Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19. Châu Phi Đã Trở Thành Đen Như Thế Nào?

❊ ❊ ❊

Dù ta đã đọc trước bao nhiêu sách vở về châu Phi đi nữa, ấn tượng đầu tiên khi ta thực sự đặt chân đến châu Phi cũng thật là choáng ngợp. Trên đường phố Windhoek, thủ đô nước Namibia vừa giành độc lập, tôi thấy người da đen Herero, người da đen Ovambo, người da trắng và người Nama, một giống dân chẳng giống da đen cũng chẳng giống da trắng. Họ không còn chỉ là những bức tranh minh họa trong sách giáo khoa mà là những con người sống động trước mắt tôi. Bên ngoài Windhoek, những kẻ cuối cùng còn sót lại của tộc người Bushmen vùng sa mạc Kalahari đã có thời đông đúc đang chật vật chiến đấu để sinh tồn. Nhưng cái làm tôi ngạc nhiên nhất ở Namibia là một bảng tên đường: một trong những con phố chính ở khu mua bán sầm uất tại Windhoek mang tên Phố Goering!

Lúc ấy tôi nghĩ: nhất định chẳng có xứ sở nào bị những tên phát xít Đức không hề biết ăn năn hối lỗi kia thống trị nặng nề đến nỗi phải lấy tên của tay phát xít khét tiếng Hermann Goering, ủy viên Đế chế Đức[1], kẻ sáng lập lực lượng Không quân Đức mà đặt cho một con đường cả! Nhưng hóa ra con đường này không phải lấy tên Hermann Goering mà là cha của y, Heinrich Goering, đại diện toàn quyền của Đế chế Đức, người sáng lập thuộc địa cũ của Đức tại vùng tây nam châu Phi mà sau này là xứ Namibia. Nhưng Heinrich còn là một nhân vật đầy phức tạp, bởi một phần di sản của ông ta là một trong cuộc các tấn công tàn bạo nhất của người châu Âu chống người châu Phi - cuộc chiến tranh năm 1904 của Đức nhằm tiêu diệt người Herero. Ngày nay, khi những sự kiện ở xứ Nam Phi láng giềng đang khiến cho thế giới quan tâm, Namibia đang chiến đấu để đối phó với quá khứ thuộc địa của mình và thiết lập một xã hội đa chủng tộc. Với tôi, Namibia là ví dụ minh họa cho thấy không thể tách rời quá khứ của châu Phi khỏi hiện tại của lục địa này.

Hầu hết người châu Phi và nhiều người châu Âu ngày nay vẫn đánh đồng người châu Phi bản địa với người da đen còn người châu Phi da trắng đều là những kẻ xâm lược mãi sau này, và coi lịch sử chủng tộc của châu Phi tương đương với lịch sử người Âu thuộc địa hóa châu Phi và buôn nô lệ người Phi. Có một lý do hiển nhiên tại sao chúng ta chỉ chú tâm vào các sự kiện cụ thể này: người da đen là những người châu Phi bản địa duy nhất quen thuộc với hầu hết người Mỹ, bởi họ đã được đưa sang Hoa Kỳ với số lượng lớn làm nô lệ. Song, thật ra, trên hầu hết châu Phi đen ngày nay ắt hẳn đã từng có những dân tộc rất khác nhau sinh sống cho mãi tới mấy ngàn năm trở lại đây, và bản thân cái gọi là người châu Phi da đen cũng không hề đồng nhất. Ngay trước khi thực dân da trắng đến châu Phi, lục địa này đã là nơi sinh sống không chỉ của người da đen mà là (như ta sẽ thấy) của đến năm trong sáu phân nhóm chính của loài người, và ba trong số đó chỉ sinh sống tại châu Phi. Một phần tư các ngôn ngữ trên toàn thế giới chỉ được sử dụng tại châu Phi. Không một lục địa nào khác đạt đến mức đa dạng về chủng loại người đến như vậy.

Sự đa dạng về dân tộc của châu Phi là kết quả của sự đa dạng về địa lý và giai đoạn tiền sử lâu dài của lục địa này. Châu Phi là lục địa duy nhất trải dài từ vùng ôn đới phía bắc xuống vùng ôn đới phía nam, đồng thời cũng bao hàm một số trong những sa mạc khô hạn nhất, rừng mưa nhiệt đới lớn nhất và ngọn núi vùng xích đạo cao nhất trên thế giới. Con người đã sống ở châu Phi lâu hơn ở bất cứ nơi nào khác: các tổ tiên xa xưa của chúng ta đã phát xuất từ đó cách đây 7 triệu năm, người Homo sapiens hiện đại về mặt giải phẫu cũng có thể đã ra đời từ đó. Sự tiếp xúc lâu dài giữa các dân tộc đa dạng của châu Phi đã khiến nảy sinh giai đoạn tiền sử đầy quyến rũ của lục địa này, trong đó có hai trong những làn sóng di dân lớn nhất trong 5.000 năm trở lại đây: cuộc bành trướng của người Bantu và công cuộc thuộc địa hóa Madagascar của người Indonesia. Tất cả những tiếp xúc đó trong quá khứ vẫn tiếp tục có hậu quả nặng nề đến ngày nay, bởi vấn đề nằm ở chỗ những ai đã đến những đâu trước những thời điểm nào để hình thành nên châu Phi ngày nay.

Làm thế nào năm phân nhóm đó của loài người đã đến được nơi họ đang sống ngày nay tại châu Phi? Tại sao chính người da đen là chủng người đã trở nên phổ biến đến vậy ở châu Phi ngày nay, chứ không phải bốn nhóm người kia mà ngày nay người Mỹ hầu như quên mất là họ có tồn tại? Làm sao ta có thể mong moi được lời giải đáp cho các câu hỏi đó từ quá khứ tiền văn tự của châu Phi nếu không có những bằng chứng thành văn khả dĩ cho ta biết về sự bành trướng của đế chế La Mã? Giai đoạn tiền sử của châu Phi là một bài toán đố trên quy mô lớn mà người chỉ mới giải được một phần. Hóa ra, câu chuyện ở đây có những sự tương đồng, mà ít người nhận thấy song rất đáng quan tâm, với giai đoạn tiền sử của châu Mỹ mà chúng ta đã gặp trong chương trước.

Năm nhóm người chính mà châu Phi là quê hương tại thời điểm năm 1000 là những nhóm mà dân không chuyên vẫn gọi một cách không chính xác lắm là người da đen, người da trắng, người Pygmy châu Phi, người Khoisan và người châu Á. Hình 19.[1] minh họa sự phân phối năm nhóm người này, còn các ảnh chân dung theo sau trang 288 sẽ nhắc cho bạn nhớ sự khác biệt nổi bật giữa họ về màu da, hình dáng và màu sắc của tóc cũng như nét mặt. Người da đen trước kia chỉ sống tại châu Phi, người Pygmy và người Khoisan đến nay vẫn chỉ sinh sống ở đó, trong khi người da trắng và người châu Á thì sống ở ngoài châu Phi nhiều hơn gấp bội so với tại châu Phi. Năm nhóm này chính là hoặc đại diện cho toàn bộ năm nhóm chính của loài người, nếu không kể nhóm người Australia bản địa và các nhóm họ hàng của nhóm này.

Nhiều độc giả ắt sẽ phản đối: đừng có công thức hóa loài người bằng cách phân loại họ thành những “chủng tộc” đầy võ đoán như vậy chứ! Vâng, tôi thừa nhận rằng bản thân mỗi nhóm trong cái gọi là năm nhóm chính kia cũng rất đa dạng. Nếu xếp những dân tộc rất khác nhau như người Zulu, người Somali và người Ibo vào cùng một cái nhãn “da đen” theo kiểu vơ đũa cả nắm, ấy là ta chẳng đếm xỉa gì đến những khác biệt giữa họ cả. Chúng ta cũng chẳng đếm xỉa gì đến những khác biệt lớn lao không kém nếu gộp người Ai Cập và người Berber ở châu Phi lại với nhau rồi lại gộp chung họ với người Thụy Điển ở châu Âu vào cùng một danh xưng “da trắng”. Ngoài ra, sự phân biệt đâu là người da đen, đâu là người da trắng và các nhóm chính khác cũng rất là tùy tiện, bởi mỗi nhóm như vậy đều có sự chuyển tiếp lẫn nhau: tất cả các nhóm người trên trái đất đều đã từng hợp huyết với bất cứ nhóm nào khác mà họ gặp. Dẫu vậy, như ta đã thấy, việc thừa nhận các nhóm chính đó vẫn có ích trong việc giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử, cho nên tôi sẽ dùng tên các nhóm này mà gọi cho tiện, để không phải mỗi lần nói tới thì lại phải nhắc đi nhắc lại những điều trên.

Trong số năm nhóm châu Phi, các đại diện của nhiều quần thể người da đen và da trắng đã quen thuộc với người Mỹ và người châu Âu đến nỗi không cần phải mô tả ngoại hình của họ. Người da đen chiếm phần lớn nhất của châu Phi ngay từ năm 1400: vùng phía nam Sahara và hầu hết châu Phi hạ Sahara (xem Hình 19.[1]). Tuy người Mỹ da đen có nguồn gốc châu Phi xuất thân chủ yếu từ vùng duyên hải phía tây châu Phi, nhưng các dân tộc tương tự như vậy từ xưa còn chiếm lĩnh cả vùng Đông Phi nữa, phía bắc thì đến Sudan còn về phía nam thì đến vùng duyên hải tây nam của nước Nam Phi ngày nay. Người da trắng, bao gồm từ người Ai Cập đến người Lybia cho đến người Morocco, chiếm cứ vùng duyên hải phía bắc châu Phi và phía bắc sa mạc Sahara. Những người Bắc Phi đó khó lòng nhầm lẫn được với những người Thụy Điển mắt xanh tóc vàng, nhưng hầu hết dân không chuyên vẫn gọi là người “da trắng” vì họ có da sáng màu hơn và tóc thẳng hơn so với những dân tộc về phía nam được gọi là “da đen”. Hầu hết người da đen và da trắng châu Phi đều sống bằng trồng trọt hoặc chăn nuôi hoặc cả hai.

Ngược lại, hai nhóm kế tiếp là người Pygmy và người Khoisan gồm toàn những người sống bằng săn bắt hái lượm không biết trồng trọt hoặc chăn nuôi. Cũng như người da đen, người Pygmy có da thẫm và tóc xoăn tít. Tuy nhiên, người Pygmy khác người da đen ở chỗ họ nhỏ con hơn nhiều, da có sắc hơi đỏ hơn mà ít đen hơn, lông trên mặt và trên người rậm hơn, trán, mắt và răng lộ hơn. Người Pygmy chủ yếu là dân săn bắt hái lượm sống thành từng nhóm sống rải rác khắp vùng rừng mưa Trung Phi và trao đổi với hoặc làm việc cho những nhà nông da đen láng giềng.

55

Hình 19.[1]. Đọc lại nội dung Chương 19 về những thiếu sót khó tránh khi mô tả sự phân bố các dân tộc châu Phi theo cách phân loại quen thuộc nhưng có lắm vấn đề phải bàn này.

Người Khoisan hợp thành nhóm châu Phi mà ít người Mỹ biết đến nhất, có khi còn chưa hề nghe nói tới không chừng. Trước kia họ từng phân bố ở toàn bộ phần nam châu Phi, bao gồm không chỉ những nhóm săn bắt hái lượm nhỏ được gọi là San mà còn là những nhóm chăn nuôi lớn hơn được gọi là Khoi. (Những cái tên này hiện nay được chuộng hơn so với những cái tên Hottentot và Bushmen mà nhiều người biết đến hơn). Cả người Khoi lẫn người San đều rất đỗi không giống (hoặc đã từng không giống) với người da đen châu Phi: da họ có sắc hơi vàng, tóc họ xoăn tít, và phụ nữ thường có xu hướng tích mỡ ở mông (cái gọi là chứng “steatopygia”). Với tư cách một nhóm riêng biệt, người Khoi đã giảm sút rất nhiều về số lượng: thực dân châu Âu đã giết chóc, xua đuổi hoặc truyền bệnh cho nhiều người Khoi, và hầu hết những người sống sót đều đã hợp huyết với người châu Âu để sinh ra những người mà ở Nam Phi được gọi là người Colored hoặc người Baster. Người San cũng vậy, bị [người châu Âu] giết chóc, xua đuổi hoặc truyền bệnh, nhưng một nhóm nhỏ còn lại - mà ngày một teo nhỏ hơn - vẫn duy trì được sự khác biệt của mình ở sa mạc Namibia vốn không thích hợp cho nghề nông, như một bộ phim khá đông người xem cách đây mấy năm là Thượng đế cũng phải cười (The Gods Must be Crazy) đã miêu tả.

Việc người da trắng phân bố ở phía bắc châu Phi thì không có gì lạ, bởi những dân tộc có ngoại hình tương tự cũng sinh sống ở các khu vực lân cận tại Cận Đông và châu Âu. Trong suốt lịch sử thành văn, người ta vẫn thường xuyên qua lại giữa châu Âu, Cận Đông và Bắc Phi. Vì vậy tôi sẽ không nói thêm nhiều về người da trắng châu Phi trong chương này bởi nguồn gốc của họ chẳng có gì bí ẩn. Thay vì vậy, bí ẩn có chăng là ở người da đen, người Pygmy và người Khoisan, bởi sự phân bố của họ cho ta thấy đã từng có những biến động đột ngột về dân số trong quá khứ. Chẳng hạn, 200.000 người Pygmy hiện nay phân bố rất manh mún, rải rác xen giữa 120 triệu người da đen, điều đó cho thấy trước kia những thợ săn Pygmy từng phổ biến khắp cả vùng rừng nhiệt đới cho đến khi các nhà nông da đen [từ nơi khác đến] chiếm đất của họ và khiến họ trở nên bị cô lập. Khu vực người Khoisan ở phía nam châu Phi nhỏ bé đến kỳ lạ trong khi họ là một dân tộc rất ư khác biệt về giải phẫu học và ngôn ngữ. Liệu có phải ngay cả người Khoisan cũng đã từng phổ biến rộng khắp hơn, cho đến khi những quần thể nằm xa hơn về phía bắc của họ bị [người da đen] loại bỏ chăng?

Trường hợp khác thường hơn cả thì tôi xin để lại sau cùng. Hòn đảo lớn nhất châu Phi là Madagascar chỉ cách bờ biển Tây Phi 250 dặm (400 km), gần châu Phi hơn bất cứ lục địa nào khác, cách châu Á và Australia cả một Ấn Độ Dương rộng mênh mông. Dân cư Madagascar rõ là sự hòa trộn giữa hai yếu tố. Chẳng có gì lạ rằng một trong hai yếu tố đó là người châu Phi da đen, nhưng yếu tố còn lại thì bao gồm những người mà chỉ nhìn qua bề ngoài ta có thể nhận ra ngay là người Đông Nam Á nhiệt đới. Đặc biệt, ngôn ngữ mà toàn bộ cư dân Madagascar sử dụng - người châu Á, người da đen và người lai [giữa hai chủng đó] - là tiếng Nam Đảo và rất giống tiếng Ma’anyan được dùng trên đảo Borneo thuộc Indonesia cách Madagascar những 4.000 dặm (6.400 km) phía bên kia Ấn Độ Dương. Trong suốt hàng ngàn dặm ngăn cách giữa Borneo với Madagascar chẳng hề có dân tộc nào giống người Borneo dù chỉ hơi một tí thôi.

Những người Nam Đảo đó, với ngôn ngữ Nam Đảo và nền văn hóa Nam Đảo đã được biến đổi, đã định cư ở Madagascar vào thời điểm người châu Âu lần đầu tiên đặt chân lên Madagascar vào năm 1500. Tôi kinh ngạc trước sự kiện này, sự kiện kỳ lạ nhất trong sự phân bố loài người trên toàn thế giới. Thế cũng chẳng khác nào Columbus khi đặt chân đến Cuba thì thấy cư dân hòn đảo này là những người Scandinavia tóc vàng mắt xanh nói một thứ tiếng gần với tiếng Thụy Điển mặc dù trên lục địa Bắc Mỹ ngay gần đó toàn những người châu Mỹ bản địa nói tiếng Anh-điêng bản địa. Làm thế nào những người tiền sử ở Borneo đó - mà người ta cho rằng họ đi biển không có bản đồ hay la bàn - đã chu du đến tận Madagascar được?

Trường hợp Madagascar cho ta thấy rằng ngôn ngữ loài người - cũng như ngoại hình của họ - có thể cho ta những mấu chốt quan trọng để biết cội nguồn của họ. Chỉ cần nhìn cư dân Madagascar là đủ biết một số người trong họ có xuất xứ từ Đông Nam Á nhiệt đới, nhưng ta vẫn không thể biết đích xác từ khu vực nào của Đông Nam Á nhiệt đới, cũng không bao giờ có thể đoán được là từ Borneo. Vậy ta có thể biết thêm những gì qua các ngôn ngữ châu Phi, ngoài những gì ta đã biết khi nhìn vào khuôn mặt những người Phi?

Sự phức tạp đến đau đầu của các ngôn ngữ châu Phi - những 1.500 thứ tiếng - đã được làm sáng rõ bởi Joseph Greenberg, nhà ngôn ngữ học vĩ đại ở Đại học Stanford. Ông đã nhận ra rằng tất cả các ngôn ngữ đó chỉ thuộc về năm ngữ hệ (xem sự phân bố các ngữ hệ này ở Hình 19.[2]). Độc giả nào quen nghĩ rằng ngôn ngữ học là một thứ khoa học nhàm chán và quá chuyên môn hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết được rằng Hình 19.[2] có thể góp phần to lớn thế nào để giúp ta hiểu rõ hơn lịch sử châu Phi.

Nếu bắt đầu bằng cách so sánh Hình 19.[2] với Hình 19.[1], ta sẽ thấy một sự tương đồng đại khái giữa các ngữ hệ với các nhóm người đã được phân định về mặt giải phẫu học: các ngôn ngữ thuộc một ngữ hệ nhất định thường được dùng bởi một số người nhất định. Cụ thể, hầu hết những người nói các ngôn ngữ Phi-Á (Afroasiatic) là những người mà ta có thể phân loại là người da trắng hoặc da đen, những người nói tiếng Nilo-Sahara và tiếng Niger-Congo là người da đen, Khoisan thì nói tiếng Khoisan, còn người Nam Đảo thì nói tiếng Indonesia. Điều đó gợi ý rằng các ngôn ngữ thường có xu hướng tiến hóa song song với những người sử dụng chúng.

56

Hình 19.[2]. Các ngữ hệ ở châu Phi

Ẩn giấu ở mép trên cùng Hình 19.[2] là điều ngạc nhiên đầu tiên của chúng ta, một cú sốc lớn cho những tín đồ của thuyết dĩ Âu vi trung vốn tin tưởng ở tính ưu việt của cái gọi là nền văn minh phương Tây. Chúng ta được dạy [ở trường] rằng nền văn minh phương Tây xuất phát ở vùng Cận Đông, được nâng lên những đỉnh cao sáng chói bởi người Hy Lạp và người La Mã, và sinh ra ba trong số các tôn giáo lớn nhất trên thế giới: đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái và đạo Hồi. Các tôn giáo này phát sinh từ những dân tộc nói ba thứ tiếng có quan hệ gần gũi với nhau được gọi là tiếng Semite: tiếng Aramaic (ngôn ngữ của Chúa Jesus và các thánh tông đồ), tiếng Hebrew và tiếng Arập. Một cách bản năng, chúng ta vẫn thường coi các dân tộc Semite là gắn liền với Cận Đông.

Tuy nhiên, Greenberg đã xác định rằng thực ra các ngôn ngữ Semite chỉ là một trong số ít nhất là sáu nhánh của một ngữ hệ lớn hơn nhiều là tiếng Phi-Á, và tất cả các nhánh khác của ngữ hệ này (cũng như 222 ngôn ngữ khác còn tồn tại đến nay) đều chỉ nằm ở châu Phi. Ngay cả bản thân ngữ hệ con Semite cũng chủ yếu là của châu Phi, bởi trong số 19 ngôn ngữ còn lại đến nay của ngữ hệ này thì đến 12 là chỉ ở Ethiopia. Điều đó cho thấy các ngôn ngữ Phi-Á đã phát sinh ở châu Phi, và chỉ một nhánh của ngữ hệ này đã bành trướng sang Cận Đông. Từ đó suy ra, rất có thể châu Phi mới chính là nơi đã khai sinh ngôn ngữ của các tác giả Cựu ước và Tân ước cũng như kinh Koran, những rường cột đạo đức của nền văn minh phương Tây.

Ngạc nhiên lớn thứ hai ở Hình 19.[2] là một chi tiết có vẻ nhỏ nhặt mà mới đây tôi đã nhắc tới song không chú thích gì thêm, rằng các nhóm dân tộc khác nhau thì có xu hướng nói những ngôn ngữ khác nhau. Trong số năm nhóm người của châu Phi - da đen, da trắng, Pygmy, Khoisan và Indonesia - chỉ có người Pygmy là không nói những ngôn ngữ khác biệt [với các ngôn ngữ khác]: mỗi bộ lạc Pygmy đều nói cùng một thứ tiếng với các nhóm da đen làm nghề nông láng giềng của họ. Tuy nhiên, nếu so sánh một thứ tiếng cụ thể mà người Pygmy sử dụng với cùng thứ tiếng đó mà người da đen sử dụng, ta sẽ thấy dị bản của người Pygmy thường có một số từ riêng biệt với các phát âm khác biệt.

Dĩ nhiên là thoạt kỳ thủy những dân tộc khác biệt đến như người Pygmy, sống ở một nơi khác biệt đến như vùng rừng mưa xích đạo châu Phi, ắt hẳn là phải đủ biệt lập để hình thành một ngữ hệ riêng biệt. Tuy nhiên, ngày nay các ngôn ngữ biệt lập đó [của người Pygmy] không còn nữa, và ta đã thấy ở Hình 19.[2] rằng dân số người Pygmy hiện nay phân bố hết sức manh mún. Như vậy, sự phân bố về địa lý kết hợp với đặc trưng về ngôn ngữ gợi ý rằng quê hương nguyên thủy của người Pygmy ngày xưa đã bị các nhà nông da đen xâm chiếm, những người Pygmy sống sót đã tiếp thu ngôn ngữ của các nhà nông da đen đó, còn ngôn ngữ nguyên thủy của họ chỉ còn để lại dấu vết ở một vài từ và một vài âm. Trước đây ta đã thấy rằng điều đó cũng đúng với những người Negrito ở Malaysia (người Semang) và người Negrito ở Philippines, những kẻ đã tiếp thu các ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo từ những người làm nghề nông [từ nơi khác đến] sống vây quanh họ.

Tương tự, sự phân bố manh mún của các ngôn ngữ Nilo-Sahara ở Hình 19.[2] gợi ý rằng nhiều người nói các ngôn ngữ đó đã bị những người nói các ngôn ngữ Phi-Á hoặc ngôn ngữ Niger-Congo [từ nơi khác tới] nhấn chìm. Nhưng sự phân bố các ngôn ngữ Khoisan còn minh chứng cho một trường hợp nhấn chìm còn bi kịch hơn thế nữa. Các ngôn ngữ này vốn nổi tiếng thế giới bởi một nét đặc trưng độc nhất vô nhị là dùng những tiếng “tách” làm phụ âm. (Nếu bạn từng bối rối khi gặp cái tên !Kung Bushman, xin thưa với bạn rằng dấu chấm than kia không phải để biểu thị hơi quá sớm một nỗi kinh ngạc; đó chẳng qua là cách để các nhà ngôn ngữ học biểu thị một tiếng tách mà thôi). Mọi ngôn ngữ Khoisan còn lại đến nay đều chỉ bó hẹp ở miền nam châu Phi, trừ hai ngoại lệ. Hai ngoại lệ đó là các ngôn ngữ Khoisan rất khác biệt, dày đặc những tiếng tách được gọi là tiếng Hadza và tiếng Sandawe, lạc lõng tận Tanzania cách các ngôn ngữ Khoisan gần nhất ở miền nam châu Phi đến hơn 1.000 dặm (1.600 km).

Ngoài ra, tiếng Xhosa và một vài ngôn ngữ Niger-Congo khác ở nam châu Phi cũng đầy rẫy những tiếng tách. Còn bất ngờ hơn nữa, những tiếng tách hoặc các từ Khoisan cũng xuất hiện ở hai ngôn ngữ Phi-Á được người da đen sử dụng ở Kenya, mà so với hai nhóm Hadza và Sandawe ở Tanzania thì lại còn xa các dân tộc Khoisan hiện nay hơn nữa. Tất cả những điều trên gợi ý rằng xưa kia các ngôn ngữ và dân tộc Khoisan từng trải rộng hơn nhiều về phía bắc so với vùng phân bố của họ ở nam châu Phi ngày nay, nhưng rồi đến một lúc thì chính họ, cũng như người Pygmy, bị người da đen [từ nơi khác tới] nhấn chìm, và sự hiện diện trước kia của họ đến nay chỉ còn lưu lại dấu vết trong ngôn ngữ mà thôi. Đó là một phần đóng góp vô song cho bằng chứng về ngôn ngữ, điều mà chúng ta khó lòng đoán được nếu chỉ nghiên cứu ngoại hình của những người đang sống ngày nay.

Phần đóng góp xuất sắc nhất của khoa ngôn ngữ học thì tôi để lại sau cùng. Nếu nhìn lại lần nữa Hình 19.[2], ta sẽ thấy rằng ngữ hệ Niger-Congo được phân bố khắp cả Tây Phi và hầu hết châu Phi hạ xích đạo, khiến dường như ta khó lòng biết được ngữ hệ này đã phát sinh tại khu vực cụ thể nào trong suốt vùng phân bố mênh mông đó. Tuy nhiên, Greenberg nhận ra rằng toàn bộ các ngôn ngữ Niger-Congo ở châu Phi hạ xích đạo đều thuộc một nhóm con duy nhất gọi là Bantu. Nhóm con này chiếm gần một nửa trong số 1.[032] ngôn ngữ Niger-Congo và trên một nửa (gần 200 triệu người) sử dụng ngữ hệ Niger-Congo. Nhưng toàn bộ 500 ngôn ngữ Bantu đó gần nhau đến nỗi người ta từng mô tả chúng một cách hài hước là 500 phương ngữ của cùng một thứ tiếng duy nhất.

Gộp chung lại, các ngôn ngữ Bantu chỉ là một ngữ hệ con duy nhất ở nằm bậc thấp trong ngữ hệ Niger-Congo. Hầu hết 176 ngôn ngữ khác trong ngữ hệ này phân bố dày đặc ở Tây Phi, một phần nhỏ của toàn bộ dãy Niger-Congo. Đặc biệt, các ngôn ngữ Bantu khác biệt nhất, cùng các ngôn ngữ Niger-Congo không thuộc nhóm Bantu mà có quan hệ gần gũi nhất với ngôn ngữ Bantu, đều bị lèn chặt vào một khu vực bé tí của Cameroon và vùng lân cận là phía đông Nigeria.

Rõ ràng là ngữ hệ Niger-Congo đã phát sinh ở Tây Phi; nhánh Bantu của nó phát sinh ở cực phía đông của dãy đó, tại Cameroon và Nigeria; và sau đó nhánh Bantu bành trướng ra khỏi quê nhà nguyên thủy đó để lan ra khắp châu Phi hạ xích đạo. Sự bành trướng đó ắt đã diễn ra từ lâu, để ngôn ngữ Bantu thủy tổ có đủ thì giờ tách ra thành 500 ngôn ngữ con, song cũng không quá lâu nên tất cả các ngôn ngữ con đó vẫn còn rất giống nhau [chứ chưa có đủ thời gian tiến hóa để trở nên khác biệt nhau, ND]. Bởi tất cả những người nói các ngôn ngữ Niger-Congo khác cũng như ngôn ngữ Bantu đều là người da đen, nên ta không thể suy ra ai đã di cư theo hướng nào nếu chỉ căn cứ vào bằng chứng nhân chủng học.

Để làm sáng tỏ kiểu lập luận dựa trên ngôn ngữ học này, hãy cho tôi đưa ra một ví dụ quen thuộc: nguồn gốc địa lý của bản thân tiếng Anh. Ngày nay, đại đa số những người mà tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất [tiếng mẹ đẻ] sinh sống tại Bắc Mỹ, những người khác thì sống rải rác trên khắp thế giới, tại Anh, Australia và các nước khác. Mỗi nước trong số này đều có phương ngữ tiếng Anh riêng của mình. Nếu như chẳng biết gì về sự phân bố ngôn ngữ và lịch sử thì ắt hẳn ta đã phải đoán rằng tiếng Anh phát xuất từ Bắc Mỹ rồi được các thực dân Bắc Mỹ mang qua đại dương để đến Anh và Australia.

Thế nhưng toàn bộ các phương ngữ khác nhau đó của tiếng Anh cũng chỉ là một nhóm con có thứ bậc thấp trong ngữ hệ German. Tất cả các ngữ hệ con khác - các ngôn ngữ Scandinavia, tiếng Đức và tiếng Hà Lan - đều chỉ bó hẹp ở vùng tây bắc châu Âu. Đặc biệt, tiếng Frisia, ngôn ngữ German gần gũi với tiếng Anh nhất, chỉ gói gọn trong một vùng duyên hải bé tí của Hà Lan và miền tây nước Đức. Từ đó một nhà ngôn ngữ học có thể suy diễn một cách chí lý rằng tiếng Anh đã phát sinh từ vùng duyên hải tây bắc châu Âu và từ đó bành trướng ra toàn thế giới. Trên thực tế, nhờ lịch sử thành văn mà ta biết rằng tiếng Anh đã được mang từ tây bắc châu Âu sang đảo Anh bởi những người Anglo-Saxon xâm lược hòn đảo này vào thế kỷ V và VI.

Về cơ bản, cũng bằng cách lập luận như vậy ta có thể suy ra rằng gần 200 triệu người Bantu mà ngày nay sinh sống ở hầu khắp châu Phi vốn dĩ phát sinh từ Cameroon và Nigeria. Cùng với nguồn gốc Bắc Phi của người Semite và nguồn gốc châu Á của người Madagascar, đây là thêm một kết luận nữa mà chúng ta không thể rút ra nếu không có bằng chứng về ngôn ngữ.

Từ sự phân bố nhóm ngôn ngữ Khoisan và từ chỗ người Pygmy không có những ngôn ngữ riêng biệt của mình, chúng ta đã diễn dịch rằng các dân tộc Pygmy và Khoisan trước kia từng phân bố rộng hơn, cho đến khi họ bị người da đen [từ nơi khác đến] nhấn chìm. (Tôi dùng từ “nhấn chìm” như một từ có tính khái quát, trung tính, dù trên thực tế những người da đen kia đã chinh phục, đánh đuổi, hợp huyết, giết hại hay truyền bệnh cho các dân tộc này). Giờ thì ta đã thấy - từ sự phân bố các ngôn ngữ Niger-Congo - rằng những người da đen tiến hành cuộc nhấn chìm này là người Bantu. Bằng chứng về ngoại hình và bằng chứng về ngôn ngữ cho đến giờ đã giúp ta suy ra được những cuộc nhấn chìm đó vào thời tiền sử, nhưng nó vẫn chưa giải được cho ta những bí ẩn hàm chứa trong những cuộc nhấn chìm đó. Chỉ có bằng chứng mà tôi sẽ trình bày tiếp theo đây mới có thể giúp ta giải đáp thêm hai câu hỏi nữa: Người Bantu đã có những ưu thế nào để có thể chiếm chỗ người Pygmy và người Khoisan? Người Bantu đã đặt chân đến quê hương bản quán của người Pygmy và người Khoisan vào thời gian nào?

Để tiếp cận câu hỏi về những ưu thế của người Bantu, ta hãy xét loại bằng chứng còn lại từ hiện thực sống động, ấy là bằng chứng rút ra từ các loài cây trồng và vật nuôi được thuần hóa. Như ta đã thấy trong các chương trước, bằng chứng này quan trọng là bởi sản xuất lương thực dẫn đến mật độ dân số cao, vi trùng, công nghệ, tổ chức chính trị và các thành tố khác tạo nên sức mạnh. Do đó, những dân tộc nào mà do ngẫu nhiên về vị trí địa lý đã thừa hưởng được hoặc phát triển được nền sản xuất lương thực thì đều trở nên có khả năng nhấn chìm về mặt địa lý các dân tộc khác kém may mắn hơn.

Khi người châu Âu đến được châu Phi hạ Sahara vào thế kỷ XV, người châu Phi đang trồng năm bộ cây trồng (Hình 19.[3]), mỗi bộ trong đó đều có ý nghĩa rất lớn đối với lịch sử châu Phi. Bộ đầu tiên chỉ được trồng ở Bắc Phi, trải dài đến các vùng cao nguyên Ethiopia. Bắc Phi có khí hậu Địa Trung Hải mà đặc trưng là lượng mưa tập trung vào các tháng mùa đông. (Miền nam California cũng có khí hậu Địa Trung Hải, chính vì vậy mà tầng hầm của nhà tôi cũng như của hàng triệu người dân California khác hay bị ngập vào mùa đông nhưng lại khô hạn hết thuốc chữa trong mùa hè). Vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, nơi nghề nông phát sinh đầu tiên, cũng có mẫu hình khí hậu Địa Trung Hải mưa mùa đông như vậy.

Từ đó suy ra, các cây trồng nguyên thủy của Bắc Phi đều là những loài cây đã thích nghi với việc nảy mầm và mọc trong mùa đông nhiều mưa, và qua bằng chứng khảo cổ đến nay ta cũng biết rằng các cây này đã được thuần hóa lần đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu khoảng 10.000 năm trước. Các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu đó bành trướng đến các vùng lân cận có khí hậu tương tự ở Bắc Phi và làm cơ sở cho sự phát sinh nền văn minh Ai Cập. Đó là các loài cây quen thuộc như lúa, lúa mì, đỗ, đậu và nho. Chúng quen thuộc với chúng ta vì chúng đã bành trướng đến những vùng lân cận có khí hậu tương tự ở châu Âu rồi từ đó sang châu Mỹ và Australia mà trở thành một số trong những loài cây trồng chính của nông nghiệp vùng ôn đới trên toàn thế giới.

57

Hình 19.[3]. Khu vực khởi nguyên những cây trồng được canh tác từ xa xưa ở châu Phi (nghĩa là được trồng từ trước khi có các cây trồng do thực dân châu Âu đưa vào) với hai loài cây làm ví dụ cho từng khu vực.

Nếu du hành về phía nam ở châu Phi ngang qua sa mạc Sahara và lại gặp mưa ở vùng Sahel nằm ngay ở phía nam sa mạc, ta sẽ nhận ra rằng mưa ở vùng Sahel rơi vào mùa hè chứ không phải vào mùa đông. Cho dù nếu bằng cách nào đó các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã thích nghi với mưa vào mùa đông vượt qua được Sahara đi nữa, chúng vẫn sẽ khó lòng mọc được ở vùng Sahel vốn chỉ mưa vào mùa hè. Thay vì vậy, ta gặp hai bộ cây trồng châu Phi khác mà các loài cây dại tổ tiên của chúng mọc ngay ở phía nam Sahara và đã thích nghi với mưa vào mùa hè cũng như với độ dài ngày ít thay đổi theo mùa hơn. Một bộ bao gồm những loài cây mà tổ tiên vốn đã phân bố rộng từ đông sang tây khắp vùng Sahel và có lẽ đã được thuần hóa ở đó. Trong số các loài này đáng chú ý có cây lúa miến và kê ngọc trai vốn đã trở thành các cây ngũ cốc chính ở hầu hết châu Phi hạ Sahara. Lúa miến đã tỏ ra là cây trồng có giá trị đến nỗi ngày nay được trồng ở các khu vực có khí hậu nóng, khô ở tất cả các lục địa trong đó có Hoa Kỳ.

Bộ cây trồng kia gồm các loài cây mà tổ tiên hoang dã mọc ở Ethiopia và có lẽ đã được thuần hóa ở các vùng cao nguyên tại đó. Hầu hết các loài này ngày nay vẫn chỉ được trồng chủ yếu ở Ethiopia và người Mỹ không biết tới, gồm cây chat chứa chất ma túy, cây ensere giống như cây chuối, cây noog có nhiều dầu, cây kê ngón tay (finger millet) dùng để làm loại bia đặc sản của Ethiopia, và cây ngũ cốc có hạt nhỏ xíu gọi là teff mà người Ethiopia dùng để làm loại bánh mì quốc hồn quốc túy. Song bất cứ độc giả nào nghiện cà phê đều có thể cám ơn các nhà nông Ethiopia cổ đại vì họ đã thuần hóa cây cà phê. Đầu tiên cà phê chỉ được trồng ở Ethiopia, nhưng rồi nó được ưa chuộng ở Arập và từ đó là trên toàn thế giới, và ngày nay cà phê là loài cây chính hỗ trợ nền kinh tế của những nước nằm rất xa Ethiopia như Brazil và Papua New Guinea.

Bộ cây trồng gần cuối của châu Phi phát sinh từ những tổ tiên hoang dã ở vùng khí hậu ẩm ướt của Tây Phi. Một số loài này, trong đó có gạo châu Phi, gần như vẫn chỉ giới hạn ở vùng đó; những loài khác chẳng hạn như khoai lang châu Phi thì bành trướng ra khắp các khu vực khác của châu Phi hạ Sahara; và có hai loài - cây cọ dầu và cây cho hạt kola - thì sang cả các lục địa khác. Người Tây Phi đã biết nhai caffeine chứa hạt kola như một thứ ma túy từ lâu trước khi công ty Coca-Cola dụ được người Mỹ và sau đó là toàn thế giới uống một thức uống mà thoạt đầu có pha tinh chất chiết xuất từ hạt này.

Bộ cây trồng châu Phi cuối cùng cũng được làm cho thích nghi với khí hậu ẩm ướt song lại chính là điều ngạc nhiên lớn nhất ở Hình 19.[3]. Cây chuối, khoai lang châu Phi và khoai sọ đã từng phổ biến khắp châu Phi hạ Sahara vào thế kỷ XV, và gạo châu Á đã đứng chân vững ở vùng duyên hải Đông Phi. Nhưng các cây trồng này đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Sự hiện diện của chúng ở châu Phi hẳn sẽ làm ta kinh ngạc nếu như sự hiện diện của người Indonesia ở Madagascar không cảnh báo trước cho ta rằng châu Á đã có liên hệ với châu Phi từ thời tiền sử. Phải chăng những người Nam Đảo di cư từ Borneo tới đã đổ bộ lên vùng duyên hải Đông Phi, mang các cây trồng của mình đến tặng cho các nhà nông châu Phi khiến những người này rất đỗi biết ơn, sau đó tuyển [một số] ngư dân châu Phi rồi dong buồm vào lúc rạng đông để đến chinh phục Madagascar mà không để lại dấu vết Nam Đảo nào ở châu Phi?

Điều ngạc nhiên còn lại là tất cả các cây trồng bản địa của châu Phi - từ vùng Sahel, Ethiopia cho đến Tây Phi - đều phát sinh từ phía bắc xích đạo. Không một loài nào phát sinh ở phía nam xích đạo cả. Điều này gợi ý cho chúng ta tại sao những người nói các ngôn ngữ Niger-Congo - vốn xuất thân từ phía bắc xích đạo - đã có thể chiếm chỗ được người Pygmy ở ngay xích đạo và người Khoisan ở phía nam xích đạo. Người Khoisan và người Pygmy đã không phát triển được nghề nông chẳng phải vì họ là những nhà nông kém cỏi, mà đơn giản là do các loài cây dại ở miền nam châu Phi hầu hết không thích hợp để thuần hóa. Về sau cả người Bantu lẫn người da trắng, dẫu thừa hưởng hàng ngàn năm kinh nghiệm nghề nông, cũng không thể nào phát triển các loài cây bản địa ở nam châu Phi thành cây trồng được cả.

Về các loài thú được thuần hóa của châu Phi, ta lại càng có thể tóm lược nhanh chóng hơn cả các loài cây bởi thú có quá ít loài. Con vật duy nhất mà ta biết chắc là đã được thuần hóa ở châu Phi - bởi tổ tiên hoang dã của nó chỉ sống ở đó - là một con chim giống như gà tây được gọi là gà guinea. Tổ tiên hoang dã của các loài thuần hóa như bò, lừa, lợn, chó và mèo đều là loài bản địa châu Phi song cũng là loài bản địa ở Tây Nam Á, nên ta không thể biết chắc chúng đã được thuần hóa đầu tiên ở đâu, mặc dù các niên đại xưa nhất mà ta biết đến nay về lừa và mèo nhà được thuần hóa là ở Ai Cập. Bằng chứng gần đây gợi ý rằng bò có thể đã được thuần hóa độc lập ở Bắc Phi, Tây Nam Á và Ấn Độ, và cả ba loài bò đó đã góp phần vào các chủng loại bò ở châu Phi ngày nay. Nếu không thì ắt hẳn tất cả loài gia súc còn lại ở châu Phi đều đã được thuần hóa ở nơi khác rồi mới được du nhập vào châu Phi sau khi đã thuần hóa, bởi các tổ tiên hoang dã của chúng đều chỉ có ở Âu-Á. Cừu và dê của châu Phi đều được thuần hóa ở Tây Nam Á, gà châu Phi thì thuần hóa ở Đông Nam Á, ngựa châu Phi được thuần hóa ở miền nam Nga, còn lạc đà châu Phi thì có lẽ được thuần hóa ở Arập.

Một bất ngờ nữa trong cái danh sách các loài vật nuôi thuần hóa của châu Phi, ấy là lại thêm một thứ không có nữa: danh sách này không bao gồm bất cứ một loài nào trong số các loài hữu nhũ hoang dã lớn mà nhờ chúng châu Phi mới nổi tiếng và ở lục địa này thì có hằng hà sa số: ngựa vằn và bò rừng, tê giác và hà mã, hươu cao cổ và trâu rừng. Như ta sẽ thấy, cái thực tế này mang lại lắm hậu quả đối với lịch sử châu Phi chẳng khác nào việc không có một loài cây trồng bản địa nào ở châu Phi hạ xích đạo.

Chuyến du lịch chớp nhoáng vòng quanh các loài cây trồng và vật nuôi chính của châu Phi là đủ để cho thấy một số loài trong đó đã chu du một quãng đường dài từ điểm phát nguyên của nó, đến các nơi khác ở châu Phi cũng như ra khỏi châu Phi. Ở châu Phi cũng như ở mọi nơi khác trên thế giới, một số dân tộc đã “gặp may” hơn các dân tộc khác, nhờ được thừa hưởng từ môi trường nơi họ sống những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa được. Cũng tương tự như trường hợp thực dân Anh sống bằng lúa mì và [sữa, thịt] bò đã nhấn chìm những người săn bắt hái lượm Australia bản địa, ta buộc phải ngờ rằng một số dân tộc châu Phi “may mắn” đã tận dụng ưu thế của mình để nhấn chìm các láng giềng châu Phi của họ. Giờ thì rốt cuộc chúng ta hãy quay lại với tư liệu khảo cổ để tìm xem ai đã nhấn chìm ai và vào thời gian nào.

Khoa khảo cổ có thể cho ta biết những gì về những niên đại và địa điểm chính xác mà nghề nông và nghề chăn nuôi đã phát sinh tại châu Phi? Ta có thể lượng thứ cho độc giả nào quá đắm mình trong lịch sử văn minh phương Tây mà cứ đinh ninh rằng nền sản xuất lương thực châu Phi đã khởi đầu từ thung lũng sông Nile của Ai Cập, xứ sở của các vị pharaon và các kim tự tháp. Nói gì thì nói, cho đến khoảng 3.000 năm trCN, Ai Cập chắc chắn vẫn là nơi có xã hội phức tạp nhất ở châu Phi và là một trong những trung tâm chữ viết đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, bằng chứng khảo cổ xưa nhất về sản xuất lương thực ở châu Phi rất có thể lại không phải ở Ai Cập mà từ sa mạc Sahara.

Dĩ nhiên là ngày nay hầu hết Sahara khô hạn đến nỗi ngay cỏ cũng không mọc được. Nhưng trong khoảng từ 9.000 đến 4.000 năm trCN Sahara từng ẩm ướt hơn, có nhiều hồ và lắm thú hoang. Vào thời đó cư dân Sahara đã bắt đầu nuôi bò và làm đồ gốm, sau đó nuôi cừu và dê, thậm chí có thể đã bắt đầu thuần hóa cây lúa miến và kê. Nghề chăn nuôi ở Sahara ra đời sớm hơn cả niên đại xưa nhất ta đã biết (5.200 năm trCN) khi sản xuất lương thực xuất hiện ở Ai Cập, gồm cả cây trồng mùa đông lẫn gia súc của vùng Tây Nam Á. Sản xuất lương thực cũng phát sinh ở Tây Á và Ethiopia, và vào khoảng 2.500 năm trCN những người chăn nuôi bò đã vượt qua ranh giới ngày nay ngăn giữa Ethiopia với miền bắc Kenya.

Trong khi các bằng chứng đó đều dựa trên bằng chứng khảo cổ, cũng có một phương pháp độc lập để tính niên đại xuất hiện các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa, ấy là bằng cách so sánh những từ dùng để gọi chúng trong các ngôn ngữ ngày nay. So sánh từ dùng để gọi các loài cây trong các ngôn ngữ Nigeria thuộc ngữ hệ Niger-Congo, ta thấy các từ này chia làm ba nhóm. Trước hết là các trường hợp khi từ để gọi một cây cụ thể trong tất cả các ngôn ngữ miền nam Nigeria này rất giống nhau. Các cây trồng đó rõ ràng là những loài cây như khoai lang Tây Phi, cọ dầu và hạt kola, nghĩa là các loài cây mà dựa theo bằng chứng thực vật học và các bằng chứng khác người ta vốn vẫn tin là cây bản địa Tây Phi và được thuần hóa đầu tiên ở đó. Bởi đó là các cây trồng Tây Phi xưa nhất, cho nên mọi ngôn ngữ hiện đại ở Nigeria đều thừa hưởng những cái tên nguyên thủy được dùng để gọi chúng.

Kế đó là các cây trồng mà tên gọi chúng chỉ giống nhau trong phạm vi các ngôn ngữ thuộc cùng một nhóm nhỏ trong số các ngôn ngữ miền nam Nigeria đó. Đó là các cây trồng từng được cho là có nguồn gốc từ Indonesia, chẳng hạn chuối và khoai lang châu Á. Rõ ràng các cây trồng này chỉ đến được miền nam Nigeria sau khi các ngôn ngữ đã bắt đầu tách ra thành từng nhóm nhỏ, nên mỗi nhóm tự đặt ra hoặc tiếp thu những cái tên khác nhau cho cùng những loài cây trồng mới, trong khi [tên gọi nguyên thủy của chúng] thì chỉ các ngôn ngữ của riêng nhóm đó mới thừa hưởng đến nay mà thôi. Cuối cùng là các cây trồng mà tên gọi chúng hoàn toàn chẳng giống gì nhau giữa các nhóm ngôn ngữ, mà được du nhập theo những con đường trao đổi. Đó là các loài cây trồng của Tân Thế giới như ngô và lạc mà ta biết đã được du nhập vào châu Phi sau khi xuất hiện giao thông xuyên đại dương bằng tàu thủy (năm 1492) và phát tán từ đó trở đi dọc theo các con đường trao đổi, thường thì chúng mang những cái tên Bồ Đào Nha hoặc tên nước ngoài.

Như vậy, thậm chí dù không có chút bằng chứng nào về thực vật học hay khảo cổ mà chỉ có mỗi bằng chứng ngôn ngữ học, ta vẫn có thể suy ra rằng các cây trồng bản địa Tây Phi đã được thuần hóa đầu tiên ở đó, kế đến là các cây trồng Indonesia, cuối cùng là các cây trồng do người châu Âu du nhập vào. Sử gia Christopher Ehret của UCLA (Đại học California tại Los Angeles) đã áp dụng phương pháp ngôn ngữ học này để xác định xem các dân tộc thuộc từng ngữ hệ châu Phi đã bắt đầu sử dụng các loài cây trồng và vật nuôi theo trình tự nào. Bằng một phương pháp gọi là glottochronology (tạm dịch: biên niên ngôn ngữ học, ND), dựa trên những tính toán xem các từ thường có xu hướng thay đổi nhanh đến mức nào trong quá trình lịch sử, các nhà ngôn ngữ học so sánh thậm chí có thể dự tính được niên đại thuần hóa hoặc tiếp thu từng loại cây trồng.

Kết hợp bằng chứng khảo cổ trực tiếp về các cây trồng với bằng chứng ngôn ngữ học mang tính gián tiếp hơn, ta suy ra rằng các dân tộc từng thuần hóa lúa miến và kê ở Sahara hàng ngàn năm trước đã nói những ngôn ngữ vốn là thủy tổ của các ngôn ngữ Nilo-Sahara hiện đại. Tương tự, những người đầu tiên thuần hóa cây trồng ở vùng ẩm ướt Tây Phi đã nói những ngôn ngữ vốn là thủy tổ của các ngôn ngữ Niger-Congo hiện đại. Cuối cùng, những người nói các ngôn ngữ Phi-Á thủy tổ có thể đã tham gia thuần hóa các cây trồng bản địa Ethiopia, và chắc chắn chính họ đã đưa các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu đến khu vực Bắc Phi.

Như vậy, bằng chứng suy ra được từ tên gọi các cây trồng trong ngôn ngữ châu Phi hiện đại cho phép ta đoán được sự hiện hữu của ba ngôn ngữ từng được dùng ở châu Phi cách đây hàng ngàn năm: tiếng Nilo-Sahara cổ, tiếng Niger-Congo cổ và tiếng Phi-Á cổ. Ngoài ra, ta có thể đoán rằng cũng đã từng hiện hữu tiếng Khoisan cổ từ những bằng chứng ngôn ngữ học khác, mặc dù không phải thông qua tên các cây trồng (bởi người Khoisan cổ không thuần hóa một loài cây nào cả). Bởi châu Phi ngày nay có tới 1.500 ngôn ngữ, rõ ràng lục địa này đủ lớn để từng có không chỉ bốn ngôn ngữ thủy tổ đó vào thời điểm cách đây nhiều ngàn năm. Song tất cả các ngôn ngữ đó ắt hẳn đều đã biến mất - hoặc vì những người nói các ngôn ngữ đó vẫn còn sống nhưng đã đánh mất ngôn ngữ nguyên thủy của họ giống như người Pygmy, hoặc bởi bản thân những người đó đã biến mất.

Bốn ngữ hệ bản địa châu Phi (nghĩa là bốn ngữ hệ khác ngoài ngữ hệ Nam Đảo mới được du nhập về sau vào Madagascar) tồn tại được đến ngày nay chẳng phải vì tính ưu việt nội tại của các ngôn ngữ đó với tư cách phương tiện giao tiếp. Thay vì vậy, sở dĩ chúng tồn tại được chắc chắn là do sự tình cờ lịch sử: những người nói các ngôn ngữ Nilo-Sahara, Niger-Congo và Phi-Á thủy tổ kia đã tình cờ sống ở đúng nơi và đúng thời điểm để có được các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa cho phép họ nhân lên đông đúc và lấn chiếm đất đai của các dân tộc khác hoặc áp đặt ngôn ngữ của mình lên các dân tộc khác. Dăm ba người còn nói tiếng Khoisan ngày nay sở dĩ sống sót được chủ yếu là nhờ họ sống biệt lập ở những khu vực miền nam châu Phi không thích hợp với nghề nông của người Bantu.

Trước khi lần theo sự sống sót của người Khoisan sau làn sóng Bantu, ta hãy xem khoa khảo cổ nói gì với chúng ta về làn sóng di cư lớn thứ hai của châu Phi vào thời tiền sử - ấy là khi người Nam Đảo đến chiếm lĩnh đảo Madagascar. Các nhà khảo cổ học khi khảo sát Madagascar đã chứng minh được rằng người Nam Đảo đã đặt chân đến đây muộn nhất là trước năm 800, có thể là ngay từ năm 300. Ở đó người Nam Đảo đã gặp (sau đó thì hủy diệt) một thế giới xa lạ gồm những con vật lạ lùng đến nỗi cứ như từ hành tinh khác đến, bởi các con vật đó đã tiến hóa ở Madagascar trong suốt một thời gian cô lập rất dài. Đó là các loài chim voi khổng lồ, các loài linh trưởng gọi là lemur to như khỉ đột, hà mã tí hon. Di tích khảo cổ về những nơi định cư sớm nhất của con người ở Madagascar bao gồm các công cụ bằng sắt, gia súc và cây trồng, vậy những người đến định cư không chỉ là một dúm ngư dân đi trên một chiếc thuyền bị bão đánh dạt vào đây, mà họ đã đến như cả một đoàn thám hiểm đủ lề đủ bộ. Cuộc thám hiểm thời tiền sử xa những 4.000 dặm (6.400 km, ND) đó đã diễn ra như thế nào?

Có một dấu vết trong một cuốn sách cổ dẫn đường cho thủy thủ, ấy là cuốn Periplus ở vùng biển Erythrea (Periplus of the Erythrean Sea) do một nhà buôn vô danh sống ở Ai Cập viết vào khoảng năm 100. Nhà buôn này mô tả rằng đã có một nền thương mại biển rất ư thịnh vượng nối giữa Ấn Độ và Ai Cập với vùng duyên hải Đông Phi. Với sự bành trướng đạo Hồi từ sau năm 800, nền thương mại Ấn Độ dương trở nên có nhiều cứ liệu về khảo cổ nhờ số lượng lớn các sản phẩm từ Trung Đông (đôi khi của cả Trung Quốc!) như đồ gốm, thủy tinh và đồ sứ ở các khu định cư miền duyên hải Đông Phi. Các nhà buôn thường đợi khi gió thuận để băng qua Ấn Độ dương mà đi thẳng từ Đông Phi đến Ấn Độ hay ngược lại. Khi nhà hàng hải Bồ Đào Nha Vasco de Gama trở thành người châu Âu đầu tiên dong buồm vòng quanh mũi cực nam châu Phi mà đến được bờ biển Kenya vào năm 1498, ông đã gặp những khu định cư của người Swahili và chọn ra từ đó một hoa tiêu dẫn đường cho ông đi thẳng từ đó sang Ấn Độ.

Nhưng còn có một nền thương mại đường biển nhộn nhịp không kém từ Ấn Độ về phía đông, ấy là giữa Ấn Độ và Indonesia. Có lẽ những người Nam Đảo di cư đến Madagascar đã đi từ Indonesia đến Ấn Độ theo con đường thương mại phía đông đó, sau đấy thì tiếp tục xuôi con đường thương mại phía tây mà đến Đông Phi ở đó họ hợp nhất với người Đông Phi và khám phá Madagascar. Sự hợp nhất đó giữa người Nam Đảo với người Đông Phi vẫn tồn tại đến ngày nay trong ngôn ngữ của Madagascar, ấy là một ngôn ngữ về cơ bản là Nam Đảo song có những từ vay mượn từ ngôn ngữ Bantu vùng duyên hải Kenya. Nhưng không có sự vay mượn tương ứng các từ Nam Đảo trong ngôn ngữ Kenya, và các dấu vết khác của người Nam Đảo cũng rất mờ nhạt nếu đi sâu vào nội địa Đông Phi: có chăng chỉ là những nhạc cụ châu Phi mà nguồn gốc có thể từ Indonesia (mộc cầm (xylophone) và đàn tam thập lục) và - dĩ nhiên - các loài cây trồng Nam Đảo mà về sau trở nên rất quan trọng đối với nghề nông ở châu Phi. Từ đó ta phải tự hỏi liệu có phải người Nam Đảo, thay vì đi theo hải trình từ Ấn Độ và Đông Phi đến Madagascar vốn dễ hơn, vì lý do nào đó rất ư khó hiểu đã dong buồm băng qua Ấn Độ dương mà đến thẳng Madagascar, rồi chỉ sau đó mới nhập vào những con đường thương mại Đông Phi hay không. Vậy nên sự kiện lạ lùng nhất về sự phân bố loài người ở châu Phi đến nay vẫn là điều bí ẩn.

Ngành khảo cổ có thể cho ta biết những gì về cuộc di dân lớn khác trong thời tiền sử châu Phi - cuộc bành trướng của người Bantu? Qua bằng chứng về bản thân các dân tộc và bằng chứng về ngôn ngữ của các dân tộc đó, chúng ta đã thấy châu Phi hạ Sahara không phải bao giờ cũng là lục địa đen như ta nghĩ ngày nay. Thay vì vậy, bằng chứng này gợi ý rằng đã có thời người Pygmy phổ biến khắp cả vùng rừng mưa Trung Phi, trong khi người Khoisan đã từng sinh sống ở khắp các phần khô hạn hơn của châu Phi hạ xích đạo. Liệu các giả thuyết đó ngành khảo cổ có thể kiểm chứng được không?

Trong trường hợp người Pygmy, câu trả lời là “chưa”, đơn giản vì các nhà khảo cổ chưa phát hiện được xương người cổ đại ở vùng rừng mưa Trung Phi. Còn với người Khoisan, câu trả lời là “có”. Ở Zambia, về phía bắc vùng phân bố của người Khoisan ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm được sọ của những người có lẽ giống người Khoisan hiện đại, cũng như các công cụ bằng đá giống những công cụ mà người Khoisan vẫn đang còn chế tác ở miền nam châu Phi vào thời điểm người châu Âu đến.

Còn về việc người Bantu đã đến chiếm chỗ những người Bắc Khoisan đó như thế nào, bằng chứng khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học gợi ý rằng sự bành trướng của các nhà nông Bantu cổ đại từ vùng đồng cỏ nội địa Tây Phi về phía nam đến các vùng rừng duyên hải ẩm ướt hơn có thể đã bắt đầu ngay từ 3.000 năm trCN (xem Hình 19.[4]). Các từ vẫn còn phổ biến trong mọi ngôn ngữ Bantu cho thấy rằng ngay từ khi đó người Bantu đã nuôi gia súc và trồng các cây thuộc vùng khí hậu ẩm như khoai sọ, nhưng họ vẫn chưa có kim loại và vẫn còn sống phần lớn dựa vào câu cá, săn bắt và hái lượm. Thậm chí gia súc họ nuôi còn chết vì bệnh do ruồi tsetse trong rừng gây ra. Khi họ bành trướng vào vùng rừng nhiệt đới của Lòng chảo Congo, phát hoang làm vườn và tăng dần về dân số, họ bắt đầu nhấn chìm những người săn bắt hái lượm Pygmy và dồn những người Pygmy đó vào rừng.

Chẳng bao lâu sau 1.000 năm trcCN người Bantu đã từ rìa phía đông vùng rừng tiến ra vùng đất quang hơn là thung lũng Rift và Hồ Lớn của Đông Phi. Ở đây họ gặp một quần thể hỗn hợp gồm những người Phi-Á và người Nilo-Sahara trồng trọt và chăn nuôi trồng kê, lúa miến và nuôi gia súc ở các khu vực khô ráo hơn, cùng với những người săn bắt hái lượm Khoisan. Nhờ các cây trồng có nguồn gốc từ vùng khí hậu ẩm thừa hưởng được từ quê nhà Tây Phi, người Bantu có thể trồng trọt ở những khu vực ẩm ướt của Đông Phi vốn không thích hợp với tất cả những người đã sinh sống tại vùng này trước đó. Người Bantu ngày một tiến xa hơn, cho đến những thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên thì rốt cuộc họ đã đặt chân đến vùng duyên hải Đông Phi.

Ở Đông Phi người Bantu bắt đầu tiếp thu cây kê và lúa miến (cùng với những cái tên của người Nilo-Sahara dùng để gọi các cây này) và tiếp thu trở lại các loài gia súc từ những người láng giềng Nilo-Sahara và Phi Á. Họ cũng tiếp thu được sắt, vốn chỉ mới bắt đầu luyện được ở vùng Sahel của châu Phi. Nguồn gốc nghề luyện sắt ở châu Phi hạ Sahara ngay sau 1.000 năm trcCN đến nay vẫn chưa rõ. Niên đại đó gần một cách đáng ngờ với niên đại khi kỹ thuật luyện thép của vùng Cận Đông được du nhập vào Carthage trên bờ biển Bắc Phi. Vì vậy các sử gia thường giả định rằng tri thức về nghề luyện kim đã được du nhập vào châu Phi hạ Sahara từ phương Bắc. Mặt khác, nghề luyện đồng đã có mặt tại vùng Sahara và Sahel của Tây Phi từ ít nhất 2.000 năm trCN. Đó có thể là tiền đề để châu Phi phát minh nghề luyện sắt một cách độc lập [so với vùng Cận Đông, ND]. Giả thuyết này càng được củng cố bởi thực tế là kỹ thuật luyện của các thợ rèn châu Phi hạ Sahara khác xa với kỹ thuật của các thợ rèn Địa Trung Hải đến mức người ta buộc phải nghĩ rằng hai nghề luyện thép này đã phát triển độc lập với nhau: các thợ rèn châu Phi đã phát hiện được cách tạo ra nhiệt độ cao trong các lò rèn miệt vườn của họ và sản xuất được thép sớm hơn trên 2.000 năm so với các lò rèn Bessemer của châu Âu và châu Mỹ thế kỷ XIX.

Đã có các cây trồng vùng khí hậu ẩm, nay lại có thêm công cụ sắt, người Bantu rốt cuộc đã tạo ra được một sức mạnh quân sự - công nghiệp tổng hợp mà không một dân tộc nào khác tại châu Phi hạ xích đạo thời đó có thể ngăn lại nổi. Ở Đông Phi họ vẫn còn phải cạnh tranh với đông đảo người Nilo-Sahara và Phi Á biết làm nông nghiệp. Song về phía nam thì trải dài một vùng đất rộng những 2.000 dặm (3.200 km, ND) song chỉ thưa thớt những người Khoisan săn bắt hái lượm, không có cả công cụ bằng kim loại lẫn cây trồng. Chỉ trong vòng vài thế kỷ, các nhà nông Bantu đã tiến băng băng đến tận Natal trên vùng duyên hải phía đông của khu vực nay là Cộng hòa Nam Phi, làm nên một trong những bước tiến thuộc địa hóa thần tốc nhất trong thời tiền sử.

58

Hình 19.[4]. Những con đường mà theo phỏng đoán đã đưa những người nói tiêsng Bantu từ một vùng đất (gọi là H) ở góc Tây Bắc khu vực Bantu ngày nay bành trướng sang phía Đông và xuống phía Nam châu Phi từ 3.000 năm TCN đến năm 500.

Cuộc bành trướng đó nhất định là nhanh chóng và dữ dội, song nếu ta hình dung toàn bộ người Khoisan đã bị những đoàn người Bantu đông kìn kìn kia dẫm bẹp thì sẽ là đơn giản hóa vấn đề. Trên thực tế mọi chuyện phức tạp hơn. Các dân tộc Khoisan ở miền nam châu Phi đã tiếp thu được cừu và bò từ vài thế kỷ trước khi người Bantu bành trướng xuống. Những người Bantu đầu tiên đi tiên phong có lẽ là ít về số lượng, họ chỉ chọn những cánh rừng ẩm thích hợp với các cây trồng quen với khí hậu ẩm của mình mà bỏ qua những khu vực khô ráo hơn, để lại các khu đó cho những nhóm người Khoisan chăn nuôi và săn bắt hái lượm. Quan hệ trao đổi và phối ngẫu chắc chắn đã hình thành giữa những người Khoisan đó với các nhà nông Bantu, mỗi bên chiếm lĩnh một môi trường khác nhau song vẫn ở gần nhau, cũng như người Pygmy săn bắt hái lượm và người Bantu làm nghề nông ở châu Phi nhiệt đới vẫn làm ngay cả ngày nay. Chỉ dần dần về sau, khi người Bantu ngày một đông hơn, lại tiếp thu được các loài gia súc và ngũ cốc của vùng khí hậu khô vào nền kinh tế của mình, họ mới tràn ra chiếm cứ cả những khu vực khô ráo mà ngày xưa họ đã bỏ qua. Nhưng kết quả sau cùng thì vẫn là một: các nhà nông Bantu chiếm cứ hầu hết lãnh thổ trước kia thuộc người Khoisan; di sản của các cư dân Khoisan trước kia chỉ còn lại mỗi những tiếng tách trong các ngôn ngữ phi Khoisan phân bố rải rác ngày nay, cũng như những chiếc sọ và công cụ bằng đá vẫn còn bị chôn vùi đợi các nhà khảo cổ đến khám phá; và ngoại hình giống Khoisan của một vài dân tộc Bantu ở miền nam châu Phi.

Điều gì đã thực sự xảy ra với tất cả những người Khoisan ngày nay đã biến mất kia? Ta không biết. Ta chỉ có thể nói chắc mỗi một điều rằng, ở những nơi người Khoisan từng sống có lẽ lâu đến hàng vạn năm, nay chỉ còn mỗi người Bantu. Ta chỉ có thể liều phỏng đoán, bằng phép loại suy từ những sự kiện có người tai nghe mắt thấy trong thời hiện đại khi những người da trắng mang vũ khí bằng thép xung đột với những người Australia bản địa và người Anh-điêng California vẫn còn dùng công cụ bằng đá. Ở đó ta biết rằng những người săn bắt hái lượm đã nhanh chóng bị loại trừ bằng nhiều cách kết hợp: họ bị đuổi đi nơi khác, đàn ông bị giết hay bị bắt làm nô lệ, đàn bà bị bắt làm vợ, và cả đàn ông lẫn đàn bà đều lây bệnh truyền nhiễm từ các nhà nông nọ. Một ví dụ tiêu biểu về các căn bệnh kia ở châu Phi là bệnh sốt rét lây truyền qua loài muỗi vốn sinh sản quanh làng mạc của các nhà nông, căn bệnh mà những người Bantu đến xâm lăng đã có kháng thể còn những người săn bắt hái lượm Khoisan thì có lẽ là không.

Tuy nhiên, Hình 19.[1] về sự phân bố chủng tộc ở châu Phi gần đây nhắc nhở ta rằng người Bantu đã không đè bẹp toàn bộ người Khoisan, bởi một số người Khoisan vẫn còn sống sót đến ngày nay ở một số khu vực tại nam châu Phi vốn không thích hợp cho nghề nông Bantu. Dân tộc Bantu tiến xa nhất về phía nam, người Xhosa, đã dừng chân nơi dòng Sông Cá trên vùng duyên hải phía nam của Nam Phi, cách Cape Town 500 dặm (800 km, ND) về phía đông. Chẳng phải vì bản thân vùng Mũi Hảo vọng quá khô không thể trồng trọt được, bởi ngày nay nó là vựa lúa của nước Nam Phi. Tuy nhiên, vùng Cape này có khí hậu Địa Trung Hải mưa nhiều vào mùa đông, không thích hợp cho các cây trồng Bantu vốn thích nghi với mưa vào mùa hè. Cho đến năm 1652, khi người Hà Lan đặt chân đến Cape Town mang theo các cây trồng có nguồn gốc Cận Đông thích nghi với mưa vào mùa đông, người Xhosa vẫn chưa bành trướng ra xa hơn dòng Sông Cá.

Cái chi tiết về địa lý cây trồng này thoạt trông chẳng có gì ghê gớm, nhưng nó lại có những hậu quả to lớn đối với chính trị ngày nay. Một hậu quả là, khi những người da trắng Nam Phi đã nhanh chóng giết chết hoặc xua đuổi sạch người Khoisan ra khỏi vùng Cape, người da trắng có thể tuyên bố một cách xác đáng rằng họ đã chiếm vùng Cape trước người Bantu nên họ có quyền ưu tiên chiếm vùng này. Chúng ta chẳng việc gì phải xem lời tuyên bố đó là nghiêm túc, bởi quyền ưu tiên của chính người Khoisan vùng Cape đã chẳng ngăn được người da trắng tước đoạt vùng đất này từ tay họ. Hậu quả nặng nề hơn nhiều, ấy là những người di cư Hà Lan vào năm 1652 chỉ phải giao chiến với một nhóm thưa thớt những người chăn nuôi Khoisan chứ không phải với những nhà nông Bantu đông đảo được trang bị vũ khí bằng thép. Khi người da trắng rốt cuộc cũng bành trướng về phía đông và chạm trán người Xhosa tại dòng Sông Cá vào năm 1702, một thời kỳ giao tranh khốc liệt bắt đầu. Thậm chí dù đến khi đó người châu Âu đã có thể xin quân chi viện từ căn cứ an toàn tại Cape thì cũng phải mất tới chín cuộc chiến tranh và 175 năm, với tốc độ tiến quân trung bình chưa tới một dặm (1,[6] km, ND) một năm, quân đội châu Âu mới khuất phục nổi người Xhosa. Nếu như dăm ba chiếc tàu Hà Lan đầu tiên kia ngay từ đầu đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt đến thế thì liệu người da trắng có đứng chân nổi trên Cape hay không [chứ chưa nói là tiến sâu hơn vào nội địa châu Phi, ND]?

Như vậy, những vấn đề của Nam Phi hiện đại bắt nguồn ít nhất một phần từ sự ngẫu nhiên địa lý. Ngẫu nhiên mà Cape, quê hương bản quán của Khoisan chỉ có một số ít loài cây dại có thể thuần hóa được; ngẫu nhiên mà người Bantu thừa hưởng được từ tổ tiên họ cách đấy 5.000 năm những cây trồng thích nghi với mưa vào mùa hè; và ngẫu nhiên mà người châu Âu đã thừa hưởng được từ tổ tiên họ trước đó gần 10.000 năm những cây trồng thích nghi với mưa vào mùa đông. Đúng như cái biển hiệu “Phố Goering” ở thủ đô nước Namibia vừa giành độc lập đã nhắc cho tôi nhớ, quá khứ của châu Âu đã in dấu ấn sâu đậm lên hiện tại của châu Phi.

Như vậy, người Bantu đã có khả năng nhấn chìm người Khoisan chứ không phải là ngược lại. Giờ ta hãy quay lại câu hỏi còn lại trong bài toán khó về thời tiền sử của châu Phi: tại sao chính người châu Âu là những kẻ đã thuộc địa hóa châu Phi hạ Sahara. Tại sao không phải ngược lại mới là điều đặc biệt kỳ lạ, bởi châu Phi đã từng là cái nôi tiến hóa duy nhất của loài người trong suốt hàng triệu năm, cũng như có thể là quê hương của người Homo sapiens hiện đại về mặt giải phẫu. Đã vậy, ngoài lợi thế xuất phát trước này, châu Phi còn có những lợi thế lớn khác là khí hậu và môi trường hết sức đa dạng cũng như sự đa dạng về nhân chủng cao nhất trên thế giới. Nếu có một người ngoài hành tinh nào đó đến thăm Trái đất vào khoảng 10.000 năm trước, chúng ta chẳng thể trách anh ta nếu anh ta tiên đoán rằng về sau châu Âu sẽ là một loạt những nhà nước dã man chịu sự thống trị của một đế quốc châu Phi hạ Sahara hùng mạnh.

Những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến kết quả cuộc xung đột giữa châu Phi với châu Âu thì đã rõ. Cũng như khi đụng độ với người châu Mỹ bản địa, người châu Âu khi đến châu Phi đã có sẵn ưu thế vượt trội về súng và các công nghệ khác, về chữ viết và số người biết chữ, và tổ chức chính trị cần thiết để duy trì những chương trình thám hiểm và chinh phục lâu dài. Các ưu thế đó thể hiện ra hầu như ngay từ lúc các cuộc đụng độ mở màn: chưa đầy bốn năm sau khi Vasco de Gama đặt chân lên bờ biển Đông Phi lần đầu tiên, ông ta đã quay lại mang theo một hạm đội tua tủa đại bác để đòi Kilwa, cảng quan trọng nhất của Đông Phi, nơi kiểm soát con đường mua bán vàng của Zimbabwe phải đầu hàng. Nhưng tại sao người châu Âu đã phát triển được tất cả ba ưu thế đó trước người châu Phi hạ Sahara?

Như ta đã bàn trước đây, về phương diện lịch sử cả ba ưu thế đó đã phát sinh từ sự phát triển nền sản xuất lương thực. Nhưng sản xuất lương thực ở châu Phi hạ Sahara thì đã khởi đầu muộn hơn (so với Âu-Á) do châu Phi có ít loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa hơn, do diện tích thích hợp cho sản xuất lương thực bản địa ở châu Phi nhỏ hẹp hơn nhiều, và do trục bắc-nam của châu Phi kìm hãm sự bành trướng nền sản xuất lương thực và các phát minh. Ta hãy xét xem các nhân tố đó đã vận hành như thế nào.

Trước hết, về phần vật nuôi thuần hóa, ta đã thấy rằng các loài vật nuôi ở châu Phi hạ Sahara đều có nguồn gốc từ Âu-Á, có chăng chỉ loại trừ một vài loài từ Bắc Phi. Hệ quả là, mãi nhiều ngàn năm sau khi các loài vật nuôi bắt đầu được các nền văn minh mới nổi ở Âu-Á sử dụng, chúng mới được du nhập vào châu Phi hạ Sahara. Điều đó thoạt nhìn có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi ta vẫn thường cho rằng châu Phi mới chính là lục địa có nhiều loài hữu nhũ lớn hoang dã nhất. Nhưng ở Chương 9 ta đã thấy rằng để có thể thuần hóa được thì một loài thú lớn phải đủ lành tính, phải chịu thuần phục con người, nuôi không quá tốn kém, phải miễn dịch với bệnh tật, phải lớn nhanh và sinh sản tốt trong điều kiện nuôi nhốt. Các loài bò, cừu, dê, ngựa và lợn bản địa ở Âu-Á nằm trong số ít những loài thú hoang dã lớn vượt qua được toàn bộ các bài sát hạch khắt khe kia. Các loài thú hoang dã lớn tương đương ở châu Phi - như trâu rừng châu Phi, ngựa vằn, lợn lòi, tê giác và hà mã - chưa bao giờ có thể thuần hóa được ngay cả trong thời đại gần đây.

Dĩ nhiên, đúng là một số loài thú lớn châu Phi đôi khi cũng đã được thuần dưỡng. Hannibal từng thuần dưỡng voi châu Phi trong cuộc chiến bất thành chống lại đế quốc La Mã, người Ai Cập cổ đại có thể đã từng thuần hóa ngựa vằn và những loài khác. Nhưng không một con vật được thuần dưỡng nào trong số đó đã thực sự thuần hóa nghĩa là được phối giống trong điều kiện nuôi nhốt và được điều chỉnh về đặc tính di truyền sao cho trở nên hữu ích hơn đối với con người. Giá như tê giác và hà mã của châu Phi đã được thuần hóa làm vật cưỡi thì chúng không chỉ có thể cung cấp thịt nuôi quân mà còn giúp [người châu Phi] có một lực lượng kỵ binh không gì cưỡng nổi đè bẹp kỵ binh cưỡi ngựa của người Âu. Khi đó quân đội Bantu cưỡi tê giác lẽ ra đã có thể lật nhào Đế quốc La Mã. Nhưng điều đó đã chẳng bao giờ xảy ra.

Một nhân tố thứ hai, song song với sự khác biệt về các loài vật nuôi tuy ở mức độ thấp hơn, là sự khác biệt về các loài cây dại có thể thuần hóa ở châu Phi hạ Sahara so với các loài ở lục địa Âu-Á. Vùng Sahel, Ethiopia và Tây Phi cũng có những loài cây trồng bản địa, song về chủng loại thì ít hơn nhiều so với ở Âu-Á. Bởi chủng loại các loài thích hợp để thuần hóa ít ỏi hơn, nên ngay cả nền nông nghiệp sớm nhất ở châu Phi cũng có thể đã ra đời muộn hơn ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đến hàng mấy ngàn năm.

Như vậy, nếu nói về sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi thì lợi thế xuất phát và sự đa dạng cao là nằm ở Âu-Á chứ không phải châu Phi. Nhân tố thứ ba là diện tích của châu Phi chỉ bằng khoảng một nửa diện tích Âu-Á. Hơn nữa, chỉ chừng một phần ba diện tích đó nằm trong vùng hạ Sahara ở phía bắc xích đạo nơi đã có các nhà nông và người chăn nuôi từ trước 1.000 năm trCN. Ngày nay, dân số toàn bộ châu Phi không quá 700 triệu người, trong khi Âu-Á tới 4 tỷ người. Nhưng, cứ cho là mọi nhân tố khác đều như nhau, song ở đâu đất rộng người đông hơn thì có nhiều xã hội và nhiều phát minh hơn, từ đó mà cũng phát triển với tốc độ nhanh hơn.

Nhân tố còn lại khiến tốc độ phát triển ở châu Phi thời hậu Pleitoxen chậm hơn so với ở Âu-Á là hướng trục của hai lục địa này khác hẳn nhau. Cũng như trục châu Mỹ, trục chính của châu Phi là bắc-nam, trong khi trục chính của Âu-Á là đông-tây (Hình 10.[1]). Khi di chuyển dọc theo trục bắc-nam, ta đi qua những vùng rất khác nhau về khí hậu, môi trường, lượng mưa và thời gian mưa, độ dài của ngày, cũng như các bệnh cây trồng và gia súc. Vì vậy mà các cây trồng và gia súc được thuần hóa hoặc tiếp thu ở một khu vực của châu Phi rất khó lòng di chuyển sang các khu vực khác. Ngược lại, cây trồng vật nuôi có thể di chuyển dễ dàng giữa các xã hội của Âu-Á dù cách xa nhau đến hàng ngàn dặm, miễn sao các xã hội đó ở trên cùng một vĩ độ và có khí hậu cũng như độ dài ngày tương tự nhau.

Tình trạng cây trồng vật nuôi ở châu Phi rất khó hoặc hoàn toàn không thể phát tán theo hướng trục bắc-nam đưa đến những hậu quả nghiêm trọng. Chẳng hạn, các cây trồng Địa Trung Hải mà về sau trở thành những cây trồng chính của Ai Cập đòi hỏi mưa vào mùa đông và độ dài ngày thay đổi theo mùa thì mới nảy mầm được. Các cây trồng đó không thể bành trướng xa hơn về phía nam Sudan bởi từ đó trở đi thì mưa chỉ có vào mùa hè và độ dài ngày không thay đổi theo mùa. Lúa và lúa miến của Ai Cập đã chẳng bao giờ đến được vùng khí hậu Địa Trung Hải ở Mũi Hảo vọng cho mãi tới khi thực dân châu Âu mang chúng đến vùng này vào năm 1652, còn người Khoisan thì đã chẳng bao giờ phát triển được nghề nông. Tương tự, các cây trồng vùng Sahel, thích nghi với mưa vào mùa hè và độ dài ngày ít hoặc không thay đổi theo mùa, từng được người Bantu mang đến miền nam châu Phi nhưng không thể mọc ở chính vùng Cape khiến cho bước tiến của nền nông nghiệp Bantu bị chựng lại. Chuối và các cây trồng châu Á nhiệt đới khác nằm trong số các cây trồng năng sản nhất của nông nghiệp nhiệt đới châu Phi, nhưng chúng đã không thể đến được châu Phi bằng đường bộ. Hình như mãi đến thiên niên kỷ đầu tiên của công nguyên chúng mới đến được châu Phi, rất lâu sau khi được thuần hóa ở châu Á, bởi chúng phải đợi đến khi có những con đường giao thương với quy mô lớn bằng thuyền băng qua Ấn Độ Dương.

Trục bắc-nam của châu Phi cũng kìm hãm nghiêm trọng sự bành trướng của gia súc. Loài ruồi tsetse của châu Phi xích đạo mang con trùng mũi khoan gây bệnh ngủ, các loài hữu nhũ hoang dã châu Phi thì đã có kháng thể chống bệnh này, song với các loài gia súc có nguồn gốc từ Âu-Á và Bắc Phi chưa có kháng thể thì căn bệnh này là đại họa. Những con bò mà người Bantu tiếp thu được từ vùng Sahel vốn không có ruồi tsetse đã không thể sống nổi khi người Bantu bành trướng về phía nam ngang qua rừng xích đạo. Mặc dù ngựa đã được du nhập vào Ai Cập vào khoảng 1.800 năm trCN và chẳng bao lâu sau làm thay đổi hình thái chiến tranh ở Bắc Phi, song mãi đến thiên niên kỷ thứ nhất CN chúng mới vượt qua được sa mạc Sahara để khiến hình thành các vương quốc Tây Phi sử dụng kỵ binh, còn xa hơn về phía nam - vùng có ruồi tsetse - thì ngựa đã chẳng bao giờ đến được. Tuy bò, cừu và dê đã đến được rìa phía bắc vùng Serengeti[2] vào thiên niên kỷ thứ ba trCN, nhưng phải mất hơn 2.000 năm sau các loài gia súc đó mới vượt qua được Serengeti để tiếp cận miền nam châu Phi.

Cũng chậm chạp như tốc độ bành trướng dọc theo trục bắc-nam của châu Phi là sự phát triển công nghệ của con người. Đồ gốm từng được ghi nhận ở Sudan và Sahara vào khoảng 8.000 năm trCN, nhưng mãi đến khoảng năm 1 CN chúng mới đến được vùng Cape ở cực nam châu Phi. Mặc dù chữ viết đã phát triển ở Ai Cập từ trước 3.000 năm trCN và bành trướng đến vương quốc Nubia ở Meroë dưới dạng bảng chữ cái, và mặc dù chữ viết dưới dạng chữ cái đã đến được Ethiopia (có thể là từ Arập), song chữ viết đã không phát sinh độc lập ở phần còn lại của châu Phi, thay vì vậy chữ viết ở vùng này được người Arập hoặc người châu Âu mang từ ngoài vào.

Nói ngắn gọn, việc châu Âu thuộc địa hóa châu Phi chẳng có liên quan gì đến sự khác biệt giữa bản thân các dân tộc châu Âu với bản thân các dân tộc châu Phi như các nhà phân biệt chủng tộc người da trắng thường nghĩ. Đúng hơn, nguyên nhân nằm ở sự ngẫu nhiên về địa lý và địa sinh học, cụ thể là sự khác nhau giữa hai lục địa về diện tích, trục chính, chủng loại cây dại và thú hoang. Có nghĩa là, xét đến cùng, quỹ đạo lịch sử của châu Phi và châu Âu sở dĩ khác nhau là do sự khác biệt về bất động sản giữa hai bên.

❀ ❀ ❀

[1] . Nguyên văn tiếng Đức Reichskommissar, có thể dịch ra tiếng Anh là Commissionary of the Empire hoặc Imperial Commissioner, một danh hiệu chính thức trao cho người đại diện toàn quyền của Đế chế thứ hai (1871-1918) và Đế chế thứ ba (tức thời kỳ Đức quốc xã) của Đức, nhằm thực hiện nhiều chức năng khác nhau, trong đó có quyền ủy trị đối với các thuộc địa của Đức. – ND.

[2] . Một vùng rộng lớn gồm đồng cỏ và rừng thưa ở Tanzania, Đông Phi. – ND.

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.