sò ốc. Họ nuôi lợn, gà và chó, và cũng ăn quả hay hạt của nhiều loại cây (trong đó có dừa). Tuy có thể họ cũng ăn những loại cây cho củ thường gặp ở người Nam Đảo như khoai sọ và khoai lang, song khó lòng thu thập được bằng chứng về các loài cây đó bởi các loại hạt cứng có thể tồn tại hàng ngàn năm trong các đống rác thải dễ hơn nhiều so với các loại củ mềm.
Lẽ tự nhiên, không thể chứng minh một cách trực tiếp rằng những người làm ra đồ gốm Lapita đã nói một ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Đảo. Tuy nhiên, có hai sự kiện khiến suy luận này hầu như là chắc chắn. Thứ nhất, ngoài những họa tiết trang trí trên đồ gốm, thì bản thân các đồ gốm đó cùng các vật thể văn hóa đi cùng với chúng cũng tương tự như các di tích văn hóa tìm thấy ở các di chỉ Indonesia và Philippines vốn là tổ tiên của các xã hội dùng ngôn ngữ Nam Đảo ngày nay. Thứ hai, đồ gốm Lapita cũng xuất hiện ở các hòn đảo Thái Bình Dương xa xôi nơi trước đó chưa có người ở, cũng không có bằng chứng nào cho thấy đã có một làn sóng di cư lớn thứ hai nào sau làn sóng đã mang đồ gốm Lapita đến các đảo này, và cư dân ở các đảo đó ngày nay dùng ngôn ngữ Nam Đảo (ở đoạn sau sẽ nói thêm về việc này). Từ đó có thể giả định [mà không sợ hồ đồ] rằng đồ gốm Lapita đã đánh dấu việc người Nam Đảo đặt chân đến khu vực New Guinea.
Những người đã nặn ra đồ gốm Nam Đảo đó làm gì trên các hòn đảo nhỏ nằm cạnh các hòn đảo lớn hơn kia? Ắt hẳn là họ cũng sống theo cách giống như những người làm đồ gốm hiện đại sống trên các hòn đảo nhỏ trong khu vực New Guinea cho mãi tới gần đây. Vào năm 1972 tôi đã ghé thăm một hòn đảo như vậy trên đảo Mã Lai thuộc nhóm đảo Siassi ngoài khơi hòn đảo cỡ trung Umboi, đảo này lại nằm ngoài khơi hòn đảo lớn hơn là New Britain thuộc quần đảo Bismarck. Khi đặt chân lên đảo Mã Lai để tìm chim mà không hề biết tí gì về những người sống ở đó, tôi đã sửng sốt khi nhìn thấy quang cảnh trước mắt mình. Thay vì cảnh tượng thường thấy với những ngôi làng nhỏ gồm các căn lều thấp lè tè vây quanh, tôi thấy những khu vườn rộng đủ nuôi sống cả làng và dăm chiếc thuyền được kéo lên bãi cát, chiếm lĩnh hầu hết diện tích đảo Mã Lai là những căn nhà hai tầng bằng gỗ san sát bên nhau, chẳng còn để lại mảnh đất nào để làm vườn tược - đối với New Guinea cảnh này cũng tương đương như khu buôn bán Manhattan vậy. Trên bờ biển là những chiếc thuyền lớn xếp hàng dài. Hóa ra dân đảo Mã Lai không chỉ là dân đánh cá mà còn là dân đồ gốm, dân chạm khắc gỗ và dân buôn bán, sống bằng nghề làm những đồ gốm và bát gỗ trang trí đẹp rồi vận chuyển bằng thuyền đến các đảo lớn hơn đặng đổi lấy lợn, chó, rau và các nhu yếu phẩm khác. Ngay cả gỗ để đóng thuyền Mã Lai cũng có được bằng cách trao đổi với hòn đảo Umboi bên cạnh, bởi Mã Lai không có những cây đủ lớn để đẽo thành thuyền.
Vào thời trước khi có tàu biển của người Âu, việc trao đổi hàng qua lại giữa các hòn đảo trong khu vực New Guinea hoàn toàn nằm trong tay các nhóm chuyên gia gồm những người làm đồ gốm song biết cả đóng thuyền ấy, những người có thể đi biển mà không cần dụng cụ dẫn đường và sống trên những hòn đảo nhỏ xa bờ, thi thoảng mới sống trong những làng mạc dọc bờ biển trong nội địa. Cho tới khi tôi đặt chân đến Mã Lai vào năm 1972, những mạng lưới giao thương bản địa đó đã sụp đổ hoặc đã bị thu hẹp, một phần bởi sự cạnh tranh của những chiếc thuyền có động cơ và vật dụng bằng nhôm của châu Âu, một phần bởi chính phủ thuộc địa Australia cấm chỉ việc đi biển đường dài bằng thuyền sau khi xảy ra một số tai nạn khiến dân buôn chết đuối. Tôi phỏng đoán rằng những người làm ra đồ gốm Lapita chính là các nhà buôn xuyên đảo ở khu vực New Guinea trong các thế kỷ từ sau năm 1.600 trCN.
Sự bành trướng của các ngôn ngữ Nam Đảo lên bờ biển phía bắc của bản thân New Guinea và thậm chí lên các hòn đảo lớn nhất của quần đảo Bismarck và quần đảo Solomon ắt hẳn đã diễn ra hầu hết sau thời đại Lapita, bởi bản thân các di chỉ Lapita chỉ tập trung trên những đảo nhỏ của quần đảo Bismarck mà thôi. Mãi đến khoảng năm 1 thì đồ gốm phát sinh từ phong cách Lapita mới xuất hiện trên mạn nam của bán đảo phía đông nam New Guinea. Khi người châu Âu bắt đầu khai phá New Guinea vào cuối thế kỷ XIX, toàn bộ phần còn lại của miền duyên hải phía nam New Guinea vẫn chỉ có những người nói tiếng Papua sinh sống, cho dù những quần thể nói tiếng Nam Đảo đã an cư không chỉ ở bán đảo phía đông nam mà cả trên các đảo Aru và đảo Kei (cách bờ nam vùng phía tây New Guinea khoảng 70 đến 80 dặm - khoảng 110 đến 128 km). Như vậy, người Nam Đảo đã có đến hàng ngàn năm để có thể chiếm lĩnh vùng nội địa New Guinea và vùng duyên hải phía nam đảo này từ những căn cứ ở gần đó, song họ đã chẳng bao giờ làm vậy. Ngay cả dù họ đã chiếm lĩnh dải ven biển Bắc New Guinea, ấy cũng là về mặt ngôn ngữ hơn là về mặt di truyền: toàn bộ cư dân vùng duyên hải Bắc New Guinea về mặt di truyền vẫn cứ là người New Guinea. Giỏi lắm thì cũng chỉ một số người tiếp thu ngôn ngữ Nam Đảo, chắc là để trao đổi với các nhà buôn đường dài, những kẻ [đóng vai trò] cầu nối giữa các xã hội.
Như vậy, hậu quả việc người Nam Đảo bành trướng sang khu vực New Guinea ngược hẳn lại với khi họ bành trướng sang Indonesia và Philippines. Ở hai khu vực sau, cư dân bản địa trước đó đã biến mất - có lẽ họ đã bị xua đuổi, bị giết chết, bị nhiễm bệnh mà chết, hoặc đã bị đồng hóa hoàn toàn vào những kẻ xâm lăng. Trong khi đó, ở New Guinea, cư dân bản địa hầu như không cho phép kẻ xâm lăng bén mảng vào lãnh thổ của mình. Trong cả hai trường hợp, kẻ xâm lăng vẫn là một (người Nam Đảo), còn cư dân bản địa có thể cũng giống nhau về di truyền, nếu quả thực là cư dân bản địa Indonesia - những kẻ đã bị người Nam Đảo giành chỗ - có liên hệ với người New Guinea như tôi đã đề xuất trên đây. Tại sao ở mỗi nơi hậu quả lại một khác như vậy?
Câu trả lời trở nên rõ ràng nếu ta xét đến việc cư dân bản địa Indonesia và cư dân bản địa New Guinea mỗi bên có một hoàn cảnh văn hóa khác nhau. Trước khi người Nam Đảo đến, hầu hết Indonesia chỉ có những người săn bắt hái lượm sinh sống thưa thớt, những người này thậm chí không có cả công cụ bằng đá có đánh bóng. Ngược lại, nền sản xuất lương thực đã hình thành và phát triển từ suốt hàng ngàn năm trên vùng cao New Guinea, và có thể ở cả vùng thấp New Guinea cũng như các quần đảo Bismarck và Solomon nữa. Vùng cao New Guinea đã nuôi sống một trong những quần thể dân cư dày đặc nhất của thời Đồ đá so với bất cứ nơi nào khác trên thế giới.
Người Nam Đảo chẳng có bao nhiêu ưu thế để cạnh tranh với những dân cư New Guinea tự lâu đời kia. Một số loại cây trồng mà người Nam Đảo dùng làm lương thực chính như khoai sọ, khoai lang và chuối có thể đã được thuần hóa độc lập ở New Guinea trước khi người Nam Đảo đến vùng này. Người New Guinea đã rất sẵn lòng tiếp nhận gà, chó và đặc biệt là lợn của người Nam Đảo vào nền kinh tế sản xuất lương thực của họ. Ít nhất họ cũng đã có công cụ bằng đá có đánh bóng. Ít nhất họ cũng có sức đề kháng với các bệnh nhiệt đới như người Nam Đảo, bởi họ cũng mang năm loại cơ chế phòng thủ di truyền kháng bệnh sốt rét như người Nam Đảo, và một số hoặc tất cả các gen đó đã tiến hóa độc lập ở New Guinea. Người New Guinea đã là những nhà đi biển thiện nghệ, mặc dù có thể không thiện nghệ bằng những người làm ra đồ gốm Lapita. Hàng chục ngàn năm trước khi người Nam Đảo đến, người New Guinea đã chiếm lĩnh các quần đảo Bismarck và Solomon, và hoạt động trao đổi đá vỏ chai (obsidian, một loại đá núi lửa có thể dùng để chế tác những công cụ sắc bén) đã rất phát đạt ở quần đảo Bismarck từ ít nhất 18.000 năm trước khi người Nam Đảo đến. Người New Guinea thậm chí dường như đã bành trướng về phía tây vào một thời gian khá gần đây theo hướng ngược lại với làn sóng Nam Đảo, về phía đông Indonesia, nơi các ngôn ngữ được dùng trên các đảo Bắc Halmahera và đảo Timor là những ngôn ngữ Papua điển hình có họ hàng với một số ngôn ngữ của miền tây New Guinea.
Nói ngắn gọn, những hậu quả khác nhau từ sự bành trướng của người Nam Đảo minh chứng hùng hồn cho vai trò của sản xuất lương thực đối với các luồng di dân của loài người. Những người sản xuất lương thực Nam Đảo đã di cư đến hai khu vực (New Guinea và Indonesia) nơi các cư dân bản địa có lẽ là có quan hệ với nhau. Cư dân Indonesia lúc đó vẫn còn là dân săn bắt hái lượm, trong khi cư dân New Guinea đã biết sản xuất lương thực và đã phát triển được nhiều yếu tố đi liền với sản xuất lương thực (như mật độ dân số cao, bệnh truyền nhiễm, công nghệ tiên tiến hơn, vân vân). Kết quả là cuộc bành trướng của người Nam Đảo đã quét sạch cư dân bản địa Indonesia, thế nhưng người Nam Đảo đã không tiến xa được bao nhiêu vào khu vực của người New Guinea, cũng như đã không tiến xa được bao nhiêu vào lãnh thổ của những người Nam Á và người Thái-Kadai vốn cũng đã biết sản xuất lương thực ở vùng Đông Nam Á.
Đến đây chúng ta đã lần theo cuộc bành trướng của người Nam Đảo sang toàn bộ Indonesia cho đến các bờ biển New Guinea và Đông Nam Á nhiệt đới. Ở Chương 19 chúng ta sẽ lần theo cuộc bành trướng đó ngang qua Ấn Độ Dương đến Madagascar, còn ở Chương 15 chúng ta đã thấy rằng những khó khăn về sinh thái đã không cho phép người Nam Đảo đứng chân được ở phía bắc và phía tây Australia. Nhánh còn lại của cuộc bành trướng này đã bắt đầu vào lúc những New Guinea làm ra đồ gốm Lapita dong buồm mãi xa về phía đông ra Thái Bình Dương ngoài quần đảo Solomon, tới những hòn đảo trước đó chưa từng có con người đặt chân lên. Vào khoảng 1.200 năm trCN, các mảnh gốm Lapita, bộ ba quen thuộc gồm lợn, gà và chó, cũng như các dấu vết khảo cổ quen thuộc khác của người Nam Đảo đã xuất hiện trên các quần đảo Fiji, Samoa và Tonga thuộc Thái Bình Dương, cách quần đảo Solomon trên một ngàn dặm (1.600 km, ND) về phía đông. Vào đầu Công nguyên, hầu hết các dấu vết khảo cổ đó (đáng chú ý là ngoại trừ đồ gốm) cũng xuất hiện trên các hòn đảo đông Polynesia trong đó có các đảo Societes và Marquesas. Những cuộc hải hành đường dài bằng thuyền tiếp tục đưa người Nam Đảo về phía bắc đến Hawaii, về phía đông đến các đảo Pitcairn và đảo Phục Sinh, về phía nam đến New Zealand. Cư dân của hầu hết các đảo đó ngày nay là người Polynesia, mà người Polynesia như vậy là hậu duệ trực tiếp của những người làm ra đồ gốm Lapita. Họ nói các ngôn ngữ Nam Đảo có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ vùng New Guinea, còn các cây trồng chính của họ vẫn là những cây trồng Nam Đảo quen thuộc gồm khoai mỡ, khoai lang, chuối, dừa và quả bánh mì.
Với sự chiếm cứ quần đảo Chatham ngoài khơi New Zealand vào khoảng năm 1400, gần một thế kỷ trước khi những “nhà thám hiểm” châu Âu thâm nhập vào vùng Thái Bình Dương, thì nhiệm vụ thám hiểm Thái Bình Dương rốt cuộc đã được hoàn tất bởi người châu Á. Truyền thống thám hiểm của họ, vốn lưu truyền suốt hàng vạn năm nay, đã khởi đầu từ khi tổ tiên của Wiwor bành trướng ngang qua Indonesia đến New Guinea và Australia. Cuộc bành trướng đó chỉ kết thúc khi họ chẳng còn cái đích nào để đến nữa và hầu như bất cứ hòn đảo nào trên Thái Bình Dương mà con người có thể cư trú được thì họ đã chiếm lĩnh và định cư rồi.
Với bất cứ ai quan tâm đến lịch sử thế giới, các xã hội loài người ở Đông Á và khu vực Thái Bình Dương cho ta nhiều thông tin quý báu, bởi chúng cho quá nhiều ví dụ để thấy môi trường có tác động đến nhường nào tới lịch sử. Tùy theo vị trí địa lý của quê hương bản quán mình, các dân tộc Đông Á và Thái Bình Dương có cơ hội tiếp cận những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa khác hẳn nhau, khả năng tiếp xúc với các dân tộc khác cũng không giống nhau. Bao giờ cũng vậy, những dân tộc nào có cơ hội tiếp xúc với các loài có thể thuần hóa - vốn là điều kiện tiên quyết để có thể tiến lên sản xuất lương thực - cũng như vị trí địa lý thuận lợi để tiếp nhận sự phát tán công nghệ từ các khu vực khác thì thể nào cũng sẽ chiếm chỗ những dân tộc nào thiếu các lợi thế kia. Bao giờ cũng vậy, khi một làn sóng di dân duy nhất bành trướng qua nhiều môi trường khác biệt nhau, thì hậu duệ của họ sẽ phát triển theo những hướng khác nhau tùy theo [các hậu duệ đó sống trong] môi trường nào.
Chẳng hạn, ta đã thấy rằng vùng Nam Trung Quốc đã phát triển được sản xuất lương thực và công nghệ bản địa, tiếp thu được chữ viết và thêm nhiều công nghệ nữa cũng như cơ cấu chính trị từ Bắc Trung Quốc, sau đó tiếp tục chiếm lĩnh dần Đông Nam Á và Đài Loan, thế chỗ phần lớn cư dân bản địa từ trước ở các khu vực đó. Trong phạm vi Đông Nam Á, trong số các hậu duệ hoặc họ hàng của những người sản xuất lương thực từ Nam Trung Quốc di cư đến đó, người Yumbri ở vùng rừng mưa trên miền núi Bắc Thái Lan và Lào trở lại sống bằng săn bắt hái lượm, trong khi họ hàng gần gũi của người Yumbri là người Việt Nam (nói một ngôn ngữ thuộc cùng ngữ hệ con Nam Á như tiếng Yumbri) lại vẫn tiếp tục sản xuất lương thực ở đồng bằng sông Hồng màu mỡ và thiết lập một vương quốc rộng lớn sử dụng công cụ bằng kim loại. Tương tự, trong số những nhà nông Nam Đảo di cư đến từ Đài Loan và Indonesia, người Punan ở vùng rừng mưa trên đảo Borneo buộc phải quay về lối sống săn bắt hái lượm, trong khi họ hàng của họ trên đảo Java có đất núi lửa màu mỡ thì vẫn tiếp tục sản xuất lương thực, thành lập một vương quốc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, tiếp thu chữ viết và dựng lên ngôi đền Phật giáo vĩ đại ở Borobudur. Những người Nam Đảo đã tiếp tục di cư đến Polynesia đâm ra bị cách ly khỏi nghề luyện kim và chữ viết của Đông Á nên [từ đó về sau] vẫn không có chữ viết hay [công cụ bằng] kim loại. Tuy nhiên, như ta đã thấy ở Chương 2, tổ chức chính trị và xã hội cũng như các nền kinh tế của bản thân Polynesia cũng đã [tiến hóa theo] nhiều hướng khác nhau tùy theo môi trường của từng nơi. Trong vòng một thiên niên kỷ, những người di cư đến Đông Polynesia đã trở lại sống bằng săn bắt hái lượm trên quần đảo Chatham song lại xây nên một nhà nước sơ khai với nền sản xuất lương thực thâm canh trên đảo Hawaii.
Khi rốt cuộc người châu Âu đặt chân đến, ưu thế về công nghệ và những ưu thế khác của họ đã khiến họ có thể tạm thời thuộc địa hóa hầu hết vùng Đông Nam Á nhiệt đới và các đảo Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các vi trùng bản địa và những người sản xuất lương thực bản địa đã ngăn không cho người châu Âu định cư ở hầu hết khu vực của họ với số lượng lớn. Trong khu vực này, duy chỉ New Zealand, New Caledonia và Hawaii - hòn đảo lớn nhất và xa nhất, cách xa xích đạo nhất và do đó gần với khí hậu ôn đới (giống châu Âu) nhất - ngày nay là có đông người châu Âu sinh sống mà thôi. Như vậy, khác Australia và châu Mỹ, Đông Á và hầu hết đảo các Thái Bình Dương ngày nay vẫn là nơi cư trú của các dân tộc Đông Á và dân tộc Thái Bình Dương.
❀ ❀ ❀
[1] . Nay đã được đổi tên là Calimantan. – ND
[2] . Nay đã đổi tên là đảo Sulawesi. – ND.