Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20. Người Nhật Là Ai?

❊ ❊ ❊

Trong số các cường quốc trên thế giới hiện nay, cường quốc có nền văn hóa cũng như môi trường độc đáo nhất là người Nhật Bản. Nguồn gốc ngôn ngữ của người Nhật nằm trong số những vấn đề gây tranh cãi nhất của ngành ngôn ngữ học, bởi không có một ngôn ngữ nào khác trong số các ngôn ngữ chính trên thế giới mà lại như tiếng Nhật, có mối quan hệ đầy tồn nghi với những ngôn ngữ khác. Người Nhật Bản là ai, họ từ đâu đến Nhật Bản, và họ đã tạo ra thứ ngôn ngữ độc nhất vô nhị của mình như thế nào? Những câu hỏi đó có tầm quan trọng lớn lao đối với nhận thức của người Nhật về chính mình cũng như đối với cách nhìn của các dân tộc khác về người Nhật. Vị trí thống trị ngày càng tăng của Nhật Bản và những mối quan hệ đôi khi đầy nhạy cảm giữa Nhật Bản với các láng giềng khiến cho việc tước bỏ những huyền thoại dai dẳng từ xưa đến nay và tìm ra lời giải đáp [đích thực] càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trong các ấn bản trước của Súng, Vi trùng và Thép, phần nhắc tới Nhật Bản rất ít ỏi, đó là thiếu sót lớn nhất trong diện bao quát về địa lý của tôi. Thông tin mới về đặc điểm di truyền và nguồn gốc ngôn ngữ của người Nhật tích lũy được kể từ khi sách xuất bản lần đầu đến nay đã khích lệ tôi kiểm chứng xem [trường hợp] Nhật Bản tương thích đến đâu với cái giả thuyết chung của tôi.

Tìm những câu trả lời không dễ vì bằng chứng quá mâu thuẫn. Một mặt, dân tộc Nhật chẳng có gì khác biệt về sinh học; về ngoại hình và di truyền họ rất giống các dân tộc Đông Á khác, đặc biệt là người Triều Tiên. Như người Nhật vẫn ưa nhấn mạnh, họ khá đồng nhất về mặt văn hóa và sinh học: có rất ít sự khác nhau giữa người dân các vùng khác nhau của Nhật, ngoại trừ một sắc dân rất khác biệt gọi là người Ainu trên hòn đảo xa nhất về phía bắc của Nhật Bản là Hokkaido. Tất cả những điều đó dường như gợi ý rằng người Nhật đã từ nội địa Đông Á đặt chân lên Nhật Bản trong thời gian gần đây và chiếm chỗ của người Ainu vốn là cư dân ở vùng này từ xa xưa. Nhưng nếu đúng như vậy thì lẽ ra tiếng Nhật hiển nhiên phải gần với một số ngôn ngữ của Đông Á lục địa, cũng như tiếng Anh có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ German khác bởi người Anglo-Saxon mãi tới thế kỷ thứ VI CN mới từ lục địa châu Âu [vượt biển sang] chiếm cứ đảo Anh. Làm sao ta có thể dung hòa mối mâu thuẫn giữa một đằng là thứ ngôn ngữ được cho là rất cổ của người Nhật với một đằng là tất cả những bằng chứng cho thấy họ chỉ mới từ một nguồn gốc nào đó [di cư sang Nhật Bản] cách đây không lâu?

Người ta đã đề xuất bốn lý thuyết, cả bốn đều xung đột nhau, mỗi lý thuyết đều được nước này ưa chuộng song nước khác thì bài bác. Được chuộng nhất ở Nhật là quan điểm cho rằng người Nhật đã tiến hóa dần dần từ những người cổ đại từ kỷ Băng hà từng chiếm cứ Nhật Bản từ lâu trước 20.000 năm trCN. Cũng phổ biến ở Nhật là thuyết cho rằng người Nhật Bản là hậu duệ của những người du mục cưỡi ngựa Trung Á đã băng qua Triều Tiên mà chinh phục Nhật Bản vào thế kỷ thứ IV CN song nhấn mạnh rằng những người du mục đó không phải người Triều Tiên. Một thuyết được nhiều nhà khảo cổ phương Tây cũng như người Triều Tiên ưa thích song một số giới ở Nhật không ưa thì lại cho rằng người Nhật là hậu duệ của những người Triều Tiên di cư sang Nhật Bản mang theo nền nông nghiệp lúa nước vào khoảng 400 năm trCN. Cuối cùng, một thuyết nữa cho rằng cả ba giống người được nhắc tới trong ba lý thuyết trên có thể đã hợp huyết lại mà thành người Nhật Bản ngày nay.

Khi những câu hỏi tương tự nảy sinh về nguồn gốc của các dân tộc khác, người ta có thể bàn cãi về chúng một cách vô tư không thiên vị. Song những câu hỏi về nguồn gốc người Nhật Bản thì không. Quả thật là một thành tựu xuất sắc khi Nhật Bản, khác với nhiều nước ngoài châu Âu khác, vẫn duy trì được sự độc lập về chính trị và văn hóa đồng thời vẫn vươn lên từ chỗ biệt lập và tạo nên một xã hội công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ XIX. Giờ đây, cũng dễ hiểu rằng người Nhật rất quan tâm đến việc duy trì truyền thống của mình khi đối diện với ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây. Họ muốn tin rằng ngôn ngữ và văn hóa của họ là độc đáo đến nỗi cần phải có những quá trình phát triển đặc biệt phức tạp, chẳng giống bất cứ quá trình phát triển nào ở các nơi khác trên thế giới. Thừa nhận rằng tiếng Nhật có liên hệ với bất kỳ ngôn ngữ nào khác dường như cũng chẳng khác nào thừa nhận mình không có một bản sắc văn hóa độc đáo có một không hai.

Từ năm 1946, các trường học ở Nhật bắt đầu dạy một huyền thoại về lịch sử Nhật Bản dựa trên những biên niên ký Nhật Bản xưa nhất từ năm 712 đến 720. Các biên niên ký này mô tả vị nữ thần mặt trời Amaterasu sinh ra từ con mắt trái của đấng sáng thế Izanagi, cử cháu của bà là Ninigi giáng trần xuống đảo Kyushu thuộc quần đảo Nhật Bản để lấy một vị thần dưới trần thế. Chắt của Ninigi là Jimmu, nhờ có sự trợ giúp của một con chim thiêng chói lòa khiến mọi kẻ thù của ông mất hết khả năng chiến đấu, đã trở thành vị hoàng đế Nhật Bản đầu tiên vào năm 660 trCN. Để lấp đầy khoảng trống giữa năm 660 trCN và thời kỳ các vị vua Nhật Bản xưa nhất được ghi trong lịch sử thành văn, các biên niên sử này bịa ra 13 vị hoàng đế khác mà hết thảy đều hư cấu như nhau.

Trước cuối Thế chiến Thứ hai, khi rốt cuộc Thiên hoàng Hirohito nói với thần dân Nhật Bản rằng ngài không phải là hậu duệ của thánh thần, các sử gia và nhà khảo cổ Nhật Bản đã phải đưa ra những cách diễn dịch phù hợp với điều đó. Tuy ngày nay họ có nhiều tự do hơn trong cách diễn dịch, song những sự câu thúc chưa phải đã hết. Những tượng đài khảo cổ quan trọng nhất của Nhật Bản - 158 ngôi mộ kofun khổng lồ được xây dựng trong khoảng từ năm 300 đến năm 686 - vẫn đang thuộc quyền sở hữu của hoàng gia. Việc khai quật các ngôi mộ đó bị cấm ngặt vì có thể sẽ khiến cho [hoàng gia Nhật Bản] mất thiêng, lại còn có thể soi sáng xem hoàng gia Nhật Bản gốc gác từ đâu tới (chẳng hạn từ Triều Tiên chăng?), điều mà [người Nhật] không mong muốn chút nào.

Trong khi các di tích khảo cổ ở Hoa Kỳ là do những dân tộc châu Mỹ bản địa vốn chẳng có liên quan gì đến hầu hết người Hoa Kỳ ngày nay để lại, thì những di tích ở Nhật Bản, dù cổ xưa đến mấy, vẫn được cho là do những vị tổ tiên trực hệ của chính người Nhật ngày nay để lại. Do vậy mà ngành khảo cổ ở Nhật Bản được hỗ trợ bởi những ngân sách cao ngất trời và thu hút sự chú ý của công luận đến mức thật khó lòng hình dung ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Hằng năm, các nhà khảo cổ Nhật Bản đào trên 10.000 hố khai quật và sử dụng tới 50.000 nhân công tại chỗ. Vì vậy, số di chỉ Đồ đá mới đã khai quật được ở Nhật Bản nhiều gấp hai mươi lần so với trên toàn bộ nước Trung Quốc. Các bài tường thuật về những vụ khai quật được đưa hầu như hàng ngày trên truyền hình và xuất hiện trên trang nhất các tờ báo lớn nhất của Nhật Bản. Quyết chí chứng minh rằng tổ tiên người Nhật ngày nay đã đến nước Nhật từ thời rất xa xưa, các nhà khảo cổ khi thuật lại các vụ khai quật đều nhấn mạnh rằng ngay từ thời xa xưa đó cư dân cổ của Nhật Bản đã khác xa với mọi dân tộc khác cùng thời, nhưng lại rất giống người Nhật ngày nay. Chẳng hạn, một nhà khảo cổ thuyết trình về một di chỉ có tuổi 2.000 năm sẽ lưu ý cử tọa về những hố rác mà cư dân ngày xưa ở di chỉ đó đã dùng để vứt rác, nhằm minh họa rằng ngay từ thuở xa xưa đó người Nhật cổ đã quen với tính sạch sẽ nổi tiếng mà người Nhật Bản [được cho là] hậu duệ của họ ngày nay vẫn lấy làm tự hào.

Việc bàn cãi về các vấn đề khảo cổ ở Nhật Bản một cách vô tư không thiên vị mà khó khăn đến thế là do cách người Nhật diễn giải về quá khứ của họ có ảnh hưởng đến hành vi của họ trong hiện tại. Trong số các dân tộc Đông Á, ai đã mang văn hóa đến cho ai, ai ưu việt hơn về mặt văn hóa còn ai là kẻ man di, và ai có quyền tuyên bố đất của kẻ nào đó khác vốn là lãnh thổ của mình trong quá khứ? Chẳng hạn, có rất nhiều bằng chứng khảo cổ cho thấy đã có sự trao đổi về con người và vật phẩm giữa Nhật Bản và Triều Tiên trong khoảng từ năm 300 đến năm 700. Người Nhật giải thích rằng ấy là do người Nhật đã chinh phục Triều Tiên rồi mang các nô lệ và thợ thủ công Triều Tiên về Nhật Bản; người Triều Tiên thì giải thích rằng ấy là do Triều Tiên chinh phục Nhật Bản, và những kẻ sáng lập nên hoàng gia Nhật Bản chính là người Triều Tiên.

Vì vậy nên khi Nhật Bản đưa quân sang Triều Tiên và chiếm xứ này làm thuộc địa vào năm 1910, giới lãnh đạo quân sự Nhật Bản đã ăn mừng việc đó như là “phục hồi một sự an bài chính đáng từ thuở xa xưa”. Trong suốt 35 năm sau đó, lực lượng chiếm đóng Nhật Bản đã ra sức tiệt trừ tận gốc rễ nền văn hóa Triều Tiên, thay tiếng Triều Tiên bằng tiếng Nhật ở trường học. Các gia đình Triều Tiên đã sống ở Nhật Bản đến hàng mấy thế hệ vẫn khó mà nhập được quốc tịch Nhật Bản. Những “nấm mồ mũi” ở Nhật vẫn còn chứa đựng mũi của 20.000 người Triều Tiên bị cắt ra đem về Nhật Bản như là chiến lợi phẩm của cuộc xâm lăng Triều Tiên do người Nhật tiến hành vào thế kỷ XVI. Chẳng có gì lạ rằng tâm trạng thù ghét người Nhật phổ biến ở Triều Tiên còn thái độ coi khinh người Triều Tiên thì phổ biến ở Nhật Bản.

Xung quanh chuyện những cuộc tranh cãi về khảo cổ tưởng như chứa đầy bí ẩn lại có thể khơi nên nỗi quan tâm cuồng nhiệt đến thế nào, chỉ cần đơn cử một ví dụ, ấy là một di vật khảo cổ nổi tiếng của nước Nhật từ thời chưa có sử thành văn: thanh gươm Eta-Funayama vào thế kỷ thứ V, được coi là báu vật quốc gia và cất giữ ở Bảo tàng Quốc gia Nhật Bản. Trên thanh gươm bằng sắt này có khảm những chữ Hán bằng bạc, một trong những ví dụ xưa nhất còn lại đến nay về chữ viết ở Nhật Bản, các chữ này nhắc tới một vị Đại Vương, một vị quan phụng sự nhà vua này, và một thư lại người Triều Tiên tên là Chōan. Một vài chữ Hán trong số đó không hoàn chỉnh, đã bị rỉ sét hoặc bị mất nên người ta đành phải đoán mò. Các học giả Nhật Bản xưa nay vẫn cho rằng các chữ bị thiếu đó cho biết tên của nhà vua nọ, ấy là hoàng đế Nhật Bản Mizuha-wake Răng Đẹp mà các biên niên sử Nhật Bản vào thế kỷ thứ VIII có nhắc tới. Tuy nhiên, vào năm 1966, một sử gia Triều Tiên là Kim Sokhyong đã làm các học giả Nhật Bản choáng váng khi đưa ra giả thuyết rằng thật ra cái tên bị thiếu đó là Vua Kaero của Triều Tiên, còn vị quan được nhắc tên kia là một trong các chư hầu của ngài mà vào lúc đó đang chiếm cứ một số vùng của Nhật Bản. Vậy thì thật ra cái “sự an bài chính đáng từ thuở xa xưa” đó là gì?

Ngày nay, cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc đều là những cường quốc kinh tế, đối diện nhau qua eo biển Tsushima, và nhìn nhau qua lăng kính bị nhiễm độc của các huyền thoại sai lệch và những sự kiện tàn khốc có thật trong quá khứ. Sẽ chẳng tốt lành gì cho tương lai vùng Đông Á nếu hai dân tộc lớn đó không thể tìm được một cơ sở chung. Hiểu một cách đúng đắn thật ra người Nhật Bản là ai, họ đã tách ra như thế nào từ dân tộc Triều Tiên vốn có quan hệ gần gũi, ấy là việc tối quan trọng để có thể tìm ra cái cơ sở chung đó.

Xuất phát điểm để hiểu được nền văn hóa độc đáo của Nhật Bản là phải hiểu điều kiện địa lý và môi trường có một không hai của nước này. Thoạt nhìn Nhật Bản có vẻ rất giống nước Anh về mặt địa lý, bởi cả hai đều là những quần đảo lớn nằm bên rìa lục địa Âu-Á, một ở phía đông một ở phía tây. Nhưng có những khác biệt về chi tiết tỏ ra quan trọng: Nhật Bản có phần lớn hơn và cách biệt hơn. Diện tích Nhật Bản là 146.000 dặm vuông (khoảng 378.000 km[2] - ND), rộng gấp rưỡi diện tích đảo Anh và gần bằng bang California. Đảo Anh chỉ cách bờ biển nước Pháp 22 dặm (khoảng 35 km - ND), nhưng Nhật Bản thì cách điểm gần nhất của nội địa châu Á (Hàn Quốc) đến những 110 dặm (176 km - ND), cách nội địa Nga 180 dặm (288 km - ND) và nội địa Trung Quốc đến 460 dặm (736 km - ND).

Có lẽ chính vì vậy mà trong suốt lịch sử của mình nước Anh dính líu với nội địa châu Âu chặt chẽ hơn nhiều so với Nhật Bản dính líu với nội địa châu Á. Chẳng hạn, kể từ thời Jesus đã có đến bốn cuộc xâm lược đảo Anh thành công từ phía châu Âu lục địa, nhưng lại không hề có cuộc xâm lược Nhật Bản nào từ phía châu Á lục địa (trừ phi người Triều Tiên quả thực đã từng chinh phục Nhật Bản vào thời chưa có lịch sử thành văn). Ngược lại, kể từ khi người Norman chinh phục nước Anh vào năm 1066 thì ở thế kỷ nào quân đội Anh cũng có tham chiến trên lục địa châu Âu, trong khi cho mãi đến cuối thế kỷ XIX nội địa châu Á vẫn không hề có bóng dáng quân đội Nhật Bản ngoại trừ vào thời chưa có sử thành văn và vào thập niên cuối của thế kỷ XVI. Như vậy, những chi tiết về địa lý đã khiến cho Nhật Bản biệt lập hơn và do đó còn độc đáo hơn nhiều về văn hóa so với nước Anh.

Còn về khí hậu Nhật Bản, lượng mưa của nước này có thể lên tới 160 inch (406 cm - ND) một năm, khiến cho Nhật Bản trở thành nước ôn đới ẩm ướt nhất trên thế giới. Chưa hết, ngược lại với hầu hết châu Âu vốn mưa chủ yếu vào mùa đông, mưa ở Nhật Bản chủ yếu tập trung vào mùa hè, mùa tăng trưởng của cây cối. Sự kết hợp đó giữa lượng mưa cao với mưa vào mùa hè mang lại cho nước Nhật năng suất cây trồng cao nhất so với bất cứ nước nào khác ở vùng ôn đới. Một nửa diện tích đất canh tác của Nhật Bản được dùng để trồng lúa nước thâm canh có tưới tiêu, sản lượng cao, nhờ có rất nhiều sông ngòi chảy từ những ngọn núi nhiều mưa xuống các đồng bằng thoai thoải ở dưới thấp. Tuy 80% diện tích đất của Nhật Bản toàn là núi non không thích hợp để trồng trọt và chỉ có 14% diện tích là đất canh tác, song mỗi km vuông đất canh tác đó lại nuôi sống được một dân số có mật độ cao gấp tám lần so với ở Anh. Trên thực tế, nếu xét theo tỷ lệ đất canh tác thì Nhật Bản là xã hội quy mô lớn có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới.

Lượng mưa cao của Nhật Bản cũng đảm bảo cho rừng tái tạo nhanh sau khi bị đốn. Mặc dù nước Nhật đã bị cư dân đông đúc chiếm cứ suốt hàng ngàn năm, song ấn tượng đầu tiên của bất cứ ai về đất nước này là màu xanh của nó, bởi hơn 70% diện tích Nhật Bản vẫn còn phủ rừng (so với vỏn vẹn 10% diện tích nước Anh). Ngược lại, có tới ngần ấy diện tích rừng ở Nhật Bản thì cũng có nghĩa là chẳng hề có vùng đồng cỏ hay bãi chăn thả tự nhiên nào. Theo truyền thống, gia súc duy nhất được nuôi trên quy mô lớn để lấy thịt ở Nhật Bản là lợn; cừu và dê chưa bao giờ có vị trí quan trọng, còn bò thì được nuôi để kéo cày và kéo xe chứ không lấy thịt. Thịt bò do chính người Nhật nuôi luôn luôn là món ăn xa xỉ dành cho thiểu số người giàu, giá đến những 100 đôla Mỹ một pound (0,454 kg - ND).

Cấu trúc rừng ở Nhật thay đổi tùy vĩ độ và cao độ: rừng lá to xanh quanh năm ở miền nam và cao độ thấp, rừng lá to rụng vào mùa đông ở miền trung Nhật Bản, rừng lá kim ở miền bắc và cao độ lớn. Đối với con người thời tiền sử, rừng năng sản nhất là rừng lá to rụng vào mùa đông bởi có rất nhiều hạt ăn được như quả óc chó, hạt dẻ, hạt dẻ ngựa, quả sồi. Cũng như rừng Nhật Bản, các vùng nước ở Nhật có năng suất thủy hải sản đặc biệt cao. Các hồ, các sông ngòi, Nội Hải, Biển Nhật Bản về phía tây, Thái Bình Dương về phía đông đầy những loài cá như cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá thu, cá trích và cá tuyết. Các vùng nước của Nhật cũng rất giàu các loài vỏ cứng như trai, sò, tôm, cua cũng như các loài rong ăn được. Như ta sẽ thấy, năng suất cao đó ở cả trên bờ lẫn dưới nước đã đóng vai trò then chốt đối với thời kỳ tiền sử của Nhật Bản.

Trước khi quay lại bằng chứng về khảo cổ, ta hãy xét bằng chứng về nguồn gốc của người Nhật từ các ngành sinh vật học, ngôn ngữ học, chân dung và lịch sử thành văn về họ từ thuở đầu tiên. Mối xung đột giữa bốn loại bằng chứng quen thuộc đó chính là cái khiến cho vấn đề nguồn gốc người Nhật đâm ra đầy mâu thuẫn như vậy.

Từ tây nam lên đông bắc, bốn hòn đảo chính của Nhật Bản là Kyushu, Shikoku, Honshu (đảo lớn nhất) và Hokkaido. Mãi cho đến khi người Nhật di cư với quy mô lớn sang Hokkaido vào cuối thế kỷ XIX, hòn đảo này (và kể cả phía bắc Honshu) vẫn chỉ có người Ainu sinh sống từ thời tiền sử. Người Ainu theo lối sống săn bắt hái lượm, có trồng trọt nhưng chỉ hạn chế, trong khi người Nhật Bản chiếm cứ ba hòn đảo còn lại. Về gen di truyền và hệ xương cũng như về ngoại hình, người Nhật rất giống các dân tộc Đông Á khác bao gồm người Bắc Trung Quốc, người Đông Siberia và đặc biệt là người Triều Tiên. Ngay cả những người bạn Nhật Bản và Triều Tiên của tôi cũng nói đôi khi nếu chỉ nhìn mặt ai đó thì khó mà đoán được ấy là người Triều Tiên hay người Nhật.

Còn về người Ainu, ngoại hình khác biệt của họ đã khiến người ta tốn nhiều giấy mực để bàn về nguồn gốc và quan hệ họ hàng của họ hơn so với về bất cứ dân tộc riêng lẻ nào khác trên thế giới. Đàn ông Ainu có bộ râu sum suê và lông trên người rậm rạp nhất so với bất cứ giống dân nào khác. Điều đó, cộng với một số nét di truyền khác như kiểu vân tay và loại ráy tai, thường khiến người ta phân loại họ thành một nhóm Caucasoid (cái gọi là người da trắng) mà xưa kia đã bằng cách nào đó di cư ngang qua lục địa Âu-Á để cuối cùng dừng chân ở Nhật Bản. Tuy nhiên, nhìn đại thể thì kiểu di truyền của họ có quan hệ với các dân tộc Đông Á khác trong đó có người Nhật, người Triều Tiên và người Okinawa. Có lẽ ngoại hình chẳng giống ai của họ chỉ là do một số tương đối ít gen đã phát sinh thông qua chọn lọc giới tính sau khi họ đã di cư từ nội địa châu Á sang và trở thành [một dân tộc] biệt lập trên quần đảo Nhật Bản. Ngoại hình khác biệt và lối sống săn bắt hái lượm của người Ainu, cùng với ngoại hình không có gì khác biệt và lối sống nông nghiệp thâm canh của người Nhật Bản, thường được người ta viện dẫn khi đề xuất cách giải thích đơn giản rằng người Ainu là hậu duệ của cư dân săn bắt hái lượm nguyên thủy trên quần đảo Nhật Bản, còn người Nhật ngày nay là [hậu duệ của] những người từ nội địa châu Á di cư sang chiếm Nhật Bản vào một thời kỳ muộn hơn.

Song quan điểm này khó lòng thích ứng được với tính chất độc đáo của tiếng Nhật, thứ ngôn ngữ mà ai cũng đồng ý rằng không có liên hệ gần gũi nào về tiểu tiết với bất cứ ngôn ngữ nào khác trên thế giới (kiểu như tiếng Pháp gần với tiếng Tây Ban Nha). Trong chừng mực người ta có thể nói gì đó về quan hệ họ hàng của tiếng Nhật, nhiều học giả coi đây là một thành viên của ngữ hệ Altai ở châu Á bao gồm các ngôn ngữ Turk, các ngôn ngữ Mông Cổ và các ngôn ngữ Tungus ở Đông Siberia, song tiếng Nhật là một nhánh biệt lập trong ngữ hệ này. Tiếng Triều Tiên cũng thường được xem là một thành viên biệt lập của ngữ hệ này, và trong phạm vi ngữ hệ này thì tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên có thể có liên hệ với nhau nhiều hơn là với các ngôn ngữ Altai khác. Tuy nhiên, những tương đồng giữa tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên chỉ giới hạn ở các đặc điểm ngữ pháp chung và khoảng 15% ngữ vựng cơ bản, chứ không có chung từng tiểu tiết về ngữ pháp và từ vựng như giữa tiếng Pháp với tiếng Tây Ban Nha. Nếu người ta chấp nhận giả thuyết rằng tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên quả thực có họ hàng với nhau dù chỉ họ hàng xa, thì việc hai bên chỉ có chung 15% ngữ vựng cũng gợi ý rằng hai ngôn ngữ đó đã bắt đầu tách khỏi nhau từ trên 5.000 năm trước chứ không phải chỉ 2.000 năm hay thậm chí ít hơn như khoảng thời gian mà tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha tách khỏi nhau. Còn về tiếng Ainu, quan hệ họ hàng của nó hoàn toàn vẫn trong vòng nghi vấn; có thể nó chẳng có mối liên hệ đặc biệt nào với tiếng Nhật cả.

Tiếp theo bằng chứng sinh học và bằng chứng ngôn ngữ, loại bằng chứng thứ ba về nguồn gốc của người Nhật là những bức chân dung cổ. Chân dung xưa nhất còn giữ được về người Nhật là những bức tượng gọi là haniwa được dựng quanh các phần mộ vào khoảng 1.500 năm trước. Đặc biệt là ở hình dáng cặp mắt, các bức tượng đó rõ ràng là mô tả những người Đông Á, như người Nhật Bản hay người Triều Tiên ngày nay. Chúng chẳng hề giống những người Ainu râu rậm. [Điều đó nghĩa là] nếu người Nhật quả thật đã giành đất của người Ainu trên toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản về phía nam Hokkaido thì chuyện đó phải xảy ra trước năm 500 CN. Sau khi người Nhật Bản đã thiết lập những thương điếm trên đảo Hokkaido vào năm 1615, họ đi tới chỗ đối xử với người Ainu chẳng khác gì người Mỹ da trắng đối xử với người Anh-điêng bản địa châu Mỹ. Người Ainu bị khuất phục, bị quây vào những khu dành riêng cho họ, bị buộc phải làm việc cho các thương điếm, bị đuổi khỏi những vùng đất mà các nhà nông người Nhật muốn, người nào nổi lên kháng cự thì bị giết. Khi Nhật Bản sáp nhập Hokkaido vào năm 1869, các giáo viên ở nhà trường Nhật Bản đã tiến hành những nỗ lực đầy quyết tâm nhằm xóa sạch nền văn hóa và ngôn ngữ Ainu. Ngày nay tiếng Ainu hầu như đã tuyệt diệt và có lẽ chẳng có người Ainu thuần huyết nào còn sống sót.

Thông tin thành văn sớm nhất về Nhật Bản là từ các biên niên sử Trung Quốc, bởi Trung Quốc đã sáng chế ra chữ viết từ lâu trước khi chữ viết bành trướng từ Trung Quốc sang Triều Tiên hoặc Nhật Bản. Từ năm 108 trCN cho đến năm 313 CN, Trung Quốc đã chiếm một điểm định cư ở Bắc Triều Tiên và trao đổi sứ giả với Nhật Bản. Trong các tư liệu Trung Quốc về sau mà ở đó mô tả những dân tộc khác nhau được gọi chung là “bọn man di phía đông”, Nhật Bản được mô tả dưới cái tên Wa, và tư liệu nói rằng cư dân xứ đó chia ra thành hơn một trăm nước nhỏ thường xuyên đánh nhau ác liệt. Chỉ có một ít bản khắc Triều Tiên hay Nhật Bản từ trước năm 700 còn giữ được đến nay, song nhiều sử sách công phu đã được viết trong khoảng từ năm 712 đến 720 ở Nhật Bản và muộn hơn ở Triều Tiên. Tuy các biên niên sử Triều Tiên và Nhật Bản đó nhằm mục đích thuật lại lịch sử các thời đại trước đó, song chúng lại đầy rẫy những chuyện bịa đặt lộ liễu nhằm vinh danh và hợp thức hóa các hoàng gia cai trị, chẳng hạn như tư liệu của người Nhật mô tả Thiên hoàng là hậu duệ của nữ thần mặt trời Amaterasu. Tuy nhiên, các biên niên sử đó cũng đủ để làm rõ một điều rằng Triều Tiên, cũng như của Trung Quốc thông qua Triều Tiên, đã có ảnh hưởng to lớn đối với Nhật Bản, dẫn tới sự du nhập Phật giáo, chữ viết, nghề luyện kim, các nghề thủ công khác và các phương thức hành chính vào Nhật Bản. Các biên niên sử cũng đầy những tường thuật về người Triều Tiên ở Nhật Bản và về người Nhật Bản ở Triều Tiên, tuy nhiên giới sử gia Nhật Bản diễn giải các tường thuật đó như là bằng chứng về việc Nhật Bản từng chinh phục Triều Tiên, trong khi giới sử gia Triều Tiên thì diễn giải theo hướng ngược lại.

Như vậy, chúng ta đã thấy tổ tiên của người Nhật đã đặt chân đến Nhật Bản từ trước khi họ có chữ viết, và đặc điểm sinh học của họ gợi ý rằng họ đã đến Nhật Bản vào một thời kỳ khá gần đây song ngôn ngữ của họ thì lại cho thấy họ đã đến Nhật Bản từ ít nhất 5.000 năm trước. Giờ ta hãy quay lại bằng chứng khảo cổ để thử giải câu đố khó này. Ta sẽ thấy rằng các xã hội Nhật Bản cổ đại nằm trong số những xã hội đặc sắc nhất trên thế giới.

Các biển nông ngày nay bao quanh hầu hết bờ biển Nhật Bản và vùng duyên hải Đông Á. Vào kỷ Băng hà, khi hầu hết nước ở đại dương bị hãm dưới lớp băng và mực nước biển thấp hơn mực ngày nay khoảng 500 bộ (trên 150 mét - ND) thì các biển này đã bị cạn và trở thành đất liền. Vào thời đó, đảo cực bắc Nhật Bản là Hokkaido được nối liền với nội địa nước Nga qua một cầu đất liền bắc ngang đảo Sakhalin ngày nay; đảo cực nam Nhật Bản là Kyushu được nối liền với Hàn Quốc qua một cầu đất liền khác bắc qua eo biển Tsushima ngày nay; toàn bộ các đảo chính của Nhật Bản đều nối liền với nhau; và hầu hết diện tích Hoàng Hải và biển Hoa Đông ngày nay hãy còn là những vùng đất nối liền với nội địa Trung Quốc. Vì thế nên chẳng có gì lạ rằng các loài có vú đã di chuyển từ nội địa [Đông Á] ra Nhật Bản ngang qua các cầu đất liền vào thời đó không chỉ bao gồm tổ tiên các loài gấu và khỉ Nhật Bản ngày nay mà cả những con người cổ đại, từ rất lâu trước khi người ta phát minh ra chiếc thuyền. Những công cụ bằng đá chỉ ra rằng con người đã đặt chân đến Nhật Bản từ nửa triệu năm trước. Các công cụ đá ở miền bắc Nhật Bản giống các công cụ đá ở Siberia và bắc Trung Quốc, song các công cụ đá ở miền nam Nhật Bản thì lại giống các công cụ đá của Triều Tiên và nam Trung Quốc, điều này gợi ý rằng người [cổ đại] đã sử dụng cả cầu đất liền phía bắc lẫn cầu đất liền phía nam.

Nước Nhật vào kỷ Băng hà chẳng phải là một nơi dễ sống. Cho dù hầu hết Nhật Bản không bị băng bao phủ như nước Anh hay Canada, Nhật Bản vẫn là một xứ lạnh, khô, phủ dày đặc rừng tùng bách và rừng cây bulô chứ chẳng có bao nhiêu loài cây ăn được đối với con người. Những nhược điểm đó [của môi trường] càng khiến cho sự phát triển sớm của những người Nhật Bản vào kỷ Băng hà càng gây ấn tượng: khoảng 30.000 năm trước, họ nằm trong số những người đầu tiên trên thế giới làm ra công cụ bằng đá có cạnh được mài sắc chứ không chỉ là [cạnh sắc do] ghè đẽo hoặc tước ra. Trong khoa khảo cổ ở Anh, công cụ có cạnh mài sắc được coi là một bước tiến lớn về văn hóa đánh dấu sự chấm dứt Thời đại Đồ đá giữa mà bước sang Thời đại Đồ đá mới, thế nhưng các công cụ đó chỉ xuất hiện ở Anh khi nông nghiệp được du nhập vào vùng này chưa đến 7.000 năm trước.

Khoảng 13.000 năm trước, khi băng bắt đầu nhanh chóng tan ra trên khắp thế giới, điều kiện sống ở Nhật Bản được cải thiện rất nhiều đối với con người. Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đều tăng, nâng năng suất các loài cây lên mức cao như ở thời nay, cái năng suất khiến cho Nhật Bản nổi bật hẳn lên trong số các quốc gia ôn đới. Rừng lá to rụng vào mùa đông với nhiều cây cho hạt ăn được, vốn chỉ bó hẹp ở miền nam Nhật Bản trong kỷ Băng hà, nay đã có thể bành trướng lên phía bắc chiếm chỗ của rừng lá kim, vậy nghĩa là một loại rừng mà bấy lâu nay chẳng đem lại được gì cho con người đã được thay thế bởi một loại rừng khác cho nhiều sản vật hơn gấp bội. Mực nước biển tăng làm các cầu đất liền bị cắt rời, biến Nhật Bản từ chỗ là một mảnh của lục địa châu Á trở thành một quần đảo lớn, biến nơi từng là một đồng bằng thành những biển nông nhiều tôm cá, và tạo nên hàng ngàn km bờ biển mới với vô số đảo, vịnh, bãi triều và cửa sông, tất cả đều lèn chặt các loài hải sản.

Thời điểm kết thúc kỷ Băng hà đi kèm với sự thay đổi đầu tiên trong hai sự thay đổi có tầm quan trọng quyết định nhất trong thời tiền sử của Nhật Bản: phát minh ra đồ gốm. Lần đầu tiên trong lịch sử, con người nay đã có được những vật dụng kín chứa nước, muốn hình dáng nào cũng có. Nhờ nay đã có thể nấu, luộc hoặc ninh thức ăn, họ có thể tiêu thụ rất nhiều nguồn lương thực thực phẩm khác mà trước đây khó sử dụng được: những loại rau nhiều lá mà trước kia nếu chỉ nướng trên lửa thì sẽ cháy hoặc khô quắt lại; những con sò mà nhờ nấu trong nước nên có thể mở dễ dàng; và những thứ thức ăn như quả sồi hay hạt dẻ ngựa, vốn có chất độc hoặc vị đắng nhưng vẫn bổ dưỡng, nay thì có thể nhúng trong nước để tẩy chất độc đi. Nay người ta có thể bón thức ăn nấu mềm cho trẻ nhỏ, giúp trẻ cai sữa sớm hơn nhờ vậy các bà mẹ có thể sinh con cách quãng ngắn hơn. Những người già bị mất răng, vốn là nguồn lưu trữ thông tin quý báu vào thời xã hội chưa có chữ viết, nay có thể được nuôi ăn tốt và sống lâu hơn. Tất cả các hệ quả quan trọng đó của đồ gốm đã kích thích một sự bùng nổ dân số, khiến cho dân số Nhật Bản tăng vọt từ vỏn vẹn dăm ngàn người lên tới 1/4 triệu người.

Lẽ tự nhiên, người Nhật Bản không phải là dân tộc duy nhất trên thế giới có đồ gốm. Đồ gốm đã được phát minh độc lập ở nhiều thời điểm và tại nhiều địa điểm khác nhau trong thế giới cổ đại. Nhưng đồ gốm xưa nhất thế giới mà người ta từng biết đến được làm ra ở Nhật Bản từ 12.700 năm trước. Khi các niên đại cácbon phóng xạ đó được công bố vào năm 1960, ngay cả các nhà khoa học Nhật Bản ban đầu cũng không tin được. Theo kinh nghiệm thông thường của các nhà khảo cổ, các phát minh thường chỉ được truyền bá từ nội địa ra các đảo, và các xã hội nhỏ sống ở vùng biên thường không phải là kẻ đóng góp những thành tựu mang tính cách mạng cho phần còn lại của thế giới. Đặc biệt là theo kinh nghiệm của các nhà khảo cổ Nhật Bản, Trung Quốc được coi là cội nguồn của những đột phá về văn hóa ở Đông Á như nghề nông, chữ viết, nghề luyện kim và mọi thứ quan trọng khác. Ngày nay, gần 40 năm sau khi người ta đo được niên đại xa xưa đến vậy của đồ gốm Nhật Bản, các nhà khảo cổ vẫn đang còn bối rối bởi cú sốc cácbon 14 như họ gọi. Các đồ gốm xa xưa khác cũng đã được tìm thấy ở Trung Quốc và miền đông nước Nga (gần Vladivostok). Các nhà khảo cổ châu Á đang ra sức chạy đua để đánh bại kỷ lục của Nhật Bản. (Trên thực tế, tôi vừa nghe nói người Trung Quốc và người Nga đang sắp sửa đánh bại được rồi). Nhưng người Nhật vẫn đang nắm kỷ lục thế giới, bởi họ có những đồ gốm xưa hơn tới hàng ngàn năm so với đồ gốm xưa nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc châu Âu.

Cái định kiến cho rằng đã là dân hải đảo thì phải học tập từ dân lục địa bởi dân lục địa ưu việt hơn chẳng phải là nguyên nhân duy nhất khiến cho kỷ lục của Nhật Bản về niên đại đồ gốm lại gây ra cú sốc như vậy. Ngoài ra, những người làm đồ gốm đầu tiên ở Nhật Bản đó rõ ràng là những người săn bắt hái lượm, điều đó cũng lại vi phạm những quan điểm đã quen thuộc của nhiều người. Hầu hết đồ gốm là vật sở hữu của các xã hội định cư, bởi có dân du mục nào mà mỗi khi chuyển trại lại muốn rằng ngoài vũ khí và con nhỏ ra lại còn vác theo cả một lô một lốc những chum với lọ nặng nề? Vì vậy những người săn bắt hái lượm thường không có đồ gốm, bởi hầu hết các xã hội định cư ở các nơi khác trên thế giới chỉ phát sinh từ khi [họ] tiếp thu nghề nông. Nhưng môi trường Nhật Bản thì lại năng sản đến mức đó là một trong số ít những địa điểm nơi người ta có thể định cư và làm ra đồ gốm mặc dù vẫn theo lối sống săn bắt hái lượm. Đồ gốm giúp những người Nhật Bản săn bắt hái lượm đó khai thác nguồn lương thực thực phẩm dồi dào từ môi trường sống của mình từ 10.000 năm trước khi nghề nông thâm canh được du nhập vào Nhật Bản. Ngược lại, mãi chừng 1.000 năm sau khi Lưỡi liềm Phì nhiêu áp dụng nghề nông thì đồ gốm mới được sử dụng ở vùng này.

Chẳng có gì lạ rằng đồ gốm cổ Nhật Bản khá đơn giản về công nghệ xét theo tiêu chuẩn của ngày nay. Nó không có nước men, làm bằng tay chứ không phải bằng bánh xoay, được nung trên lửa lộ thiên chứ không phải trong lò, và được nung ở nhiệt độ tương đối thấp. Song, cùng với thời gian, đồ gốm Nhật Bản dần dần được sản xuất với nhiều kiểu dáng vô cùng phong phú và được đánh giá là nghệ thuật đích thực theo tiêu chuẩn của mọi thời đại. Hầu hết chúng được trang trí bằng cách lăn hoặc ấn một đoạn thừng lên đất sét khi đất còn mềm. Bởi từ Nhật dùng để gọi cách trang trí này là jomon (thằng văn, tức “hoa văn dây thừng”) nên từ jomon cũng được dùng để gọi bản thân loại đồ gốm này, cũng như để gọi những người cổ đại đã làm ra chúng và cả toàn bộ thời kỳ đó trong thời tiền sử của Nhật Bản từ khi người ta phát minh ra đồ gốm và chỉ kết thúc vào khoảng 10.000 năm sau đó.

Đồ gốm Jomon sớm nhất có niên đại 12.700 năm trước phát sinh từ đảo Kyushu ở cực nam Nhật Bản. Từ đó đồ gốm bành trướng lên phía bắc, đến vùng ngoại ô Tokyo ngày nay vào khoảng 9.500 năm trước và đảo Hokkaido ở cực bắc vào khoảng 7.000 năm trước. Đồ gốm bành trướng về phía bắc theo sau sự bành trướng của rừng lá to rụng lá vốn giàu các loại cây cho hạt ăn được, điều này gợi ý rằng nhờ lương thực phong phú hơn mà con người thời đó đã có thể chuyển sang định cư và sản xuất đồ gốm. Phong cách đồ gốm Jomon thời kỳ đầu đó lại tương đối đồng nhất trên toàn quần đảo Nhật Bản, điều này càng củng cố thêm cho cách giải thích rằng người ta đã phát minh ra đồ gốm ở phía nam rồi từ nguồn phát nguyên duy nhất đó đồ gốm đã bành trướng [lên phía bắc]. Cùng với thời gian, vài chục phong cách khu vực đã phát triển trên toàn bộ chiều dài 1.500 dặm (2.400 km - ND) của quần đảo Nhật Bản.

Người Jomon đã kiếm sống như thế nào? Chúng ta có rất nhiều bằng chứng từ những đống rác họ để lại ở hàng trăm ngàn di chỉ khảo cổ đã khai quật và những đống vỏ khổng lồ rải rác trên toàn nước Nhật. Hóa ra, họ là những người săn bắt hái lượm và đánh cá, có một thực đơn rất đỗi phong phú và cân bằng mà ngay các nhà dinh dưỡng học ngày nay cũng phải lấy làm khâm phục.

Một loại lương thực chính là các loại hạt, đặc biệt là hạt dẻ và quả óc chó, cộng thêm hạt dẻ ngựa và quả sồi đã được tẩy sạch chất độc có vị đắng. Các loại hạt có thể thu hoạch vào mùa thu với khối lượng dồi dào, sau đó trữ lại để dành cho mùa đông trong những hầm chứa dưới lòng đất sâu 6 bộ (hơn 1,[8] m - ND) và rộng 6 bộ. Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác gồm có các loại quả, lá, mầm, củ và rễ. Khi phân tích rác thải thời Jomon, nhà khảo cổ đã xác định được tới 64 loài cây ăn được.

Từ hồi đó cũng như ngày nay, người Nhật luôn nằm trong số các dân tộc tiêu thụ hải sản nhiều nhất thế giới. Người Nhật cổ đâm cá ngừ bằng lao móc ngoài đại dương, lùa cá heo vào những vùng nước nông rồi dùng gậy đập hoặc lao đâm chết giống như ngày nay, giết hải cẩu trên bãi biển, đánh bắt cá hồi trên sông theo mùa sinh sản của chúng, dùng lưới, dựng đăng hoặc lưỡi câu làm bằng gạc nai để đánh bắt nhiều loại cá, còn sò, cua và rong biển thì được vớt ở các bãi triều hoặc thu hoạch nhờ các thợ lặn. Các bộ xương của người Jomon cho thấy có một tần số cao cái mà các nhà bệnh học gọi là auditory exostosis, nghĩa là chứng xương phát triển bất thường ở tai như thường thấy ở các thợ lặn ngày nay.

Trong số các loài thú trên bộ bị săn bắt, lợn lòi và hươu là những con mồi thường xuyên nhất, theo sau là dê núi và gấu. Người ta săn các con mồi này bằng bẫy, bắn bằng cung tên và dùng chó để dồn. Xương lợn xuất hiện vào thời Jomon trên các hòn đảo ngoài khơi vốn không phải là nơi lợn phát sinh ngoài tự nhiên, khiến người ta phải đặt câu hỏi liệu có phải người Jomon đã bắt đầu thử thuần hóa lợn hay không.

Câu hỏi gây nhiều tranh luận nhất về người Jomon là liệu nghề nông có phần đóng góp đến đâu trong cách sinh tồn của họ. Các di chỉ Jomon thường chứa di tích các loại cây ăn được vốn mọc hoang ở Nhật Bản nhưng cũng được canh tác như là cây trồng ngày nay, trong đó có đậu đỏ, đậu xanh và barnyard millet[1]. Các di tích từ thời Jomon không cho thấy có những đặc tính riêng biệt về hình thái của cây trồng khác với các loài tổ tiên hoang dại, nên ta không thể biết chắc liệu đó là cây mọc hoang hay cây được trồng có chủ ý. Các di chỉ cũng có vết tích những loài cây ăn được hoặc cây có ích vốn không phải nguồn gốc từ Nhật Bản nên ắt là đã được du nhập từ nội địa châu Á vì giá trị của chúng, chẳng hạn kiều mạch (buckwheat), dưa hấu, bầu nậm, gai dầu và cây shiso (tiếng Anh gọi là beefsteak plant) dùng làm gia vị. Khoảng 1.200 năm trCN, vào gần cuối thời kỳ Jomon, một số hạt lúa, lúa mạch, kê đuôi chồn và kê lông chổi (broomcorn millet), các loài cây ngũ cốc chính của Đông Á cũng bắt đầu xuất hiện. Tất cả các manh mối đó dễ khiến ta suy luận rằng người Jomon đã bắt đầu tiến hành một kiểu nghề nông đốt rừng làm rẫy nào đó, nhưng rõ ràng họ chỉ làm vậy một cách tình cờ, không chủ định, và việc đó chỉ đóng góp một phần nhỏ vào khẩu phần của họ thôi.

Tôi không định gây nên ấn tượng rằng bất kỳ thứ thực phẩm nào mà tôi nhắc tới trên đây cũng được tiêu thụ ở mọi miền Nhật Bản vào thời Jomon. Ở những khu rừng giàu các loại cây cho hạt ở miền bắc Nhật, các hầm trữ hạt có tầm quan trọng đặc biệt bên cạnh nghề săn hải cẩu và đánh bắt cá biển. Còn ở miền nam vốn không nhiều các loại cây cho hạt, thì đánh bắt các loài có vỏ (tôm, cua, sò…) có vai trò lớn hơn. Nhưng chế độ ăn uống ở bất cứ khu vực nào và thậm chí mỗi một bữa ăn Nhật Bản đều vẫn có nét đặc trưng là sự đa dạng. Chẳng hạn, như di tích còn lại từ các bữa ăn cho thấy, người Jomon biết trộn lẫn bột hạt dẻ và bột quả óc chó, thịt và máu lợn và dê, cùng với trứng chim theo những tỷ lệ khác nhau để làm thành những món bánh quy giàu hydrat cacbon hay bánh kẹp thịt giàu protein chẳng kém gì các món bánh quy hay hamburger thời nay. Những người săn bắt hái lượm Ainu ở thời đại gần chúng ta hơn thì để một cái nồi thường xuyên sôi sùng sục trên bếp lửa và ném tất tật các loại thức ăn vào đó; những người Jomon tiền bối của họ, vốn cũng sống ở các di chỉ đó và cũng ăn các loại lương thực thực phẩm đó, ắt cũng đã làm như vậy.

Tôi có nói rằng đồ gốm (gồm những vật nặng cao đến ba bộ - khoảng hơn 0,[9] m - ND) gợi ý rằng những người săn bắt hái lượm Jomon ắt hẳn đã định cư chứ không phải là dân du cư. Ngoài ra còn có những bằng chứng khác củng cố thêm giả thiết rằng người Jomon đã định cư, ấy là những công cụ nặng bằng đá, di tích các căn nhà bề thế mà một nửa ngầm dưới đất với dấu hiệu cho thấy được xây theo kiểu mẫu có từ trước, những di tích trọn vẹn từng ngôi làng với hàng trăm căn nhà hay hơn nữa, và các nghĩa trang. Tất cả các đặc trưng đó khiến người Jomon khác hẳn với những người săn bắt hái lượm thời hiện đại vốn cứ vài tuần lại chuyển đi nơi khác, chỉ xây lều tạm bợ và chỉ sở hữu một ít món đồ nhẹ nhàng có thể mang theo. Sở dĩ người Jomon có thể định cư là do họ được hưởng một môi trường sống đa dạng giàu tài nguyên chỉ nằm cách nơi cư trú chính của họ không xa: các khu rừng, dòng sông, bờ biển, vịnh, biển và đại dương.

Người Jomon sinh sống với mật độ dân số cao nhất mà người ta từng ước đoán đối với người săn bắt hái lượm, đặc biệt là ở miền trung và miền bắc Nhật Bản nơi có những khu rừng giàu cây cho hạt, các dòng sông nhiều cá hồi theo mùa và biển nhiều hải sản. Tổng dân số Nhật Bản thời Jomon ước tính là 250.000 người vào lúc cao điểm, một con số chẳng lấy gì làm lớn so với dân số Nhật Bản ngày nay, song đối với thời săn bắt hái lượm thì là một dân số thật đáng kể. Cạnh tranh gần ngang ngửa về mật độ dân số với người Jomon có chăng chỉ là người Anh-điêng vùng tây bắc Thái Bình Dương và vùng California vào thời hiện đại, những người sống chủ yếu nhờ các khu rừng nhiều loại hạt ăn được, nhiều luồng cá hồi theo mùa và biển nhiều hải sản, một trường hợp nổi bật về sự tiến hóa đồng quy của các xã hội loài người.

Mặc dù nhấn mạnh người Jomon có được nhiều thứ là vậy, song ta cũng cần nói rõ người Jomon không có những gì. Họ không có nông nghiệp thâm canh, mà nói chung họ có hay không có nghề nông cũng hãy còn chưa rõ. Ngoài chó ra, họ không hề có loài gia súc nào khác (cũng có thể cả lợn, song không chắc). Họ không có công cụ bằng kim loại, không có chữ viết, không biết dệt vải. Các làng mạc và nghĩa trang của người Jomon không có một vài căn nhà và ngôi mộ được trang trí đẹp đẽ khác biệt với phần lớn các nhà và mộ của thường dân, mà hầu hết các căn nhà và ngôi mộ đều khá giống nhau, cho thấy xã hội Jomon hãy còn ít phân cấp thành tù trưởng và dân thường. Sự chuyển hóa về phong cách đồ gốm giữa các vùng gợi ý rằng người Jomon đã không tiến xa lắm về phương diện tập trung hóa và thống nhất về chính trị. Tất cả các nét tiêu cực đó tương phản với với những nét [tích cực] của các xã hội cùng thời ở nội địa Trung Quốc và Triều Tiên chỉ cách Nhật Bản thời Jomon vỏn vẹn vài trăm dặm, những xã hội với những sự thay đổi đã quét qua Nhật Bản sau năm 400 trCN.

Mặc dù có sự khác biệt nổi bật là vậy ngay cả so với vùng Đông Á vào thời đó, Nhật Bản thời Jomon vẫn không phải một vũ trụ hoàn toàn biệt lập. Sự phân bố của đồ gốm và đá obsidian (một loại đá núi lửa rất cứng mà người ta thích dùng để làm công cụ bằng đá) cho thấy người Jomon đã có phương tiện di chuyển trên biển để đi lại giữa các đảo trong chuỗi đảo Izu cách Tokyo 180 dặm (288 km - ND) về phía nam. Tương tự, đồ gốm, đá obsidian và lưỡi câu chứng minh rằng đã có sự trao đổi giữa Nhật Bản thời Jomon với Triều Tiên, Nga và Okinawa, cũng như việc du nhập sáu loài cây trồng chính của nội địa châu Á mà tôi đã nhắc trên đây. Nhưng các nhà khảo cổ nghiên cứu Nhật Bản thời Jomon chỉ tìm thấy một ít bằng chứng cho thấy có sự du nhập trực tiếp từ Trung Quốc, trong khi Trung Quốc lại có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Nhật Bản về sau này. So sánh với các thời đại sau, điều gây ấn tượng ở nước Nhật thời Jomon không phải là việc nước này có ít nhiều tiếp xúc với thế giới bên ngoài, mà là việc điều đó có ảnh hưởng quá nhỏ bé đối với xã hội Jomon. Nước Nhật thời Jomon là một vũ trụ thu nhỏ mang tính bảo thủ cứ duy trì tính biệt lập của mình và ít thay đổi đến kỳ lạ trong suốt 10.000 năm - một ốc đảo ổn định trong một thế giới cùng thời đầy mong manh và đổi thay nhanh chóng xung quanh nó.

Để đặt tính chất khác biệt của nước Nhật thời Jomon trong một bối cảnh đương thời, ta hãy nhớ lại xem vào năm 400 trCN, lúc lối sống Jomon sắp bước vào hồi cáo chung thì các xã hội loài người trên nội địa châu Á, cách Nhật Bản chỉ vài trăm dặm về phía tây là như thế nào. Vào thời đó, Trung Quốc đã bao gồm các vương quốc gồm tầng lớp tinh hoa giàu có và thường dân nghèo, sống trong những đô thị có tường vây quanh, và đang tiến đến chỗ thống nhất về chính trị để trở thành đế quốc rộng lớn nhất trên thế giới. Bắt đầu từ khoảng 7.500 năm trCN, Trung Quốc đã có chữ viết được ít nhất là 900 năm, đã có công cụ bằng kim loại ít nhất là 1.500 năm, và vừa mới phát minh ra nghề luyện gang đầu tiên trên thế giới. Các thành tựu đó của Trung Quốc cũng đang bành trướng sang Triều Tiên, khu vực mà vào lúc đó đã có nghề nông được hàng mấy ngàn năm (trong đó có lúa nước từ 2.000 năm trCN) và kim loại từ 1.000 năm trCN.

Thoạt tiên ta sẽ lấy làm lạ tại sao chỉ cách nhau eo Tsushima và biển đông Nhật Bản mà vào năm 400 trCN trong khi ở Trung Quốc đang diễn ra những bước tiến như vậy trong suốt hàng ngàn năm thì ở Nhật Bản vẫn chỉ có những người săn bắt hái lượm không có chữ viết và dùng công cụ bằng đá song vẫn có trao đổi ít nhiều [phẩm vật] với Triều Tiên. Trong suốt lịch sử loài người, các nhà nước tập trung hóa có vũ khí bằng kim loại, có quân đội được hỗ trợ bằng dân số đông đúc làm nghề nông đã từng quét sạch các quần thể dân cư ít ỏi hơn sống bằng săn bắt hái lượm và dùng công cụ bằng đá. Thế thì làm cách nào nước Nhật thời Jomon đã sống sót được lâu đến vậy?

Để thấu hiểu câu trả lời cho nghịch lý này, ta cần phải nhớ rằng cho đến năm 400 trCN eo biển Tsushima là ranh giới ngăn cách không phải giữa những nhà nông giàu có với những người săn bắt hái lượm nghèo khổ, mà là ngăn cách giữa một bên là những nhà nông nghèo khổ với một bên là những người săn bắt hái lượm giàu có. Bản thân Trung Quốc và nước Nhật thời Jomon không tiếp xúc trực tiếp với nhau. Thay vì vậy, trao đổi buôn bán của Nhật Bản, nếu có thể nói vậy, chỉ là với Triều Tiên. Nhưng lúa đã được thuần hóa ở miền nam Trung Quốc ấm áp và chỉ bành trướng một cách chậm chạp về phía bắc đến Triều Tiên vốn mát hơn nhiều, bởi phải mất nhiều thời gian thì lúa mới phát triển được thành những giống mới chịu được lạnh. Nghề nông lúa nước ở Triều Tiên thời kỳ đầu sử dụng phương pháp ruộng khô chứ không phải ruộng có tưới tiêu nên năng suất cũng không cao lắm. Vì vậy, nghề nông Triều Tiên thời kỳ đầu không thể cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm ở Nhật thời Jomon được. Bản thân người Jomon chẳng thấy có lợi lộc gì nếu tiếp thu nghề nông của Triều Tiên nếu như họ biết có một nghề nông như thế, còn các nông dân Triều Tiên nghèo khó cũng chẳng có ưu thế nào đặng có thể thâm nhập vào Nhật Bản. Như ta sẽ thấy, những ưu thế giữa hai bên rốt cuộc đã đảo ngược một cách bất ngờ và đầy kịch tính.

Tôi đã nói rằng sự phát minh ra đồ gốm ở Kyushu vào khoảng 12.700 năm trước và sự bùng nổ dân số Jomon từ đó mà ra là sự thay đổi thứ nhất trong hai sự thay đổi lớn trong lịch sử Nhật Bản. Sự thay đổi có tầm quan trọng quyết định thứ hai, kích thích sự bùng nổ dân số thứ hai, đã khởi đầu vào khoảng năm 400 trCN khi có sự du nhập một lối sống mới (và cả những con người mới?) từ Nam Triều Tiên. Sự chuyển hóa thứ hai này đặt ra một câu hỏi gay gắt về việc thật ra người Nhật là ai. Liệu sự chuyển hóa đó đã đánh dấu việc người Jomon bị những người từ Triều Tiên di cư đến giành chỗ, và chính những người từ Triều Tiên đến là tổ tiên của người Nhật ngày nay? Hay là cư dân nguyên thủy ở Nhật Bản thời Jomon đã vẫn tiếp tục chiếm cứ Nhật Bản đồng thời học hỏi được những kỹ năng quý báu mới [từ những người di cư Triều Tiên nọ]?

Lối sống mới xuất hiện đầu tiên ở bờ biển phía bắc của hòn đảo cực tây nam Nhật Bản là Kyushu, chỉ cách Nam Triều Tiên qua eo biển Tsushima. Các nhân tố mới quan trọng nhất là những công cụ kim loại đầu tiên của Nhật Bản được làm bằng sắt, và nghề nông toàn diện mà có bằng chứng không thể phủ nhận là đã xuất hiện lần đầu tiên ở nước này. Nghề nông đó được du nhập dưới dạng những cánh đồng lúa có tưới tiêu, cộng thêm những kênh mương, đê điều, bờ đắp, ruộng lúa và di tích lúa mà các khai quật khảo cổ đã làm phát lộ. Các nhà khảo cổ gọi lối sống mới này là “Yayoi” đặt theo tên một quận ở Tokyo nơi đồ gốm đặc trưng của nó được nhận diện lần đầu tiên vào năm 1884. Khác với đồ gốm Jomon, đồ gốm Yayoi có hình dáng rất giống đồ gốm Nam Triều Tiên cùng thời. Trong số nhiều yếu tố văn hóa Yayoi khác mà rõ ràng là của Triều Tiên song trước đó hãy còn lạ lẫm với người Nhật Bản còn có những vật phẩm bằng đồng, nghề dệt vải, hạt thủy tinh, các hầm chứa lúa dưới mặt đất, phong tục lưu giữ di hài người chết trong bình lọ, và các công cụ cũng như nhà ở mang phong cách Triều Tiên.

Tuy lúa là cây trồng quan trọng nhất ở thời Yayoi, song có 27 loại cây trồng khác mà trước đó Nhật Bản không có, cùng với lợn mà rõ ràng đã được thuần hóa, cũng được nuôi trồng. Các nhà nông Yayoi có thể đã thử tiến hành xen canh, tưới tiêu đồng ruộng để trồng lúa vào mùa hè, sau đó lại tháo khô cũng các cánh đồng đó để trồng các loại cây đất khô như kê, lúa mạch và lúa mì vào mùa đông. Một điều không tránh khỏi là hệ thống nông nghiệp thâm canh năng suất cao này đã lập tức kích thích một sự bùng nổ dân số ở Kyushu, nơi các nhà khảo cổ đã xác định được số di chỉ Yayoi nhiều hơn gấp bội so với di chỉ Jomon mặc dù thời kỳ Jomon kéo dài lâu hơn nhiều.

Hầu như ngay lập tức, nghề nông Yayoi đã lan từ Kyushu sang các đảo chính khác là Shikoku và Honshu, trong vòng 200 năm đã đặt chân đến vùng Tokyo và sang thế kỷ tiếp theo thì đến tận mũi cực bắc Honshu (cách những điểm định cư Yayoi đầu tiên ở Kyushu 1.000 dặm - 1.600 km). Các di chỉ Yayoi sớm nhất ở Kyushu bao gồm những chiếc nồi thuộc phong cách Yayoi mới lẫn phong cách Jomon cũ, nhưng văn hóa và đồ gốm Yayoi càng bành trướng lên phía bắc Nhật Bản qua đảo Honshu thì phong cách Jomon càng biến mất. Tuy nhiên, một số yếu tố văn hóa Jomon không biến mất hoàn toàn. Các nhà nông Yayoi vẫn tiếp tục sử dụng một số loại công cụ bằng đá đẽo kiểu Jomon mà ở Triều Tiên và Trung Quốc thì đã hoàn toàn bị thay thế bằng công cụ kim loại. Một số căn nhà Yayoi mang phong cách Yayoi, số khác lại mang cách Jomon. Đặc biệt là trong khi văn hóa Yayoi bành trướng lên phía bắc Tokyo, vào những vùng mát dịu hơn, nơi nông nghiệp lúa nước có năng suất thấp hơn và những người săn bắt hái lượm Jomon từng sinh sống với mật độ dân cao nhất, thì đã nảy sinh một nền văn hóa hỗn hợp YayoiJomon, với những lưỡi câu làm bằng kim loại nhưng hình dáng thì lại theo kiểu Jomon, những chiếc nồi thì theo kiểu dáng Yayoi có sửa đổi nhưng lại mang hoa văn dây thừng của Jomon. Sau khi chiếm lĩnh phần cực bắc Honshu lạnh giá trong một thời gian ngắn, các nhà nông Yayoi đã từ bỏ khu vực đó, hẳn vì ở đó nghề trồng lúa nước không thể cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm Jomon. Trong 2.000 năm sau đó, phần phía bắc Honshu vẫn là một vùng biên cương mà bên ngoài nó thì hòn đảo Hokkaido cực bắc Nhật Bản và cư dân săn bắt hái lượm Ainu ở đó thậm chí còn không được coi là một phần của nước Nhật cho mãi đến khi Nhật Bản sáp nhập đảo này vào thế kỷ XIX.

Các công cụ bằng sắt thời Yayoi ban đầu được du nhập từ Triều Tiên với số lượng rất lớn, cho tới khi Nhật Bản bắt đầu có thể tự luyện và sản xuất sắt sau đó vài thế kỷ. Cũng phải mất vài thế kỷ thì Nhật Bản thời Yayoi mới biểu lộ dấu hiệu có sự phân tầng xã hội, điều này đặc biệt được phản ánh ở các nghĩa trang. Sau khoảng 100 năm trCN, một số khu vực trong nghĩa trang bắt đầu được dành riêng cho một giai cấp thượng lưu rõ ràng là đang nổi lên, với đặc trưng là những vật phẩm xa xỉ nhập từ Trung Quốc như các vật bằng ngọc xinh đẹp và gương soi bằng đồng. Đến khi dân số Yayoi tiếp tục bùng nổ, và đến khi tất cả các vùng đất ngập nước tốt nhất hoặc các đồng bằng có thể tưới tiêu thích hợp để trồng lúa nước đều đã được tận dụng hết thì bằng chứng khảo cổ cho thấy chiến tranh xảy ra ngày một thường xuyên: những đầu tên với số lượng rất lớn, hào phòng vệ bao quanh các làng, và những bộ xương được chôn cất mang dấu vết bị đâm bằng vật nhọn. Những dấu hiệu về chiến tranh đó ở Nhật Bản thời Yayoi tương hợp với các biên niên sử xưa nhất của Trung Quốc khi nói về Nhật Bản, trong đó mô tả xứ sở tên là Wa [tức là Hòa trong Hán tự, một trong những cái tên cổ nhất của nước Nhật - ND] với hàng trăm đơn vị chính trị nhỏ đánh nhau liên miên.

Trong thời kỳ từ năm 300 đến năm 700 CN, cả các khai quật khảo cổ lẫn các biên niên sử vốn cực kỳ mơ hồ vào những thời kỳ sau đều cho ta nhìn thấy dù chỉ lờ mờ sự xuất hiện của một nước Nhật thống nhất về chính trị. Trước năm 300 CN, các ngôi mộ của giới thượng lưu hãy còn bé nhỏ và cho thấy sự đa dạng về phong cách mang tính địa phương. Bắt đầu từ khoảng năm 300 CN, ngày càng nhiều những ngôi mộ đất kỳ vĩ gọi là kofun với hình dáng lỗ khóa đã được xây dựng ở vùng Kinai của đảo Honshu và sau đó xuất hiện trên toàn bộ khu vực văn hóa Yayoi trước kia, từ Kyushu đến bắc Honshu. Sao lại là vùng Kinai? Có lẽ vì khu vực này có những vùng đất nông nghiệp tốt nhất nước Nhật, nơi mà ngày nay người ta nuôi giống bò thịt Kobe siêu đắt, cũng là nơi tọa lạc cố đô Kyoto cho đến khi nước này dời đô đến Tokyo vào năm 1868.

Các ngôi mộ kofun có thể dài tới 1.500 bộ (khoảng 457 mét - ND) và cao trên 100 bộ (khoảng 30,[5] mét - ND), khiến cho chúng có lẽ là những ngôi mộ bằng đất lớn nhất trong thế giới cổ đại. Các ngôi mộ này đòi hỏi phải có lực lượng lao động khổng lồ mới xây dựng được, phong cách của chúng lại khá đồng nhất trên toàn Nhật Bản, cho thấy nước Nhật khi đó đã có những vị thủ lĩnh hùng mạnh có khả năng huy động lực lượng lao động lớn và Nhật Bản đang trong quá trình đạt tới sự thống nhất chính trị. Các ngôi mộ kofun đã được khai quật chứa cơ man nào những vật tùy táng, nhưng việc khai quật tất cả các ngôi mộ lớn nhất thì cho đến nay vẫn bị cấm bởi người ta cho rằng các ngôi mộ lớn nhất này chứa đựng [di hài] tổ tiên của hoàng gia Nhật Bản. Bằng chứng nhãn tiền mà các ngôi mộ kofun cung cấp về sự thống nhất chính trị củng cố thêm những gì nói về các hoàng đế Nhật Bản thời đại Kofun được ghi lại trong sử sách Nhật Bản và Triều Tiên mãi rất lâu về sau. Ảnh hưởng to lớn của Triều Tiên đối với Nhật Bản trong suốt thời đại Kofun - dù thông qua việc Triều Tiên chinh phục Nhật Bản (theo quan điểm Triều Tiên) hay do Nhật Bản chinh phục Triều Tiên (theo quan điểm của Nhật Bản) - đã đưa Phật giáo, chữ viết, [kỹ năng] cưỡi ngựa, các kỹ thuật đồ gốm và luyện kim mới từ nội địa châu Á sang Nhật Bản.

Cuối cùng, với sự hoàn thành bộ biên niên sử đầu tiên của Nhật Bản vào năm 712, một phần là huyền thoại còn một phần chép lại các sự kiện có thật, cuối cùng Nhật Bản cũng xuất đầu lộ diện trọn vẹn dưới ánh sáng lịch sử. Vào năm 712, rốt cuộc thì những người cư trú trên nước Nhật, không nghi ngờ gì nữa, đúng là người Nhật Bản, và ngôn ngữ của họ (được gọi là tiếng Nhật cổ), không nghi ngờ gì nữa, là tổ tiên của tiếng Nhật ngày nay. Hoàng đế Akihito của Nhật Bản đang trị vì hiện nay là hậu duệ trực hệ đời thứ 82 của vị hoàng đế từng cai trị vào thời bộ biên niên sử đầu tiên năm 712 được viết ra. Theo truyền thống, Akihito được coi là hậu duệ trực hệ thứ 125 của Jimmu, vị hoàng đế huyền thoại đầu tiên, cháu chắt mấy đời của nữ thần mặt trời Amaterasu.

Trong 700 năm thời đại Yayoi, nền văn hóa Nhật Bản trải qua sự thay đổi triệt để hơn nhiều so với trong suốt mười ngàn năm thời đại Jomon. Sự tương phản giữa tính ổn định (còn gọi là tính bảo thủ) của thời Jomon với sự thay đổi triệt để dưới thời Yayoi là đặc tính nổi bật nhất của lịch sử Nhật Bản. Hiển nhiên đã có một gì đó thật lớn lao xảy ra vào năm 400 trCN. Đó là cái gì vậy? Liệu có phải người Jomon, người Yayoi, hay người Jomon hợp với người Yayoi là tổ tiên của người Nhật ngày nay? Dân số Nhật Bản đã tăng với hệ số đáng kinh ngạc là 70 trong thời đại Yayoi: cái gì đã gây nên sự thay đổi đó? Một cuộc tranh cãi gay gắt đã từng rộ lên xung quanh ba giả thuyết khác nhau.

Một thuyết cho rằng chính những người săn bắt hái lượm Jomon đã dần dần tiến hóa thành người Nhật hiện đại. Bởi họ đã sống một cuộc sống định cư theo làng mạc trong suốt hàng ngàn năm nên ắt hẳn họ đã được thích nghi sẵn để tiếp thu nghề nông. Tại giai đoạn chuyển tiếp Yayoi, có lẽ đã chẳng có gì [to tát] xảy ra ngoài chuyện xã hội Jomon tiếp nhận các hạt giống lúa chịu được khí hậu lạnh cũng như thông tin về nghề trồng lúa nước từ Triều Tiên, cho phép họ sản xuất được nhiều lương thực hơn và tăng dân số lên. Thuyết này tỏ ra hấp dẫn đối với một số người Nhật ngày nay, bởi nó giảm đến tối thiểu sự đóng góp của gen Triều Tiên vào hệ gen Nhật Bản, điều mà [người Nhật] không mong muốn, và bởi nó minh họa người Nhật như là một dân tộc mà ngay từ ít nhất 12.000 năm trước đã là một dân tộc độc nhất vô nhị rồi.

Thuyết thứ hai thì chẳng hấp dẫn đối với những người Nhật nào chuộng thuyết thứ nhất. Thuyết này lập luận rằng trong thời kỳ chuyển tiếp Yayoi đã có sự di cư với quy mô lớn của người Triều Tiên sang Nhật Bản, mang theo nghề nông, nền văn hóa và gen di truyền của Triều Tiên. Kyushu ắt hẳn dường như là thiên đường đối với các nhà nông trồng lúa nước Triều Tiên bởi hòn đảo này ấm áp và ẩm ướt hơn Triều Tiên do đó trồng lúa sẽ tốt hơn. Theo một ước tính, nước Nhật thời Yayoi đã tiếp nhận vài triệu người di cư từ Triều Tiên, và [gen di truyền của] ngần ấy con người rõ ràng đã lấn át hoàn toàn gen di truyền của người Jomon (mặc dù người Jomon tại trước thời điểm chuyển tiếp Yayoi cũng có tới khoảng 75.000 người). Nếu đúng vậy thì người Nhật ngày nay là hậu duệ của những người di cư Triều Tiên, những kẻ đã có được một nền văn hóa của riêng mình trong suốt 2.000 năm trở lại đây.

Thuyết thứ ba thừa nhận bằng chứng về sự di dân từ Triều Tiên song không thừa nhận rằng sự di cư đó đã diễn ra trên quy mô lớn. Thay vì vậy, nghề nông có năng suất cao đã cho phép một số nhà nông lúa nước di cư, dù không đông đảo lắm, vẫn có thể sinh sôi nảy nở nhanh hơn nhiều so với những người săn bắt hái lượm Jomon và cuối cùng trở nên đông hơn người Jomon gấp bội. Chẳng hạn, giả sử rằng chỉ có vỏn vẹn 5.000 người Triều Tiên đã di cư sang Kyushu, nhưng nông nghiệp lúa nước đã cho phép họ nuôi con nhỏ [tốt hơn] và tăng dân số với tỷ lệ 1% một năm. Tỷ lệ đó cao hơn nhiều so với tỷ lệ sinh sản của người săn bắt hái lượm nhưng đối với những người làm nông thì có thể đạt được dễ dàng: dân số Kenya ngày nay tăng với tỷ lệ 4,5% một năm. Trong vòng 700 năm, 5.000 người nhập cư đó có thể sinh ra đến 5.000.000 hậu duệ, và số người này cũng lại hoàn toàn lấn át người Jomon. Cũng như thuyết thứ hai, thuyết này coi người Nhật ngày nay là hậu duệ của người Triều Tiên tuy có thay đổi chút ít, song phủ nhận việc đã có làn sóng di cư với quy mô lớn.

So sánh với những sự chuyển tiếp tương tự từng diễn ra ở những nơi khác trên thế giới, tôi thấy thuyết thứ hai hoặc thứ ba có vẻ hợp lý hơn thuyết thứ nhất. Trong suốt 12.000 năm trở lại đây, nông nghiệp đã nảy sinh ở không quá chín địa điểm trên bề mặt trái đất: Trung Quốc, Lưỡi liềm Phì nhiêu, và một vài khu vực khác. 12.000 năm trước, bất cứ ai sống trên bề mặt trái đất đều là người săn bắt hái lượm, còn ngày nay thì hầu như tất cả chúng ta đều là nhà nông hoặc được nuôi ăn bởi nhà nông. Sự bành trướng nghề nông từ một vài khu vực phát nguyên đó thường không diễn ra như là kết quả của việc những người săn bắt hái lượm ở nơi nào đó [tự giác] tiếp thu nghề nông, bởi người săn bắt hái lượm thường có xu hướng bảo thủ, đúng như người Jomon trong khoảng từ 10.700 năm đến 400 năm trCN. Thay vì vậy, sự bành trướng nghề nông diễn ra chủ yếu là do các nhà nông sinh sôi nảy nở nhanh hơn những người săn bắt hái lượm, phát triển được những công nghệ mạnh hơn, sau đó thì giết chết các thợ săn kia hoặc đuổi họ khỏi tất cả những vùng đất nào thích hợp với nghề nông. Vào thời hiện đại, các nhà nông châu Âu đã giành chỗ của các thợ săn Anh-điêng Bắc Mỹ, người Australia bản địa và người San ở Nam Phi bằng cách đó. Tương tự, vào thời tiền sử, các nhà nông sử dụng công cụ bằng đá đã giành chỗ các thợ săn trên khắp châu Âu, Đông Nam Á và Indonesia. So ra thì cái ưu thế độc nhất và khiêm nhường của các nhà nông đó trước những người săn bắt hái lượm vào thời tiền sử chẳng thấm vào đâu so với ưu thế to lớn của các nhà nông Triều Tiên trước các thợ săn Jomon vào năm 400 trCN, bởi người Triều Tiên đã sở hữu công cụ bằng sắt và một hình thức nông nghiệp thâm canh phát triển cao.

Thuyết nào trong ba thuyết trên là đúng đối với Nhật Bản? Cách trực tiếp duy nhất để trả lời câu hỏi đó là so sánh các bộ xương và gen Jomon và Yayoi với xương và gen của người Nhật hiện đại và người Ainu. Người ta đã tiến hành đo nhiều loạt xương như vậy. Ngoài ra, trong những năm gần đây, các nhà di truyền học phân tử đã bắt đầu phân lập DNA từ xương người cổ đại và so sánh gen người Nhật cổ với gen người Nhật hiện đại. Và người ta nhận thấy, xét trung bình thì xương người Jomon và xương người Yayoi khác hẳn nhau. Người Jomon thường có vóc thấp hơn, cánh tay trước và cẳng dưới dài hơn, hai mắt xa nhau hơn, khuôn mặt ngắn và rộng bề ngang hơn, và “địa hình” khuôn mặt “gồ ghề” hơn, có sống mày, mũi và sống mũi cao hơn nhiều. Người Yayoi thường cao hơn từ 1 đến 2 inch (từ 2,[5] đến 5 cm - ND), hai mắt gần nhau hơn, khuôn mặt dài và hẹp, sống mày và mũi thấp hơn. Một số bộ xương thời Yayoi vẫn còn giống người Jomon về ngoại hình, song điều đó thì hầu như giả thuyết nào về sự chuyển hóa giữa Jomon với Yayoi cũng đều có thể dự kiến trước cả. Đến thời kỳ Kofun thì tất cả các bộ xương người Nhật ngoại trừ người Ainu đều là một nhóm đồng nhất, vừa giống người Nhật vừa giống người Triều Tiên ngày nay.

Trong tất cả các phương diện đó, các hộp sọ Jomon khác hẳn với sọ người Nhật hiện đại và giống hơn cả với sọ người Ainu hiện đại, trong khi sọ Yayoi thì giống hơn cả với sọ người Nhật hiện đại. Dựa trên giả định rằng người Nhật hiện đại đã phát sinh từ sự hỗn hợp giữa người Yayoi giống người Triều Tiên hiện đại với người Jomon giống người Ainu hiện đại, các nhà di truyền học đã thử tính toán phần đóng góp tương đối của mỗi hệ gen di truyền. Kết luận thu được là phần đóng góp của nhóm Triều TiênYayoi nói chung chiếm phần áp đảo. Phần đóng góp của nhóm AinuJomon là thấp nhất ở vùng tây nam Nhật Bản, nơi hầu hết các di dân Triều Tiên hẳn đã đặt chân đến đầu tiên và cư dân Jomon chỉ thưa thớt, và tương đối cao hơn ở miền bắc Nhật Bản nơi rừng giàu các loại cây cho hạt hơn và mật độ dân số Jomon cao nhất trong khi nông nghiệp lúa nước Yayoi là kém thành công nhất.

Như vậy, những người di cư từ Triều Tiên thực sự đã có phần đóng góp to lớn làm hình thành người Nhật hiện đại, mặc dù ta chưa thể biết chắc đấy là do đã có sự di cư từ Triều Tiên với quy mô lớn hay chỉ có một nhóm di dân không nhiều nhưng về sau đã đông lên nhanh chóng nhờ tỷ lệ sinh sản cao. Người Ainu [ngày nay] chắc hẳn là hậu duệ của cư dân Jomon ở Nhật Bản cổ đại, trộn lẫn với gen Triều Tiên của những người di dân Yayoi và của người Nhật hiện đại.

Xét ưu thế vượt trội mà nông nghiệp lúa nước rốt cuộc đã mang lại cho các nhà nông Triều Tiên trước những thợ săn Jomon, người ta buộc phải tự hỏi tại sao các nhà nông Triều Tiên đã đạt được thắng lợi một cách chóng vánh đến vậy sau khi đã chẳng tiến bộ được bao nhiêu ở Nhật Bản trong suốt hàng ngàn năm trước đó, kể từ khi nghề nông được du nhập vào Triều Tiên. Trước đây tôi đã nói rằng, vào thời kỳ đầu nghề nông Triều Tiên có năng suất tương đối thấp, nhà nông chẳng lấy gì làm sung túc nên không có gì gọi là ưu thế trước những người săn bắt hái lượm no đủ. Tuy nhiên, sở dĩ cán cân rốt cuộc ngả về phía các nhà nông và khiến cho thời kỳ chuyển tiếp Yayoi diễn ra có lẽ là do sự kết hợp bốn nhân tố xảy ra cùng một lúc: sự phát triển nghề nông trồng lúa nước thay vì nghề nông lúa khô vốn năng suất thấp hơn, sự cải thiện không ngừng các giống lúa thích nghi với khí hậu lạnh, sự gia tăng dân số người Triều Tiên tạo sức ép khiến người Triều Tiên phải di cư, và sự phát triển các công cụ bằng sắt để có thể sản xuất đại trà xẻng, cày cuốc bằng gỗ và các công cụ khác cần thiết để canh tác lúa nước. Việc [công cụ bằng] sắt và nghề nông thâm canh được du nhập vào Nhật Bản cùng một lúc khó có thể chỉ là một sự tình cờ.

Khi mở đầu chương này, tôi đã nhắc tới một cách giải thích bạch về việc tại sao những người Ainu (có ngoại hình khác biệt) với người Nhật (có ngoại hình không có gì khác biệt) đã cùng chia nhau đất nước Nhật Bản. Nếu chỉ xét theo bề ngoài, các sự kiện đó có vẻ như gợi ý rằng người Ainu là hậu duệ của cư dân nguyên thủy ở Nhật Bản còn người Nhật là hậu duệ của những người di cư đến Nhật Bản vào những thời kỳ sau. Ta cũng đã thấy bằng chứng kết hợp giữa ngành khảo cổ, ngành nhân học thể chất và ngành di truyền học cũng ủng hộ quan điểm này.

Nhưng ngay từ đầu tôi cũng đã nhắc rằng có một sự phản đối mạnh mẽ khiến cho hầu hết người ta (đặc biệt là chính người Nhật) đi tìm những cách giải thích khác. Nếu người Nhật quả thực là hậu duệ của người Triều Tiên di cư sang Nhật Bản vào thời kỳ sau thì đáng lẽ tiếng Nhật và tiếng Triều Tiên phải rất giống nhau mới phải. Nói khái quát hơn, nếu người Nhật đã phát sinh trực tiếp từ một sự hợp huyết nào đó trên hòn đảo Kyushu, giữa người Jomon nguyên thủy (giống người Ainu ngày nay) với những người di cư Yayoi từ Triều Tiên đến, thì tiếng Nhật ắt phải có quan hệ gần gũi với cả tiếng Triều Tiên lẫn tiếng Ainu. Thế nhưng tiếng Nhật và tiếng Ainu chẳng hề tỏ ra có mối quan hệ nào với nhau, và mối quan hệ giữa tiếng Nhật với tiếng Triều Tiên cũng chỉ là họ hàng xa. Làm sao lại thế được nếu quả thật đã có một sự hợp huyết diễn ra chỉ mới cách đây 2.400 năm? Tôi đề xuất cách lý giải sau đây cho nghịch lý này: rằng trên thực tế, ngôn ngữ của cư dân Jomon trên đảo Kyushu không thể nào rất giống tiếng Ainu hiện đại, và ngôn ngữ của những người di cư Yayoi cũng không thể nào rất giống tiếng Triều Tiên cho được.

Trước tiên hãy xét tiếng Ainu, thứ tiếng mà ta biết là ngôn ngữ mà cho tới thời gian gần đây vẫn được sử dụng bởi người Ainu trên hòn đảo cực bắc Nhật Bản là Hokkaido. Vì vậy, cư dân Jomon ở Hokkaido có lẽ đã từng nói một thứ tiếng giống như tiếng Ainu, song rõ ràng là các cư dân Jomon trên đảo Kyushu thì không. Từ chỏm cực nam Kyushu đến chỏm cực bắc Hokkaido, quần đảo Nhật Bản trải dài gần 1.500 dặm (khoảng 2.400 km - ND). Ta biết rằng vào thời đại Jomon Nhật Bản đã có sự đa dạng rất lớn về phương thức sống cũng như phong cách đồ gốm và chưa bao giờ thống nhất về chính trị. Trong suốt 10.000 năm thời đại Jomon, người Jomon ắt hẳn đã tạo nên một sự đa dạng to lớn không kém về ngôn ngữ. Các ngôn ngữ của họ thậm chí có thể đã rất khác nhau ngay từ 12.000 năm trước nếu những người Jomon ở phía bắc đã đến Nhật Bản từ Nga còn những người Jomon ở phía nam thì đến Nhật Bản từ Triều Tiên qua các cầu đất liền, như bằng chứng khảo cổ dường như đã chỉ ra.

Trên thực tế, nhiều địa danh Nhật Bản trên đảo Hokkaido và phía bắc đảo Honshu vẫn bao gồm những từ Ainu dùng để gọi “sông” (nai hay betsu) hoặc “vịnh” (shiri), song xa hơn về phía nam Nhật Bản thì những cái tên mang nét Ainu đó không xuất hiện. Điều đó gợi ý rằng những người Yayoi và người Nhật tiên phong đã tiếp thu nhiều địa danh của người Ainu địa phương, cũng như người Mỹ da trắng tiếp thu nhiều địa danh của người châu Mỹ bản địa (chẳng hạn “Massachusetts”, “Missisippi”, vân vân), nhưng tiếng Ainu là ngôn ngữ Jomon được dùng chỉ ở miền cực bắc Nhật Bản mà thôi. Trong khi đó, ngôn ngữ Ainu ở đảo Kyushu có thể có cùng tổ tiên với ngữ hệ Nam Đảo bao gồm các ngôn ngữ Polynesia và ngôn ngữ Indonesia cũng như các ngôn ngữ bản địa của đảo Đài Loan. Như nhiều nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ Nam Đảo ở chỗ chuộng dùng cái gọi là các âm tiết mở (một phụ âm theo sau là một nguyên âm, như trong cái tên “Hi-ro-hi-to”). Người Đài Loan cổ là những người đi biển cừ khôi mà hậu duệ bành trướng ra rất xa về phía nam, phía đông và phía tây; một số trong đó cũng có thể đã bành trướng về phía bắc, đến đảo Kyushu.

Vậy nghĩa là, tiếng Ainu ngày nay trên đảo Hokkaido không phải là hình mẫu của ngôn ngữ Jomon cổ đại trên đảo Kyushu. Cũng vậy, tiếng Triều Tiên hiện đại có thể không phải là hình mẫu chuẩn cho tiếng Yayoi cổ đại của những di dân Triều Tiên vào năm 400 trCN. Trong những thế kỷ trước khi Triều Tiên được thống nhất về chính trị vào năm 676 CN, nước này bao gồm ba vương quốc. Tiếng Triều Tiên hiện đại bắt nguồn từ ngôn ngữ của vương quốc Silla, vương quốc mà về sau đã đánh bại được hai vương quốc kia và thống nhất Triều Tiên, nhưng Silla lại không phải là vương quốc từng tiếp xúc chặt chẽ với Nhật Bản trong những thế kỷ trước đó. Các sử sách Triều Tiên thời kỳ đầu cho ta biết rằng các vương quốc Triều Tiên đó có ngôn ngữ khác nhau. Tuy ngày nay ta không biết được gì nhiều về ngôn ngữ của các vương quốc bị Silla đánh bại, song một ít từ còn giữ được đến nay của một trong hai vương quốc đó (Koguryo, tức Cao Câu Ly) thì lại giống hơn nhiều với các từ tương đương trong tiếng Nhật cổ so với các từ tương đương trong tiếng Triều Tiên hiện đại. Các ngôn ngữ Triều Tiên thậm chí có thể đã rất khác nhau ngay từ 400 năm trCN, trước khi sự thống nhất chính trị đạt đến giai đoạn hình thành ba vương quốc. Tôi ngờ rằng tiếng Triều Tiên mà [các di dân Triều Tiên] mang theo đến Nhật Bản vào năm 400 trCN và đến nay đã tiến hóa thành tiếng Nhật hiện đại là khác xa với tiếng Silla [cổ] vốn đã tiến hóa thành tiếng Triều Tiên hiện đại. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng người Nhật và người Triều Tiên ngày nay rất giống nhau về ngoại hình và gen di truyền song lại chẳng giống nhau cho lắm về ngôn ngữ.

Kết luận này có lẽ cả người Nhật Bản lẫn người Triều Tiên sẽ không thích, bởi hai dân tộc này hiện vẫn không ưa nhau. Lịch sử đã cho họ thừa lý do để ghét nhau: đặc biệt là người Triều Tiên ghét người Nhật Bản. Cũng như người Arập và người Do Thái, người Triều Tiên và người Nhật Bản là những dân tộc cùng huyết thống song cũng cùng một mối thâm thù. Nhưng hận thù chỉ dẫn đến sự hủy diệt cho cả hai bên, ở Đông Á cũng như ở Trung Đông. Dù người Nhật Bản và người Triều Tiên có phải thừa nhận điều này một cách miễn cưỡng đến đâu, họ vẫn là hai anh em sinh đôi có cùng những năm sinh thành và khôn lớn. Tương lai chính trị của Đông Á phụ thuộc phần lớn vào việc liệu hai dân tộc đó có khám phá lại được những mối dây từng gắn bó hai bên từ thời cổ đại hay không.

LỜI KẾT. Tương lai của khoa lịch sử loài người như một ngành khoa học

Câu hỏi của Yali đi vào tận cốt lõi thực trạng loài người hiện nay, cũng như vào thấu tâm điểm lịch sử loài người thời kỳ hậu Pleitoxen. Giờ đây, khi đã hoàn thành cuộc du ngoạn ngắn vòng quanh các lục địa, chúng ta sẽ trả lời Yali như thế nào đây?

Tôi sẽ nói với Yali: lịch sử dài hạn của các dân tộc trên những lục địa khác nhau sở dĩ khác biệt nhau đến vậy không phải vì những khác biệt bẩm sinh trong bản thân các dân tộc đó, mà là do những khác biệt trong môi trường sống của họ. Tôi tin rằng giá như người Australia bản địa và người Âu-Á có thể đổi chỗ cho nhau trong thời Hậu kỳ Pleitoxen thì ắt hẳn người Australia bản địa nguyên thủy giờ đây đã là những kẻ chiếm cứ hầu hết châu Mỹ và Australia cũng như Âu-Á, trong khi người Âu-Á bản địa hẳn đã bị teo nhỏ thành những nhóm dân manh mún bị chà đạp áp bức ở Australia. Có thể thoạt tiên người ta sẽ loại bỏ ngay giả thiết này, coi nó chẳng có ý nghĩa gì bởi chỉ thuần tưởng tượng thôi, không thể lấy gì kiểm chứng. Dẫu vậy các sử gia vẫn có cách để đánh giá các giả thuyết như vậy dựa trên những thử nghiệm hồi cố. Chẳng hạn, người ta có thể xét trường hợp điều gì đã xảy ra khi các nhà nông châu Âu được chuyển sang Greenland hay vùng Đồng bằng Lớn ở Hoa Kỳ, và khi các nhà nông vốn gốc gác nguyên thủy từ Trung Quốc di cư sang quần đảo Chatham, vùng rừng mưa ở Borneo hay vùng đất núi lửa ở Java hoặc Hawaii. Các thử nghiệm đó xác nhận một điều rằng, vẫn cùng những dân tộc cổ đại đó thôi, song tùy theo họ sống ở môi trường nào mà rốt cuộc họ bị diệt chủng, quay về lối sống săn bắt hái lượm hay tiến lên xây dựng được nhà nước phức tạp. Tương tự, những người săn bắt hái lượm Australia bản địa, tùy theo họ di cư sang quần đảo Flinders, Tasmania hay miền đông nam Australia [nghĩa là tùy theo môi trường họ sống - ND] mà cuối cùng họ đã bị tuyệt chủng, vẫn tiếp tục săn bắt hái lượm với thứ công nghệ giản đơn nhất trong thế giới hiện đại, hay biết xây dựng kênh đào để duy trì một nghề cá có năng suất cao.

Dĩ nhiên, các lục địa khác biệt nhau ở vô số đặc tính môi trường có khả năng ảnh hưởng đến quỹ đạo phát triển của xã hội loài người. Song nếu chỉ đưa ra một danh sách những khác biệt khả dĩ thì không đủ để trả lời câu hỏi của Yali. Đối với tôi, chỉ có bốn nhóm nhân tố trong số đó là những khác biệt quan trọng nhất.

Nhóm nhân tố đầu tiên là những sự khác biệt giữa các lục địa về chủng loại cây dại và thú hoang thích hợp để thuần hóa. Đó là bởi sản xuất lương thực là nhân tố tối quan trọng để có thể tích lũy lương thực thặng dư hầu nuôi sống những người làm công việc chuyên môn ngoài sản xuất lương thực, cũng như để hình thành dần một dân số đông đúc [mà hễ dân đông thì] sẽ có ưu thế về quân sự so với những nhóm dân ít ỏi ngay cả khi chưa phát triển được ưu thế về công nghệ hoặc tổ chức chính trị. Vì cả hai lý do trên, các vương quốc nhỏ sơ khai sở dĩ phát triển lên được thành những xã hội phức tạp về kinh tế, phân tầng về xã hội và tập trung hóa về chính trị thảy đều dựa trên sản xuất lương thực.

Song hầu hết cây dại và thú hoang đều đã tỏ ra không thích hợp để thuần hóa: nền sản xuất lương thực chỉ dựa trên một số loài cây trồng và vật nuôi khá ít ỏi. Số lượng các loài thích hợp để thuần hóa ở lục địa này khác biệt rất lớn với ở lục địa khác, bởi sự khác biệt giữa các khu vực trong từng lục địa và (trong trường hợp các loài hữu nhũ lớn) còn bởi sự tuyệt chủng vào hậu kỳ Pleitoxen. Sự tuyệt chủng đó ở Australia và châu Mỹ nghiêm trọng hơn nhiều so với ở Âu-Á hoặc châu Phi. Hậu quả là châu Phi ít phong phú hơn một chút về sinh học so với Âu-Á vốn rộng hơn nhiều, châu Mỹ còn càng kém phong phú hơn, Australia lại càng kém hơn nữa, cũng như New Guinea quê hương của Yali (với diện tích chỉ bằng một phần bảy mươi so với Âu-Á và tất cả các loài hữu nhũ lớn bản địa đều tuyệt chủng vào hậu kỳ Pleitoxen).

Trên mỗi lục địa, sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi chỉ tập trung vào một số vùng có lợi thế đặc biệt, các vùng này chỉ chiếm một phần nhỏ tổng diện tích từng lục địa. Trong trường hợp cách tân công nghệ và thể chế chính trị cũng vậy, hầu hết các xã hội chủ yếu là tiếp thu từ các xã hội khác chứ không tự mình phát minh ra. Như vậy, sự phát tán và di cư trong phạm vi một lục địa góp phần quan trọng vào sự phát triển của các xã hội trên lục địa đó, vốn về lâu dài thường có xu hướng chia sẻ những thành tựu của nhau (trong phạm vi môi trường cho phép) thông qua những quá trình mà một ví dụ minh họa đơn giản là cuộc Chiến tranh Súng hỏa mai của người Maori ở New Zealand. Có nghĩa là, các xã hội vốn dĩ thiếu một ưu thế nào đó thường hoặc tiếp thu ưu thế đó từ các xã hội đang sở hữu nó hoặc, nếu không làm được vậy, sẽ bị các xã hội có sẵn ưu thế đó [tiêu diệt hoặc xua đuổi và] chiếm chỗ.

Từ đó ta có nhóm nhân tố thứ hai bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ bành trướng và di cư, tốc độ này rất khác nhau từ lục địa này sang lục địa kia. Tốc độ bành trướng và di cư nhanh nhất là ở Âu-Á, bởi trục chính của Âu-Á là đông-tây và lục địa này có những rào cản sinh thái và địa lý không lớn lắm. Lập luận này thật dễ hiểu đối với sự phát tán cây trồng vật nuôi, vốn tùy thuộc rất nhiều vào khí hậu và do đó tùy thuộc vào vĩ độ. Nhưng lập luận này cũng có thể áp dụng cho sự phát tán các phát minh công nghệ trong chừng mực người ta có thể ứng dụng chúng mà không phải điều chỉnh cho phù hợp với từng môi trường cụ thể. Sự phát tán đó chậm hơn ở châu Phi và đặc biệt chậm ở châu Mỹ vì các lục địa này có trục chính bắc-nam và nhiều rào cản địa lý cũng như rào cản sinh thái. Sự bành trướng cũng đặc biệt khó khăn ở New Guinea, nơi địa hình cắt xẻ và những dãy núi cao kéo dài ngăn cản mọi bước tiến đáng kể hướng đến sự thống nhất về chính trị và ngôn ngữ.

Liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát tán trong nội bộ từng lục địa là nhóm nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến sự phát tán giữa các lục địa với nhau - sự phát tán này vốn cũng có thể góp phần làm hình thành tổng thể các loài thuần hóa và công nghệ của từng lục địa. Sự phát tán giữa các lục địa cũng mỗi nơi một khác, bởi một số lục địa [có vị trí] cách biệt hơn so với các lục địa còn lại. Trong vòng 6.000 năm trở lại đây, sự phát tán dễ dàng nhất là giữa Âu-Á với châu Phi hạ Sahara, qua đó cung cấp cho châu Phi hầu hết các loài gia súc. Nhưng sự phát tán giữa hai bán cầu đã không hề đóng góp gì cho các xã hội phức tạp của người châu Mỹ bản địa bởi vì châu Mỹ ở các vĩ độ thấp thì bị ngăn cách với Âu-Á bởi đại dương bao la, còn ở vĩ độ cao thì lại ngăn cách bởi địa lý và khí hậu chỉ thích hợp cho lối sống săn bắt hái lượm. Đối với người Australia bản địa vốn bị ngăn cách với Âu-Á qua hàng rào biển cả và quần đảo Indonesia thì phần đóng góp duy nhất từ Âu-Á là loài chó dingo.

Nhóm nhân tố thứ tư và cuối cùng là những khác biệt về diện tích hoặc tổng dân số giữa các lục địa. Lục địa nào diện tích rộng hơn hoặc đông dân hơn thì cũng có nhiều nhà phát minh tiềm năng hơn, nhiều xã hội cạnh tranh hơn, nhiều phát minh để tiếp thu hơn, và cũng nhiều sức ép để phải tiếp thu và duy trì đổi mới hơn, bởi xã hội nào không làm được chuyện đó thường sẽ bị các xã hội cạnh tranh khác tiêu diệt. Đó là số phận của người Pygmy châu Phi và nhiều quần thể săn bắt hái lượm khác đã bị các nhà nông chiếm chỗ. Ngược lại, đó cũng là số phận của những nhà nông Norse bướng bỉnh và bảo thủ ở Greenland, đã bị những người săn bắt hái lượm Eskimo chiếm chỗ bởi phương pháp và kỹ năng để sinh tồn của người Eskimo là ưu việt hơn nhiều so với của người Norse trong điều kiện Greenland. Trong số các lục địa trên thế giới, diện tích rộng nhất và có nhiều xã hội cạnh tranh nhất là Âu-Á, nhỏ và ít hơn nhiều là ở Australia và New Guinea, đặc biệt ít ở Tasmania. Bắc Mỹ và Nam Mỹ tuy cộng lại thì rộng thật, song hai khối đất liền này bị ngăn cách khỏi nhau bởi [rào cản] địa lý và sinh thái cho nên trên thực tế chúng như là hai lục địa nhỏ gắn vào nhau một cách lỏng lẻo.

Bốn nhóm nhân tố nói trên tạo thành những khác biệt to lớn về môi trường mà ta có thể định lượng một cách khách quan và không cần phải bàn cãi. Tuy ai đó có thể hoài nghi trước ấn tượng chủ quan của tôi rằng người New Guinea nhìn chung thông minh hơn người Âu-Á, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng New Guinea có diện tích nhỏ hơn nhiều và số loài thú lớn ít hơn nhiều so với Âu-Á. Tuy nhiên, nhắc đến những khác biệt về môi trường này có thể khiến các sử gia dán cho cái nhãn là “quyết định luận địa lý” và khiến họ sửng cồ. Cái nhãn này xem ra có những hàm ý chẳng dễ nghe cho lắm, đại loại như tính sáng tạo của con người chẳng hề có ý nghĩa gì, hoặc con người chúng ta chẳng qua như những rôbốt mà khí hậu và hệ động thực vật đã lập trình cho thế nào thì đành chịu như thế ấy thôi. Dĩ nhiên, e ngại như thế là không đúng chỗ. Nếu không có tính sáng tạo của con người thì ắt hẳn ngày nay chúng ta vẫn cứ cắt thịt bằng công cụ đá và ăn sống như tổ tiên chúng ta cách đây hàng triệu năm. Mọi xã hội loài người đều có những người đầy tính phát minh. Chẳng qua là một số môi trường cung cấp cho con người nhiều vật liệu khởi đầu hơn, nhiều điều kiện thuận lợi hơn để sử dụng các phát minh so với những môi trường khác.

Những lời đáp đó cho câu hỏi của Yali dài hơn và phức tạp hơn so với chính Yali chờ đợi. Tuy nhiên, có khi các sử gia lại thấy chúng quá ngắn và quá đơn giản hóa. Nén 13.000 năm lịch sử trên mọi lục địa vào một cuốn sách dày 400 trang, vậy hóa ra cứ mỗi trang là dành cho 150 năm trên một lục địa, đã vậy thì làm sao tránh được quá sơ sài và đơn giản hóa. Thế nhưng, bù lại sự nén chặt đó có một cái lợi: nhờ đối chiếu các khu vực với nhau trên cơ sở dài hạn, ta mới rút ra được những điều không thể suy ra nếu chỉ nghiên cứu ngắn hạn từng xã hội một.

Lẽ tự nhiên, rất nhiều vấn đề mà câu hỏi của Yali nêu ra vẫn chưa có lời giải đáp. Hiện nay ta có thể đưa ra một số lời giải đáp từng phần và xác định những gì cần phải nghiên cứu trong tương lai, chứ một lý thuyết đầy đủ thì chưa. Thử thách bây giờ là phải phát triển khoa lịch sử nhân loại thành một ngành khoa học, ngang hàng với các khoa học lịch sử đã được thừa nhận như thiên văn học, địa chất học và sinh học tiến hóa. Do vậy hẳn sẽ là thích hợp nếu tôi khép lại cuốn sách này bằng cách nhìn đến tương lai của ngành lịch sử cũng như phác thảo những nét chính của một vài vấn đề còn chưa có lời giải đáp.

Phần khai triển đơn giản nhất cho cuốn sách này sẽ là tiếp tục xác định và qua đó chứng minh một cách thuyết phục hơn vai trò của sự khác biệt giữa các lục địa theo bốn nhóm nhân tố dường như là quan trọng nhất. Để minh họa những khác biệt về nguyên liệu khởi điểm cho việc thuần hóa, tôi đã đưa ra tổng số các loài hữu nhũ lớn ăn cỏ và ăn tạp sống trên đất liền của từng lục địa (Bảng 9.[2]) và các loài ngũ cốc hạt lớn của từng lục địa (Bảng 8.[1]). Một hướng khai triển khác là tập hợp các số liệu tương ứng về các loài cây rau có hạt lớn như đậu, đỗ và đậu tằm. Ngoài ra, tôi có nhắc tới các nhân tố khiến cho nhiều loài hữu nhũ lớn không hội đủ tư cách để được thuần hóa, nhưng tôi chưa lập bảng để chỉ ra bao nhiêu loài ứng viên đã bị loại bởi từng nhân tố trên từng lục địa. Nếu làm được vậy thì sẽ rất thú vị, nhất là đối với châu Phi nơi tỷ lệ các loài ứng viên bị loại là cao hơn so với ở Âu-Á: những nhân tố loại bỏ nào là quan trọng nhất ở châu Phi, và cái gì đã khiến các nhân tố đó xuất hiện với tần suất cao nơi các loài hữu nhũ châu Phi? Dữ liệu định lượng cũng cần được tổng hợp để kiểm chứng các tính toán sơ bộ của tôi về sự khác biệt giữa tốc độ phát tán dọc theo trục chính của Âu-Á so với dọc theo trục chính của châu Mỹ và châu Phi.

Sự khai triển thứ hai sẽ áp dụng cho những phạm vi địa lý nhỏ hơn và quãng thời gian ngắn hơn so với trong cuốn sách này. Chẳng hạn, câu hỏi hiển nhiên sau đây ắt hẳn đã nảy ra trong đầu bạn đọc: tại sao, trong nội bộ Âu-Á, chính các xã hội châu Âu, chứ không phải các xã hội vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, Trung Quốc hay Ấn Độ, đã trở thành những xã hội đi chinh phục châu Mỹ và Australia, dẫn đầu về công nghệ và trở thành kẻ thống trị về chính trị và kinh tế trong thế giới hiện đại? [Nếu có một] sử gia sống ở bất cứ thời kỳ nào trong khoảng từ 8.500 năm trCN đến năm 1450 mà ngay từ hồi đó đã cố thử tiên đoán các quỹ đạo lịch sử trong tương lai, ông ta ắt hẳn sẽ cho rằng châu Âu ít có khả năng trở thành kẻ thống trị hơn cả bởi trong hầu hết 10.000 năm đó châu Âu là khu vực chậm tiến nhất trong số ba khu vực nói trên của Cựu Thế giới. Từ năm 8500 trCN cho tới khi Hy Lạp và kế đó là bán đảo Italia[2] hưng khởi sau năm 500 trCN, hầu như tất cả những cách tân quan trọng ở phía tây Âu-Á - thuần hóa vật nuôi, thuần hóa cây trồng, chữ viết, nghề luyện kim, bánh xe, nhà nước, vv. - đều phát sinh ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc gần đó. Cho tới khi cối xay chạy bằng sức nước trở nên phổ biến vào khoảng năm 900, châu Âu về phía tây hay phía bắc dãy Alpes đã chẳng đóng góp được gì quan trọng cho công nghệ hay nền văn minh của Cựu Thế giới; thay vì vậy châu Âu chỉ tiếp thu các thành tựu từ vùng phía đông Địa Trung Hải, Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc. Thậm chí từ năm 1000 đến năm 1450 dòng chảy khoa học và công nghệ đổ vào châu Âu chủ yếu là từ các xã hội Hồi giáo trải dài từ Ấn Độ đến Bắc Phi chứ không phải là ngược lại. Cũng trong các thế kỷ đó Trung Quốc dẫn đầu thế giới về công nghệ, do đã tự mình khởi đầu sản xuất lương thực từ rất sớm, gần như cùng lúc với Lưỡi liềm Phì nhiêu.

Thế thì tại sao rốt cuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc lại đánh mất lợi thế xuất phát to lớn - đi trước những hàng ngàn năm - về tay châu Âu vốn xuất phát muộn hơn? Dĩ nhiên, người ta có thể chỉ ra những nguyên nhân trực tiếp khiến châu Âu hưng khởi: sự phát triển tầng lớp thương nhân, chủ nghĩa tư bản và sự bảo hộ quyền phát minh ở châu Âu, ở châu Âu đã không xuất hiện các chính thể chuyên chế tuyệt đối và chế độ thuế khóa hà khắc, và truyền thống Hy Lạp - Do Thái - Thiên Chúa giáo của châu Âu vốn dĩ có tinh thần truy vấn có tính phê phán dựa trên kinh nghiệm (critical empirical inquiry). Thế nhưng, dẫu đã có tất cả các nguyên nhân trực tiếp đó rồi, người ta vẫn phải nêu lên câu hỏi về nguyên nhân tối hậu: tại sao bản thân các nguyên nhân trực tiếp đó lại phát sinh ở châu Âu chứ không phải ở Trung Quốc hay Lưỡi liềm Phì nhiêu?

Với Lưỡi liềm Phì nhiêu thì câu trả lời đã rõ. Một khi đã đánh mất lợi thế xuất phát ban đầu mà nó từng có được nhờ sự tập trung cao độ các loài cây và thú có thể thuần hóa, Lưỡi liềm Phì nhiêu không còn lợi thế nổi bật nào khác về địa lý. Ta có thể truy trở lại một cách chi tiết xem lợi thế xuất phát của Lưỡi liềm Phì nhiêu đã biến mất như thế nào, khi các đế quốc hùng mạnh dần dần dịch chuyển về phía tây. Sau khi các nhà nước vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu phát sinh vào thiên niên kỷ thứ IV trCN, trung tâm quyền lực lúc đầu vẫn nằm ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, luân chuyển giữa các nhà nước như Babylon, Hittite, Assyria và Ba Tư. Khi người Hy Lạp dưới thời Alexander Đại đế chinh phục tất cả các xã hội tiên tiến từ Hy Lạp đến tận Ấn Độ về phía đông vào cuối thế kỷ thứ IV trCN, cuối cùng quyền lực cũng bắt đầu chuyển dịch một cách không thể đảo ngược về phía tây. Nó tiếp tục chuyển dịch về phía tây khi La Mã chinh phục Hy Lạp vào thế kỷ thứ II trCN, và sau khi đế quốc La Mã diệt vong thì quyền lực lại dịch chuyển thêm một lần nữa, về phía tây và phía bắc châu Âu.

Nếu so sánh Lưỡi liềm Phì nhiêu ngày nay với những mô tả về nó vào thời cổ đại, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là nhân tố chính tác động đến những sự chuyển dịch này. Ngày nay, những cách diễn đạt kiểu như “Lưỡi liềm Phì nhiêu” hay “nơi dẫn đầu thế giới về sản xuất lương thực” nghe thật lố bịch. Nhiều khu vực rộng lớn của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu xưa kia nay chỉ là sa mạc, bán sa mạc, thảo nguyên hoặc những địa hình bị xâm thực hay nhiễm mặn nặng nề không thể trồng trọt được. Sự giàu có phù du của một số quốc gia trong khu vực đó ngày nay chỉ dựa trên mỗi tài nguyên dầu mỏ vốn không thể tái tạo được, nó che giấu sự thật rằng khu vực này vốn dĩ nghèo khó kinh niên, khó khăn lắm mới nuôi sống được bản thân mình.

Tuy nhiên, vào thời cổ đại hầu hết vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và khu vực đông Địa Trung Hải bao gồm Hy Lạp phủ kín toàn rừng. Lý do tại sao khu vực này chuyển hóa từ rừng cây phì nhiêu sang đất cằn hay sa mạc đã được các nhà cổ thực vật học và khảo cổ học làm sáng tỏ. Các vùng rừng ngày xưa đã bị phát quang để trồng trọt, bị đốn để lấy gỗ xây dựng, hoặc bị đốt làm củi hay làm vữa. Vì lượng mưa thấp và do đó năng suất ban đầu vốn dĩ đã thấp (tỷ lệ thuận với lượng mưa) nên tốc độ cây mọc lại không theo kịp tốc độ hủy diệt rừng, nhất là khi lại có quá nhiều dê gặm hết [mầm non]. Khi lớp thảm cây cỏ đã bị xóa bỏ, nạn xâm thực diễn ra và các thung lũng bị lắng bùn, trong khi nông nghiệp tưới tiêu trong môi trường ít mưa chỉ dẫn tới sự tích tụ muối. Các quá trình này khởi đầu vào thời Đồ đá mới và vẫn tiếp diễn cho đến thời hiện đại. Chẳng hạn, những cánh rừng cuối cùng gần kinh đô Nabatean cổ đại của xứ Petra ở Jordan ngày nay đã bị người Thổ Ottoman đốn hạ trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt Hejaz ngay trước Thế chiến Thứ nhất.

Như vậy, các xã hội ở Lưỡi liềm Phì nhiêu và phía đông Địa Trung Hải đã có cái bất hạnh là phát sinh ở một môi trường nhạy cảm về sinh thái. Chúng đã tự sát về sinh thái khi tiến hành hủy diệt cơ sở tài nguyên của chính mình. Quyền lực cứ thế chuyển dần về phía tây khi các xã hội Địa Trung Hải lần lượt theo nhau tự làm suy yếu chính mình, bắt đầu từ các xã hội cổ nhất, các xã hội ở phía đông (vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu). Phía bắc và phía tây châu Âu không phải chịu số phận đó, chẳng phải vì cư dân vùng này thông minh hơn mà chỉ vì họ có được diễm phúc sống trong một môi trường sung sức hơn, nhiều mưa hơn nên cây cối có thể mọc lại nhanh chóng. Hầu hết miền bắc và miền tây châu Âu vẫn có thể hỗ trợ nông nghiệp thâm canh có năng suất cao ngay cả ở ngày nay, 7.000 năm sau khi nền sản xuất lương thực được du nhập. Hệ quả là châu Âu tiếp thu được cây trồng, vật nuôi, công nghệ và chữ viết từ Lưỡi liềm Phì nhiêu, trong khi Lưỡi liềm Phì nhiêu tự xóa tên mình khỏi [danh sách các] trung tâm chủ chốt về quyền lực và đổi mới.

Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đánh mất lợi thế xuất phát to lớn của mình vào tay châu Âu như vậy. Nhưng tại sao Trung Quốc cũng đánh mất lợi thế xuất phát? Việc Trung Quốc tụt hậu thoạt trông có vẻ thật kỳ lạ, bởi Trung Quốc có những ưu thế không bàn cãi: sản xuất lương thực phát sinh ở đây cũng sớm gần như ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, sự đa dạng sinh thái từ bắc Trung Quốc xuống nam Trung Quốc và từ vùng duyên hải cho đến vùng núi cao Tây Tạng làm phát sinh nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi và công nghệ rất khác nhau, diện tích rộng mênh mông và đất đai năng sản có khả năng nuôi sống một dân số khu vực cao nhất trên thế giới, và một môi trường ít khô hơn hoặc ít nhạy cảm về sinh thái hơn so với môi trường của Lưỡi liềm Phì nhiêu, cho phép Trung Quốc mãi đến ngày nay - gần 10.000 năm sau - vẫn có thể duy trì một nền nông nghiệp thâm canh cao sản mặc cho các vấn nạn môi trường đang ngày càng tăng và nghiêm trọng hơn so với ở Tây Âu.

Các ưu thế cùng lợi thế xuất phát đó đã cho phép Trung Quốc thời trung đại dẫn đầu thế giới về công nghệ. Các phát minh công nghệ chính mà Trung Quốc đi đầu kể ra thì rất dài trong đó có gang, la bàn, thuốc súng, giấy, nghề in cùng nhiều thứ khác mà tôi đã nhắc tới trước đây. Vào đầu thế kỷ XV Trung Quốc đã cử những hạm đội tìm châu báu, mỗi đoàn gồm hàng trăm chiếc thuyền dài tới 400 bộ (122 m) và tổng số thủy thủ đoàn lên tới 28.000 người, băng qua Ấn Độ Dương đến tận bờ biển Đông Phi từ hàng mấy thập kỷ trước khi ba con tàu bé tí của Columbus băng qua Đại Tây Dương hẹp hơn nhiều để tới được bờ đông châu Mỹ. Tại sao những con tàu của Trung Quốc đã không vòng qua mũi cực nam châu Phi mà thẳng tiến về phía tây để chiếm châu Âu làm thuộc địa trước khi ba con tàu bé tí của Vasco da Gama vòng quanh Mũi Hảo Vọng để mở màn công cuộc chinh phục Đông Á của người châu Âu? Tại sao những con tàu của Trung Quốc đã không băng qua Thái Bình Dương để chiếm cứ bờ tây châu Mỹ? Nói ngắn gọn, tại sao Trung Quốc đã đánh mất lợi thế xuất phát về công nghệ của mình vào tay châu Âu mà vốn dĩ trước kia lạc hậu đến thế?

Nhìn kết cục của các hạm đội tìm châu báu của Trung Quốc, ta có thể suy ra được vài manh mối. Bảy hạm đội như vậy đã khởi hành từ Trung Quốc trong khoảng từ 1405 đến 1433. Sau đó thì các chuyến đi này bị đình hoãn vì một sai lầm điển hình của giới chính trị Trung Quốc, một sai lầm vốn cũng có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới: sự tranh giành quyền lực giữa hai phe phái trong triều đình Trung Quốc (một bên là các hoạn quan, bên kia là đối thủ của họ). Người ta đồng nhất việc tổ chức và cầm đầu các hạm đội vượt đại dương với phe các hoạn quan. Cho nên, khi phe đối thủ giành được lợi thế trong cuộc tranh giành quyền lực, họ cũng chấm dứt luôn các chuyến đi này, về sau còn phá hủy luôn các xưởng đóng tàu và cấm mọi cuộc hành trình vượt đại dương. Việc làm đó cũng tương tự như những điều luật vốn đã kìm hãm việc trang bị đèn điện công cộng ở London vào thập niên 1880, sự cô lập của Hoa Kỳ trong giai đoạn giữa Thế chiến Thứ nhất với Thế chiến Thứ hai, cũng như rất nhiều những bước thụt lùi khác ở rất nhiều nước khác, tất cả đều bắt nguồn từ những vấn đề chính trị cục bộ. Nhưng ở Trung Quốc thì có khác, bởi toàn bộ khu vực này được thống nhất về chính trị. Chỉ cần một quyết định đó là đủ để chấm dứt hoạt động của mọi hạm đội trên toàn cõi Trung Quốc. Một quyết định nhất thời là đủ trở thành không thể đảo ngược, bởi không một xưởng đóng tàu nào còn tồn tại và tiếp tục đóng tàu đặng chứng minh cho sự ngu xuẩn của cái quyết định nhất thời đó cũng như làm hạt nhân cho sự hồi sinh các xưởng đóng tàu khác.

Giờ ta hãy so sánh các sự kiện đó ở Trung Quốc với những gì đã diễn ra khi các đoàn tàu thám hiểm bắt đầu ra đi từ châu Âu vốn dĩ phân tán về chính trị. Christopher Columbus sinh ra là người Ý nhưng thệ nguyện trung thành với công tước Anjou của Pháp, sau đó thì với nhà vua Bồ Đào Nha. Khi vua Bồ Đào Nha từ chối yêu cầu của ông xin được cấp tàu để thám hiểm về phía tây, Columbus quay sang công tước Medina-Sedonia nhưng ông này cũng khước từ, kế đó sang bá tước Medina-Celi nhưng ông này cũng từ chối nốt, cuối cùng Columbus viện tới vua và hoàng hậu Tây Ban Nha, hai vị này đầu tiên khước từ đề nghị của Columbus nhưng cuối cùng lại ưng thuận. Giá như châu Âu khi đó cũng thống nhất dưới quyền một trong ba vị vua chúa đầu tiên đã nói trên đây thì cuộc chinh phục châu Mỹ hẳn đã chết từ trong trứng nước rồi.

Trên thực tế, chính vì châu Âu phân tán về chính trị mà Columbus đến lần thứ năm thì rốt cuộc cũng thuyết phục được một trong số hàng trăm vị vua chúa của châu Âu đồng ý tài trợ cho ông. Một khi Tây Ban Nha đã mở màn công cuộc chinh phục châu Mỹ, các nhà nước châu Âu khác nhìn thấy bao nhiêu của cải đổ về Tây Ban Nha, thế là lại thêm sáu nhà nước nữa tham gia biến châu Mỹ thành thuộc địa. Chuyện cũng tương tự như vậy đối với đại bác, đèn điện, nghề in, súng và vô số phát minh khác của châu Âu: đầu tiên mỗi phát minh như vậy bị người ta hờ hững hoặc phản đối ở một số vùng của châu Âu vì những lý do riêng, nhưng một khi đã được tiếp thu ở một khu vực thì rốt cuộc chúng cũng bành trướng sang phần còn lại của châu Âu.

Các hệ quả đó của sự phân tán về chính trị ở châu Âu tương phản sâu sắc với hệ quả của sự thống nhất về chính trị ở Trung Quốc. Từ thời này sang thời khác, triều đình Trung Quốc quyết định chấm dứt cả những hoạt động khác chứ không chỉ là thám hiểm vượt đại dương: triều đình đã từ bỏ việc phát triển một cỗ máy xe sợi tinh xảo chạy bằng sức nước, ấy là cả một bước lùi khi Trung Quốc đã đứng trên ngưỡng cửa cách mạng công nghiệp vào thế kỷ XIV, triều đình đã dẹp bỏ hay thậm chí hủy diệt hoàn toàn những chiếc đồng hồ cơ khí sau khi Trung Quốc từng dẫn đầu thế giới về ngành chế tạo đồng hồ, nói chung là khước từ thiết bị cơ giới và công nghệ [mà Trung Quốc từng có được] từ cuối thế kỷ XV. Những hậu quả tai hại tiềm tàng đó của sự thống nhất [về chính trị] lại nổi lên một lần nữa ở Trung Quốc ngày nay, đáng chú ý là trong thời kỳ cuộc Cách mạng Văn hóa điên rồ trong thập niên 1960 và 1970, khi một quyết định của một hay một dúm nhà lãnh đạo là đủ để đóng cửa hệ thống trường học của toàn bộ đất nước trong suốt năm năm.

Cả sự thống nhất thường xuyên của Trung Quốc lẫn sự phân tán trường kỳ của châu Âu đều có lịch sử lâu dài. Những khu vực năng sản nhất của Trung Quốc hiện đại đã được thống nhất về chính trị lần đầu tiên vào năm 221 trCN và hầu như vẫn luôn luôn thống nhất từ đó đến nay. Trung Quốc chỉ có một hệ chữ viết duy nhất ngay từ thuở đầu, một ngôn ngữ thống trị duy nhất trong suốt một thời gian dài, và một sự thống nhất đáng kể về văn hóa trong suốt hai ngàn năm. Ngược lại, châu Âu chưa bao giờ đạt tới sự thống nhất về chính trị: mãi đến thế kỷ 14 nó vẫn còn chia manh mún thành 1.000 nước nhỏ độc lập, đến năm 1500 vẫn còn phân tán thành 500 nước, đến 1980 thì xuống mức tối thiểu còn 25 nước, nhưng lại tăng lên gần 40 nước vào thời điểm tôi viết câu này. Châu Âu có tới 45 ngôn ngữ, mỗi ngôn ngữ dùng một bảng chữ cái được điều chỉnh riêng, đa dạng văn hóa thì lại càng cao hơn nữa. Việc châu Âu ngày nay cứ luôn bất đồng [về nhiều vấn đề] khiến ngay cả những nỗ lực khiêm nhường hầu đạt tới sự thống nhất châu Âu thông qua Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) cũng không hiệu quả chẳng qua chỉ là một triệu chứng của tính phân tán về chính trị vốn đã thâm căn cố đế ở châu Âu.

Do vậy, để thấu hiểu vì sao Trung Quốc đánh mất sự ưu việt về chính trị và công nghệ của mình vào tay châu Âu, chúng ta phải thấu hiểu sự thống nhất vốn ăn sâu bén rễ ở Trung Quốc và sự phân tán vốn ăn sâu bén rễ ở châu Âu. Một lần nữa, lời giải đáp có thể suy ra từ những tấm bản đồ. Châu Âu có bờ biển thụt sâu vào nhiều chỗ, với bốn bán đảo lớn có mức độ biệt lập gần như là những hải đảo, tất cả các bán đảo này đều có ngôn ngữ, nhóm dân tộc và chính phủ độc lập riêng: Hy Lạp, Italia, Iberia[3], Đan Mạch và Na UyThụy Điển. Bờ biển Trung Quốc thì bằng phẳng hơn nhiều, chỉ có mỗi bán đảo Triều Tiên lân cận là khu vực có tầm quan trọng riêng. Châu Âu có hai hòn đảo (Anh và Ailen) đủ lớn để đòi quyền độc lập chính trị và duy trì ngôn ngữ cũng như nhóm dân tộc riêng, và một trong hai hòn đảo đó (Anh quốc) đủ lớn và đủ gần nội địa để trở thành một cường quốc độc lập chủ chốt ở châu Âu. Trong khi đó thì ngay cả hai hòn đảo lớn nhất của Trung Quốc là Đài Loan và Hải Nam mỗi hòn chỉ chưa bằng một nửa diện tích Ailen, không một đảo nào trong đó từng là một đế quốc độc lập chủ chốt cho mãi tới khi Đài Loan trỗi dậy trong những thập kỷ gần đây nhất; và sự biệt lập về địa lý của Nhật Bản khiến cho nước này đối với nội địa châu Á là biệt lập hơn nhiều về chính trị so với nước Anh trong tương quan với nội địa châu Âu. Châu Âu bị cắt xẻ thành nhiều đơn vị ngôn ngữ, dân tộc và chính trị độc lập bởi các dãy núi cao (Alpes, Pyrenees, Cácpát[4] và các dãy núi vùng biên giới Na Uy), trong khi ở Trung Quốc núi non tập trung ở cao nguyên Tây Tạng và chỉ là một rào cản ít đáng sợ hơn nhiều. Vùng trung tâm Trung Quốc được nối liền từ đông sang tây bởi hai hệ thống sông dễ đi lại chảy qua những thung lũng giàu phù sa (sông Dương Tử và sông Hoàng Hà), lại được nối kết từ bắc xuống nam cũng dễ dàng như vậy cũng nhờ hai hệ thống sông này (về sau được nối với nhau bằng những kênh đào). Hệ quả là Trung Quốc từ rất sớm đã bị chi phối bởi hai khu vực địa lý then chốt có [nền sản xuất lương thực] năng suất cao, hai khu vực này không cách biệt nhau nhiều lắm và cuối cùng hợp nhất thành một khu vực duy nhất. Hai dòng sông lớn nhất của châu Âu - Rhine và Danube - thì nhỏ hơn và chỉ kết nối một phần không lớn của châu Âu. Khác với Trung Quốc, châu Âu có nhiều khu vực then chốt nhỏ rải rác nơi này nơi khác, không một khu vực nào trong số đó đủ lớn để chi phối các khu vực khác trong thời gian dài, và mỗi khu vực là trung tâm của những nhà nước thường là độc lập [trong quá trình lịch sử].

Từ khi Trung Quốc được thống nhất vào năm 221 trCN, không một nhà nước độc lập nào khác còn có cơ hội phát sinh và tồn tại lâu dài ở Trung Quốc nữa. Mặc dù cũng có một số thời kỳ phân liệt sau năm 221 trCN, nhưng rốt cuộc Trung Quốc vẫn được tái thống nhất. Nhưng sự thống nhất châu Âu thì chưa bao giờ đạt được dù các nhà chinh phục như Charlemagne, Napoleon hay Hitler có quyết tâm và nỗ lực đến thế nào đi nữa; ngay cả Đế quốc La Mã vào thời cực thịnh cũng chẳng bao giờ kiểm soát được quá nửa diện tích châu Âu.

59
60

So sánh bờ biển Trung Quốc với bờ biển châu Âu, vẽ theo cùng một tỷ lệ. Lưu ý rằng so với bờ biển Trung Quốc, bờ biển châu Âu có nhiều vùng lõm sâu hơn, có nhiều bán đảo lớn hơn và có hai hòn đảo lớn.

Như vậy, nhờ sự gắn kết và có ít rào cản về địa lý mà Trung Quốc đã có được lợi thế ban đầu. Bắc Trung Quốc, Nam Trung Quốc, vùng duyên hải Trung Quốc và nội địa Trung Quốc, mỗi nơi đóng góp những cây trồng, vật nuôi, công nghệ và nét văn hóa riêng vào nước Trung Hoa thống nhất. Chẳng hạn, nghề trồng kê, kỹ thuật luyện đồng và chữ viết phát sinh ở Bắc Trung Quốc, trong khi nghề trồng lúa và kỹ nghệ luyện gang thì ra đời ở Nam Trung Quốc. Trong hầu hết cuốn sách này tôi luôn nhấn mạnh, nếu không có những rào cản đáng sợ thì công nghệ có thể phát tán dễ dàng. Nhưng sự gắn kết của Trung Quốc cuối cùng lại trở thành điều bất lợi, bởi chỉ cần một quyết định của một kẻ chuyên quyền là đủ để chặn đứng sự cách tân, mà chuyện đó xảy ra không chỉ một lần. Ngược lại, sự chia cắt về địa lý của châu Âu dẫn đến việc hình thành hàng trăm nhà nước nhỏ độc lập và hàng trăm trung tâm đổi mới cạnh tranh với nhau. Nếu nước này không theo đuổi một phát minh nào đó thì sẽ có nước khác theo đuổi, buộc các nước láng giềng phải làm theo, nếu không thì sẽ bị chinh phục hay tụt hậu về kinh tế. Những rào cản của châu Âu đủ để ngăn cản sự thống nhất về chính trị, nhưng lại không đủ để ngăn cản sự bành trướng các công nghệ và ý tưởng. Chưa từng có kẻ chuyên quyền nào có thể chặn đứng mọi [con đường phát triển] trên toàn bộ châu Âu như ở Trung Quốc.

So sánh như vậy để thấy rằng sự nối kết về địa lý đã gây ra những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với sự tiến hóa của công nghệ. Hệ quả là, về lâu dài, công nghệ có thể phát triển nhanh nhất ở những khu vực nào có mức độ nối kết trung bình, không quá cao cũng không quá thấp. Diễn trình phát triển của công nghệ trong 1.000 năm qua ở Trung Quốc, châu Âu và tiểu lục địa Ấn Độ là tiêu biểu cho hệ quả của mức độ nối kết cao, trung bình và thấp ở lần lượt từng lục địa nói trên.

Lẽ dĩ nhiên, còn có những nhân tố khác góp phần làm tiến trình lịch sử ở mỗi khu vực của Âu-Á diễn ra một khác. Chẳng hạn, Lưỡi liềm Phì nhiêu, Trung Quốc và châu Âu khác nhau ở mức độ bị đe dọa thường xuyên bởi những cuộc xâm lăng man dã của các dân tộc du mục cưỡi ngựa ở vùng Trung Á. Một trong các nhóm du mục đó (người Mông Cổ) cuối cùng đã hủy diệt các hệ thống tưới tiêu từ thời cổ đại của Iran và Iraq, song không một nhóm du mục châu Á nào như vậy từng đi xa hơn được vùng đồng bằng Hungary để tiến sâu vào các khu rừng ở Tây Âu. Các nhân tố môi trường khác còn là vị trí địa lý mang tính trung gian của Lưỡi liềm Phì nhiêu, giúp khu vực này có thể kiểm soát các con đường giao thương nối liền Trung Quốc và Ấn Độ với châu Âu, cũng như vị trí tương đối xa của Trung Quốc so với các nền văn minh tiên tiến khác của Âu-Á, khiến cho Trung Quốc gần như trở thành một ốc đảo riêng biệt khổng lồ bên trong một lục địa. Vị trí tương đối biệt lập của Trung Quốc đặc biệt có liên quan đến việc Trung Quốc ban đầu tiếp thu các công nghệ nhưng rồi lại từ bỏ chúng, rất giống trường hợp Tasmania và các hòn đảo khác (Chương 13 và 15). Song những gì được bàn ngắn gọn trên đây ít nhất cũng có thể chỉ ra rằng các nhân tố môi trường có liên quan đến những mẫu hình lịch sử ở quy mô nhỏ và trong thời hạn ngắn, cũng như những mẫu hình chung nhất của lịch sử.

Lịch sử của Lưỡi liềm Phì nhiêu và lịch sử Trung Quốc cũng cho ta một bài học bổ ích cho thế giới ngày nay: hoàn cảnh đã đổi thay, ngày xưa ta ưu việt nhất, nhưng điều đó không bảo đảm rằng trong tương lai ta vẫn ưu việt nhất. Thậm chí người ta có thể tự hỏi biết đâu cách lập luận dựa trên các nhân tố địa lý được sử dụng trong toàn bộ sách này rốt cuộc lại hoàn toàn chẳng áp dụng được cho thế giới hiện đại, bởi ngày nay ý tưởng có thể được truyền bá khắp thế giới một cách tức thì qua Internet còn hàng hóa thì được chuyên chở bằng máy bay từ lục địa này qua lục địa khác trong vòng có một đêm. Hình như trong thế giới ngày nay có những quy luật hoàn toàn mới áp dụng cho sự cạnh tranh giữa các dân tộc, mà hệ quả là sự trỗi dậy của những thế lực mới như Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và đặc biệt là Nhật Bản.

Tuy nhiên, nghĩ kỹ lại, ta sẽ thấy rằng những quy luật tưởng như mới đó chẳng qua chỉ là những biến thể của các quy luật cũ mà thôi. Phải, transistor, vốn được phát minh ở Phòng Thí nghiệm Bell tại miền đông Hoa Kỳ vào năm 1947, đã làm một cú nhảy xa 8.000 dặm (12.800 km, ND) làm khai sinh nền công nghiệp điện tử của Nhật Bản, song có những xứ gần Hoa Kỳ hơn nhiều so với Nhật Bản chẳng hạn như Zaire hay Paraguay mà tại sao transistor không nhảy tới đó để khai sinh nền công nghiệp nào tương tự? Những nước đang nổi lên vị trí cường quốc mới hiện nay cũng chính là những nước mà tự hàng ngàn năm trước đã là bộ phận của các trung tâm thống trị cũ dựa trên sản xuất lương thực, không thì cũng là những nước mà cư dân bản địa đã bị các dân tộc xuất phát từ các trung tâm đó di cư đến chiếm chỗ. Khác với Zaire hay Paraguay, Nhật Bản và các thế lực mới khác đã có khả năng khai thác transistor một cách nhanh chóng bởi cư dân của họ vốn đã trải qua một lịch sử lâu dài có chữ viết, có nghề cơ khí kim loại và chính phủ tập trung hóa. Hai trung tâm sản xuất lương thực xưa nhất trên thế giới - vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc - ngày nay vẫn thống trị thế giới hiện đại, hoặc thông qua các nước vốn là hậu duệ trực tiếp của chúng (Trung Quốc hiện đại) hoặc thông qua những nước nằm tại các khu vực láng giềng vốn chịu ảnh hưởng của hai trung tâm đó ngay từ sớm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và châu Âu), hoặc thông qua những nước do các dân tộc từ những trung tâm đó đến định cư hay thống trị (Hoa Kỳ, Australia, Brazil). Triển vọng để người châu Phi hạ Sahara, người Australia bản địa và người châu Mỹ bản địa vươn lên vị trí thống trị thế giới vẫn còn xa vời. Bàn tay của diễn trình lịch sử từ 8.000 năm trCN vẫn đang đè nặng lên chúng ta.

Trong số các nhân tố khác liên quan đến việc trả lời câu hỏi của Yali, các nhân tố văn hóa và ảnh hưởng của các cá nhân đóng vai trò quan trọng. Trước hết, nếu nói về nhân tố văn hóa thì những nét đặc thù văn hóa của loài người khác nhau rất nhiều từ nơi này sang nơi khác trên thế giới. Một số sự biến đổi về văn hóa đó chắc chắn là sản phẩm của sự biến đổi về môi trường, và tôi đã bàn nhiều ví dụ về điều đó trong cuốn sách này. Nhưng có một câu hỏi hệ trọng liên quan đến tầm quan trọng khả dĩ của các nhân tố văn hóa địa phương mà không liên quan gì đến môi trường. Một nét văn hóa nho nhỏ nào đó có thể phát sinh vì những nguyên nhân nhỏ nhặt, nhất thời có tính địa phương, nhưng rồi nó trở thành cố định, khiến cho cả một xã hội nghiêng về những lựa chọn quan trọng hơn về văn hóa, như việc ứng dụng lý thuyết hỗn độn vào những lĩnh vực khoa học khác đã gợi ý cho chúng ta. Những quá trình văn hóa như vậy nằm trong số những nhân tố khôn lường khiến cho lịch sử trở thành không thể tiên đoán được.

Ở Chương 13 tôi đã kể đến một ví dụ là chiếc bàn phím QWERTY dành cho người đánh máy. Ban đầu nó đã chọn để được áp dụng trong số nhiều kiểu bàn phím, vì những lý do cụ thể [mà thực chất là] nhỏ nhặt trong đó có ngành sản xuất máy chữ ban đầu tại Hoa Kỳ vào thập niên 1860, nghệ thuật bán máy chữ, một quyết định vào năm 1882 của một Cô Longley (Ms Longley) nào đó, người sáng lập Viện Tốc ký và Đánh máy tại Cincinnati, và thành công của học trò cưng lớp đánh máy của Cô Longley là Frank McGurrin, người đã đánh bại hoàn toàn Louis Taub, đối thủ trong một cuộc so tài đánh máy được công bố rộng rãi vào năm 1888 mà ở đó Taub không sử dụng bàn phím QWERTY. Lẽ ra người ta đã có thể quyết định chuyển sang dùng bất cứ loại bàn phím nào khác vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng từ thập niên 1860 đến thập niên 1880; chẳng hề có nhân tố môi trường nào ở Hoa Kỳ tác động khiến cho bàn phím QWERTY được chuộng hơn các bàn phím khác. Thế nhưng, khi người ta đã quyết định rồi thì bàn phím QWERTY trở thành ăn sâu bén rễ đến mức một thế kỷ sau nó vẫn được dùng cho bàn phím máy vi tính. Cũng những lý do nhỏ nhặt tầm thường như vậy, mà nay đã chìm khuất trong quá khứ xa xôi, ắt hẳn đã tác động tới việc người Sumer quyết định dùng hệ đếm 12 thay cho hệ đếm thập phân (dẫn đến ngày nay chúng ta vẫn áp dụng các hệ thống một giờ gồm 60 phút, một ngày gồm 24 giờ, một năm gồm 12 tháng và vòng tròn với 360 độ), tương phản với hệ đếm dựa trên cơ số 20 ở nền văn minh Trung Mỹ (dẫn đến lịch của Trung Mỹ dùng hai chu kỳ song song, một chu kỳ gồm 360 ngày có đặt tên và một chu kỳ gồm 365 ngày).

Các chi tiết kiểu dáng máy chữ, đồng hồ và lịch như đã nói trên đây không ảnh hưởng đến sự thành công của các xã hội áp dụng những phát minh đó. Nhưng có thể dễ dàng hình dung rằng lẽ ra chúng đã có thể ảnh hưởng đến thế nào. Chẳng hạn, giá như bàn phím QWERTY của Hoa Kỳ đã không được áp dụng ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới - giả sử là, nếu Nhật Bản hay châu Âu đã áp dụng bàn phím Dvorak vốn hữu hiệu hơn nhiều - thì cái quyết định cỏn con đó vào thế kỷ XIX ắt đã có những hậu quả lớn lao đối với vị trí cạnh tranh của công nghệ Hoa Kỳ vào thế kỷ XX.

Tương tự, một nghiên cứu tiến hành ở trẻ em Trung Quốc cho thấy nếu được dạy bằng tiếng Trung Quốc phiên âm ra chữ cái (gọi là phiên âm pinyin) thì chúng học nhanh hơn so với học bằng chữ Trung Quốc truyền thống với hàng ngàn chữ tượng hình. Người ta từng cho rằng chữ tượng hình Trung Quốc ra đời là bởi nó rất tiện để phân biệt các từ trong tiếng Trung Quốc vốn rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa. Nếu quả thật vậy thì việc tiếng Trung Quốc có quá nhiều từ đồng âm dị nghĩa có thể đã tác động đến vai trò của chữ viết trong xã hội Trung Quốc, song cũng khó mà nói rằng có một nhân tố nào đó trong môi trường của Trung Quốc ảnh hưởng đến việc tiếng Trung Quốc có nhiều từ đồng âm dị nghĩa. Phải chăng có một nhân tố ngôn ngữ hoặc văn hóa nào đó đã dẫn đến việc các nền văn minh phức tạp ở vùng Andes không phát minh được chữ viết, một thất bại mà nếu không phải vì lý do đó thì thật là khó hiểu? Phải chăng có một nhân tố nào đó trong môi trường Ấn Độ khiến nước này lựa chọn chế độ xã hội-kinh tế dựa trên sự phân biệt hà khắc về đẳng cấp, điều đã gây nên hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển công nghệ ở Ấn Độ? Phải chăng có gì đó trong môi trường Trung Quốc khiến nước này lựa chọn triết học Khổng giáo và chủ nghĩa bảo thủ về văn hóa, điều cũng đã gây tác động sâu xa đến lịch sử? Tại sao các tôn giáo có xu hướng cải đạo người khác (đạo Thiên chúa và đạo Hồi) đã là động lực cho sự thực dân hóa và chinh phục giữa người châu Âu với người Tây Á, nhưng lại không phải là động lực tương tự giữa người Trung Quốc với nhau?

Các ví dụ đó cho ta thấy có rất nhiều câu hỏi liên quan đến những đặc thù văn hóa vốn không liên quan gì đến môi trường và thoạt tiên chẳng lấy gì làm quan trọng, nhưng cuối cùng lại có thể tiến hóa thành những đặc tính văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ và trường tồn. Tầm quan trọng của các đặc thù văn hóa đó là một câu hỏi quan trọng chưa có lời giải đáp. Tốt nhất, ta nên tiếp cận câu hỏi đó bằng cách tập trung chú ý vào những mẫu hình lịch sử nào vẫn còn nhiều khó hiểu sau khi ta đã tính đến tác động của tất cả các nhân tố môi trường chính.

Thế còn tác động của các cá nhân có tính cách khác thường, đặc biệt thì sao? Một ví dụ khá nhiều người biết ở thời hiện đại là trường hợp âm mưu ám sát Hitler đồng thời nổi loạn ở Berlin vào ngày 20 tháng 7 năm 1944 nhưng rồi đã thất bại trong gang tấc. Cả hai kế hoạch này là mưu đồ của một số người Đức, những kẻ tin chắc rằng nước Đức sẽ không thể thắng trong cuộc chiến này và muốn tìm kiếm hòa bình, vào thời điểm khi mặt trận phía đông giữa người Đức với người Nga vẫn còn nằm chủ yếu bên trong biên giới nước Nga. Hitler bị thương vì một quả bom hẹn giờ cài trong một chiếc cặp đặt dưới một chiếc bàn trong phòng họp; giá như chiếc cặp được đặt gần ghế Hitler ngồi một chút thì lẽ ra ông ta đã chết. Giá như Hitler chết và Thế chiến Thứ hai đã chấm dứt ngay từ lúc đó thì bản đồ Đông Âu và diễn biến cuộc Chiến tranh Lạnh của thế giới ngày nay hẳn đã khác đi rất nhiều.

Một sự kiện khác ít người biết hơn nhưng lại còn có tính định mệnh hơn thế nữa là một tai nạn giao thông vào mùa hè năm 1930, hơn hai năm trước khi Hitler giành được chính quyền ở Đức, khi chiếc ôtô mà trong đó ông ta đang ngồi ở “ghế tử thần” (ghế hành khách phía trước bên phải, cạnh tài xế) đâm vào một chiếc xe tải nặng. Chiếc xe tải chỉ kịp phanh lại vừa đủ để không cán lên xe của Hitler mà nghiền nát ông ta. Tâm tính khác thường mang tính bệnh lý của Hitler có tầm quan trọng quyết định đối với chính sách và sự thành công của Đức quốc xã, thành thử nếu tay tài xế xe tải kia nhấn phanh chậm hơn chỉ một giây thôi thì hình thái của cuộc Thế chiến Thứ hai có lẽ đã khác đi nhiều lắm.

Ta có thể nghĩ đến những cá nhân khác mà tính cách khác thường của họ dường như đã ảnh hưởng đến lịch sử giống như tính cách khác thường của Hitler: Alexander Đại đế, Augustus, Phật Thích ca, Chúa Jesus, Martin Luther, Pachacuti hoàng đế Inca, Mohammed, William Nhà Chinh phục, và Shaka vua của người Zulu, ấy là chỉ mới kể một số ít. Mỗi người trong số họ đã thực sự làm thay đổi các sự kiện đến mức độ nào, chứ không phải “chỉ” tình cờ là người thích hợp nhất được đặt vào đúng vị trí nhất vào đúng thời điểm nhất? Nằm ở một thái cực là quan điểm của nhà sử học Thomas Carlyle: “Lịch sử phổ quát, cái lịch sử của những gì con người [viết thường, ND] thành tựu được trên thế giới này, chỉ nằm ở dưới đáy cái Lịch sử [viết hoa, ND] của những Vĩ Nhân [viết hoa, ND] đã từng hoạt động nơi đây”. Ở cực đối lập là quan điểm của nhà chính khách Phổ Otto von Bismarck, kẻ mà, khác với Carlyle, từng có kinh nghiệm dạn dày về những cơ chế vận hành nội tại của chính trị: “Nhiệm vụ của nhà chính khách là lắng nghe tiếng chân Thượng Đế [khi Người] bước ngang qua lịch sử và cố sao túm được đuôi áo Người khi Người bước ngang qua”.

Cũng như những nét đặc thù về văn hóa, tính cách khác thường của các cá nhân là những nhân tố khôn lường làm xoay chuyển tiến trình lịch sử. Chúng khiến cho lịch sử đâm ra không thể nào lý giải nếu ta chỉ tính tới các nhân tố môi trường hoặc thật ra là nếu chỉ tính tới bất kỳ nguyên nhân nào có thể khái quát hóa. Tuy nhiên, vì mục đích của cuốn sách này thì các nhân tố đó không liên quan cho lắm, bởi ngay cả kẻ bảo vệ lý thuyết Vĩ Nhân hăng hái nhất đi chăng nữa cũng khó lòng nói được rằng mẫu hình lớn nhất của lịch sử chỉ được quyết định chỉ bởi dăm ba Vĩ Nhân mà thôi. Có thể Alexander Đại đế quả thật đã thúc đẩy đôi chút tiến trình lịch sử của miền tây Âu-Á vốn đã có những nhà nước có chữ viết, sản xuất lương thực và có công cụ bằng sắt, nhưng ngài chẳng có liên quan gì đến chuyện trong khi miền tây Âu-Á hội đủ điều kiện để ra đời những nhà nước có chữ viết, sản xuất lương thực và công cụ bằng sắt thì cùng lúc đó Australia vẫn chỉ nuôi sống được những bộ lạc săn bắt hái lượm không có chữ viết cũng chẳng có công cụ bằng kim loại. Dẫu vậy, các cá nhân phi thường thực ra có tác động sâu rộng và lâu dài đến mức nào đến lịch sử, đó vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp.

Khoa lịch sử thường không được coi là khoa học mà gần với một ngành nhân văn hơn. Giỏi lắm thì lịch sử cũng chỉ được xếp làm một trong các ngành khoa học xã hội, nhưng là ngành ít mang tính khoa học nhất. Trong khi lĩnh vực chính quyền thường được gọi là “khoa học chính trị” còn giải Nobel về kinh tế thì liên quan đến “khoa học kinh tế”, các Ban lịch sử [ở trường đại học] chẳng mấy khi tự gọi mình là “Ban Khoa học lịch sử”. Nhiều sử gia không tự xem mình là nhà khoa học và ít được đào tạo về các ngành khoa học đã được thừa nhận cũng như các phương pháp luận của những ngành này. Từ “lịch sử” chẳng có nghĩa gì khác hơn là một mớ chi tiết được diễn đạt bằng nhiều cách ngôn như: “Lịch sử chẳng qua là một sự kiện này tiếp theo sự kiện kia», “Lịch sử không ít thì nhiều chỉ là chuyện tầm phào”, “Lịch sử chẳng hề có quy luật nào hơn ngoài quy luật kính vạn hoa”, vân vân.

Người ta không thể phủ nhận rằng, rút ra được những nguyên lý chung từ việc nghiên cứu lịch sử là việc khó hơn nhiều so với từ việc nghiên cứu quỹ đạo các hành tinh. Tuy nhiên, những khó khăn đó theo tôi không phải chỉ riêng ngành lịch sử mới có. Những ngành lịch sử khác vốn từ lâu đã được xếp vào hàng các khoa học tự nhiên như thiên văn học, khí hậu học, sinh thái học, sinh học tiến hóa, địa chất học và cổ sinh vật học cũng chẳng phải là không có những khó khăn tương tự. Song, thật không may, cách nhìn của người ta về ngành lịch sử lại thường dựa trên vật lý học và một vài khoa học khác có phương pháp luận tương tự khoa vật lý. Các nhà khoa học thuộc các ngành này thường có khuynh hướng coi khinh vô lối đối với những ngành mà ở đó các phương pháp luận này không áp dụng được mà phải đi tìm những phương pháp luận khác, chẳng hạn như lĩnh vực nghiên cứu của bản thân tôi là sinh thái học và sinh học tiến hóa. Nhưng ta hãy nhớ lại rằng bản thân từ science (khoa học) vốn có nghĩa là “tri thức” (từ chữ Latinh scire nghĩa là “biết” và scientia nghĩa là “tri thức”), cái tri thức mà người ta đạt được bằng bất cứ phương pháp nào phù hợp nhất với từng lĩnh vực cụ thể. Do vậy mà tôi rất thông cảm với các sinh viên học ngành lịch sử nhân loại, thông cảm với những khó khăn mà các em phải đương đầu.

Các khoa học lịch sử theo nghĩa rộng (kể cả thiên văn học và các ngành tương tự) có nhiều đặc tính chung khiến chúng khác biệt với các ngành khoa học phi lịch sử như vật lý học, hóa học và sinh học phân tử. Tôi xin nêu ra bốn đặc tính như vậy: phương pháp luận, tính nhân quả, tính tiên đoán và tính phức tạp.

Trong vật lý học, phương pháp chính để thu nhận tri thức là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong đó người ta điều khiển thông số cần được nghiên cứu, tiến hành những thí nghiệm song song để đối chứng mà trong đó thông số này được giữ không đổi, giữ nguyên không đổi từ đầu đến cuối các thông số khác, lặp lại cả thí nghiệm chính và thí nghiệm đối chứng, sau đó thu được dữ liệu định lượng. Phương pháp này, vốn cũng áp dụng tốt với hóa học và sinh học phân tử, thường được đồng nhất với khoa học trong cách nghĩ của nhiều người, khiến người ta thường cho rằng thực nghiệm chính là bản chất của khoa học. Thế nhưng, rõ ràng là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ có thể đóng vai trò nhỏ nhoi hay thậm chí chẳng có vai trò gì đối với nhiều ngành khoa học lịch sử. Người ta không thể dừng các thiên hà lại, không thể tùy ý khởi đầu những trận bão táp hoặc thời kỳ Băng hà rồi lại cho ngưng, không thể thử tiêu diệt hết gấu xám trong vài công viên quốc gia vì mục đích nghiên cứu, hoặc không thể cho diễn lại quá trình tiến hóa của khủng long. Thay vì vậy, trong các ngành khoa học lịch sử này người ta phải thu thập tri thức bằng những phương tiện khác, chẳng hạn như quan sát, so sánh, và cái gọi là thực nghiệm tự nhiên (lát nữa tôi sẽ quay lại điểm này).

Các khoa học lịch sử liên quan đến những chuỗi nhân quả trực tiếp và nhân quả tối hậu. Trong hầu hết vật lý học và hóa học, những khái niệm như “nguyên nhân tối hậu”, “mục đích” và “chức năng” là vô nghĩa, thế nhưng chính các khái niệm đó là tối quan trọng nếu ta muốn thấu hiểu các hệ sống nói chung và hoạt động của con người nói riêng. Chẳng hạn, nếu nghiên cứu loài thỏ hoang Bắc cực mà lông chuyển từ màu nâu vào mùa hè sang màu trắng vào mùa đông, nhà sinh học tiến hóa không thể thỏa mãn với việc xác định nguyên nhân trực tiếp khá ư xoàng xĩnh rằng lông thỏ sở dĩ đổi màu là do cấu trúc phân tử của sắc tố và những phương thức tổng hợp sinh học. Ông ta cần phải đào sâu nghiên cứu những câu hỏi quan trọng hơn, về chức năng của việc đổi màu lông (để ngụy trang trước các loài thú dữ?) và nguyên nhân tối hậu của việc đổi màu lông (có phải là sự chọn lọc tự nhiên khởi đầu từ một quần thể thỏ tổ tiên vốn dĩ không đổi màu lông theo mùa?) Tương tự, một sử gia nghiên cứu lịch sử châu Âu không thể hài lòng với việc mô tả tình trạng của châu Âu vào cả năm 1815 lẫn năm 1918 như là vừa đạt được hòa bình sau một chiến tranh toàn châu lục hao người tốn của. Có hiểu được những chuỗi sự kiện tương phản đã dẫn tới việc ký kết hai hiệp ước hòa bình vào hai năm đó thì [sử gia] mới hiểu được tại sao chỉ trong vòng vài thập kỷ sau cuộc chiến năm 1918 lại đã bùng ra một cuộc chiến toàn châu Âu còn hao người tốn của hơn nhiều, nhưng vài thập kỷ sau năm 1815 thì không có cuộc chiến nào như thế. Nhưng các nhà hóa học thì không cần phải gán một mục đích hay một chức năng nào đối với sự va chạm giữa hai phân tử khí, cũng chẳng phải đi tìm nguyên nhân tối hậu cho cuộc va chạm đó.

Một khác biệt khác nữa giữa các khoa học lịch sử với các khoa học phi lịch sử là tính tiên đoán. Trong hóa học và vật lý, để trắc nghiệm xem ai đó có thấu hiểu một hệ hay không thì chỉ cần xem liệu người đó có thể tiên đoán được hành trạng tương lai của hệ đó hay không. Một lần nữa, nhà vật lý lại có xu hướng xem thường sinh học tiến hóa và lịch sử bởi các khoa đó có vẻ như không qua được bài sát hạch này. Trong các khoa học lịch sử, người ta có thể đưa ra những lý giải khi mọi sự đã rồi (chẳng hạn vì sao một tiểu hành tinh chạm vào Trái đất từ 66 triệu năm trước có thể đã tận diệt loài khủng long nhưng nhiều loài khác thì không), nhưng để tiên đoán tương lai thì khó hơn (chúng ta không thể biết chắc những loài nào sẽ bị đưa đến diệt chủng nếu không có những sự kiện có thật trong quá khứ hầu dẫn dắt chúng ta). Tuy nhiên, các sử gia và nhà khoa học lịch sử vẫn tiên đoán, và kiểm chứng các tiên đoán đó, xem những dữ liệu được phát hiện trong tương lai sẽ soi sáng cho ta những gì về các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.

Những thuộc tính của các hệ thống lịch sử mà làm cho nỗ lực tiên đoán đâm ra khó khăn có thể được mô tả theo nhiều cách. Có thể chỉ ra rằng các xã hội loài người và loài khủng long [là những hệ] cực kỳ phức tạp, mỗi bên đều có đặc thù là một lượng rất lớn các biến tố độc lập mà các biến tố này hô ứng lẫn nhau. Hệ quả là, những thay đổi nhỏ ở bậc thấp của tổ chức cũng có thể dẫn tới những thay đổi to lớn ở bậc cao hơn của tổ chức. Một ví dụ tiêu biểu là phản xạ phanh gấp của một tài xế xe tải, trong vụ tai nạn suýt nữa khiến Hitler mất mạng vào năm 1930, đã gây ra hiệu quả thế nào đối sinh mạng hàng trăm triệu con người bị giết chết hoặc bị thương trong Thế chiến Thứ hai. Mặc dù hầu hết các nhà sinh học đồng ý rằng, xét cho cùng, các hệ sinh học hoàn toàn được xác định bởi các thuộc tính vật lý của chúng và tuân theo các quy luật của cơ học lượng tử, song xét về mục đích thực tiễn thì tính phức tạp của hệ sinh học khiến cho tính nhân quả kiểu quyết định luận này không nhất thiết dẫn đến việc có thể tiên đoán trước về [hành trạng của] hệ thống. Tri thức về cơ học lượng tử chẳng giúp ai hiểu được tại sao các loài ăn thịt có vú được du nhập vào Australia đã tiêu diệt quá nhiều loài có túi ở lục địa này đến như vậy, hoặc tại sao chính phe Đồng minh chứ không phải phe Trung tâm đã thắng trong Thế chiến Thứ nhất.

Mỗi dòng sông băng, thiên hà, cơn bão, xã hội loài người và loài sinh học, thậm chí mỗi cá thể và mỗi tế bào của một loài có khả năng sinh sản bằng tính dục, đều là một [thực thể] có một không hai, bởi nó chịu ảnh hưởng của quá nhiều biến tố và được tạo thành bởi quá nhiều bộ phận có thể biến thiên. Ngược lại, với bất cứ hạt cơ bản và đồng vị nào của nhà vật lý hay bất cứ phân tử nào của nhà hóa học thì mọi cá thể của thực thể đều đồng nhất với nhau. Vì vậy các nhà vật lý và nhà hóa học có thể đề ra những quy luật có tính quyết định luận và phổ quát ở cấp độ vĩ mô, song các nhà sinh học và nhà sử học thì chỉ có thể đề ra những xu hướng có tính thống kê. Tôi có thể tiên đoán với xác suất đúng rất cao rằng trong số 1.000 trẻ sơ sinh chào đời sắp tới ở Trung tâm Y tế của Đại học California nơi tôi làm việc sẽ có không dưới 480 hoặc không quá 520 trẻ là trai. Thế nhưng tôi chẳng có cách nào biết trước được hai đứa con của chính mình liệu có phải là trai không. Tương tự, các sử gia nhận xét rằng các xã hội bộ lạc có thể có nhiều khả năng trở thành tù trưởng quốc hơn nếu quần thể cư dân ở đó đủ đông và mật độ đủ dày và nếu có tiềm năng sản xuất ra lương thực dự trữ, nếu không thì sẽ khó hơn. Nhưng mỗi một quần thể địa phương như vậy lại có những nét đặc thù vô song của riêng mình, hệ quả là đã có những tù trưởng quốc ra đời ở vùng cao nguyên Mexico, Guatemala, Peru và Madagascar nhưng ở cao nguyên New Guinea hay Guadalcanal thì không.

Lại còn một cách khác nữa để mô tả tính phức tạp và bất khả tiên đoán của các hệ lịch sử mặc dù xét đến cùng thì chúng vẫn có tính quyết định luận, ấy là nhận xét rằng những chuỗi nhân quả kéo dài có thể khiến cho kết quả sau cùng bị tách biệt hẳn khỏi nguyên nhân tối hậu vốn nằm ngoài lĩnh vực của ngành khoa học đó. Chẳng hạn, khủng long có thể đã bị tuyệt chủng do tác động của một tiểu hành tinh mà quỹ đạo của nó hoàn toàn được xác định bởi các định luật của cơ học cổ điển. Song, nếu như từng có nhà cổ sinh vật học nào sống vào 67 triệu năm trước, họ cũng chẳng thể tiên đoán được rằng loài khủng long sắp bị tiêu diệt tới nơi, bởi các tiểu hành tinh thuộc về một lĩnh vực khoa học mà giá trong hoàn cảnh khác thì rất xa lạ so với ngành sinh học khủng long. Tương tự, thời kỳ Tiểu Băng hà từ năm 1300 đến năm 1500 đã góp phần khiến người Norse ở Greenland tuyệt chủng, nhưng không một sử gia nào, thậm chí có thể không một nhà khí hậu học hiện đại nào có thể tiên đoán được rằng sẽ có một thời kỳ Tiểu Băng hà.

Như vậy, những khó khăn mà các nhà sử học phải đương đầu khi thiết lập những quan hệ nhân quả trong lịch sử các xã hội loài người là rất giống với những khó khăn mà các nhà thiên văn học, khí hậu học, sinh thái học, sinh học tiến hóa, địa chất học và cổ sinh vật học phải đương đầu. Ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi ngành trong các ngành vừa kể đều gặp khó khăn bởi không thể tiến hành những sự can thiệp có kiểm soát nhằm mục đích thử nghiệm, bởi sự phức tạp do có quá nhiều yếu tố biến thiên và do đó là tính đặc thù độc nhất vô nhị của mỗi hệ, cũng từ đó mà không thể đề ra những quy luật phổ quát, và khó khăn trong việc tiên đoán các thuộc tính mới xuất hiện và hành trạng tương lai của hệ. Việc tiên đoán trong ngành lịch sử, cũng như trong các khoa học lịch sử khác, là khả thi hơn cả đối với những phạm vi không gian lớn và quãng thời gian dài, bởi khi đó thì những tính chất đặc thù của hàng triệu sự kiện nhỏ lẻ trở nên bị cào bằng. Cũng như tôi có thể tiên đoán tỷ lệ giới tính của 1.000 trẻ sơ sinh sắp chào đời nhưng giới tính của chính hai đứa con mình thì chẳng tiên đoán được, sử gia có thể nhận ra những nhân tố khiến cho cuộc xung đột giữa các xã hội châu Mỹ và xã hội ÂuÁ sau 13.000 năm phát triển riêng rẽ tất yếu phải dẫn đến hậu quả chung như ta thấy ngày nay, song kết quả cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1960 thì sử gia không thể tiên đoán được. Việc ứng viên nào đã nói những gì chỉ trong một cuộc tranh luận trên truyền hình vào tháng 10 năm 1960 có thể đã dẫn đến Nixon thắng cử chứ không phải Kennedy, nhưng dù cho ai đã nói cái gì thì cũng chẳng thể ngăn được người châu Âu chinh phục được người châu Mỹ bản địa.

Làm cách nào sinh viên ngành lịch sử loài người có thể hưởng lợi từ kinh nghiệm của các nhà khoa học trong những ngành khoa học lịch sử khác? Có một phương pháp luận tỏ ra hữu ích, ấy là phương pháp so sánh và cái gọi là thực nghiệm tự nhiên. Tuy không một nhà thiên văn nào nghiên cứu sự hình thành thiên hà cũng như không một sử gia nào nghiên cứu lịch sử loài người lại có thể thử nghiệm các hệ của mình trong phòng thí nghiệm, song cả hai đều có thể tận dụng các thực nghiệm tự nhiên, bằng cách so sánh các hệ vốn khác nhau ở chỗ có hay không có (hoặc chịu ảnh hưởng mạnh hay yếu của) một nhân tố có tính nhân quả giả định nào đó. Chẳng hạn, các nhà truyền nhiễm học tuy không được phép cho người ta ăn một lượng lớn muối nhằm mục đích thí nghiệm, nhưng họ vẫn có thể xác định tác động của việc hấp thụ nhiều muối bằng cách so sánh những nhóm người vốn dĩ đã khác nhau rất nhiều về lượng muối ăn vào; và các nhà nhân chủng học văn hóa, tuy không thể tiến hành thí nghiệm bằng cách cho một số nhóm người sống trong những môi trường có tài nguyên giàu nghèo khác nhau trong nhiều thế kỷ, song vẫn có thể nghiên cứu hậu quả lâu dài của việc giàu hay nghèo tài nguyên đối với xã hội loài người bằng cách so sánh các quần thể người Polynesia gần đây sinh sống trên những hòn đảo có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu nghèo khác nhau. Nghiên cứu lịch sử loài người có thể dựa trên nhiều thực nghiệm tự nhiên chứ không chỉ dựa trên so sánh giữa năm lục địa có người sinh sống. Để so sánh, người ta cũng có thể sử dụng những hòn đảo lớn có những xã hội phức tạp phát triển trong tình trạng biệt lập đáng kể (như Nhật Bản, Madagascar, đảo Hispaniola của người châu Mỹ bản địa, New Guinea, Hawaii và nhiều trường hợp khác) cũng như các xã hội trên hàng trăm hòn đảo nhỏ hơn và các xã hội khu vực trên từng lục địa.

Thực nghiệm tự nhiên trong bất kỳ lĩnh vực nào, dù sinh thái học hay lịch sử loài người, vốn dĩ đều có thể bị phê phán về mặt phương pháp luận. Người ta phê phán phương pháp này ở chỗ, [có thể] có sự biến thiên tự nhiên trong các biến tố khác ngoài biến tố được khảo sát gây nhiễu loạn [hệ], cũng như việc suy ra các chuỗi nhân quả từ mối tương quan quan sát được giữa các biến tố có không ít những khó khăn. Những khó khăn mang tính phương pháp luận đó từng được bàn cãi chi tiết đối với một số ngành khoa học lịch sử. Đặc biệt là truyền nhiễm học, ngành khoa học chuyên suy luận về các căn bệnh của loài người bằng cách so sánh các nhóm người (thường là qua nghiên cứu lịch sử hồi cố), từng suốt một thời gian dài sử dụng thành công các quy trình được quy phạm hóa để xử lý những vấn đề tương tự như các vấn đề đặt ra cho các sử gia nghiên cứu xã hội loài người. Các nhà sinh thái học cũng đã rất quan tâm đến các vấn đề thực nghiệm tự nhiên, một phương pháp luận mà họ phải viện tới trong nhiều trường hợp khi việc can thiệp trực tiếp để điều khiển các biến tố sinh thái liên quan nhằm mục đích thí nghiệm là hành vi vô đạo đức, không hợp pháp hoặc bất khả thi. Các nhà sinh học tiến hóa mới đây đã phát triển được những phương pháp còn phức tạp hơn nhằm rút ra kết luận từ sự so sánh các loài cây và thú khác nhau của những lịch sử tiến hóa mà chúng ta đã biết.

Nói ngắn gọn, tôi thừa nhận rằng, thấu hiểu lịch sử loài người là việc khó hơn nhiều so với thấu hiểu các vấn đề trong những ngành khoa học mà ở đó lịch sử là không quan trọng và có ít biến tố cá biệt vận hành hơn. Tuy nhiên, người ta đã đề ra được những phương pháp luận thành công nhằm phân tích các vấn đề lịch sử trong một vài lĩnh vực. Kết quả là lịch sử loài khủng long, lịch sử các tinh vân và lịch sử các sông băng thường được coi như thuộc về khoa học tự nhiên chứ không phải khoa học nhân văn. Song, khi nghĩ lại, ta sẽ thấu suốt được nhiều điều về con đường [tiến hóa] của con người hơn gấp bội so với của khủng long. Vì vậy tôi lạc quan rằng chúng ta có thể theo đuổi việc nghiên cứu lịch sử xã hội loài người một cách mang tính khoa học cũng như nghiên cứu khủng long, và qua đó có thể làm lợi cho xã hội chúng ta ngày nay bằng cách dạy cho ta biết cái gì đã nhào nặn nên thế giới hiện đại, cái gì có thể sẽ nhào nặn nên tương lai của chúng ta.

LỜI NÓI THÊM VÀO NĂM 2003:

Súng, vi trùng và thép ngày nay

Súng, Vi trùng và Thép (SVT) bàn về việc tại sao các xã hội loài người phức tạp đã phát sinh trên mỗi lục địa theo một cách khác nhau trong 13.000 năm trở lại đây. Tôi hoàn tất việc hiệu chỉnh bản thảo vào năm 1996 và cuốn sách được ấn hành trong năm 1997. Từ đó đến nay tôi dành hầu hết thời gian để tiến hành những đề án khác, đặc biệt là cuốn sách kế tiếp của tôi về sự sụp đổ các xã hội. Chính vì vậy khoảng cách bảy năm và sự chuyển hướng tập trung sang các đề án khác đã khiến tôi không thể tiếp tục theo sát Súng, Vi trùng và Thép. Nay nhìn lại, ta thấy thế nào về cuốn sách này, và kể từ lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách có những gì đã xảy ra khiến các kết luận của nó bị thay đổi đi hay được triển khai thêm? Theo cái nhìn phải thừa nhận là còn thiên kiến của tôi, thông điệp chính của cuốn sách vẫn còn nguyên giá trị, và kể từ khi nó được xuất bản đến nay người ta đã đạt được nhiều bước phát triển mới, trong đó thú vị nhất là bốn triển khai câu chuyện đối với thế giới hiện đại và lịch sử gần đây.

Kết luận của tôi trong cuốn sách là, các xã hội đã phát triển trên mỗi lục địa một khác là do môi trường trên mỗi lục địa một khác, chứ không phải do những khác biệt trong cấu trúc sinh học của con người. Công nghệ tiên tiến, tổ chức chính trị tập trung và các đặc tính khác của xã hội phức tạp chỉ có thể phát sinh ở các quần thể người định cư với mật độ cao có khả năng tích lũy lương thực thặng dư - những quần thể nào kiếm được cái ăn nhờ nền nông nghiệp vốn bắt đầu xuất hiện vào khoảng 8.500 năm trCN. Nhưng các loài cây và thú có thể thuần hóa, vốn có tầm quan trọng thiết yếu để nông nghiệp có thể ra đời, lại được phân bố rất không đều trên các lục địa. Các loài có thể thuần hóa có giá trị cao nhất chỉ tập trung ở chín khu vực nhỏ trên toàn thế giới, và cũng chín khu vực này đã trở thành những nguyên quán sớm nhất của nền nông nghiệp. Cư dân nguyên thủy của những nguyên quán đó nhờ vậy đã có được lợi thế xuất phát để tiến lên phát triển được súng, vi trùng và thép. Ngôn ngữ và gen của cư dân nguyên thủy ở các nguyên quán đó, cũng như gia súc, cây trồng, công nghệ và chữ viết của họ, đã trở nên thống trị trong thế giới cổ đại cũng như thế giới hiện đại.

Các phát hiện trong sáu năm gần đây nhất của các nhà khảo cổ học, di truyền học, ngôn ngữ học và các chuyên gia khác đã làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về vấn đề này mà không làm thay đổi những nét chính của nó. Cho tôi kể ra đây ba ví dụ. Một trong những thiếu sót lớn nhất của diện bao quát về địa lý trong Súng, vi trùng và thép là Nhật Bản; trong ấn bản năm 1996 tôi đã không có gì nhiều để nói về giai đoạn tiền sử của khu vực này. Bằng chứng di truyền gần đây gợi ý rằng dân tộc Nhật ngày nay là sản phẩm của một sự bành trướng nông nghiệp tương tự như các cuộc bành trướng mà tôi đã đề cập tới trong Súng, vi trùng và thép: một sự bành trướng của các nhà nông Triều Tiên, bắt đầu vào khoảng 400 năm trCN, vào miền tây nam Nhật Bản và sau đó tiến lên phía đông bắc quần đảo Nhật Bản. Những người này di cư sang Nhật Bản mang theo nền nông nghiệp thâm canh và công cụ bằng kim loại, và họ hợp huyết với cư dân bản địa Nhật Bản thời đó (có họ hàng với người Ainu ngày nay) để hình thành người Nhật Bản ngày nay, cũng như các nhà nông vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hợp huyết với những người săn bắt hái lượm nguyên thủy ở châu Âu để hình thành nên người châu Âu ngày nay.

Một ví dụ khác là, các nhà khảo cổ trước kia vẫn cho rằng ngô, đậu và bí của Mexico đã đến được vùng đông nam Hoa Kỳ bằng con đường trực tiếp nhất thông qua vùng đông bắc Mexico và miền đông Texas. Thế nhưng hiện nay người ta đang dần thấy rõ rằng con đường này vốn khí hậu quá khô không thể làm nông nghiệp được; thay vì vậy các cây trồng đó đã di chuyển theo con đường khác dài hơn, bành trướng từ Mexico vào vùng tây nam Hoa Kỳ và kích thích sự ra đời các xã hội Anasazi ở đó, sau đó bành trướng từ New Mexico và Colorado về phía đông ngang qua các thung lũng sông của vùng Đồng bằng Lớn mà thâm nhập vào vùng đông nam Hoa Kỳ.

Còn ví dụ cuối cùng, ở Chương 10 tôi đã nêu ra sự tương phản giữa việc ở châu Mỹ thì cùng một cây hoặc những cây gần gũi nhau được thuần hóa nhiều lần độc lập với nhau và tốc độ bành trướng của chúng rất chậm dọc theo trục bắc-nam châu Mỹ, trong khi ở Âu-Á mỗi loài cây hầu như chỉ được thuần hóa ở một trung tâm duy nhất và có thể bành trướng nhanh chóng theo trục đông-tây của lục địa này. Người ta đã tiếp tục tìm ra thêm nhiều ví dụ cho hai mẫu hình tương phản nhau này, song hiện nay ta cũng thấy rằng dường như hầu hết hoặc tất cả Năm Loài Gia Súc Hữu Nhũ Lớn của Âu-Á cũng đã được thuần hóa độc lập nhiều lần ở nhiều khu vực khác nhau của Âu-Á - so với các cây trồng Âu-Á thì có khác, song lại giống như các cây trồng của châu Mỹ.

Các khám phá đó cũng như những khám phá khác bổ sung thêm những chi tiết - mà với tôi vẫn cứ đầy hấp dẫn - cho hiểu biết của chúng ta về việc bằng cách nào việc phát sinh nghề nông đã kích thích sự ra đời các xã hội phức tạp dựa trên nông nghiệp trong thế giới cổ đại. Tuy nhiên, những thành tựu lớn nhất dựa trên Súng, vi trùng và thép lại là sự khai triển các lĩnh vực vốn không phải là điểm tập trung chính của cuốn sách. Kể từ khi sách được xuất bản, hàng ngàn người đã viết thư, gọi điện thoại, gửi email cho tôi hoặc níu áo tôi đặng nói cho tôi biết họ nhận thấy có những sự tương đồng hoặc tương phản nào giữa các quá trình ở tầm lục địa vào thời cổ đại được đề cập tới trong Súng, vi trùng và thép với những quá trình trong thời hiện đại hay cận đại mà họ đang nghiên cứu. Tôi sẽ kể cho các bạn bốn trong số những sự khai ngộ đó: nói ngắn gọn là, thứ nhất, ví dụ đầy sáng tỏ về Cuộc chiến Súng hỏa mai ở New Zealand, thứ hai, câu hỏi muôn thuở “Tại sao là châu Âu chứ không phải là Trung Quốc?”, thứ ba, sự tương đồng giữa cạnh tranh trong thế giới cổ đại với cạnh tranh trong thế giới kinh doanh hiện đại, lần này được đề cập chi tiết hơn; và thứ tư, sự liên quan của Súng, vi trùng và thép với việc tại sao một số xã hội trong thế giới ngày nay thì giàu có trong khi các xã hội khác vẫn nghèo.

Vào năm 1996 tôi có dành một đoạn ngắn (trong Chương 13) để nói tới một hiện tượng trong lịch sử New Zealand vào thế kỷ XIX được gọi là Cuộc chiến Súng hỏa mai nhằm minh họa cho thấy các công nghệ mới bành trướng mạnh mẽ đến thế nào. Cuộc Chiến Súng hỏa mai là một chuỗi phức tạp các cuộc chiến tranh mà ngày nay chúng ta vẫn còn hiểu biết ít giữa các bộ lạc bản địa Maori ở New Zealand trong khoảng từ 1818 đến thập niên 1830 - ấy là những cuộc chiến tranh mà trong đó các bộ lạc vốn trước kia chỉ đánh nhau bằng vũ khí làm bằng đá và gỗ thì nay bắn nhau bằng súng của châu Âu. Từ đó đến nay đã có hai cuốn sách được xuất bản giúp ta hiểu nhiều hơn về thời kỳ hỗn loạn đó trong lịch sử New Zealand, đặt nó vào bối cảnh lịch sử rộng hơn và làm rõ hơn mối liên hệ giữa nó với Súng, vi trùng và thép.

Vào đầu thế kỷ XIX các nhà buôn, nhà truyền giáo và thợ săn cá voi châu Âu bắt đầu đến thăm New Zealand vốn là nơi sinh sống của các nhà nông và ngư dân Polynesia được gọi là người Maori từ 600 năm trước. Những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến New Zealand tập trung ở mỏm cực bắc đảo này. Các bộ lạc Maori phía bắc được tiếp xúc với người New Zealand sớm nhất nên cũng là những bộ lạc đầu tiên tiếp thu được súng hỏa mai, nhờ vậy mà có được ưu thế quân sự hơn so với tất cả các bộ lạc chưa có súng hỏa mai. Họ tận dụng ưu thế đó để tính sổ với các bộ lạc láng giềng vốn là kẻ thù truyền kiếp của mình. Nhưng họ cũng dùng súng hỏa mai vào một kiểu chiến tranh mới: tiến hành những cuộc hành quân đường dài để tấn công các bộ lạc Maori cách mình đến hàng trăm dặm, nhằm chiếm được nhiều nô lệ hơn và giành được nhiều uy thế hơn so với các bộ lạc đối thủ.

Đóng vai trò quan trọng chẳng kém gì súng hỏa mai của châu Âu (mà nhờ đó người Maori đã có thể tiến hành những cuộc tập kích tầm xa) là cây khoai tây do người châu Âu du nhập - vốn xuất xứ từ Nam Mỹ, cây này đã giúp người Maori đạt được năng suất bình quân trên mỗi hécta cao hơn hàng nhiều tấn so với cây khoai lang truyền thống của họ. Sở dĩ trước kia người Maori không thể tiến hành những cuộc tập kích tầm xa như vậy là do hạn chế của loại cây trồng truyền thống đó: họ từng phải gặp hai khó khăn cùng một lúc, ấy là vừa phải nuôi sống các chiến binh đi đánh trận xa nhà trong một thời gian dài, vừa phải nuôi những người ở lại gồm phụ nữ và trẻ em vốn phải trông vào sức lao động của đàn ông trong việc trồng khoai thế nhưng đàn ông thì lại đi đánh nhau cả. Cây khoai tây đã giúp giải quyết được vấn đề nan giải đó. Vì vậy Cuộc chiến Súng hỏa mai cũng có thể gọi bằng một cái tên ít hào hùng hơn là Cuộc chiến Khoai tây.

Dù được gọi thế nào đi nữa, Cuộc chiến Súng hỏa maiKhoai tây đã có sức hủy diệt ghê gớm, giết chết khoảng một phần tư dân số nguyên thủy của người Maori. Số người bỏ mạng cao nhất là khi một bộ lạc có nhiều súng hỏa mai và nhiều khoai tây tấn công một bộ lạc có ít hoặc hoàn toàn không có hai thứ đó. Trong những bộ lạc không nằm trong số đã tiếp thu được súng và khoai tây sớm nhất, một số bộ lạc đã hầu như bị tuyệt diệt trước khi họ kịp tiếp thu hai thứ đó, những bộ lạc khác thì đã quyết tâm tiếp thu cho bằng được hai thứ đó và nhờ vậy phục hồi được thế cân bằng về quân sự như trước. Một tình tiết trong các cuộc chiến tranh đó là khi người Maori chinh phục và thảm sát tập thể người Moriori như đã được mô tả ở Chương 2.

Các cuộc Chiến tranh Súng hỏa maiKhoai tây minh họa cho quá trình chính yếu xuyên suốt lịch sử 13.000 năm qua: các nhóm người có súng, vi trùng và thép, hoặc có được ưu thế về công nghệ và quân sự sớm hơn, đã bành trướng sang các khu vực khác nơi có những nhóm người khác sinh sống từ trước, cho đến khi các nhóm này bị những nhóm có ưu thế hơn kia chiếm chỗ hoặc cho đến khi tất cả đều có chung những ưu thế mới. Lịch sử cận đại cho ta vô số ví dụ về người châu Âu bành trướng sang các lục địa khác. Ở nhiều nơi, các dân tộc bản địa không phải châu Âu đã chẳng bao giờ có được cơ hội tiếp thu súng và rốt cuộc là hoặc mất mạng hoặc mất tự do. Tuy nhiên, Nhật Bản đã thành công trong việc tiếp thu (thật ra là tiếp thu lại) súng, bảo toàn được nền độc lập của mình và trong vòng 50 năm đã dùng được những khẩu súng mới của mình để đánh bại một cường quốc châu Âu trong cuộc chiến Nga - Nhật năm 1904-1905. Người Anh-điêng vùng Đồng bằng Lớn Bắc Mỹ, người Anh-điêng vùng Araucania Nam Mỹ, người Maori ở New Zealand và người Ethiopia đã tiếp thu được súng và dùng chúng để chống trả được người châu Âu xâm lược trong một thời gian dài mặc dù rốt cuộc cũng đành chịu thất bại. Ngày nay, các nước thuộc Thế giới thứ ba đang làm hết sức mình để bắt kịp Thế giới thứ nhất bằng cách tiếp thu những ưu thế về công nghệ và nông nghiệp của các nước này. Những sự bành trướng công nghệ và nông nghiệp đó, mà thoạt tiên đã phát sinh từ sự cạnh tranh giữa các nhóm người, ắt phải từng xảy ra vào vô số thời điểm khác và tại vô số nơi chốn khác trong suốt 10.000 năm qua.

Theo nghĩa đó thì Cuộc chiến Súng hỏa maiKhoai tây của New Zealand chẳng có gì lạ. Tuy những cuộc chiến tranh đó chỉ là một hiện tượng có tính thuần túy địa phương, chỉ bó hẹp ở New Zealand, song chúng lại khơi nên sự quan tâm của toàn thế giới bởi cung cấp một ví dụ sáng rõ, thu hẹp trong một không gian và thời gian nhất định, về biết bao nhiêu là hiện tượng có tính địa phương tương tự. Chỉ trong vòng hai thập kỷ từ khi được du nhập vào vùng phía bắc New Zealand, súng hỏa mai và khoai tây đã bành trướng 900 dặm (1.440 km, ND) về mỏm phía nam New Zealand. Trong quá khứ, nông nghiệp, chữ viết, và các vũ khí cải tiến trước khi súng ra đời đã phải mất nhiều thời gian hơn gấp bội để bành trướng qua những khoảng cách lớn hơn gấp bội, song các quá trình xã hội [vốn là nền tảng cho] sự cạnh tranh và chiếm chỗ lẫn nhau giữa các dân tộc thì về bản chất vẫn là một. Ngày nay chúng ta tự hỏi liệu vũ khí hạt nhân có sẽ từ tám quốc gia hiện đang sở hữu chúng sinh sôi nảy nở ra toàn thế giới do hệ quả của chính cái quá trình xã hội thường xuyên đầy bạo lực đó hay không.

Một lĩnh vực thứ hai được thảo luận sôi nổi từ năm 1997 đến nay có tiêu đề có thể gọi là “Tại sao lại châu Âu chứ không phải Trung Quốc?” Hầu hết cuốn Súng, vi trùng và thép bàn về những sự khác biệt giữa các lục địa, chẳng hạn tại sao chính một số dân tộc Âu-Á chứ không phải người Australia bản địa, người châu Phi hạ Sahara hay người châu Mỹ bản địa là những kẻ đã bành trướng ra toàn thế giới trong thiên niên kỷ vừa qua. Tuy nhiên, tôi đã nhận ra rằng nhiều độc giả cũng có thể tự hỏi: “Tại sao cùng là Âu-Á nhưng tại sao chính người châu Âu chứ không phải người Trung Quốc hay nhóm nào khác đã bành trướng ra toàn thế giới?” Tôi biết độc giả sẽ không cho phép tôi kết thúc Súng, vi trùng và thép nếu tôi không nói năng gì về câu hỏi hiển nhiên này.

Vì vậy tôi đã xét một cách ngắn gọn vấn đề này trong Lời kết. Tôi đã đề xuất rằng sở dĩ châu Âu đã vượt qua Trung Quốc là do nguyên nhân tối hậu nào đó sâu xa hơn chứ không phải những nguyên nhân trực tiếp theo quan niệm của hầu hết sử gia (tỉ như Khổng giáo của Trung Quốc đối lại với truyền thống Do Thái giáo - Thiên Chúa giáo của châu Âu, sự hưng khởi của nền khoa học phương Tây, sự ra đời chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa tư bản châu Âu, nạn phá rừng ở Anh cộng với trữ lượng than của nước này, vv.) Đằng sau các nguyên nhân đó và những nguyên nhân trực tiếp khác, tôi còn nhìn thấy “Nguyên lý Phân mảnh Tối ưu”, nghĩa là những nhân tố địa lý tối hậu khiến cho Trung Quốc trở thành quốc gia thống nhất từ rất sớm và suốt phần lớn lịch sử từ đó đến nay vẫn thống nhất, trong khi châu Âu thì thường xuyên phân mảnh [thành nhiều chủ thể chính trị độc lập, ND]. Sự phân mảnh của châu Âu quả thật đã tạo điều kiện cho tiến bộ công nghệ, khoa học và chủ nghĩa tư bản bởi nó tạo điều kiện cho sự cạnh tranh giữa các nước, cũng nhờ vậy [do châu Âu có nhiều nước, ND] nên các nhà phát minh nếu không được tài trợ ở nước này thì có thể xin tài trợ ở nước kia, bị o ép ở xứ này thì có thể xin trú ẩn ở xứ kia, trong khi sự thống nhất của Trung Quốc thì không.

Sau khi sách được xuất bản, các sử gia đã chỉ cho tôi thấy rằng, sự phân mảnh của châu Âu, sự thống nhất của Trung Quốc, cùng sức mạnh tương đối của cả châu Âu lẫn Trung Quốc, tất cả đều phức tạp hơn nhiều so với được miêu tả trong sách của tôi. Ranh giới địa lý của các cương vực chính trịxã hội mà ta có thể gọi chung là “châu Âu” hay “Trung Quốc” thay đổi qua từng thế kỷ. Trung Quốc đã đi trước châu Âu về công nghệ ít nhất là cho tới thế kỷ XV và vẫn có thể lặp lại điều đó trong tương lai, trong trường hợp đó thì câu hỏi “Tại sao châu Âu chứ không phải Trung Quốc?” có thể chỉ còn liên quan đến một hiện tượng nhất thời không được lý giải một cách sâu sắc. Sự phân mảnh về chính trị có những hệ quả phức tạp hơn chứ không phải chỉ là tạo diễn trường mang tính xây dựng cho sự cạnh tranh: chẳng hạn, sự cạnh tranh không chỉ có tính xây dựng mà còn có thể có tính hủy diệt (cứ nghĩ tới hai cuộc Thế chiến Thứ nhất và Thế chiến Thứ hai thì rõ). Bản thân sự phân mảnh là một khái niệm đa chiều chứ không bất biến và đơn nghĩa: nó có tác động thế nào đến sự đổi mới là còn tùy ở những nhân tố như liệu ý tưởng [của con người] và [bản thân] con người có thể dễ dàng vượt qua ranh giới ngăn giữa các mảnh hay không, và liệu các mảnh đó khác biệt nhau hay mảnh nào cũng giống mảnh nào. Sự phân mảnh liệu có “tối ưu” hay không cũng còn tùy ta dùng thước đo nào để lượng giá sự tối ưu; mức độ phân mảnh tối ưu cho sự cách tân công nghệ có thể không phải là tối ưu đối với năng suất của nền kinh tế, sự ổn định chính trị hay hạnh phúc của con người.

Tôi có cảm tưởng rằng đại đa số các nhà khoa học xã hội vẫn chuộng những lối giải thích dựa trên các nguyên nhân trực tiếp đối với sự khác biệt giữa tiến trình lịch sử của châu Âu với tiến trình lịch sử của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong một bài tiểu luận thâm trầm sâu sắc gần đây Jack Goldstone đã nhấn mạnh tầm quan trọng của “khoa học động cơ” của châu Âu (đặc biệt là Anh), nghĩa là sự áp dụng khoa học vào sự phát triển máy móc và công cụ. Goldstone viết: “Có hai vấn đề mà mọi nền kinh tế tiền công nghiệp đều phải đối mặt: khối lượng và sự tập trung. Khối lượng năng lượng cơ giới mà bất cứ nền kinh tế tiền công nghiệp nào có được chỉ giới hạn ở các dòng chảy của nước, những con vật hay người [mà người ta] có thể nuôi ăn, và sức gió [mà người ta] có thể bắt được. Ở bất cứ khu vực nào cố định về địa lý, khối lượng này càng bị giới hạn ngặt nghèo… Khó lòng phóng đại ưu thế của nền kinh tế hay cường quốc quân sựchính trị đầu tiên nào phát minh ra một phương cách hầu thu được công hữu ích từ năng lượng trong các nhiên liệu hóa thạch… Chính sự áp dụng năng lượng hơi nước vào việc xe sợi, vào việc di chuyển trên mặt nước và trên bộ, vào việc làm gạch, xay hạt, luyện sắt, xúc đất, xây nhà, và tất cả các quy trình sản xuất đã làm chuyển hóa nền kinh tế nước Anh… Có lẽ đó hoàn toàn không chỉ là một thành tựu cần thiết của nền văn minh châu Âu mà còn là sự phát triển phong phú của một nền khoa học động cơ vốn là hệ quả tình cờ của những hoàn cảnh đặc thù, tuy có thể rất ngẫu nhiên, đã tình cờ xảy ra tại nước Anh trong thế kỷ XVII và XVIII”. Nếu lập luận này là đúng thì việc đi tìm những cách lý giải sâu xa về địa lý hay sinh thái sẽ chẳng có lợi lộc gì.

Quan điểm thiểu số đối lập với luận điểm trên, tương tự như quan điểm của tôi trong Lời kết của Súng, vi trùng và thép, đã được Graeme Lamp bàn chi tiết như sau: “Những khác biệt giữa châu Âu và Trung Quốc về sinh thái và địa lý giúp ta giải thích tại sao nền khoa học ở hai khu vực này lại có những số phận khác nhau đến vậy. Trước hết, nền nông nghiệp [nhờ vào mưa tự nhiên] ở châu Âu chẳng có vai trò gì đối với nhà nước bởi nhà nước hầu như luôn luôn ở xa các cộng đồng dân cư sở tại, và khi cách mạng nông nghiệp ở châu Âu sản xuất được lương thực thặng dư ngày càng tăng, điều đó giúp cho sự ra đời nhiều thành thị tương đối tự trị bên cạnh các thể chế thành thị chẳng hạn như các trường đại học từ trước khi ra đời các nhà nước tập trung hóa vào cuối thời Trung cổ. Ngược lại, nền nông nghiệp dựa trên tưới tiêu và kiểm soát lượng nước của Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi để sớm hình thành những nhà nước mang tính xâm hấn và cưỡng bức ở các thung lũng sông chủ yếu, trong khi các thành thị cùng những thể chế của thành thị chẳng bao giờ đạt được mức độ tự trị cục bộ như ở châu Âu. Thứ hai, địa lý Trung Quốc, không như địa lý châu Âu, không thuận lợi cho những nhà nước độc lập có thể tồn tại lâu dài. Thay vì vậy, địa lý Trung Quốc tạo điều kiện cho sự chinh phục và thống nhất trên một khu vực rộng lớn, theo sau đó là những thời kỳ tương đối ổn định dưới sự thống trị của một đế chế. Hệ thống nhà nước hình thành từ đó đã đè nén hầu hết các điều kiện thuận lợi cho sự trỗi dậy của khoa học hiện đại… Cách giải thích được mô tả sơ lược trên đây rõ ràng là quá đơn giản hóa. Tuy nhiên, một trong những ưu điểm của cách lý giải này là tránh được lối vòng vo tam quốc vẫn thường có mặt trong những lối giải thích không đào sâu hơn những khác biệt về xã hội hoặc văn hóa giữa châu Âu và Trung Quốc. Bao giờ người ta cũng có thể “quay” những lối giải thích như vậy bằng cách đặt thêm một câu hỏi nữa: tại sao châu Âu và Trung Quốc khác nhau ở các nhân tố xã hội và văn hóa đó? Tuy nhiên, những cách giải thích nào bám rễ vào tận [những đặc trưng về] địa lý và sinh thái thì chạm tới được tầng sâu nhất [của vấn đề]”.

Dung hòa được hai cách tiếp cận khác nhau đó hầu giải đáp câu hỏi “Tại sao châu Âu chứ không phải Trung Quốc” vẫn là một thử thách cho các nhà sử học. Lời giải đáp đó có thể có những hệ quả quan trọng [để người ta biết] Trung Quốc hay châu Âu nên được cai trị theo cách nào là tốt nhất ngày nay. Chẳng hạn, xét từ quan điểm của Lamp và của tôi, thảm họa Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc trong thập niên 1960 và 1970 - khi một số nhà lãnh đạo lầm lạc đã có thể đóng cửa toàn bộ hệ thống trường học của đất nước lớn nhất thế giới trong vòng năm năm trời - có thể không phải là một sai lầm đơn nhất xảy ra chỉ một lần trong lịch sử, mà là điềm tiên báo rằng những thảm họa tương tự có thể sẽ còn xảy ra trong tương lai chừng nào Trung Quốc còn chưa tiến hành giải tập trung hóa nhiều hơn nữa hệ thống chính trị của họ. Ngược lại, trong khi xăng xái tiến lên thống nhất về chính trị và kinh tế, châu Âu hiện nay cần suy ngẫm nhiều hơn đến việc làm sao đừng triệt bỏ những nguyên nhân nền tảng đã giúp châu Âu thành công trong năm thế kỷ qua.

Sự khai triển thứ ba trong thời gian gần đây đối với thông điệp mà Súng, vi trùng và thép gửi đến thế giới hiện đại là sự khai triển bất ngờ nhất đối với tôi. Không lâu sau khi sách được ấn hành, nó được Bill Gates tỏ lời khen ngợi, từ đó tôi bắt đầu nhận được thư từ của nhiều doanh nhân khác cũng như nhiều nhà kinh tế học, họ chỉ cho tôi thấy những tương đồng khả hữu giữa lịch sử các xã hội loài người được đề cập trong Súng, vi trùng và thép với lịch sử của các nhóm trong giới kinh doanh. Sự tương đồng đó liên quan đến câu hỏi lớn sau đây: đâu là cách tốt nhất để tổ chức các nhóm người, tổ chức và doanh nghiệp sao cho tối ưu hóa được năng suất, tính sáng tạo, tính cách tân và sự phồn vinh? Nhóm của ta nên theo hướng tập trung hóa (mà điểm cực đoan là theo hướng độc tài) hay nên có cơ chế lãnh đạo phân tán hoặc thậm chí phi chính phủ? Nên tổ chức quần thể người của ta thành một nhóm duy nhất hay nên phân ra thành ít hoặc nhiều nhóm nhỏ? Ta nên duy trì sự trao đổi thông tin cởi mở giữa các nhóm hay nên dựng những bức tường bí mật giữa các nhóm? Ta nên dựng những bức tường thuế quan bảo hộ nhằm chống lại bên ngoài hay nên [mạnh dạn] đưa doanh nghiệp của mình bước vào cạnh tranh tự do?

Các câu hỏi đó phát sinh ở nhiều cấp độ khác nhau và cho nhiều loại nhóm khác nhau. Chúng áp dụng cho cơ cấu tổ chức ngay cả ở cấp quốc gia: hãy nhớ lại những cuộc tranh cãi triền miên về việc dạng chính phủ nào là tốt nhất: chế độ độc tài tốt bụng, hệ thống liên bang hay thể chế phi chính phủ ai muốn làm gì cũng được. Cũng một câu hỏi đó đặt ra đối với cơ cấu tổ chức của các công ty khác nhau trong cùng một ngành. Ta giải thích thế nào việc Microsoft đã thành công đến vậy trong thời gian gần đây, trong khi IBM vốn trước kia từng rất thành công thì lại tụt hậu nhưng rồi đã thay đổi triệt để cơ cấu tổ chức và cải thiện được thành tích? Làm sao ta giải thích được vì đâu mỗi vành đai công nghiệp có một thành công mỗi khác? Hồi tôi còn nhỏ sống ở Đường số 128 thành phố Boston, vành đai công nghiệp bao quanh Boston hãy còn dẫn đầu thế giới về tính sáng tạo và óc tưởng tượng khoa học. Nhưng Đường 128 đã tụt hậu, nay thì Thung lũng Silicon mới là trung tâm đổi mới. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau ở Thung lũng Silicon và trên Đường 128 là rất khác nhau, có lẽ chính vì vậy mà thành quả của hai bên mới khác nhau.

Dĩ nhiên, còn có cả những khác biệt nổi tiếng giữa năng suất nền kinh tế của toàn bộ các nước, như nền kinh tế của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp và Đức. Dẫu vậy, trên thực tế có những khác biệt to lớn giữa năng suất và của cải của các ngành kinh doanh khác nhau thậm chí trong cùng một nước. Chẳng hạn, ngành thép của Hàn Quốc về tính hiệu quả cũng tương đương như ngành thép Hoa Kỳ, nhưng tất cả các ngành khác của Hàn Quốc đều lạc hậu hơn các ngành tương đương của Hoa Kỳ. Cơ cấu tổ chức của các ngành công nghiệp Hàn Quốc có gì khác nhau để dẫn tới sự khác nhau như vậy về năng suất tuy tất cả đều trong cùng một nước?

Hiển nhiên, tại sao mỗi công ty thành công một khác còn tùy thuộc một phần ở tính cách đặc thù của các cá nhân. Chẳng hạn, thành công của Microsoft chắc chắn có liên quan nào đó đến tài năng cá nhân của Bill Gates. Thậm chí dù có một cơ cấu tổ chức công ty ưu việt, Microsoft vẫn sẽ không thành công nếu lãnh đạo thiếu năng lực. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể hỏi: nếu về lâu về dài hoặc nếu tính bình quân mọi yếu tố đều giống như nhau thì dạng tổ chức nào đối với các nhóm người là tốt nhất?

Bằng cách so sánh lịch sử Trung Quốc với lịch sử tiểu lục địa Ấn Độ và lịch sử châu Âu trong Lời kết của Súng, vi trùng và thép, tôi đã đề xuất một lời giải đáp cho câu hỏi này, áp dụng cho sự cách tân công nghệ ở cấp quốc gia. Như đã giải thích trong phần trước, tôi đã suy ra rằng sự cạnh tranh giữa các thực thể chính trị khác nhau đã thúc đẩy sự đổi mới ở châu Âu vốn bị phân mảnh về địa lý, còn tình trạng thiếu cạnh tranh [giữa các thực thể chính trị khác nhau] đã kìm hãm sự đổi mới ở nước Trung Quốc thống nhất. Phải chăng nói vậy có nghĩa là, nếu mức độ phân mảnh về chính trị còn cao hơn cả châu Âu thì càng tốt hơn nữa? Có lẽ là không: Ấn Độ vốn phân mảnh về địa lý còn cao hơn cả châu Âu, nhưng lại kém đổi mới hơn về công nghệ. Chính điều này đã gợi ý cho tôi về Nguyên lý Phân mảnh Tối ưu: sự đổi mới diễn ra nhanh nhất ở xã hội nào có sự phân mảnh ở cấp độ trung gian tối ưu - xã hội nào thống nhất quá thì bất lợi, song xã hội nào phân mảnh quá thì cũng bất lợi nốt.

Suy luận này hô ứng với Bill Lewis và các lãnh đạo khác của Mc Kinsey Global Institute, một hãng tư vấn hàng đầu có trụ sở tại Washington, hiện đang tiến hành nghiên cứu so sánh nền kinh tế của các nước và nền kinh tế trên toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo đã rất đỗi sửng sốt khi thấy sự tương đồng giữa kinh nghiệm kinh doanh của họ với các suy luận của tôi từ lịch sử đến nỗi họ tặng cho toàn bộ mấy trăm đối tác kinh doanh của công ty mỗi người một bản Súng, vi trùng và thép, rồi họ lại đưa tôi một bản các báo cáo của họ về nền kinh tế của Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Brazil và nhiều nước khác. Cả họ nữa cũng phát hiện ra vai trò then chốt của sự cạnh tranh và quy mô của nhóm trong việc thúc đẩy đổi mới. Dưới đây là một số kết luận mà tôi lượm lặt được từ những cuộc trò chuyện với các lãnh đạo của McKinsay và từ các báo cáo của họ:

Người Mỹ thường tưởng tượng rằng các ngành công nghiệp Đức và Nhật Bản đều siêu hiệu quả, vượt xa các ngành công nghiệp Hoa Kỳ về năng suất. Thực ra điều đó không đúng: nếu tính bình quân với mọi ngành công nghiệp thì năng suất ở Hoa Kỳ cao hơn so với cả Nhật Bản lẫn Đức. Nhưng các số liệu bình quân đó che giấu những khác biệt to lớn giữa các ngành công nghiệp trong phạm vi từng nước vốn liên quan đến những khác biệt trong cơ cấu tổ chức, mà những khác biệt sau này mới gợi cho ta nhiều điều suy nghĩ. Để tôi cung cấp cho các bạn hai ví dụ rút ra từ nghiên cứu của McKinsey đối với ngành bia Đức và ngành chế biến thực phẩm của Nhật.

Người Đức làm bia tuyệt ngon. Mỗi khi tôi cùng vợ bay sang Đức, chúng tôi luôn mang theo một vali trống, đến khi về Mỹ thì dùng nó để đựng đầy những chai bia Đức đủ uống cả năm sau. Thế nhưng năng suất ngành bia ở Đức chỉ bằng 43% so với ngành bia ở Mỹ. Trong khi đó, ngành luyện kim và ngành thép của Đức lại có năng suất bằng các ngành tương đương ở Mỹ. Người Đức rõ ràng là thừa khả năng tổ chức tốt các ngành công nghiệp, thế tại sao họ không làm được vậy riêng với ngành bia?

Hóa ra ngành bia Đức khác mọi ngành khác ở chỗ sản xuất quy mô nhỏ. Có hàng ngàn công ty bia nhỏ trên khắp nước Đức, tất cả đều được bảo hộ nên không phải cạnh tranh với nhau bởi mỗi nhà máy bia Đức hầu như là một kẻ độc quyền ở mỗi địa phương, đồng thời tất cả lại cũng được bảo hộ trước hàng nhập khẩu. Hoa Kỳ có 67 nhà máy bia chính, sản xuất 23 tỷ lít bia mỗi năm. Toàn bộ 1.000 nhà máy bia của Đức cộng lại cũng chỉ sản xuất được một nửa chừng đó. Thế nên tính bình quân ngành bia Hoa Kỳ sản xuất được lượng bia nhiều hơn 31% so với ngành bia Đức.

Đó là do mỗi vùng có thị hiếu riêng và do chính sách của chính phủ Đức. Dân uống bia ở Đức nồng nhiệt trung thành với nhãn hiệu bia ở địa phương mình, cho nên chẳng có hãng bia Đức nào có thể gọi là “bia dân tộc” như Budweiser, Miller hay Coors của Hoa Kỳ. Thay vì vậy, hầu hết bia Đức chỉ được tiêu thụ trong phạm vi 30 dặm cách nhà máy nơi nó được sản xuất. Vì vậy, ngành bia Đức không thể thu lãi từ doanh số bán. Trong ngành bia, cũng như trong các ngành khác, doanh số càng nhiều thì chi phí sản xuất càng giảm. Thiết bị lạnh để ủ bia càng lớn và dây chuyền đổ bia vào chai càng dài thì chi phí sản xuất bia càng giảm. Những công ty bia Đức nhỏ xíu đó tương đối không hiệu quả. Không hề có cạnh tranh; chẳng qua chỉ là một ngàn hãng độc quyền ở cấp địa phương.

Lòng trung thành của người uống bia ở Đức đối với nhãn hiệu bia của địa phương mình càng được củng cố bởi luật pháp Đức, vốn đặt ra điều kiện ngặt nghèo khiến bia nước ngoài khó cạnh tranh trên thị trường Đức. Chính phủ Đức có cái gọi là luật bảo vệ sự thuần khiết của bia, chỉ định rõ ràng cái gì có thể đưa vào bia được. Chẳng có gì lạ rằng các quy định bảo vệ sự thuần khiết đó của chính phủ dựa trên chính các thành phần mà các hãng bia Đức vẫn đưa vào bia chứ không phải dựa trên thành phần bia của Mỹ, Pháp hay Thụy Điển. Chính vì những luật đó mà chẳng có bao nhiêu bia nước ngoài được xuất sang Đức, và do năng suất thấp cũng như giá thành cao nên bia Đức dù ngon tuyệt thế kia nhưng được bán ở nước ngoài ít hơn ta tưởng nhiều. (Có thể bạn sắp phản đối tôi rằng bia Đức hiệu Löwenbräu được bán đầy ở Hoa Kỳ đấy thôi, nhưng xin hãy đọc kỹ lại nhãn hiệu trên chai bia Löwenbräu kế tiếp mà bạn sắp uống: nó không được sản xuất ở Đức mà là ở Bắc Mỹ theo giấy phép chuyển nhượng, trong những nhà máy lớn với năng suất và doanh số bán kiểu Bắc Mỹ).

Ngành xà bông và ngành điện tử tiêu dùng của Đức cũng kém hiệu quả như vậy: các công ty đó không phải cạnh tranh với nhau cũng chẳng phải cạnh tranh với nước ngoài, thành thử họ không áp dụng những quy trình tốt nhất theo chuẩn quốc tế. (Bạn hãy nhớ xem mình mua cái tivi nhập từ Đức lần cuối cùng là từ khi nào vậy?) Nhưng các ngành luyện kim và ngành thép của Đức thì không có những bất lợi đó, bởi các công ty lớn của Đức thuộc những ngành này phải cạnh tranh với nhau và với nước ngoài nên buộc phải áp dụng những quy trình tốt nhất theo chuẩn quốc tế.

Một ví dụ khác mà tôi ưa thích trong các báo cáo của McKinley là ngành chế biến thực phẩm của Nhật. Người Mỹ thường rất nể sợ tính hiệu quả của người Nhật, mà quả thật tính hiệu quả trong một số ngành của Nhật thì kinh khủng, nhưng ở ngành chế biến thực phẩm thì không. Hiệu quả của ngành chế biến thực phẩm Nhật chỉ bằng vỏn vẹn 32% so với ngành tương đương ở Hoa Kỳ. Có 67.000 công ty chế biến thực phẩm ở Nhật, so với chỉ 21.000 công ty ở Hoa Kỳ, trong khi dân số Hoa Kỳ gấp đôi dân số Nhật, nghĩa là tính bình quân mỗi công ty chế biến thực phẩm của Hoa Kỳ lớn hơn gấp sáu lần một công ty chế biến thực phẩm của Nhật. Tại sao ngành chế biến thực phẩm của Nhật, cũng như ngành bia của Đức, lại gồm toàn những công ty nhỏ chiếm độc quyền ở từng địa phương? Về cơ bản, câu trả lời cũng là hai nguyên nhân như trên: thị hiếu từng địa phương và chính sách của chính phủ.

Người Nhật cực kỳ mê thực phẩm tươi sống. Một hộp sữa trong siêu thị ở Hoa Kỳ chỉ có ghi một ngày tháng: ấy là hạn sử dụng. Khi tôi cùng vợ đến một siêu thị ở Tokyo cùng với mấy hàng xóm người Nhật của vợ tôi, chúng tôi ngạc nhiên khám phá rằng ở Nhật một hộp sữa được ghi đến những ba ngày tháng: ngày sữa được sản xuất, ngày nó được nhập vào siêu thị, ngày hết hạn. Việc sản xuất sữa ở Nhật thường bắt đầu vào lúc 12 giờ một phút hàng đêm, để cho sữa khi đưa ra thị trường có thể ghi là sữa được sản xuất ngay hôm nay. Nếu sữa được sản xuất lúc 11 giờ 59 phút đêm thì ngày ghi trên hộp sữa sẽ phải ghi rõ là sản xuất ngày hôm qua, mà nếu vậy thì sẽ chẳng ai mua.

Kết quả là ngành chế biến thực phẩm ở Nhật có tính độc quyền cục bộ. Một nhà sản xuất sữa ở miền bắc Nhật chẳng hy vọng gì cạnh tranh với miền nam Nhật bởi vận chuyển sữa từ bắc xuống nam sẽ phải mất thêm một ngày, ấy là một hạn chế ghê gớm trong mắt người tiêu thụ. Tính độc quyền cục bộ đó được củng cố bởi chính sách của chính phủ Nhật: họ gây khó dễ cho thực phẩm chế biến ở nước ngoài bằng cách áp đặt một loạt quy định ngặt nghèo trong đó có hạn kiểm dịch 10 ngày (bạn cứ hình dung, chỉ cần hàng cũ một ngày mà người tiêu dùng Nhật đã lánh xa, giờ cũ đến 10 ngày thì họ càng cảm thấy thế nào). Chính vì vậy ngành chế biến thực phẩm của Nhật không phải cạnh tranh ở cả trong lẫn ngoài nước, cũng không học những phương pháp chế biến thực phẩm tốt nhất trên thế giới. Một phần vì vậy mà giá cả thực phẩm ở Nhật rất cao: thịt bò ngon nhất giá 200 đô-la Mỹ một pound (0,[48] kg, ND) còn thịt gà giá 25 đô-la Mỹ một pound.

Một số ngành khác của Nhật được tổ chức rất khác với ngành chế biến thực phẩm. Chẳng hạn, các công ty thép, kim loại, ô tô, linh kiện ô tô, máy ảnh và điện tử gia dụng của Nhật cạnh tranh rất khốc liệt và có năng suất cao hơn các ngành tương đương ở Hoa Kỳ. Nhưng các ngành xà bông, bia và máy vi tính của Nhật, cũng giống như ngành chế biến thực phẩm, không phải cạnh tranh, không áp dụng những quy trình tốt nhất, nên năng suất cũng thấp hơn các ngành tương đương ở Hoa Kỳ (Nếu nhìn quanh nhà mình, bạn sẽ thấy rằng chiếc tivi, máy ảnh, có khi cả ô tô nữa là của Nhật, nhưng máy vi tính và xà bông thì không).

Cuối cùng, ta hãy áp dụng các bài học này để so sánh các vành đai công nghiệp hoặc các ngành công nghiệp khác nhau ở Hoa Kỳ. Từ khi Súng, vi trùng và thép được xuất bản, tôi đã dành nhiều thời gian trò chuyện với những người ở Thung lũng Silicon cũng như ở Đường 128, họ bảo tôi rằng hai vành đai công nghiệp đó rất khác nhau về đặc tính kinh doanh. Thung lũng Silicon bao gồm nhiều công ty cạnh tranh với nhau khốc liệt. Tuy nhiên, giữa họ cũng có nhiều hợp tác - một dòng lưu chuyển tự do các ý tưởng, con người và thông tin giữa các công ty. Ngược lại, tôi nghe nói các doanh nghiệp ở Đường 128 kín cổng cao tường hơn nhiều, biệt lập với nhau hơn nhiều, như các công ty sản xuất sữa của Nhật Bản vậy.

Còn về sự tương phản giữa Microsoft với IBM thì sao? Từ khi Súng, vi trùng và thép được xuất bản, tôi đã có được những người bạn mới ở Microsoft và biết được về cơ cấu tổ chức đặc thù của công ty đó. Microsoft có rất nhiều đơn vị, mỗi đơn vị từ 5 đến 10 người, các đơn vị có thể tự do liên thông với nhau và không được quản lý ở cấp vĩ mô; các đơn vị được trao rất nhiều quyền tự do theo đuổi ý tưởng riêng của mình. Cơ cấu tổ chức khác thường đó ở Microsoft - về thực chất là phân nhỏ thành nhiều đơn vị bán độc lập cạnh tranh với nhau - tương phản với cơ cấu ở IBM mà mãi đến vài năm gần đây vẫn là những nhóm cô lập hơn nhiều, dẫn đến hậu quả là IBM đánh mất năng lực cạnh tranh. Thế rồi IBM thu dụng một nhà quản trị kinh doanh mới, người này thay đổi mọi chuyện một cách triệt để: IBM giờ đây có cơ cấu tổ chức giống Microsoft hơn, và tôi nghe nói nhờ vậy khả năng đổi mới của IBM đã được cải thiện.

Tất cả những điều trên gợi ý rằng chúng ta có thể rút ra một nguyên lý chung về cơ cấu tổ chức nhóm. Nếu mục đích của ta là đổi mới và năng lực cạnh tranh, ta không nên tập trung quá cũng không nên phân mảnh quá. Thay vì vậy, ta nên để quốc gia, ngành sản xuất, vành đai công nghiệp hay công ty mình phân nhỏ thành nhiều nhóm cạnh tranh với nhau đồng thời duy trì sự liên thông tương đối tự do - giống như hệ thống chính phủ liên bang của Hoa Kỳ mà từ trong nội tại đã tạo điều kiện cho sự cạnh tranh giữa 50 bang.

Phần triển khai còn lại đối với Súng, vi trùng và thép là sự triển khai câu hỏi trọng tâm về các nền kinh tế trên thế giới: tại sao một số nước (như Hoa Kỳ và Thụy Sĩ) thì giàu, trong khi những nước khác (như Paraguay và Mali) lại nghèo? Tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người (GNP) của các nước giàu nhất thế giới nhiều hơn trên 100 lần so với GNP của các nước nghèo nhất. Đây không chỉ là câu hỏi có tính lý thuyết đầy thách thức khiến cho các giáo sư kinh tế học có việc làm, mà còn là một câu hỏi quan trọng [đối với các nhà hoạch định] chính sách. Nếu xác định được câu trả lời, các nước nghèo có thể tập trung thay đổi những gì khiến cho họ mãi nghèo và tiếp thu những gì đã làm cho những nước khác giàu.

Hiển nhiên, một phần câu trả lời tùy thuộc vào những khác biệt trong các thể chế của con người. Bằng chứng rõ ràng nhất cho quan điểm này là những cặp quốc gia mà môi trường sống về bản chất là giống nhau nhưng lại có những thể chế khác xa nhau và gắn liền với các thể chế đó là tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người khác xa nhau. Bốn ví dụ rành rành là trường hợp Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Tây Đức trước đây với Đông Đức trước đây, Cộng hòa Dominicana với Haiti, và Israel với các nước Arập láng giềng. Trong số những “thể chế tốt” mà người ta thường viện ra để giải thích tại sao nước đứng trước trong mỗi cặp kể trên lại thịnh vượng hơn, có thể kể tới hiệu lực của luật pháp, khuôn khổ luật pháp của các hợp đồng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, ít tham nhũng, tỉ lệ ám sát thấp, cởi mở đối với thương mại và lưu chuyển vốn, khuyến khích đầu tư, vân vân.

Không nghi ngờ gì nữa, các thể chế tốt là một phần câu trả lời tại sao mỗi nước giàu nghèo một khác. Nhiều, hay có thể nói là hầu hết các nhà kinh tế còn đi xa hơn, tin rằng các thể chế tốt dứt khoát là nhân tố quan trọng nhất. Nhiều chính phủ, cơ quan và quỹ cho vay căn cứ vào nhân tố này để ra quyết định liên quan đến chính sách, các khoản viện trợ và cho vay, họ coi sự phát triển các thể chế tốt ở những nước nghèo là ưu tiên số một.

Song người ta cũng ngày càng nhận ra rằng quan điểm coi thể chế tốt là trên hết cũng không toàn diện - không phải sai, chỉ là không toàn diện - và để các nước nghèo có thể trở thành giàu thì còn có những nhân tố quan trọng khác cần tính đến. Không thể có chuyện chỉ cần giới thiệu các thể chế tốt cho những nước nghèo như Paraguay và Mali là các nước đó sẽ tiếp thu các thể chế kia và đạt được GNP tương đương với Hoa Kỳ hay Thụy Sĩ. Các ý kiến phê phán quan điểm quá coi trọng thể chế tốt có thể chia làm hai loại. Một đằng thừa nhận tầm quan trọng của các nhân tố trực tiếp khác ngoài thể chế tốt, chẳng hạn như sức khỏe cộng đồng, những hạn chế về thổ nhưỡng và khí hậu ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp và tính dễ tổn thương của môi trường. Một đằng thì coi trọng nguồn gốc của các thể chế tốt.

Theo cách phê phán sau này, chỉ xét các thể chế tốt với tư cách ảnh hưởng trực tiếp mà không quan tâm đến nguồn gốc của chúng thì không đủ. Các thể chế tốt chẳng phải là một biến tố ngẫu nhiên có thể nảy ra ở bất cứ đâu trên trái đất, ở Đan Mạch hay ở Somalia với xác suất như nhau. Tôi thì cảm thấy rằng, trong quá khứ, các thể chế tốt luôn luôn hình thành do một chuỗi dài những mối liên hệ lịch sử, từ các nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ [điều kiện] địa lý cho tới những biến tố phụ thuộc trực tiếp là các thể chế đó. Cần phải thấu hiểu cái chuỗi đó nếu chúng ta hy vọng ngày nay có thể nhanh chóng tạo ra được những thể chế tốt tại các quốc gia chưa từng có chúng.

Tại thời điểm viết Súng, vi trùng và thép, tôi đã nhận xét: “Những nước đang nổi lên vị trí cường quốc mới hiện nay cũng chính là những nước mà tự hàng ngàn năm trước đã là bộ phận của các trung tâm thống trị cũ dựa trên sản xuất lương thực, không thì cũng là những nước mà cư dân bản địa đã bị các dân tộc xuất phát từ các trung tâm đó di cư đến chiếm chỗ… Bàn tay của diễn trình lịch sử từ 8.000 năm trCN vẫn đang đè nặng lên chúng ta”. Hai bài báo mới của các nhà kinh tế học (một bài của Olsson và Hibbs, một bài của Bockstette, Chanda và Putterman) đã khảo chứng một cách chi tiết cái giả định về bàn tay lịch sử này. Hóa ra là, những nước ở các khu vực từng có xã hội nhà nước hoặc nông nghiệp từ xa xưa thì nay cũng là những nước có GNP cao hơn các nước có lịch sử ngắn ngủi, thậm chí cho dù các nhân tố thay đổi khác đã được kiểm soát. Kết quả này giải thích phần lớn sự biến thiên trong GNP. Ngay cả giữa các nước có GNP thấp hoặc mãi đến gần đây vẫn thấp, những nước nào từng có xã hội nhà nước hoặc nông nghiệp từ xa xưa như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc thì cũng có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với những nước có lịch sử ngắn như New Guinea và Philippines mặc dù một số nước có lịch sử ngắn được hưởng tài nguyên thiên nhiên dồi dào hơn gấp bội.

Nguyên nhân hiển nhiên dẫn đến những kết cục đó của lịch sử thì có nhiều, chẳng hạn nước nào từng kinh qua lịch sử xã hội nhà nước và nông nghiệp lâu dài thì cũng có những người cầm quyền giàu kinh nghiệm, có kinh nghiệm với kinh tế thị trường, vân vân. Về mặt thống kê, một phần cái kết cục tối hậu đó của lịch sử tỏ ra được trung hòa bởi các nguyên nhân trực tiếp mà ta đã biết, ấy là những thể chế tốt. Nhưng vẫn còn đó một kết cục lớn của lịch sử, [kể cả] sau khi ta đã kiểm soát các phép đo thông thường là những thể chế tốt ấy. Vì vậy, ắt hẳn còn phải có những cơ chế trung hòa trực tiếp khác nữa. Như vậy vấn đề then chốt là, cần phải thấu hiểu cặn kẽ chuỗi nhân quả đã khiến một số xã hội nhà nước và nông nghiệp [phát triển] trong quá trình lịch sử lâu dài [để đạt] tới tăng trưởng kinh tế ngày nay thì mới mong giúp được các nước đang phát triển tiến lên theo chuỗi nhân quả đó nhanh hơn.

Nói ngắn gọn, với tôi chủ đề của Súng, vi trùng và thép có vẻ không chỉ là động lực trong thế giới cổ đại mà còn là một lĩnh vực chín muồi để chúng ta nghiên cứu trong thế giới hiện đại.

❀ ❀ ❀

[1] . Một loài ngũ cốc có hạt ăn được, tên khoa học là echinochloa, tên phổ thông trong tiếng Anh là barnyard millet hoặc billion-dollar grass. – ND

[2] . Ý nói nền văn minh La Mã. – ND.

[3] . Gồm hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. – ND.

[4] . Tạm dùng cách phiên âm trước đây; tiếng Anh Carpathian Mountains. Tên dãy núi này hơi khác nhau tùy theo từng ngôn ngữ của các nước Trung Âu và Đông Nam Âu, như Karpaty trong tiếng Ba Lan, Séc và Slovakia, Karpaten trong tiếng Đức, Kárpátok trong tiếng Hunggari, Carpati trong tiếng Rumani, v.v. – ND.

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.