Trên bản đồ thế giới (Hình 10.[1]), hãy so sánh hình dạng và hướng của các lục địa. Bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt rành rành. Châu Mỹ trải dài trên khoảng cách theo hướng Bắc-Nam lớn hơn nhiều (9.000 dặm, hay 14.400 km) so với hướng Đông-Tây: chỗ rộng nhất cũng chỉ 3.000 dặm (4.800 km), còn chỗ hẹp nhất vỏn vẹn 40 dặm (64 km) ở Isthmus của Panama. Nghĩa là, trục cơ bản của châu Mỹ là Nam-Bắc. Điều đó cũng đúng với châu Phi, tuy ở mức độ thấp hơn. Ngược lại, trục cơ bản của Âu-Á là Đông-Tây. Những sự khác biệt về hướng trục đó của các lục địa liệu có tác động gì không đến lịch sử loài người? Nếu có, những tác động đó là gì?
Chương này sẽ đề cập đến cái mà tôi cho là những hệ quả lớn lao, đôi khi là bi thảm của những sự khác biệt đó. Hướng trục ảnh hưởng đến tốc độ bành trướng của các loài cây trồng và vật nuôi, và có thể cả chữ viết, bánh xe và các phát minh khác. Vì vậy, đặc tính cơ bản đó của địa lý đã góp phần quan trọng vào những diễn biến rất khác nhau mà người châu Mỹ bản địa, người châu Phi và người Âu-Á trải qua trong 500 năm trở lại đây.
Sự bành trướng của sản xuất lương thực là yếu tố quan trọng - không hề kém quan trọng so với nguồn gốc của nó mà ta đã xét trong những chương trước - trong việc giúp ta thấu hiểu những khác biệt về địa lý trong sự phát sinh súng, vi trùng và thép. Đó là bởi, như ta đã thấy ở Chương 5, có không quá chín khu vực trên trái đất - có khi chỉ có năm khu vực - là nơi sản xuất lương thực đã phát sinh độc lập. Thế nhưng, ngay từ thời tiền sử, sản xuất lương thực đã hình thành ở nhiều khu vực khác ngoài số ít vùng phát nguyên đó. Tất cả các khu vực khác kia đã chuyển sang sản xuất lương thực do hệ quả sự bành trướng cây trồng-vật nuôi cùng với tri thức về cách nuôi trồng chúng và, trong một số trường hợp, do hệ quả sự di cư của bản thân những người trồng trọt và chăn nuôi.

Hình 10.[1]: Trục chính của các lục địa
Những sự bành trướng chủ chốt của sản xuất lương thực là từ Tây Nam Á sang châu Âu, Ai Cập và Bắc Phi, Ethiopia, Trung Á và thung lũng Ấn hà; từ vùng Sahel và Tây Phi sang Đông Phi và Nam Phi; từ Trung Hoa đến Đông Nam Á nhiệt đới, quần đảo Philippines, Indonesia, Triều Tiên và Nhật Bản; và từ Trung Mỹ đến Bắc Mỹ. Ngoài ra, ở ngay các khu vực phát nguyên, sản xuất lương thực cũng được làm phong phú thêm nhờ những cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật du nhập được từ những khu vực phát nguyên khác.
Cũng như một số khu vực tỏ ra thích hợp cho sản xuất lương thực hơn nhiều so với những khu vực khác, việc sản xuất lương thực có thể bành trướng dễ dàng hay không cũng rất khác nhau tùy từng khu vực. Một số khu vực mà về sinh thái rất thích hợp cho sản xuất lương thực lại chẳng bao giờ đạt tới sản xuất lương thực vào thời tiền sử mặc dù có những khu vực sản xuất lương thực tiền sử nằm ngay bên cạnh. Ví dụ rành rành nhất cho việc này là trường hợp cả trồng trọt lẫn chăn nuôi đều không thể từ vùng Tây Nam Hoa Kỳ thâm nhập được tới California của người châu Mỹ bản địa, hoặc từ New Guinea và Indonesia không thâm nhập được tới Australia, hoặc trồng trọt từ tỉnh Natal của Nam Phi đã không thâm nhập được tới vùng Cape của Nam Phi. Ngay cả giữa các khu vực nơi sản xuất lương thực đã bành trướng vào thời tiền sử, tốc độ và niên đại bành trướng cũng khác nhau đáng kể. Ở một thái cực là sự bành trướng nhanh chóng theo trục Đông-Tây: từ Tây Nam Á về cả hướng tây đến châu Âu và Ai Cập lẫn hướng đông đến thung lũng Ấn hà (với tốc độ trung bình khoảng 1,[1] km mỗi năm); và từ Philippines về phía đông đến Polynesia (tốc độ 5,[12] km một năm). Ở cực đối lập là sự bành trướng chậm chạp theo các trục Bắc-Nam: chưa tới 0,[8] km một năm từ Mexico về phía bắc đến vùng Tây Nam Hoa Kỳ; dưới 0,[48] km một năm để ngô và đậu bành trướng từ Mexico lên phía bắc để trở thành loài cây năng sản tại miền đông Hoa Kỳ vào khoảng năm 900; và 0,[32] km một năm để lạc đà châu Mỹ bành trướng từ Peru lên hướng bắc tới Ecuador. Những khác biệt đó có thể còn lớn hơn nữa nếu ngô không được thuần hóa ở Mexico khá muộn - khoảng 3.500 năm trCN như tôi đã dè dặt cho là vậy đối với những tính toán này và như một số nhà khảo cổ hiện vẫn cho là vậy - mà được thuần hóa sớm hơn nhiều như hầu hết các nhà khảo cổ từng nghĩ (và hiện nay nhiều người vẫn nghĩ).
Cũng có những khác biệt lớn trong việc những cây trồng và vật nuôi [từ một khu vực phát nguyên] có bành trướng [sang một khu vực khác] một cách “trọn gói” hay không, qua đó ta có thể thấy những rào cản đối với việc bành trướng này là mạnh hay yếu. Chẳng hạn, trong khi hầu hết các cây trồng và vật nuôi sáng lập của Tây Nam Á có thể bành trướng về phía tây đến châu Âu và về phía đông đến thung lũng Ấn hà, thì không một loài gia súc hữu nhũ nào của vùng Andes (lạc đà châu Mỹ - llama và alpaca - và chuột ghinê) thâm nhập được đến Trung Mỹ vào thời tiền Colombo. Cớ sao lại không thâm nhập được? Cần phải có lời giải thích. Nói gì thì nói, Trung Mỹ đã phát triển được những quần thể dân cư làm nông và những xã hội phức tạp, nên chẳng thể nghi ngờ gì rằng các gia súc vùng Andes (giá như có) hẳn sẽ rất có giá trị vì chúng cung cấp thức ăn, sức vận chuyển và len. Ngoại trừ chó, Trung Mỹ rõ ràng thiếu những loài hữu nhũ bản địa khả dĩ đáp ứng các nhu cầu đó. Tuy nhiên một số cây trồng Nam Mỹ cũng đã thâm nhập được vùng Trung Mỹ như sắn, khoai tây và lạc. Những rào cản chọn lọc nào đã cho phép những cây trồng đó qua nhưng lại ngăn không cho lạc đà và chuột ghinê qua?
Có một cách diễn đạt tinh tế hơn về sự bành trướng dễ hay không tùy theo địa lý này, ấy là hiện tượng được gọi là “thuần hóa sẵn trước” (preemptive domestication). Hầu hết các loài cây dại, thủy tổ của cây trồng ngày nay đều thay đổi rất nhiều về di truyền từ khu vực này sang khu vực khác, bởi những đột biến khác nhau đã diễn ra trong các quần thể hoang dã tổ tiên ở từng khu vực khác nhau. Tương tự, về nguyên tắc, những thay đổi cần thiết để cây dại chuyển hóa thành cây trồng có thể thực hiện bằng những đột biến mới khác hay những quy trình chọn lọc khác để cho kết quả tương đương. Dưới ánh sáng này, ta có thể khảo sát một loài cây trồng phổ biến từ thời tiền sử để xem liệu có phải mọi giống của nó đều cho thấy cùng một thể đột biến hoang dã hay cùng một đột biến chuyển hóa (transforming mutation) hay không. Mục đích khảo sát là để hình dung liệu cây trồng đó đã được phát triển chỉ tại một khu vực hay được phát triển độc lập ở nhiều khu vực.
Nếu ta tiến hành phân tích di truyền như vậy đối với nhiều loài cây trồng cổ đại của Tân Thế giới, nhiều loài trong số đó sẽ cho thấy có hai thể đột biến hoang dã hoặc nhiều hơn, hay hai đột biến chuyển hóa hoặc nhiều hơn. Điều đó gợi ý rằng loài cây trồng đó đã được thuần hóa độc lập tại ít nhất hai khu vực khác nhau, và một số giống của cùng loài cây trồng đó thừa hưởng thể đột biến của một khu vực trong khi những giống khác cũng của cây trồng đó thừa hưởng thể đột biến của một khu vực khác. Trên cơ sở này, các nhà thực vật học kết luận rằng đậu lima (Phaseolus lunatus), đậu thường (Phaseolus vulgaris) và ớt thuộc nhóm Capsicum annuumchinense đều đã được thuần hóa ít nhất hai lần riêng biệt, một lần ở Trung Mỹ, một lần ở Nam Mỹ; và cây bí (Cucurbita pepo) và cây goosefoot cho hạt cũng đã được thuần hóa độc lập ít nhất hai lần, một lần ở Trung Mỹ, một lần ở miền đông Hoa Kỳ. Ngược lại, hầu hết cây trồng cổ đại Trung Mỹ chỉ gồm một trong các giống hoang dã hoặc một thể đột biến chuyển hóa, điều này gợi ý rằng tất cả các giống hiện đại của loại cây trồng đó đều xuất phát từ một lần thuần hóa duy nhất mà thôi.
Nếu cùng một loài cây đã được thuần hóa nhiều lần một cách độc lập ở nhiều khu vực khác nhau trên khắp vùng phân bố của nó ngoài hoang dã, chứ không chỉ thuần hóa một lần và chỉ ở một khu vực, việc đó hàm ẩn điều gì? Ta đã thấy, việc thuần hóa cây trồng bao gồm sự điều chỉnh các loài cây dại sao cho chúng trở nên có ích hơn cho con người nhờ hạt to hơn, vị bớt đắng hơn hoặc những phẩm chất khác. Vì lý do đó, nếu một loài cây trồng năng sản đã có sẵn rồi, chắc chắn các nhà nông sơ khai sẽ cứ vậy mà trồng nó chứ chẳng tội gì đi nhặt nhạnh những loài hoang dã tương tự nó song không hữu ích bằng rồi đem thuần hóa thêm lần nữa. Bằng chứng cho những trường hợp thuần hóa một lần duy nhất cho thấy rằng, khi một loài cây dại đã được thuần hóa, cây trồng đó sẽ bành trướng nhanh đến khác khu vực khác trên suốt vùng phân bố của nó ngoài hoang dã, nên các khu vực khác coi như đã có một cây trồng được “thuần hóa sẵn trước” và không cần phải thuần hóa lại loài cây đó một lần nữa. Tuy nhiên, khi tìm thấy bằng chứng rằng cùng một tổ tiên hoang dã được thuần hóa một cách độc lập ở nhiều khu vực, ta có thể suy ra rằng loài cây trồng đó bành trướng quá chậm nên không thể ngăn cản việc các khu vực khác thuần hóa nó thêm lần nữa. Do vậy, bằng chứng về việc các cây trồng Tây Nam Á hầu hết chỉ được thuần hóa một lần duy nhất song ở châu Mỹ thì lại được thuần hóa nhiều lần cũng có thể làm chứng cho một điều khó thấy hơn, đó là các cây trồng có thể bành trướng ra khỏi Tây Nam Á dễ dàng hơn so với ra khỏi Nam Mỹ hay Bắc Mỹ.
Sự bành trướng nhanh chóng của một cây trồng có thể ngăn chặn trước việc thuần hóa không chỉ tổ tiên hoang dã của cùng loài cây đó ở các nơi khác mà cả những loài cây dại có liên quan. Nếu ta đã trồng được những cây đậu tốt thì dĩ nhiên chẳng có lý do gì để lại thuần hóa từ đầu loài cây dại vốn là thủy tổ cũng của loài đậu đó thêm lần nữa, nhưng ngay cả với những loài đậu dại có họ hàng gần gũi mà các nhà nông thấy gần như tương đương với loài đậu đã thuần hóa thì việc thuần hóa chúng cũng vô ích nốt. Tất cả các cây trồng sáng lập của Tây Nam Á đã ngăn trước sự thuần hóa bất cứ loài cây nào có họ hàng gần gũi chúng trên toàn bộ phần phía tây lục địa Âu-Á. Ngược lại, Tân Thế giới lại có nhiều trường hợp những loài cây tương đương và có họ hàng gần nhưng dẫu sao vẫn khác nhau đã được thuần hóa ở cả Trung Mỹ lẫn Nam Mỹ. Chẳng hạn, 95% cây bông vải trồng trên thế giới ngày nay thuộc về loài bông Gossypium hirsutum vốn đã được thuần hóa vào thời tiền sử ở Trung Mỹ. Tuy nhiên, thay vì loài đó, các nhà nông Nam Mỹ thời tiền sử lại trồng loài bông Gossypium barbadense có họ hàng gần. Rõ ràng là, trên đường xâm nhập Nam Mỹ vào thời tiền sử, cây bông Trung Mỹ đã gặp nhiều khó khăn đến nỗi không kịp chặn trước việc thuần hóa một loài bông khác ở đây (và ngược lại). Ớt, bí, rau dền và cây chenopod là những cây trồng khác mà những loài khác chúng song có họ hàng với chúng đã được thuần hóa ở cả Trung Mỹ lẫn Nam Mỹ bởi không một loài nào có khả năng bành trướng đủ nhanh để chặn trước sự thuần hóa các loài kia.
Như vậy chúng ta có nhiều hiện tượng đồng quy về cùng một kết luận: rằng sản xuất lương thực đã bành trướng ra khỏi Tây Nam Á dễ dàng hơn là ra khỏi một trong hai vùng châu Mỹ, và có thể cũng dễ hơn so với ở châu Phi hạ Sahara. Các hiện tượng này bao gồm: sản xuất lương thực hoàn toàn không đến được những khu vực thích hợp về sinh thái; sản xuất lương thực bành trướng nhanh hay chậm và gồm những loài cây nào; và liệu những cây trồng được thuần hóa sớm nhất có bành trướng đủ nhanh để chặn trước sự thuần hóa lại cũng một loài đó hoặc những loài có họ gần ở các khu vực khác không. Châu Mỹ và châu Phi có cái gì để khiến sự bành trướng sản xuất lương thực đâm ra khó khăn hơn so với ở Âu-Á vậy?
Để giải đáp câu hỏi này, ta hãy bắt đầu bằng việc khảo sát sự bành trướng nhanh chóng của sản xuất lương thực ra khỏi vùng Tây Nam Á (Lưỡi liềm Phì nhiêu). Chẳng bao lâu sau khi sản xuất lương thực phát sinh ở đó, vào khoảng 8.000 năm trCN, một làn sóng ly tâm của nó xuất hiện ở những phần khác của lục địa Âu-Á và Bắc Phi ngày một xa hơn khỏi Lưỡi liềm Phì nhiêu, về phía tây và phía đông. Trên trang này tôi đã vẽ lại tấm bản đồ đáng chú ý (Hình 10.[2]) được lập bởi nhà di truyền học Daniel Zohary và nhà thực vật học Maria Hopf trong đó họ minh họa làn sóng đó đã đến Hy Lạp và đảo Síp cũng như tiểu lục địa Ấn Độ vào khoảng 6.500 năm trCN, Ai Cập không lâu sau 6.000 năm trCN, Trung Âu vào 5.400 năm trCN, miền nam Tây Ban Nha vào 5.200 năm trCN và đảo Anh vào khoảng 3.500 năm trCN. Trong mỗi khu vực đó, sản xuất lương thực được khởi đầu bằng một số loài trong số cũng những loài cây trồng và vật nuôi đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngoài ra, các cây trồng và vật nuôi của Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng đã thâm nhập châu Phi về phía nam đến Ethiopia vào một niên đại hiện chưa xác định được. Tuy nhiên, châu Phi cũng đã phát triển được nhiều loài cây trồng bản địa, và chúng ta vẫn chưa biết có phải chính những cây trồng đó hay những cây trồng du nhập từ Lưỡi liềm Phì nhiêu đã khởi đầu nền sản xuất lương thực ở Ethiopia.
Dĩ nhiên, không phải tất cả các loài cây trồng và vật nuôi nguyên thủy của Lưỡi liềm Phì nhiêu đều bành trướng đến tất cả các khu vực bên ngoài đó. Chẳng hạn, Ai Cập quá ấm nên không thể trồng lúa mì einkorn được. Ở một số khu vực bên ngoài đó, một số loài đến sớm hơn, một số loài đến muộn hơn; chẳng hạn, ở vùng tây nam châu Âu, cừu từ Lưỡi liềm Phì nhiêu đến trước, sau mới tới ngũ cốc. Một số khu vực ngoài này tiếp tục tiến hành thuần hóa một ít loài cây trồng bản địa, như cây anh túc ở Tây Âu và dưa hấu có lẽ ở Ai Cập. Song hầu hết sản xuất lương thực ở các khu vực ngoài thoạt tiên đều tùy thuộc vào các loài thuần hóa của Lưỡi liềm Phì nhiêu. Việc bành trướng các loài này chẳng bao lâu sau đó được nối tiếp bằng sự bành trướng những phát minh khác khởi sinh tại Lưỡi liềm Phì nhiêu hay gần đó như bánh xe, chữ viết, kỹ thuật gia công kim loại, nghề vắt sữa, trồng cây ăn quả, sản xuất bia và rượu.
Sự bành trướng các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu ra khắp phần phía tây lục địa Âu-Á

Hình 10.[2]: Các biểu tượng trên bản đồ trình bày những di chỉ sớm đã được xác định niên đại bằng cácbon phóng xạ nơi người ta tìm thấy di tích các cây trồng của Lưỡi liềm Phì nhiêu. - biểu thị bản thân vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu (các di chỉ trước 7.000 năm trCN). Lưu ý rằng các niên đại càng đi xa khỏi Lưỡi liềm Phì nhiêu thì càng muộn hơn. Bản đồ này dựa trên Bản đồ 20 trong cuốn Sự thuần hóa các loài cây ở Cựu Thế giới của Zohary và Hopf nhưng thay các niên đại chưa điều chỉnh bằng niên đại đã điều chỉnh.
Tại sao cùng một hành trang cây trồng đó đã làm sản xuất lương thực nảy sinh ở suốt miền tây lục địa Âu-Á? Có phải ấy là do cùng một bộ cây trồng đó đều mọc trong tự nhiên ở nhiều khu vực, người dân các khu vực đó cũng nhận thấy chúng có ích như người ta đã nhận thấy thế ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, nên đã thuần hóa chúng một cách độc lập? Không, lý do không phải ở đó. Trước hết, nhiều loài trong số các cây trồng sáng lập của Lưỡi liềm Phì nhiêu thậm chí không hề mọc hoang ở ngoài vùng Tây Nam Á. Chẳng hạn, không một loài nào trong tám loài sáng lập là có mọc hoang ở Ai Cập, có chăng là trừ lúa mạch. Thung lũng sông Nile của Ai Cập có môi trường tương tự như các thung lũng Tigris và Euphrates của Lưỡi liềm Phì nhiêu. Vì vậy, những cây trồng nào đã mọc tốt ở hai thung lũng Lưỡi liềm Phì nhiêu thì cũng mọc tốt ở thung lũng sông Nile đủ để kích thích sự trỗi dậy ngoạn mục của nền văn minh Ai Cập bản địa. Nhưng các lương thực đã hỗ trợ cho sự trỗi dậy ngoạn mục đó vốn dĩ không hiện diện ở Ai Cập ngay từ đầu. Nhân sư và các kim tự tháp đã được xây dựng bởi những người được nuôi sống bằng các loại cây trồng có gốc gác từ Lưỡi liềm Phì nhiêu chứ không phải ở Ai Cập.
Thứ hai, với những loài cây trồng mà tổ tiên không mọc hoang ở đâu khác ngoài Tây Nam Á, ta có thể tự tin mà nói rằng các cây trồng của châu Âu và Ấn Độ hầu hết đều du nhập từ Tây Nam Á chứ không phải là những loài bản địa được thuần hóa. Chẳng hạn như cây lanh hoang, cây này về phía tây mọc đến đảo Anh và Algeria, về phía đông thì mọc đến biển Caspi, trong khi lúa mạch mọc xa về phía đông đến tận Tây Tạng. Tuy nhiên, với hầu hết các cây trồng sáng lập của Lưỡi liềm Phì nhiêu, tất cả các giống được trồng trên thế giới ngày nay chỉ có chung một cách bố trí nhiễm sắc thể trong nhiều cách bố trí khác mà người ta thấy ở tổ tiên hoang dã, nếu không thì cũng chỉ có chung một đột biến duy nhất (trong số nhiều đột biến khả dĩ) đã khiến các giống được trồng trở nên khác với tổ tiên hoang dã theo hướng có lợi cho con người. Chẳng hạn, mọi loài đậu trồng ngày nay đều có chung một gen lặn ngăn không cho các quả đậu chín bung cùng một lúc làm rơi vãi đậu ra ngoài như ở đậu hoang.
Rõ ràng là, hầu hết các cây trồng phát xuất từ Lưỡi liềm Phì nhiêu đều không hề được thuần hóa lại ở nơi nào khác sau khi chúng được thuần hóa lần đầu tiên ở Lưỡi liềm Phì nhiêu. Giá như chúng đã được thuần hóa một cách độc lập ở nơi nào khác nữa thì sự có nhiều nguồn gốc đó hẳn đã thể hiện dưới dạng nhiều cách bố trí nhiễm sắc thể khác nhau hay nhiều đột biến khác nhau. Vì vậy, đây là ví dụ tiêu biểu cho hiện tượng thuần hóa sẵn trước mà ta đã đề cập trên đây. Việc các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu bành trướng nhanh chóng đã chặn trước mọi nỗ lực khác nhằm thuần hóa cũng những loài tổ tiên hoang dã đó, dù ngay ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hay ở nơi nào khác. Một khi đã có cây trồng rồi thì người ta chẳng cần phải thu nhặt chúng ngoài hoang dã và qua đó đưa chúng vào đường thuần hóa thêm lần nữa.
Tổ tiên của hầu hết các cây trồng sáng lập đều có những loài họ hàng trong hoang dã, ở Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng như ở các nơi khác, vốn lẽ ra cũng thích hợp để thuần hóa. Chẳng hạn, đậu thuộc giống Pisum vốn bao gồm hai loài hoang dã: Pisum sativum, loài đã được thuần hóa để thành đậu mà ta trồng ngày nay, và Pisum fulvum, loài chưa bao giờ được thuần hóa. Thế nhưng hạt của loài Pisum fulvun lại có vị ngon dù để tươi hay khô và rất phổ biến ngoài hoang dã. Tương tự, lúa mì, lúa mạch, đậu lăng, đậu chickpea, đậu (bean) và cây lanh đều có nhiều họ hàng hoang dã ngoài các loài đã được thuần hóa. Một số loài đậu và lúa mạch họ hàng đó trên thực tế cũng đã được thuần hóa độc lập ở châu Mỹ hay Trung Hoa, rất xa khu vực thuần hóa đầu tiên là Lưỡi liềm Phì nhiêu. Nhưng ở Âu-Á chỉ có một trong vài loài hoang dã khả dĩ có ích là được thuần hóa mà thôi - có lẽ vì loài đó bành trướng quá nhanh đến nỗi chẳng mấy chốc người ta thôi không thu nhặt các loài họ hàng hoang dã kia nữa mà chỉ ăn loại cây trồng đó. Một lần nữa, như ta đã bàn tới ở trên, tốc độ bành trướng nhanh của một cây trồng đã có tác dụng “chặn trước” - người dân ở các khu vực khác thôi không thử thuần hóa các loài họ hàng với loài cây đó hoặc không cần phải thuần hóa tổ tiên hoang dã của loài đó thêm lần nữa.
Tại sao tốc độ bành trướng các cây trồng từ Lưỡi liềm Phì nhiêu lại nhanh đến thế? Câu trả lời một phần nằm ở trục Đông-Tây của lục địa Âu-Á mà tôi đã nhắc đến ở đầu chương này. Các địa điểm được phân bố theo hướng đông và hướng tây trên cùng một vĩ độ thì đều có chung một độ dài ngày đêm và những biến thiên về mùa giống hệt nhau. Ở mức độ thấp hơn, chúng còn có xu hướng có cùng một số căn bệnh, cơ chế nhiệt độ và độ mưa như nhau, môi trường sống hoặc thảm thực vật như nhau. Chẳng hạn, Bồ Đào Nha, Bắc Iran và Nhật Bản, tất cả nằm gần như trên cùng một vĩ độ nhưng cách nhau trên 4.000 dặm (6.400 km - ND) về phía tây hoặc phía đông, thì vẫn tương tự nhau hơn về khí hậu so với một vị trí cách dù chỉ 1.000 dặm (1.600 km - ND) nhưng về phía nam. Trên tất cả các lục địa, loại môi trường sống gọi là rừng mưa nhiệt đới chỉ bó hẹp trong khoảng 10 vĩ độ cách xích đạo, trong khi môi trường sống cây bụi Địa Trung Hải (như vùng chaparral[1] của California và vùng rừng cây bụi của châu Âu) nằm ở khoảng giữa vĩ độ 30 và vĩ độ 40.
Nhưng sự nảy mầm, tăng trưởng và khả năng kháng bệnh của các loài cây được thích nghi với chính những đặc tính đó của khí hậu. Những thay đổi theo mùa về độ dài của ngày, nhiệt độ và lượng mưa là những dấu hiệu kích thích cho hạt nảy mầm, mầm mọc thành cây và cây trưởng thành đơm hoa, nảy hạt và đơm quả. Mỗi quần thể cây trở nên được lập trình về di truyền, thông qua chọn lọc tự nhiên, ngõ hầu đáp ứng với các dấu hiệu của chế độ mùa mà trong đó nó đã tiến hóa. Các chế độ mùa này thay đổi rất nhiều theo vĩ độ. Chẳng hạn, ở xích đạo thì quanh năm ngày dài như nhau, nhưng ở các vĩ độ ôn đới thì ngày càng lúc càng dài ra từ đông chí đến hạ chí, sau đó lại ngắn dần trong nửa năm còn lại. Mùa sinh trưởng - nghĩa là các tháng mà nhiệt độ và độ dài ngày là thích hợp cho cây cối sinh trưởng - là ngắn nhất ở các vĩ độ cao và dài nhất ở gần xích đạo. Cây cối cũng thích nghi với các chứng bệnh phổ biến ở vĩ độ của chúng.
Bất hạnh cho loài cây nào mà chương trình di truyền của nó “trật khớp” với vĩ độ của cánh đồng nơi nó được trồng! Hãy hình dung một nhà nông Canada ngốc nghếch đi trồng một giống ngô vốn đã được thích nghi để trồng ở Mexico mãi rất xa về phía nam. Cây ngô xui xẻo đó sẽ theo đúng chương trình di truyền đã thích nghi với hoàn cảnh Mexico mà chuẩn bị nảy mầm vào tháng ba để rồi vẫn bị vùi sâu dưới ba thước tuyết. Cứ cho là cây đó được tái lập trình về di truyền để nảy mầm vào một thời điểm thích hợp hơn với Canada - cuối tháng sáu chẳng hạn - nó vẫn sẽ gặp khó khăn vào những mùa khác. Các gen của nó sẽ vẫn ra lệnh cho nó tăng trưởng với tốc độ thong dong, đủ cho nó lớn lên đến mức trưởng thành trong vòng năm tháng. Đó là giải pháp an toàn tuyệt đối nếu ở khí hậu ôn hòa của Mexico, thế nhưng ở Canada chính giải pháp đó sẽ là thảm họa bởi cây sẽ bị sương giá mùa thu giết chết trước khi nó kịp nảy những bắp ngô trưởng thành. Cái cây đó cũng sẽ thiếu những gen kháng các bệnh của khí hậu phương bắc, trong khi vẫn mang những gen kháng các bệnh của khí hậu phương nam mà giờ đây đã hóa thành vô ích. Tất cả các đặc tính đó khiến cho những cây trồng thuộc vĩ độ thấp khó lòng thích nghi với điều kiện ở vĩ độ cao và ngược lại. Hậu quả là hầu hết cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu mọc tốt ở Pháp và Nhật nhưng mọc kém ở vùng xích đạo.
Thú vật cũng thích nghi với các đặc tính của khí hậu có liên quan đến vĩ độ. Về phương diện đó chúng ta là những con vật tiêu biểu bởi chúng ta chỉ cần tự xét mình là đủ hiểu. Một số người trong chúng ta không chịu được mùa đông rét mướt của phương bắc, ngày thì ngắn ngủi lại có những vi trùng đặc thù của nó, trong khi những người khác lại không kham nổi khí hậu nóng miền nhiệt đới với những căn bệnh đặc thù của nó. Trong mấy thế kỷ gần đây, những người thực dân từ Bắc Âu mát mẻ thường thích di cư sang những miền có khí hậu mát mẻ tương tự ở Bắc Mỹ, Australia và Nam Phi, và định cư tại những vùng cao nguyên mát mẻ ở Kenya hay New Guinea xích đạo. Những người Bắc Âu được cử tới những miền đất thấp nóng bức vùng nhiệt đới thường chết vì những bệnh như sốt rét, căn bệnh mà các dân tộc nhiệt đới ít nhiều đã có kháng thể di truyền.
Đó là một phần nguyên nhân vì sao các loài thuần hóa của Lưỡi liềm Phì nhiêu đã bành trướng về phía đông và phía tây nhanh đến vậy: chúng đã sẵn thích nghi tốt với khí hậu các khu vực mà chúng đang bành trướng tới. Chẳng hạn, khi nghề trồng trọt đã băng qua các đồng bằng Hungary để đến Trung Âu vào khoảng 5.400 năm trCN, nó bành trướng nhanh đến nỗi những nhà nông đầu tiên trong khu vực rộng lớn từ Ba Lan đến Hà Lan về phía tây (đáng chú ý bởi những đồ gốm có hoa văn hình tuyến đặc thù) đã xuất hiện gần như cùng một lúc. Đến thời Jesus Christ, các loài ngũ cốc có nguồn gốc Lưỡi liềm Phì nhiêu đã mọc suốt trên gần 8.000 dặm (12.800 km - ND) từ bờ Đại Tây Dương của Ireland đến bờ Thái Bình Dương của Nhật Bản. Hướng Tây-Đông đó của lục địa Âu-Á là khoảng cách trên đất liền lớn nhất trên Trái đất.
Như vậy, trục tây-đông đã cho phép các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu nhanh chóng khởi động cho nền nông nghiệp xuất hiện trên suốt dải vĩ độ ôn đới từ Ireland đến thung lũng Ấn hà và làm phong phú thêm nền nông nghiệp vốn đã phát sinh độc lập ở Đông Á. Ngược lại, các cây trồng Âu-Á mà được thuần hóa đầu tiên ở xa bên ngoài Lưỡi liềm Phì nhiêu song trên cùng vĩ độ cũng có thể được phát tán ngược trở lại về Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngày nay, khi hạt giống được vận chuyển trên toàn thế giới bằng tàu thủy và máy bay, chúng ta thấy như là đương nhiên việc bữa ăn của mình là một món hổ lốn về địa lý. Một bữa ăn tiêu biểu trong nhà hàng ăn nhanh của Mỹ sẽ gồm có thịt gà (được thuần hóa đầu tiên ở Trung Hoa) và khoai tây (từ vùng Andes) hoặc ngô (từ Mexico), được nêm nếm bằng tiêu (từ Ấn Độ) và chiêu cho xuôi bữa bằng một tách cà phê (gốc gác từ Ethiopia). Thế nhưng, ngay từ 2.000 năm trước, người La Mã đã nuôi sống mình bằng món hổ lốn gồm những thứ lương thực có gốc gác từ nơi khác. Trong các cây trồng La Mã, chỉ có yến mạch và anh túc là có tổ tiên ở Ý. Cây trồng chính của La Mã là các cây trồng sáng lập của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, được bổ sung bằng cây mộc qua (nguồn gốc ở vùng Caucasus), kê và thìa là (được thuần hóa ở Trung Á), dưa chuột, vừng và cây cam quýt (từ Ấn Độ), và gà, gạo, mơ, đào và kê đuôi chồn (gốc gác từ Trung Hoa). Ngay cả táo của người La Mã ít nhất cũng có nguồn gốc từ miền tây Âu-Á, chúng được trồng bằng kỹ thuật ghép vốn đã được phát triển tại Trung Hoa và bành trướng từ đó về phía tây.
Trong khi Âu-Á là dải dất liền rộng nhất trên cùng một vĩ độ trên thế giới, do đó là ví dụ hùng hồn nhất cho sự bành trướng nhanh chóng các loài thuần hóa, vẫn có cả những ví dụ khác. Chẳng kém về tốc độ bành trướng như các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu là sự bành trướng về phía đông của các loài thuần hóa cận nhiệt đới vốn hình thành đầu tiên ở Nam Trung Hoa sau đó được bổ sung thêm khi phát tán đến Đông Nam Á, Philippines, Indonesia và New Guinea cận nhiệt đới. Trong vòng 1.600 năm, hành trang đó - gồm cây trồng (chuối, khoai sọ và khoai lang) và vật nuôi (gà, lợn và chó) - đã bành trướng đến hơn 5.000 dặm (8.000 km - ND) về phía đông ra Thái Bình Dương nhiệt đới, đến tận các đảo Polynesia. Một ví dụ tương tự nữa là sự bành trướng từ đông sang tây của cây trồng trong phạm vi vùng Sahel rộng lớn của châu Phi, nhưng các nhà cổ thực vật học hãy còn chưa truy tầm được thông tin chi tiết.
Trái ngược với sự phát tán dễ dàng từ đông sang tây tại lục địa Âu-Á là sự phát tán đầy khó nhọc theo hướng bắc-nam của châu Phi. Hầu hết các cây trồng sáng lập của Lưỡi liềm Phì nhiêu đều đến Ai Cập rất nhanh, sau đó bành trướng về phía nam đến vùng cao nguyên mát mẻ của Ethiopia, đến đó thì dừng lại không bành trướng thêm nữa. Khí hậu Địa Trung Hải của Nam Phi lẽ ra là lý tưởng cho các cây trồng đó, nhưng điều kiện nhiệt đới trải dài 2.000 dặm (3.200 km, ND) giữa Ethiopia và Nam Phi là một rào ngăn không thể vượt qua. Thay vì vậy, nông nghiệp châu Phi về phía nam Sahara đã khởi đầu bằng việc thuần hóa các loài cây dại (như lúa miến và khoai lang châu Phi) vốn là loài bản địa ở vùng Sahel và Tây Phi nhiệt đới, thích nghi với nhiệt độ ấm, mùa hè nhiều mưa và độ dài ngày tương đối ổn định ở các vĩ độ thấp này.
Tương tự, việc bành trướng về phía nam của các loài gia súc Lưỡi liềm Phì nhiêu ngang qua châu Phi đã bị ngăn trở hoặc kìm hãm bởi khí hậu và bệnh tật, nhất là bệnh trùng mũi khoan do ruồi tsetse truyền nhiễm. Loài ngựa chẳng bao giờ đứng chân được xa hơn về phía nam ngoài các quốc gia Tây Phi ở phía bắc xích đạo. Bước tiến của bò, cừu và dê bị khựng lại suốt 2.000 năm ở rìa phía bắc đồng bằng Serengeti, trong khi những loại hình kinh tế mới của loài người và những nòi gia súc mới đang được phát triển. Mãi tới năm 100-200, nghĩa là 8.000 năm sau khi gia súc được thuần hóa ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, bò, cừu và dê cuối cùng mới tới được Nam Phi. Các cây trồng châu Phi nhiệt đới cũng gặp khó khăn khi bành trướng về phía nam ở châu Phi, chỉ đến được Nam Phi cùng với các nhà nông người Phi đen (người Bantu) ngay sau khi các loài gia súc Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đến. Tuy nhiên, các cây trồng châu Phi nhiệt đới đó chẳng bao giờ vượt qua được dòng Sông Cá (Fish River) của Nam Phi, chúng đến đó là dừng bước vì phía bên kia sông là vùng khí hậu Địa Trung Hải mà chúng không được thích nghi.
Hệ quả là chiều hướng phát triển trong hai ngàn năm trở lại đây của lịch sử Nam Phi mà ai cũng biết. Một số dân tộc bản địa Khoisan của Nam Phi (còn gọi là người Hottentots và người Bushmen) đã biết nuôi gia súc nhưng vẫn không trồng trọt. Dân số họ đâm ra ít ỏi, và về phía đông bắc dòng Sông Cá họ bị giành chỗ bởi các nhà nông người châu Phi đen, những kẻ mà bước tiến về phương nam bị dòng sông đó chặn lại. Chỉ khi những người di cư từ châu Âu đến vào năm 1652 bằng đường biển mang theo các cây trồng và gia súc có nguồn gốc từ Lưỡi liềm Phì nhiêu, nông nghiệp mới trở nên thịnh vượng ở vùng khí hậu Địa Trung Hải của Nam Phi. Sự xung đột giữa tất cả các dân tộc đó làm nên tấn bi kịch của Nam Phi hiện đại: sự suy tàn nhanh chóng của người Khoisan do vi trùng và súng của châu Âu; một thế kỷ chiến tranh giữa người châu Âu và người da đen; lại thêm một thế kỷ áp bức chủng tộc; và giờ đây là nỗ lực chung của người châu Âu với người da đen nhằm tìm kiếm một mô thức cùng tồn tại trên những vùng đất xưa kia thuộc người Khoisan.
Cũng trái ngược với sự phát tán dễ dàng ở Âu-Á là sự phát tán đầy khó nhọc dọc theo trục Bắc-Nam của châu Mỹ. Khoảng cách giữa Trung Mỹ và Nam Mỹ - tỉ như giữa vùng cao nguyên Mexico với vùng cao nguyên Ecuador - chỉ là 1.200 dặm (1.920 km - ND), đại khái bằng khoảng cách giữa vùng Balkans với vùng Lưỡng Hà ở lục địa Âu-Á. Vùng Balkans có những điều kiện nuôi trồng lý tưởng cho hầu hết các cây trồng và vật nuôi của Lưỡng Hà, và đã tiếp nhận các loài trên một cách trọn gói trong vòng 2.000 năm các loài này hình thành ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Sự bành trướng nhanh chóng đó đã chặn trước cơ hội thuần hóa cũng các loài đó và những loài tương cận ở vùng Balkans. Tương tự, cao nguyên Mexico và vùng Andes lẽ ra cũng đã thích hợp cho nhiều loài cây trồng và vật nuôi của nhau. Một ít cây trồng, đặc biệt là ngô Mexico, quả thật đã bành trướng được đến vùng kia vào thời tiền Colombus.
Nhưng các cây trồng và vật nuôi khác thì đã không bành trướng được từ Trung Mỹ đến Nam Mỹ hay ngược lại. Miền cao nguyên mát mẻ của Mexico lẽ ra có sẵn điều kiện lý tưởng để nuôi lạc đà llama, chuột ghinê và trồng khoai tây, tất cả các loài này đã được thuần hóa ở vùng cao nguyên mát mẻ của dãy Andes Nam Mỹ. Thế nhưng, sự bành trướng về phương bắc của các loài đặc sản Andes đó hoàn toàn bị chặn đứng bởi vùng đất thấp nóng nực chen vào ở Trung Mỹ. Năm ngàn năm sau khi lạc đà llama được thuần hóa ở vùng Andes, người Olmecs, người Maya, người Aztecs và tất cả các xã hội bản địa khác ở Mexico vẫn không có một loài vật nào để thồ hàng, cũng chẳng có loài thú hữu nhũ nào nuôi để ăn thịt ngoại trừ chó.
Ngược lại, loài gà tây nuôi của Mexico và cây hướng dương trồng của miền đông Hoa Kỳ lẽ ra đã có thể sinh sôi nảy nở ở vùng Andes, nhưng sự bành trướng về phương nam của chúng bị chặn lại bởi vùng khí hậu nhiệt đới chen vào giữa. Cái khoảng cách bắc-nam vỏn vẹn 700 dặm (1.120 km - ND) đó đã ngăn không cho ngô, bí và đậu của Mexico đến được vùng Tây Nam Hoa Kỳ suốt hàng ngàn năm sau khi chúng được thuần hóa ở Mexico, còn ớt và cây chenopod của Mexico thậm chí chẳng bao giờ đến được đó vào thời tiền sử. Suốt hàng ngàn năm sau khi ngô đã được thuần hóa ở Mexico, nó vẫn không bành trướng được lên phía bắc vào vùng phía đông Hoa Kỳ bởi khí hậu ở đó mát hơn và mùa sinh trưởng ngắn hơn. Vào một thời điểm nào đó giữa năm 1 và năm 200, rốt cuộc ngô cũng xuất hiện ở phía đông Hoa Kỳ song chỉ như một loài cây trồng rất thứ yếu. Mãi đến năm 900, sau khi người ta đã phát triển được những giống ngô chịu được rét thích nghi với khí hậu phương bắc thì nền nông nghiệp dựa trên căn bản cây ngô mới có thể góp phần vào sự hưng thịnh của xã hội phức tạp nhất của người Anh-điêng bản địa, nền văn hóa Mississippi, một sự hưng thịnh ngắn ngủi đã chấm dứt sau khi những vi trùng của người châu Âu đến cùng với Columbus và sau đó.
Ta hãy nhớ lại rằng hầu hết cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu, qua nghiên cứu về di truyền, đều cho thấy chúng xuất phát chỉ từ một quá trình thuần hóa duy nhất, quá trình này tạo ra một loài cây trồng bành trướng nhanh đến nỗi nó chặn trước mọi sự thuần hóa sơ khai cũng loài đó hoặc các loài tương cận ở các khu vực khác. Ngược lại, nhiều cây trồng có vẻ phổ biến rộng khắp của châu Mỹ bản địa lại tỏ ra là gồm những loài có họ hàng hay thậm chí của những giống khác nhau về di truyền của cùng một loài vốn đã được thuần hóa độc lập ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và miền đông Hoa Kỳ. Các loài họ hàng gần có thể thay thế nhau về mặt địa lý là giữa rau dền, đỗ, chenopod, ớt, bông vải, bí và thuốc lá. Những giống khác nhau của cùng một loài có thể thay thế nhau là giữa đậu tây, đậu lima, cây ớt Capsicum annuumchinense và cây bí Cucurbita pepo. Việc cùng một loài cây được thuần hóa độc lập nhiều lần ở nhiều nơi có thể chứng minh thêm cho sự phát tán chậm chạp của các cây trồng dọc theo trục bắc-nam của châu Mỹ.
Như vậy, châu Phi và châu Mỹ là hai lục địa lớn nhất có trục chủ yếu là bắc-nam và do đó là tốc độ phát tán chậm của các loài. Ở một số khu vực khác của thế giới, sự phát tán chậm theo hướng bắc-nam cũng có vai trò quan trọng tuy ở quy mô nhỏ hơn. Chẳng hạn, cây trồng đã được trao đổi với tốc độ chậm như rùa giữa thung lũng Ấn hà của Pakistan với miền nam Ấn Độ, sản xuất lương thực từ Nam Trung Hoa đã bành trướng một cách chậm chạp vào bán đảo Malaysia, và sản xuất lương thực của Indonesia và New Guinea nhiệt đới trong thời tiền sử đã không thể nào đến được những vùng canh tác màu mỡ ngày nay tại Tây Nam và Đông Nam Australia. Hai góc này của Australia giờ đây là những vựa lúa mì của lục địa Úc, nhưng chúng nằm cách xích đạo những 2.000 dặm (3.200 km - ND) về phía nam. Phải chờ đến khi những cây trồng từ châu Âu xa xôi - vốn đã thích nghi với khí hậu ôn hòa và mùa sinh trưởng ngắn của châu Âu - đến được đó trên những con tàu của châu Âu thì nghề nông ở đó mới bắt đầu xuất hiện.
Tôi đã dừng lại lâu ở vấn đề vĩ độ, vốn chỉ cần liếc bản đồ là có ngay minh chứng rõ ràng, bởi đó là một yếu tố quyết định chủ chốt cho khí hậu, điều kiện sinh trưởng và việc bành trướng dễ dàng của sản xuất lương thực. Tuy vậy, vĩ độ dĩ nhiên không phải là yếu tố quyết định duy nhất trong việc này, và không phải bất cứ lúc nào những địa điểm kề cận nhau trên cùng một vĩ độ đều có chung khí hậu như nhau (mặc dù nhất định là có độ dài ngày như nhau). Những rào chắn về địa hình và sinh thái trên một số lục địa này rõ rệt hơn so với một số lục địa khác và là trở ngại quan trọng cho sự phát tán các loài trong phạm vi lục địa đó.
Chẳng hạn, sự phát tán cây ngô giữa vùng tây nam Hoa Kỳ và đông nam Hoa Kỳ rất chậm và kén chọn mặc dù hai vùng đó nằm trên cùng vĩ độ. Đó là do hầu hết vùng Texas và miền nam Đồng bằng Lớn chen giữa hai vùng đó đều khô ráo và không thích hợp cho trồng trọt. Một ví dụ tương ứng ở lục địa Âu-Á là vùng biên phía đông của các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu, vốn đã bành trướng nhanh chóng về phía tây đến Đại Tây Dương và về phía đông đến thung lũng Ấn hà mà không gặp rào cản nào đáng kể. Tuy nhiên, xa hơn về phía đông Ấn Độ thì khí hậu lại chuyển từ mưa chủ yếu vào mùa mưa sang mưa chủ yếu vào mùa hè, điều này góp phần kìm hãm sự bành trướng của nghề nông, bao gồm nhiều loại cây trồng và kỹ thuật canh tác khác nhau vào vùng đồng bằng sông Hằng phía đông bắc Ấn Độ. Xa hơn nữa về phía đông, các vùng ôn đới của Trung Hoa bị cách ly khỏi các vùng phía tây Âu-Á có khí hậu tương tự bởi [hàng rào thiên nhiên gồm] sa mạc Trung Á, cao nguyên Tây Tạng và dãy Himalaya hợp lại. Vì vậy, sự phát triển sơ khởi của sản xuất lương thực tại Trung Hoa là độc lập với sự phát triển sản xuất lương thực tại Lưỡi liềm Phì nhiêu trên cùng vĩ độ và dẫn đến sự ra đời những cây trồng hoàn toàn khác. Tuy nhiên, ngay cả những rào cản đó giữa Trung Hoa với phía tây lục địa Âu-Á ít nhất cũng đã phần nào bị vượt qua trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, khi cây lúa mì, lúa mạch và loài ngựa từ Tây Á đã đến được Trung Hoa.
Vì thế cho nên, cùng là khoảng cách 2.000 dặm (3.200 km) theo hướng bắc-nam nhưng khoảng cách ấy có là rào cản hay không thì còn tùy điều kiện từng nơi. Nền sản xuất lương thực của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã vượt qua một khoảng cách như vậy để bành trướng về phía nam đến Ethiopia, và nền sản xuất lương thực Bantu đã bành trướng nhanh chóng từ vùng Hồ Lớn của châu Phi về phía nam đến Natal của Nam Phi bởi trong cả hai trường hợp những khu vực chen giữa hai đầu cũng đều có chế độ mưa tương tự và đều thích hợp cho nông nghiệp. Ngược lại, sự phát tán cây trồng từ Indonesia về phía nam đến miền tây nam Australia lại hoàn toàn không thể, và sự phát tán qua một khoảng cách ngắn hơn nhiều giữa Mexico đến miền tây nam và đông nam Hoa Kỳ thì chậm chạp bởi những vùng chen giữa lại là sa mạc hoàn toàn không trồng trọt được gì. Việc thiếu một cao nguyên có độ cao lớn ở Trung Mỹ về phía nam Guatemala, cùng với đoạn thắt quá hẹp của Trung Mỹ về phía nam Mexico đặc biệt là ở Panama, ít nhất cũng có vai trò quan trọng như khoảng cách về vĩ độ trong việc kìm hãm sự trao đổi cây trồng và vật nuôi giữa cao nguyên Mexico với vùng Andes.
Những khác biệt về hướng trục có ảnh hưởng đến không chỉ sự phát tán của sản xuất lương thực mà của cả các công nghệ và phát minh khác. Chẳng hạn, vào khoảng 3.000 năm trCN phát minh bánh xe ở vùng Tây Nam Á hoặc gần đó đã bành trướng nhanh chóng về phía tây và phía đông qua hầu hết lục địa Âu-Á chỉ trong vòng vài thế kỷ, trong khi bánh xe được phát minh độc lập ở Mexico thời tiền sử chưa bao giờ bành trướng được về phía nam đến vùng núi Andes. Tương tự, nguyên lý viết theo ký tự chữ cái, vốn được phát triển ở phần phía tây của Lưỡi liềm Phì nhiêu khoảng 1.500 năm trCN, đã bành trướng về phía tây đến Carthage và về phía đông đến tiểu lục địa Ấn Độ chỉ trong khoảng một ngàn năm, nhưng các hệ chữ viết Trung Mỹ vốn từng hưng thịnh vào thời tiền sử trong ít nhất 2.000 năm đã không bao giờ đến được vùng Andes.
Lẽ tự nhiên, bánh xe và chữ viết không có liên hệ trực tiếp đến vĩ độ và độ dài ngày như các loài cây trồng. Tuy nhiên, mối liên hệ đó là gián tiếp, đặc biệt là thông qua các hệ thống sản xuất lương thực và hệ quả của chúng. Những bánh xe xưa nhất là một phần của những chiếc xe do bò kéo dùng để vận chuyển sản phẩm nông nghiệp. Chữ viết thời kỳ đầu vốn chỉ dành cho giới đặc tuyển được nuôi sống bởi các nông dân sản xuất lương thực, và chỉ để phục vụ những mục đích của các xã hội sản xuất lương thực vốn phức tạp về kinh tế và xã hội (chẳng hạn như ban truyền lệnh của nhà vua, kiểm kê hàng hóa, ghi chép sổ sách đối với quan lại). Nói chung, những xã hội có tham gia vào sự trao đổi tích cực các loài cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật có liên quan đến sản xuất lương thực thì cũng có nhiều khả năng tham gia vào những sự trao đổi khác.
Bài hát America Beautiful (Nước Mỹ đẹp) mang tinh thần ái quốc của người Mỹ khơi dậy trước mắt chúng ta (người Mỹ - ND) những bầu trời bao la bát ngát, những làn sóng lúa màu hổ phách, trải dài tít tắp từ biển này đến tận biển kia. Thật ra, bài hát đó đã nói ngược lại thực tế về địa lý. Cũng như tại châu Phi, việc phát tán các loài cây trồng và vật nuôi bản địa ở châu Mỹ đã bị chậm lại bởi những bầu trời nhỏ hẹp và các rào cản môi trường. Không có làn sóng lúa bản địa nào từng trải dài tít tắp từ bờ Đại Tây Dương đến bờ Thái Bình Dương của Bắc Mỹ, từ Canada đến Patagonia hay từ Ai Cập đến Nam Phi, trong khi những làn sóng lúa mì và lúa mạch màu hổ phách quả thật đã trải dài tít tắp từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương ngang qua những bầu trời bao la của lục địa Âu-Á. Sự bành trướng nhanh chóng đó của nông nghiệp Âu-Á, so với sự bành trướng ì ạch của nông nghiệp châu Mỹ bản địa và nông nghiệp châu Phi hạ Sahara, đã đóng một vai trò (như phần sau của sách này sẽ cho thấy) trong sự phát tán nhanh hơn của chữ viết, ngành luyện kim, công nghệ và các đế quốc tại lục địa Âu-Á.
Nêu ra hết những khác biệt đó không phải là để nói rằng cây trồng nào được phân bố rộng rãi hơn thì ưu việt hơn hoặc chứng minh rằng các nông dân đầu tiên ở lục địa Âu-Á khéo léo hơn, tài trí hơn. Thay vì vậy, điều này chỉ phản ánh hướng trục của lục địa Âu-Á so sánh với hướng trục của châu Mỹ hay châu Phi. Vận mệnh lịch sử xoay quanh chính các trục này.
❀ ❀ ❀
[1] . Vùng cây bụi và cây thấp rậm rạp, đặc biệt là cây sồi xanh vĩnh viễn ở miền nam California. – ND.