Chúng ta vừa thấy các dân tộc ở một số khu vực đã bắt đầu trồng các loài cây dại, một bước đi có những hệ quả to lớn không ngờ đối với lối sống của họ và vị trí của hậu duệ họ trong lịch sử. Giờ ta hãy quay lại những câu hỏi của chúng ta: Tại sao nông nghiệp đã không hề phát sinh độc lập ở một số khu vực màu mỡ và thích hợp nhất cho việc đó như California, châu Âu, Australia ôn đới và châu Phi hạ xích đạo? Trong các khu vực nơi mà nông nghiệp đã phát sinh độc lập, tại sao ở một số khu vực nó đã phát triển sớm hơn nhiều so với ở những khu vực khác?
Có hai cách giải thích trái ngược nhau: hoặc vấn đề nằm ở bản thân các dân tộc bản địa, hoặc vấn đề nằm ở các loài cây dại có ở khu vực đó. Một mặt, có lẽ hầu như bất cứ khu vực nào trên thế giới mang khí hậu ôn đới hay nhiệt đới và có nước tưới đầy đủ thì đều có đủ những loài cây dại thích hợp cho việc thuần hóa. Trong trường hợp đó, nguyên nhân khiến cho nông nghiệp đã không phát triển ở một vài khu vực trong số này ắt phải nằm ở đặc tính văn hóa của các dân tộc sinh sống ở đó. Mặt khác, có thể ít nhất là một số người ở các khu vực lớn trên thế giới vốn mang đầu óc cởi mở nên đã sẵn sàng thử nghiệm, nhờ vậy mà dẫn đến việc thuần hóa. Nếu quả đúng vậy thì chỉ vì thiếu những loài cây dại thích hợp mà nền sản xuất lương thực đã không tiến hóa ở một vài khu vực.
Như ta sẽ thấy ở chương sau, câu hỏi tương tự đối với việc thuần hóa các loài hữu nhũ lớn tỏ ra dễ lý giải hơn, bởi số loài hữu nhũ lớn ít hơn nhiều so với số loài cây. Thế giới chỉ có chừng 148 loài hữu nhũ lớn sống trên đất liền ăn cỏ hoặc ăn tạp, những loài hữu nhũ đủ lớn để có thể coi là ứng viên cho việc thuần hóa. Chỉ có một vài nhân tố quyết định liệu một loài hữu nhũ có thích hợp để thuần hóa hay không. Vì vậy, không khó để khảo sát các loài hữu nhũ hiện hữu ở một vùng và kiểm chứng xem có phải ở một vài khu vực người ta đã không thuần hóa các loài hữu nhũ lớn là do thiếu những loài hoang dã thích hợp hay là bởi những vấn đề nằm ở chính con người.
Cách làm đó sẽ khó áp dụng hơn nhiều đối với cây trồng, đơn giản vì có quá nhiều - những 200.000 - loài cây dại có hoa, những loài cây thống trị toàn bộ cây cỏ trên đất liền và cung cấp hầu như mọi thứ cây trồng của chúng ta. Chúng ta không thể mong đủ sức khảo sát toàn bộ các loài cây dại dù chỉ ở một vùng khu biệt như California đặng đánh giá xem bao nhiêu loài trong số đó có thể thuần hóa được. Nhưng ta sẽ xem làm cách nào giải quyết được vấn đề đó.
Khi nghe nói có quá nhiều loài cây nở hoa đến vậy, phản ứng đầu tiên của người ta ắt sẽ là: hẳn rồi, với ngần ấy loài cây dại trên Trái đất thì bất cứ khu vực nào mà khí hậu đủ ôn hòa thì ắt phải thừa đủ những loài có thể thuần hóa thành cây trồng chứ.
Nhưng ta hãy nhớ lại rằng đại đa số các loài cây dại là không thích hợp, vì những lý do hiển nhiên: chúng có nhiều gỗ, chúng cho ra quả không ăn được, lá và rễ của chúng cũng không ăn được. Trong số 200.000 loài cây dại, chỉ có vài ngàn là con người có thể ăn được, trong số đó chỉ vài trăm loài đã được ít nhiều thuần hóa. Thậm chí trong số vài trăm loài đó, hầu hết chỉ cung cấp những phần bổ sung nhỏ nhoi vào thực đơn của chúng ta và bản thân chúng hẳn không đủ để hỗ trợ cho việc phát sinh các nền văn minh. Chỉ có vỏn vẹn một tá loài chiếm tới trên 80% sản lượng hàng năm của toàn bộ cây trồng trên thế giới hiện nay. Một tá loài “chủ lực” đó là các cây ngũ cốc lúa mì, ngô, lúa gạo, lúa mạch và lúa miến; cây đậu nành; thân hoặc rễ của cây khoai tây, sắn và khoai lang; cây mía và củ cải đường cung cấp nguyên liệu làm đường; và quả chuối. Riêng các cây ngũ cốc đã chiếm hơn một nửa lượng calori mà dân số toàn thế giới tiêu thụ. Với quá ít loài cây trồng chính trên thế giới như vậy, tất cả đều đã được thuần hóa cách đây hàng ngàn năm, chẳng có gì lạ rằng nhiều khu vực trên thế giới không có loài cây dại bản địa nào có tiềm năng đặc sắc. Trong thời hiện đại chúng ta đã không thể nào thuần hóa thêm dù chỉ một loại cây lương thực chính mới, điều đó cho thấy các dân tộc cổ đại có lẽ đã thử nghiệm hầu hết các loài cây dại có ích và những loại nào đáng được thuần hóa thì họ đã thuần hóa cả rồi.
Thế nhưng vẫn khó lòng giải thích được một số trường hợp thuần hóa thất bại các loài cây dại trên thế giới. Trường hợp hiển nhiên nhất là những loài cây được thuần hóa ở khu vực này nhưng ở khu vực khác thì không. Ta có thể biết chắc rằng quả thực người ta có thể phát triển loài cây dại đó thành cây trồng có ích, nên phải đặt câu hỏi tại sao các loài cây dại đó đã không được thuần hóa ở một số khu vực khác.
Một ví dụ tiêu biểu làm ta bối rối là ở châu Phi. Cây ngũ cốc quan trọng là lúa miến đã được thuần hóa ở vùng Sahel của châu Phi, ngay phía nam Sahara. Đầu tiên nó là một cây dại mãi ở Nam Phi, thế nhưng ở Nam Phi người ta đã chẳng trồng cả cây này lẫn bất cứ cây nào khác cho mãi tới khi các nông dân Bantu từ bắc xích đạo châu Phi tràn xuống mang theo toàn bộ cây trồng của họ cách đây 2.000 năm. Tại sao các dân tộc bản địa Nam Phi đã không tự mình thuần hóa cây lúa miến?
Cũng khó hiểu không kém là việc người ta đã không thuần hóa được cây lanh ở ngay cội nguồn hoang dã của chúng tại châu Âu và Bắc Phi, hoặc lúa mì einkorn đã không được thuần hóa ở ngay quê hương nó là phía nam bán đảo Balkans. Bởi hai loài cây này nằm trong số tám loài cây trồng đầu tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, nên ắt hẳn chúng đã nằm trong số những cây dễ thuần hóa nhất trong tất cả các loài cây dại. Người ta đã tiếp thu và trồng các loài cây đó ở chính các khu vực vốn là quê hương hoang dã của chúng ngoài Lưỡi liềm Phì nhiêu ngay sau khi chúng được mang từ Lưỡi liềm Phì nhiêu tới cùng kỹ thuật sản xuất lương thực và mọi loài cây trồng khác. Tại sao các dân tộc ở những vùng xa xôi đó đã không tự mình trồng các loài cây đó trước đi?
Tương tự, bốn loài cây ăn trái được thuần hóa sớm nhất ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đều có nguồn gốc ở mãi xa ngoài vùng bờ đông Địa Trung Hải nơi chắc hẳn chúng đã được thuần hóa lần đầu tiên: cây ôliu, nho và vả xuất hiện ở phía tây Italia, Tây Ban Nha và Tây Bắc Phi, trong khi chà là trải dài ra toàn bộ Bắc Phi và Arập. Bốn loài này chắc chắn là những loài dễ thuần hóa nhất trong tất cả các loài cây ăn trái hoang dã. Tại sao các dân tộc bên ngoài vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu [vốn là nơi phát nguyên của chúng, ND] đã không thể tự thuần hóa chúng mà chỉ bắt đầu trồng sau khi chúng đã được thuần hóa ở vùng đông Địa Trung Hải rồi thì được du nhập như một loại cây trồng?
Những ví dụ nổi bật khác là các loài cây dại đã không được thuần hóa ở các khu vực nơi sản xuất lương thực đã không bao giờ xuất hiện một cách tự phát, cho dù các loài cây dại đó có những họ hàng gần gũi đã được thuần hóa ở nơi khác. Chẳng hạn, cây ôliu Olea europea đã được thuần hóa ở miền đông Địa Trung Hải. Có khoảng 40 loài ôliu khác ở châu Phi nhiệt đới và Nam Phi, Nam Á và Đông Australia, một số trong đó có liên quan gần gũi với Olea europea, nhưng chẳng một loài nào trong đó từng được thuần hóa. Tương tự, trong khi một loài táo dại và một loài nho dại đã được thuần hóa ở Âu-Á, còn có nhiều loài táo dại và nho dại khác ở Bắc Mỹ, một số trong đó vào thời hiện đại đã được lai ghép với các cây trồng phát sinh từ các loài cây dại Âu-Á có họ hàng với chúng nhằm cải thiện các giống này. Nếu vậy thì tại sao người châu Mỹ bản địa đã không tự mình thuần hóa những loài táo và nho dại rõ ràng là có ích kia?
Ta có thể tìm ra thêm nhiều ví dụ như vậy nữa. Nhưng có một khuyết điểm chết người trong cách lập luận này: thuần hóa cây trồng không đơn giản là chuyện những người săn bắt hái lượm thuần hóa một loài cây duy nhất rồi vẫn tiếp tục lối sống du cư của mình mà không thay đổi. Cứ giả thiết rằng táo dại Bắc Mỹ thực sự đã tiến hóa thành một loại cây trồng tuyệt diệu nếu như những người săn bắt hái lượm Anh-điêng đã chuyển sang định cư mà trồng nó. Thế nhưng, những người săn bắt hái lượm du cư sẽ chẳng vứt bỏ lối sống truyền thống, định cư thành làng mạc và bắt đầu chăm sóc vườn táo trừ phi còn có nhiều loại cây dại và thú hoang có thể thuần hóa khác đủ để khiến cho lối sống sản xuất lương thực định cư trở nên đáng chọn hơn lối sống săn bắt hái lượm.
Nói ngắn gọn, làm cách nào lượng giá được tiềm năng thuần hóa của toàn bộ hệ thực vật ở một khu vực? Đối với những người châu Mỹ bản địa đã không thuần hóa được cây táo dại Bắc Mỹ, vấn đề nằm ở bản thân những người Anh-điêng hay nằm ở loài táo nọ?
Để trả lời câu hỏi này, giờ ta sẽ so sánh ba khu vực nằm ở hai cực đối lập trong số các trung tâm thuần hóa độc lập. Như ta đã thấy, một trong các khu vực này, vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, có lẽ là trung tâm sản xuất lương thực sớm nhất trên thế giới, là nơi phát nguyên một số loại cây trồng chính và hầu như tất cả các loài vật thuần hóa chính của thế giới ngày nay. Hai khu vực khác, New Guinea và phía đông Hoa Kỳ, cũng đã thuần hóa các loại cây bản địa, nhưng các cây trồng này quá ít về chủng loại, chỉ một trong số đó đạt được tầm quan trọng ở quy mô thế giới, và lượng lương thực do các loại cây này cung cấp đã không thể hỗ trợ cho công nghệ và tổ chức chính trị của loài người có thể phát triển rộng hơn như ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Dưới ánh sáng của phép so sánh này, ta sẽ hỏi: Phải chăng hệ thực vật và môi trường của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu có lợi thế rõ ràng so với của New Guinea và miền đông Hoa Kỳ?
Một trong các sự kiện trung tâm trong lịch sử loài người là tầm quan trọng từ xa xưa của khu vực Tây Nam Á, được gọi là Lưỡi liềm Phì nhiêu (do các vùng cao của nó có hình dáng như lưỡi liềm, xem Hình 8.[1]). Vùng này hình như là nơi đã diễn ra sớm nhất một loạt những phát triển bao gồm các thành phố, chữ viết, đế quốc, và cái mà ta gọi là nền văn minh (dù tốt dù xấu đi chăng nữa). Đến lượt mình những tiến triển này nảy sinh từ mật độ dân số cao, thặng dư lương thực và khả năng nuôi sống các chuyên gia không làm nông nghiệp nhờ có nền sản xuất lương thực dưới dạng canh tác cây trồng và chăn nuôi gia súc. Sản xuất lương thực là cách tân đầu tiên trong những cách tân quan trọng đã xuất hiện ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Vì thế, mọi nỗ lực hòng thấu hiểu cội nguồn của thế giới hiện đại đều phải gắn liền với câu hỏi: Tại sao các cây trồng và vật nuôi của Lưỡi liềm Phì nhiêu lại cho vùng này có một lợi thế ban đầu mạnh mẽ đến vậy.
May thay, trong các khu vực trên thế giới, Lưỡi liềm Phì nhiêu là khu vực được người ta nghiên cứu sâu rộng nhất và hiểu rõ nhất về sự phát sinh nông nghiệp. Đối với hầu hết các loại cây trồng đã được thuần hóa tại Lưỡi liềm Phì nhiêu hay gần đó, người ta đã xác định được loài cây dại tổ tiên; quan hệ gần gũi của nó với loại cây trồng đó đã được chứng minh bằng các nghiên cứu di truyền và nhiễm sắc thể; khu vực địa lý nơi nó mọc hoang người ta cũng đã biết; những biến đổi của nó trong quá trình thuần hóa đã được người ta xác định và hiểu rõ đến cấp độ từng gen một; những thay đổi đó có thể quan sát trong những tầng kế tiếp nhau tại các di chỉ khảo cổ; vị trí và thời điểm gần đúng của việc thuần hóa người ta cũng biết. Tôi không phủ nhận rằng các khu vực khác, đặc biệt là Trung Hoa, cũng có lợi thế để được xem là một khu vực thuần hóa sớm, nhưng đối với vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu các lợi thế ấy cùng những tiến triển của cây trồng từ đó mà ra có thể được xác định một cách chi tiết hơn nhiều.

Hình 8.[1]: Vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, bao gồm các địa điểm sản xuất lương thực từ trước 7.000 năm trCN
Một lợi thế của Lưỡi liềm Phì nhiêu là nó nằm giữa một vùng có khí hậu gọi là khí hậu Địa Trung Hải với đặc trưng là mùa đông dịu, ẩm, mùa hè dài, nóng và khô. Khí hậu ấy hợp với những loài cây có khả năng sống qua mùa khô kéo dài và mọc nhanh trở lại khi mùa mưa đến. Nhiều loài cây của Lưỡi liềm Phì nhiêu, nhất là các loài ngũ cốc và đậu, đã thích nghi theo cách khiến cho chúng hữu ích đối với con người: chúng là cây sống một năm, nghĩa là bản thân cây khô đi rồi chết vào mùa khô.
Trong cuộc đời dài vỏn vẹn một năm đó, các loài cây một năm không tránh khỏi chỉ là những loài cỏ nhỏ. Bù lại, nhiều loài dồn hầu hết năng lượng vào việc tạo ra những hạt to, các hạt này ngủ yên suốt mùa khô, đến khi mưa trở lại thì chúng đã sẵn sàng để nảy mầm. Vì vậy các loài cây một năm chẳng cần phí nhiều năng lượng để tạo ra lớp gỗ hay thân sợi không ăn được như các loài cây thân mộc và cây bụi. Nhưng nhiều loại hạt lớn kia, đặc biệt là các loại hạt ngũ cốc và hạt đậu sống một năm, con người lại ăn được. Chúng bao gồm 6 trong số 12 loại ngũ cốc chính của thế giới hiện đại. Ngược lại, nếu bạn sống gần rừng và nhìn ra cửa sổ, thì những loài cây mà bạn thấy thường là cây thân mộc và cây bụi, thân của hầu hết các cây trong số đó bạn không ăn được, và hầu hết các cây này dành rất ít năng lượng cho việc tạo ra hạt ăn được. Dĩ nhiên một số cây rừng tại các khu vực có khí hậu ẩm ướt cũng cho những hạt to ăn được, song các hạt này lại không được thích nghi để sống nổi qua mùa khô kéo dài nên con người cũng không thể lưu trữ chúng lâu dài.
Lợi thế thứ hai của hệ thực vật Lưỡi liềm Phì nhiêu là các loài cây dại tổ tiên của nhiều cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã dồi dào và có năng suất cao, lại mọc sum suê thành từng cụm khiến những người săn bắt hái lượm không thể nào không nhận ra giá trị của chúng. Các nghiên cứu thực nghiệm mà trong đó các nhà thực vật học thu hoạch hạt từ những cụm cây ngũ cốc mọc hoang đó - cũng như những người săn bắt hái lượm hẳn đã làm cách đây hơn 10.000 năm - cho thấy vào thời đó người ta đã có thể thu hoạch vụ mùa hằng năm lên tới gần một tấn hạt trên một hécta, cung cấp tới 50 Kcal năng lượng lương thực cho mỗi kilocalo đã tiêu thụ vào lao động. Bằng cách thu hoạch với số lượng lớn hạt ngũ cốc mọc hoang trong một thời gian ngắn khi hạt chín rồi đem về lưu trữ làm lương thực cho thời gian còn lại trong năm, một số dân tộc săn bắt hái lượm của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã có thể sống định cư thành làng mạc ngay cả khi họ chưa bắt đầu trồng trọt.
Do các cây ngũ cốc Lưỡi liềm Phì nhiêu vốn đã có năng suất cao từ khi mọc hoang, nên người ta chỉ phải tiến hành thêm một ít thay đổi ở chúng khi đem trồng. Như ta đã đề cập trong chương trước, những thay đổi chủ yếu - sự phá vỡ cơ chế phát tán hạt tự nhiên và cơ chế kìm hãm việc nảy mầm - đã tiến hóa một cách tự động và nhanh chóng ngay khi con người bắt đầu gieo hạt ngoài đồng. Tổ tiên hoang dã của lúa mì và lúa mạch ngày nay trông giống bản thân các loại cây trồng này đến nỗi người ta chưa bao giờ phải hoài nghi về chuyện cây nào là tổ tiên đích thực. Nhờ dễ thuần hóa nên các loài cây sống một năm có hạt to là những loài cây trồng đầu tiên - hoặc nằm trong số những cây trồng đầu tiên - được phát triển không chỉ ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu mà cả ở Trung Hoa và vùng Sahel.
Ta hãy so sánh sự tiến hóa nhanh chóng này của lúa mì và lúa mạch với lịch sử cây ngô, cây ngũ cốc hàng đầu của Tân Thế giới. Tổ tiên của ngô có thể là một loài cây dại gọi là teosinte, trông khác với ngô về hạt và cấu trúc hoa đến nỗi có thật nó là tổ tiên của ngô hay không cũng đã là đề tài tranh cãi gay gắt giữa các nhà thực vật học suốt một thời gian dài. Những người săn bắt hái lượm hẳn đã không có ấn tượng gì về giá trị thực phẩm của teosinte: khi mọc hoang nó có năng suất thấp hơn tổ tiên cây lúa mì, nó cho ít hạt hơn nhiều so với cây ngô mà từ nó phát triển thành, hạt của nó lại còn bọc trong hàng lớp vỏ cứng không ăn được. Để trở thành một cây trồng có ích, teosinte đã phải trải qua những thay đổi triệt để về cơ chế sinh sản, nhằm nâng cao phần đầu tư vào hạt [để cho nhiều hạt hơn - ND] và loại bỏ lớp vỏ cứng như đá bọc ngoài hạt đi. Các nhà khảo cổ vẫn đang tranh luận sôi nổi xem tại sao người ta đã phải mất tới nhiều thế kỷ hay thậm chí nhiều thiên niên kỷ phát triển cây trồng ở châu Mỹ để những lõi ngô cổ đại có thể tiến hóa từ kích thước nhỏ xíu thành bằng ngón tay cái của người, nhưng dường như có một điều khá rõ: phải mất thêm vài ngàn năm nữa chúng mới đạt tới kích thước như hiện nay. Sự tương phản đó giữa những phẩm chất nhìn thấy được của lúa mì và lúa mạch với những khó khăn do cây teosinte gây ra có thể đã là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự phát triển khác nhau đến vậy giữa các xã hội loài người ở Tân Thế giới và ở Âu-Á.
Một lợi thế thứ ba của hệ thực vật vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu là nó bao gồm một bột phận lớn những loài “bán lưỡng tính” (tạm dịch từ “hermaphroditic selfer” - ND), nghĩa là những loài cây thường tự mình thụ phấn nhưng thỉnh thoảng cũng thụ phấn chéo. Hãy nhớ lại rằng hầu hết cây dại đều hoặc là những loài lưỡng tính thụ phấn chéo, hoặc bao gồm cá thể đực và cá thể cái và hai cá thể này luôn luôn phải cần đến nhau mới có thể thụ phấn. Những cơ chế sinh sản này đã khiến những nhà nông cổ đại ngán ngẩm bởi vì ngay khi họ xác định được một cây biến dị có thể cho năng suất cao thì con của nó có thể lại giao phối chéo với những cá thể cây khác và đánh mất lợi thế di truyền của mình. Hệ quả là, hầu hết cây trồng đều thuộc số ít những loài cây dại hoặc vốn là cây lưỡng tính tự thụ phấn hoặc sinh sản phi giới tính bằng cách sinh dưỡng (chẳng hạn bằng rễ, vốn là bản sao di truyền của cây bố mẹ). Như vậy, đa số các cây bán lưỡng tính trong hệ thực vật Lưỡi liềm Phì nhiêu đã hỗ trợ những nhà nông đầu tiên, bởi điều đó có nghĩa là một tỷ lệ lớn các loài thực vật hoang đã có sẵn cơ chế sinh sản thuận lợi cho con người.
Cây bán lưỡng tính cũng thuận lợi cho các nhà nông cổ đại ở chỗ đôi khi chúng lại trở thành thụ phấn chéo, tạo ra những giống mới mà người ta có thể chọn lựa. Sự thụ phấn chéo này xảy ra không chỉ giữa các cá thể cùng loài mà cả giữa các loài có họ hàng với nhau để cho ra những cá thể lai giữa các loài. Một giống lai như vậy trong số các cây bán lưỡng tính của Lưỡi liềm Phì nhiêu, cây lúa mì, đã trở thành loại cây trồng có giá trị nhất trên thế giới ngày nay.
Trong số tám loại cây trồng quan trọng đầu tiên đã được thuần hóa ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, tất cả là cây bán lưỡng tính. Trong ba loài ngũ cốc bán lưỡng tính trong số đó - lúa mì einkorn, lúa mì emmer và lúa mạch - các cây lúa mì còn có một lợi thế nữa là hàm lượng protein cao, tới 8-14%. Ngược lại, các cây ngũ cốc quan trọng nhất ở Đông Á và Tân Thế giới - lần lượt là lúa gạo và ngô - có hàm lượng protein thấp hơn, từ đó nảy sinh những vấn đề quan trọng về dinh dưỡng.
Đó là một số lợi thế mà hệ thực vật của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu cung hiến cho các nhà nông đầu tiên: nó bao gồm một tỷ lệ cao bất thường những loài cây dại thích hợp cho thuần hóa. Tuy nhiên, vùng khí hậu Địa Trung Hải của Lưỡi liềm Phì nhiêu trải rộng về phía tây qua phần lớn Nam Âu và Tây Bắc Phi. Cũng có cả những vùng với khí hậu tương tự như Địa Trung Hải ở những phần khác trên thế giới: California, Chile, tây nam Australia và Nam Phi (Hình 8.[2]). Thế nhưng, những vùng khí hậu Địa Trung Hải khác không những không cạnh tranh nổi với Lưỡi liềm Phì nhiêu trong việc trở thành nơi phát nguyên đầu tiên của sản xuất lương thực, các vùng đó thậm chí còn chẳng bao giờ sinh ra nổi một nền nông nghiệp bản địa. Cái vùng khí hậu Địa Trung Hải ở miền tây lục địa Âu-Á đó đã có lợi thế đặc biệt nào vậy?
Thì ra là vùng ấy, đặc biệt là ở chính khu vực Lưỡi liềm Phì nhiêu kia, có ít nhất năm lợi thế so với các vùng có khí hậu Địa Trung Hải khác. Trước hết, phía tây Âu-Á có vùng khí hậu Địa Trung Hải rộng lớn nhất so với mọi vùng khác trên thế giới. Hệ quả là nó có độ đa dạng cao nhất về các loài cây và động vật hoang dã, cao hơn so với các vùng khí hậu Địa Trung Hải tương đối nhỏ như tây nam Australia và Chile. Thứ hai, trong số các vùng khí hậu Địa Trung Hải, miền tây Âu-Á có sự biến động khí hậu lớn nhất từ mùa này qua mùa khác, từ năm này qua năm khác. Sự biến động này khiến cho, trong hệ thực vật của vùng, những loài cây sống một năm chiếm tỷ lệ đặc biệt cao. Sự kết hợp giữa hai nhân tố này - sự đa dạng loài và tỷ lệ cao các loài cây sống một năm - khiến cho vùng khí hậu Địa Trung Hải phía tây Âu-Á là vùng có sự đa dạng cao nhất về các loài cây một năm.

Hình 8.[2]: Các vùng khí hậu Địa Trung Hải trên thế giới
Tầm quan trọng của sự phong phú về thực vật đó đối với con người được minh họa bởi các nghiên cứu của Mark Blumler về sự phân bố các loài cỏ dại. Trong số hàng ngàn loài cỏ dại trên thế giới, Blumler đã phân loại 56 loài có hạt to nhất, “tinh hoa” của các loài cây trong thiên nhiên: ấy là các loài cỏ có hạt nặng hơn ít nhất 10 lần so với các loài cỏ trung bình (xem Bảng 8.[1]). Hầu như tất cả các loài này đều là cây bản địa ở các vùng khí hậu Địa Trung Hải hoặc các môi trường khô ráo theo mùa khác. Hơn nữa, chúng tập trung hầu hết ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu hoặc các bộ phận khác của vùng khí hậu Địa Trung Hải ở phía tây Âu-Á, khiến cho các nhà nông sơ khai có thể tha hồ lựa chọn: khoảng 32 trong số 56 loài cỏ dại có giá trị trên thế giới! Đặc biệt, lúa mạch và lúa mì emmer, hai loại cây trồng quan trọng đầu tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, đứng thứ 3 và thứ 13 về kích thước hạt trong số 56 loài hàng đầu này. Ngược lại, vùng khí hậu Địa Trung Hải ở Chile chỉ đóng góp hai trong số các loài trên, California và Nam Phi mỗi vùng chỉ có một còn tây nam Australia thì chẳng có loài nào. Nội một điều đó cũng đã lý giải được khá nhiều điều về tiến trình của lịch sử loài người.
Lợi thế thứ ba của vùng khí hậu Địa Trung Hải thuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu là nó có nhiều độ cao và địa hình khác nhau trong một cự ly ngắn. Nhờ có nhiều độ cao khác nhau, từ điểm thấp nhất trên Trái đất (Biển Chết) đến các ngọn núi cao 18.000 bộ (khoảng 5.500 m - ND) gần Teheran nên vùng này cũng có nhiều môi trường khác nhau tương ứng, từ đó có sự đa dạng cao về các loài cây dại có khả năng làm tổ tiên cho cây trồng. Những ngọn núi này nằm gần những vùng đất thấp thoai thoải có sông, những bình nguyên ngập nước và các sa mạc thích hợp cho nông nghiệp tưới tiêu. Ngược lại, các vùng Địa Trung Hải ở tây nam Australia và, ở mức độ thấp hơn là Nam Phi và Tây Âu, có sự đa dạng thấp hơn về độ cao, địa hình và môi trường sống.
Bảng 8.[1]. Sự phân bố các loài thân thảo có hạt lớn trên thế giới
| Khu vực | Số lượng loài | |
| Tây Phi, châu Âu, Bắc Phi | 33 | |
| + Vùng Địa Trung Hải | 32 | |
| + Anh | 1 | |
| Đông Á | 6 | |
| Châu Phi hạ Sahara | 4 | |
| Châu Mỹ | 11 | |
| + Bắc Mỹ | 4 | |
| + Trung Mỹ | 5 | |
| + Nam Mỹ | 2 | |
| Bắc Australia | 2 | |
| Cộng: | 56 | |
Bảng 12.[1] trong luận văn tiến sĩ của Mark Blumler, “Trọng lượng hạt và môi trường trong các vùng đất mọc cây thân thảo thuộc loại hình Địa Trung Hải ở California và Israel” (Đại học California, Berkeley, 1992) liệt kê 56 loài cây thân thảo có hạt nặng nhất (ngoại trừ tre) mà người ta hiện có dữ liệu. Trọng lượng hạt ở các loài này thay đổi từ 10 mg đến trên 40 mg, lớn hơn khoảng 10 lần so với trị số trung bình của tất cả các loài thân thảo trên thế giới. 56 loài này gộp lại chưa bằng 1% tổng số các loài thân thảo trên thế giới. Bảng này cho thấy các loài thân thảo quý giá này đại đa số tập trung ở vùng Địa Trung Hải thuộc phía tây lục địa Âu-Á.
Sự đa dạng về độ cao của Lưỡi liềm Phì nhiêu khiến cho mùa thu hoạch không đồng nhất: cây trồng ở nơi cao hơn cho hạt muộn hơn một chút so với cây trồng ở nơi thấp hơn. Hệ quả là, những người săn bắt hái lượm có thể leo lên triền núi để thu hoạch hạt khi hạt chín chứ không bị “ngợp” do vụ mùa cần thu hoạch tập trung vào cùng một thời điểm ở cùng một độ cao bởi toàn bộ hạt chín cùng một lúc. Khi người ta bắt đầu biết trồng trọt, các nông dân đầu tiên chỉ việc đem hạt các cây ngũ cốc hoang - vốn mọc trên các sườn đồi và phụ thuộc vào mưa khi có khi không - trồng vào các thung lũng ẩm ướt để hạt có thể cầm chắc mọc được mà không quá lệ thuộc vào mưa.
Sự đa dạng sinh học của Lưỡi liềm Phì nhiêu trong những cự ly nhỏ còn mang lại một lợi thế thứ tư, ấy là sự phong phú không chỉ của các loài cây có giá trị mà cả các loài thú lớn được thuần hóa. Như ta sẽ thấy, ở các vùng khí hậu Địa Trung Hải tại California, Chile, tây nam Australia và Nam Phi chỉ có ít hoặc không hề có loài hữu nhũ lớn nào thích hợp cho thuần hóa. Ngược lại, bốn loài hữu nhũ lớn - dê, cừu, lợn và bò - đã được thuần hóa từ rất sớm ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, có thể là sớm hơn bất cứ loài vật nào khác trừ chó vốn đã được thuần hóa ở những nơi khác trên thế giới. Các loài này đến nay vẫn là bốn trong số năm loài hữu nhũ được thuần hóa quan trọng nhất của thế giới (Chương 9). Nhưng tổ tiên hoang dã của chúng từng phổ biến nhất ở những vùng khác nhau chút ít của Lưỡi liềm Phì nhiêu, hệ quả là bốn loài này được thuần hóa ở bốn nơi khác nhau: cừu có lẽ được thuần hóa ở vùng trung tâm, dê hoặc ở phần phía đông nơi cao độ lớn hơn (vùng núi Zagros của Iran) hoặc phần tây nam (vùng Levant), lợn ở phần bắc-trung, còn bò thì ở phần phía tây kể cả Anatolia. Tuy nhiên, mặc dù những khu vực nơi có nhiều bốn loài hoang dã này là khác nhau như vậy, nhưng cả bốn đều sống khá gần nhau đủ để có thể được chuyển từ phần này của Lưỡi liềm Phì nhiêu sang phần nọ sau khi chúng được thuần hóa, hệ quả là toàn bộ Lưỡi liềm Phì nhiêu rốt cuộc đều có cả bốn loài.
Nền nông nghiệp được khởi đầu ở Lưỡi liềm Phì nhiêu từ việc thuần hóa từ sớm tám loài cây trồng được mệnh danh là “cây trồng sáng lập” (bởi chúng đã sáng lập nền nông nghiệp trong khu vực này và có thể cả trên toàn thế giới). Tám loài sáng lập này là các cây ngũ cốc gồm lúa mì emmer, lúa mì einkorn và lúa mạch; các loài họ đậu gồm đậu lăng, đậu Hà Lan, đậu chickpea[1] và đậu tằm, và cây cho sợi là cây lanh. Trong tám loài này, chỉ hai loài là cây lanh và lúa mạch có mọc trong tự nhiên ở nhiều khu vực ngoài Lưỡi liềm Phì nhiêu và Anatolia. Hai trong các loài sáng lập này có phạm vi mọc rất hạn chế trong tự nhiên, như chickpea chỉ mọc ở tây nam Thổ Nhĩ Kỳ còn lúa mì emmer chỉ bó hẹp ở chính vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Như vậy, nông nghiệp có thể phát sinh ở Lưỡi liềm Phì nhiêu từ việc thuần hóa các loài cây dại có sẵn trong khu vực chứ không phải đợi đến khi du nhập các loại cây trồng xuất thân từ những loài cây dại ở nơi khác. Ngược lại, hai trong số các loài sáng lập này không thể được thuần hóa ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới ngoại trừ Lưỡi liềm Phì nhiêu bởi ngay trong tự nhiên chúng cũng chẳng mọc ở nơi nào khác.
Nhờ có sẵn các loài cây dại và thú hoang thích hợp, các dân tộc cổ xưa của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã có thể nhanh chóng có được một hành trang sinh học mạnh mẽ và cân đối để có thể tiến hành sản xuất lương thực thâm canh. Tập hợp này bao gồm ba loài ngũ cốc làm nguồn chính cung cấp cácbon hydrat, bốn loài đậu chứa 20-25% protein và bốn loài gia súc làm nguồn cung cấp protein chính, ngoài ra còn có hàm lượng protein dồi dào của lúa mì, và cây lanh làm nguồn cung cấp sợi và dầu (được gọi là dầu hạt lanh; hạt lanh chứa khoảng 40% dầu). Rốt cuộc, hàng ngàn năm sau khi con người bắt đầu thuần hóa thú vật và tiến hành sản xuất lương thực, các loài vật cũng bắt đầu được sử dụng để lấy sữa, len, làm vật kéo cày và vận chuyển. Như vậy, các cây trồng và vật nuôi của các nông dân đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã đáp ứng được các nhu cầu kinh tế cơ bản của con người: cácbon hydrat, protein, chất béo, quần áo, sức kéo và vận chuyển.
Lợi thế cuối cùng để sản xuất lương thực ra đời sớm ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, ấy là tại vùng này sản xuất lương thực ít phải cạnh tranh hơn với lối sống săn bắt hái lượm so với ở một số vùng khác kể cả phía tây Địa Trung Hải. Tây Nam Á ít có sông lớn và chỉ có một bờ biển ngắn nên tài nguyên biển tương đối nghèo nàn (dưới dạng cá và sò ốc sông và ven biển). Một trong các loài hữu nhũ quan trọng bị săn để lấy thịt, loài linh dương, ban đầu từng sống thành từng đàn rất lớn nhưng vì bị loài người ngày càng đông săn bắn quá mức nên chỉ còn lại rất ít ỏi. Vì vậy lối sống sản xuất lương thực đã nhanh chóng trở nên ưu việt so với lối sống săn bắt hái lượm. Các làng mạc định cư dựa trên ngũ cốc đã hiện diện từ trước khi nền sản xuất lương thực phát sinh, khiến những người săn bắt hái lượm đó cũng chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi. Ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, việc chuyển tiếp từ săn bắt hái lượm sang sản xuất lương thực diễn ra tương đối nhanh: đến mãi 9.000 năm trCN người ta vẫn chưa có loại cây trồng hay vật nuôi nào mà vẫn lệ thuộc hoàn toàn vào lương thực hoang dã, nhưng đến 6.000 năm trCN một số xã hội ở đây đã hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào cây trồng và vật nuôi.
Tình hình ở Trung Mỹ tương phản mạnh mẽ với Lưỡi liềm Phì nhiêu: khu vực này chỉ cung cấp hai loài vật có thể thuần hóa (gà tây và chó), thịt hai loài này có hàm lượng dinh dưỡng thấp hơn nhiều so với bò, cừu, dê và lợn; còn ngô, loài cây cho hạt chính của Trung Mỹ, thì như tôi đã nói, khó thuần hóa và hẳn cũng phát triển chậm. Hệ quả là việc thuần hóa hẳn chỉ bắt đầu ở Trung Mỹ không sớm hơn khoảng 3.500 năm trCN (niên đại này vẫn chưa có gì chắc chắn); những phát triển đầu tiên đó đã được tiến hành bởi những người vốn vẫn đang là dân săn bắt hái lượm du cư; và mãi đến khoảng 1.500 trCN làng mạc định cư mới xuất hiện ở vùng này.
Trong phần bàn đến các lợi thế của Lưỡi liềm Phì nhiêu để sản xuất lương thực có thể sớm phát sinh, ta chưa nhắc đến những lợi thế mà người ta cho rằng nằm ở bản thân các dân tộc Lưỡi liềm Phì nhiêu. Sự thực là, tôi không biết có ai lại nghiêm túc đề xuất ý tưởng rằng những dân tộc sống ở khu vực này có những đặc tính sinh học khác biệt [và chính các đặc tính này đã] góp phần vào việc họ có hành trang sản xuất lương thực[2] hùng hậu đến thế. Thay vì vậy, chúng ta đã thấy rằng những đặc tính khác biệt của khí hậu, môi trường, cây dại và thú hoang dã ở Lưỡi liềm Phì nhiêu chính là lời giải thích đầy thuyết phục cho điều đó.
Nền sản xuất lương thực phát sinh độc lập ở New Guinea và miền đông Hoa Kỳ kém tiềm năng hơn rất nhiều (chỉ có một ít loài cây trồng và vật nuôi kém giá trị, ND), vậy thì có phải nguyên nhân nằm ở bản thân các dân tộc sống tại các vùng đó không? Tuy nhiên, trước khi quay lại các khu vực đó, ta cần phải xét hai câu hỏi liên quan nảy sinh đối với bất cứ khu vực nào trên thế giới nơi sản xuất lương thực đã không bao giờ phát triển hoặc nếu có thì cũng với một hành trang yếu kém hơn nhiều. Trước hết, liệu những người săn bắt hái lượm và nông dân sơ khai có thực sự biết rõ tất cả các loài cây dại có sẵn nơi mình sống và công dụng của chúng không, hay liệu họ đã không biết mà bỏ qua một số loài vốn có thể là tổ tiên của những loại cây trồng có giá trị? Thứ hai, nếu họ biết rõ các loài cây dại và thú hoang bản địa, liệu họ có tận dụng cái tri thức đó để thuần hóa những loài hữu ích nhất sẵn có không, hay những nhân tố văn hóa đã khiến họ không làm vậy?
Về vấn đề thứ nhất, có cả một ngành khoa học gọi là sinh-dân tộc học (ethnobiology) chuyên nghiên cứu tri thức của các dân tộc về các loài cây dại và thú hoang trong môi trường của mình. Các nghiên cứu này đặc biệt tập trung vào một số ít các dân tộc vẫn còn theo lối sống săn bắt hái lượm trên thế giới, cũng như các dân tộc tuy làm nông nhưng vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào lương thực hoang dã và các sản phẩm tự nhiên. Nhìn chung, các nghiên cứu này thường chỉ ra rằng những người này là những cuốn bách khoa từ điển sống về lịch sử tự nhiên, họ có từ riêng (trong ngôn ngữ bản địa của mình) để gọi từng loài một trong số hàng ngàn hay hơn nữa các loài cây và thú, họ hiểu biết chi li tường tận về đặc tính sinh học, sự phân bố và công dụng tiềm tàng của các loài đó. Do các dân tộc ngày càng lệ thuộc vào cây trồng và vật nuôi thuần hóa, nên cái tri thức truyền thống này dần dần mất đi giá trị và bị mai một, cho đến khi người ta biến thành một kẻ hiện đại chỉ biết mua hàng siêu thị mà ngay chuyện cây lúa dại khác cây đậu dại thế nào cũng không phân biệt nổi.
Sau đây là một ví dụ điển hình. Trong 33 năm qua, khi tiến hành nghiên cứu sinh học ở New Guinea, tôi vẫn thường dành thời gian nghiên cứu thực địa cùng những người bạn đồng hành New Guinea vốn vẫn còn sử dụng rộng rãi các loài cây dại và thú hoang. Một hôm nọ, khi tôi cùng các bạn đồng hành thuộc bộ lạc Foré đang bị đói trong rừng rậm bởi một bộ lạc khác đang phong tỏa đường trở về căn cứ tiếp tế của chúng tôi, một người Foré trở về trại mang theo một ba lô ních đầy nấm mà anh ta đã tìm được rồi bắt tay nướng nấm. Rốt cuộc cũng được ăn tối! Nhưng khi đó tôi lại đâm lo ngay ngáy: nhỡ ra nấm độc thì sao?
Tôi kiên nhẫn giải thích với các bạn đồng hành người Foré của tôi, rằng tôi đã đọc trong sách rằng có một số loài nấm độc, rằng tôi nghe nói thậm chí cả một nhà sưu tập nấm người Mỹ đã chết vì rất khó phân biệt nấm lành với nấm độc, và rằng mặc dù chúng ta đang đói thì cũng không đáng liều mạng như vậy. Nghe đến đó các bạn tôi liền nổi xung, bảo tôi im đi mà lắng nghe họ giải thích đôi điều cho tôi thủng ra. Sau khi đã quay họ suốt cả năm trời về tên của hàng trăm loài cây cối cùng chim chóc, tại sao tôi còn dám xúc phạm họ khi cho rằng họ không biết đặt tên riêng cho từng loài nấm một? Chỉ có người Mỹ mới ngu dại đến mức lẫn lộn nấm độc với nấm lành mà thôi. Họ cứ thế giảng cho tôi nghe về 29 loài nấm ăn được, tên của mỗi loài trong ngôn ngữ Foré, và có thể tìm ra từng loài ở đâu trong rừng. Loài này tên là tánti, mọc trên cây, rất ngon và hoàn toàn ăn được.
Bất cứ lúc nào tôi mang những người New Guinea cùng tôi đến những vùng khác trên hòn đảo, họ thường xuyên nói về những loài cây và thú địa phương với những người New Guinea khác mà họ gặp, và họ thu nhặt những loài cây có thể có ích đặng mang về nhà trồng thử. Kinh nghiệm của tôi với người New Guinea cũng tương đương với kinh nghiệm của các nhà sinh-dân tộc học khi nghiên cứu các dân tộc truyền thống khác ở những nơi khác. Tuy nhiên, tất cả các dân tộc đó ít nhất cũng phần nào có sản xuất lương thực, hoặc là tàn dư của những xã hội săn bắt hái lượm trước kia mà nay đã một phần chuyển qua nông nghiệp. Tri thức về các loài hoang dã [ở loài người] thậm chí hẳn đã từng chi tiết hơn nhiều trước khi phát sinh nền sản xuất lương thực, khi tất cả mọi người trên Trái đất vẫn còn phải dựa hoàn toàn vào các loài hoang dã để có cái ăn. Những nhà nông đầu tiên là kẻ thừa kế tri thức đó, cái tri thức tích lũy qua hàng vạn năm quan sát tự nhiên bởi những con người tuy hiện đại về mặt sinh học nhưng sống một cách phụ thuộc mật thiết vào thế giới tự nhiên. Vì vậy thật khó mà có chuyện có một loài hoang dã mang giá trị tiềm tàng nào mà các nhà nông đầu tiên lại đã bỏ qua.
Câu hỏi liên quan khác là liệu những người săn bắt hái lượm và nông dân cổ đại có cùng vận dụng tri thức sinh-dân tộc học của mình một cách như nhau trong việc chọn các loài cây hoang để thu hoạch và cuối cùng là để trồng? Có một thử nghiệm ở di chỉ khảo cổ tại triền Thung lũng Euphrates ở Syria, gọi là Tell Abu Hureyra. Trong khoảng từ 10.000 năm đến 9.000 năm trCN, những người sống ở đó có thể đã định cư quanh năm thành làng mạc, nhưng họ vẫn là những người săn bắt hái lượm; phải đến thiên niên kỷ sau đó họ mới bắt đầu trồng trọt. Các nhà khảo cổ Gordon Hillman, Susan Colledge và David Harris đã khai quật được số lượng lớn các loài cây bị đốt thành than ở di chỉ này, hẳn là rác còn lại của những loài cây dại được cư dân từng sống ở di chỉ này thu thập từ nơi khác mang về. Các nhà khoa học đã phân tích trên 700 mẫu vật, mỗi mẫu chứa trung bình trên 500 hạt giống có thể nhận diện được thuộc trên 70 loài cây. Thì ra các dân làng xưa kia vẫn thường thu hoạch rất nhiều (157 loài!) cây khác nhau mà ta có thể nhận diện qua các hạt bị đốt thành than, ấy là chưa kể những loài cây khác mà ngày nay không thể nhận diện được.
Có phải những dân làng ngây thơ đó đã mang bất cứ loài cây có hạt nào tìm được về nhà, tự đầu độc mình bằng hầu hết các loài trong số đó và chỉ một ít loài trong số đó là ăn được? Không, họ không ngu đến thế. Thoạt nghe 157 loài thì ngỡ như họ đã bạ gì nhặt nấy không phân biệt, nhưng thật ra nhiều loài khác mọc hoang trong tự nhiên đã không có mặt trong các tàn tích bị đốt thành than kia. 157 loài được chọn có thể chia làm ba loại. Nhiều loại có hạt không độc và có thể ăn ngay. Những loài khác như cây đậu và thành viên của họ mù tạc thì hạt có chất độc, nhưng loại bỏ chất độc này ra cũng dễ, hạt còn lại vẫn ăn được. Một số hạt thuộc các loài thường được dùng để lấy chất nhuộm hay làm thuốc. Nhiều loài cây dại không có mặt trong 157 loài được chọn này là những loài hoặc không có ích gì hoặc có hại cho người, trong đó có tất cả các loài có hạt độc nhất trong môi trường.
Như vậy, những người săn bắt hái lượm ở Tell Abu Hureyra đã không phí thì giờ và không tự làm hại mình bằng cách thu thập đủ thứ cây dại mà không hề phân biệt. Thay vì vậy, rõ ràng họ biết rõ các loài cây dại chẳng kém gì những người New Guinea hiện đại, và họ đã dùng tri thức đó để chọn đem về nhà chỉ những loài cây có hạt hữu ích nhất mà thôi. Nhưng các hạt được thu thập này hẳn đã là chất liệu cho những bước vô thức đầu tiên đi đến chỗ thuần hóa các loài cây.
Một ví dụ khác của tôi về việc các dân tộc cổ đại ắt đã dùng tri thức sinh-dân tộc học của mình một cách có hiệu quả, ấy là Thung lũng Jordan vào thiên niên kỷ thứ chín trCN, thời kỳ các loại cây trồng sớm nhất được canh tác ở đó. Các loài ngũ cốc được thuần hóa sớm nhất của khu vực này là lúa mạch và lúa mì emmer mà đến ngày nay vẫn nằm trong số những cây trồng có năng suất cao nhất trên thế giới. Nhưng, cũng như ở Tell Abu Hureyra, hàng trăm loài cây dại có hạt ắt cũng đã mọc ở đó, và một trăm loài hoặc hơn hẳn là ăn được và từng được con người thu hoạch từ trước khi việc thuần hóa cây trồng bắt đầu. Vậy lúa mạch và lúa mì emmer có gì đặc biệt để trở thành những loài cây đầu tiên được thuần hóa? Có phải những nhà nông đầu tiên ở Thung lũng Jordan là những tay ngu dốt không hề biết mình đang làm gì? Hay lúa mạch và lúa mì emmer quả thật là những cây ngũ cốc dại tốt nhất mọc trong vùng mà họ có thể chọn được?
Hai nhà khoa học Israel, Ofer Bar-Yosef và Mordechai Kislev, đã giải quyết vấn đề này bằng cách khảo sát những loài cỏ dại vẫn còn mọc hoang ở thung lũng đó ngày nay. Bỏ qua một bên các loài có hạt quá nhỏ hoặc không ăn được, họ chọn ra 23 loài cỏ dại có hạt lớn nhất và ăn được nhất. Chẳng có gì lạ rằng lúa mạch và lúa mì emmer có tên trong danh sách 23 loài đó.
Nhưng bảo rằng 21 loài còn lại hẳn cũng có ích như vậy thì không đúng. Trong 23 loài, lúa mạch và lúa mì emmer tỏ ra là tốt nhất theo nhiều tiêu chí. Lúa mì emmer có hạt to nhất, lúa mạch có hạt to nhì. Ngoài hoang dã, lúa mạch là một trong bốn loài mọc dồi dào nhất trong 23 loài, lúa mì emmer thì có độ dồi dào trung bình. Lúa mạch có thêm lợi thế nữa là hệ di truyền và hình thái của nó cho phép nhanh chóng phát triển những biến đổi có ích cho con người ở cơ chế phát tán hạt và cơ chế ngăn chặn nảy mầm mà ta đã bàn ở chương trước. Bù lại, lúa mì emmer lại có những phẩm chất khác: loài này có thể thu hoạch hữu hiệu hơn lúa mạch, nó lại chẳng giống loài ngũ cốc nào khác ở chỗ hạt không dính vào vỏ. Còn về 21 loài kia, nhược điểm của chúng là hạt nhỏ, trong nhiều trường hợp là ít ỏi hơn, trong một số trường hợp do chúng là cây nhiều năm chứ không phải cây một năm, hậu quả là nếu được thuần hóa chúng sẽ biến đổi rất chậm.
Vậy là, những nhà nông đầu tiên ở Thung lũng Jordan đã chọn chính 2 loài tốt nhất trong số 23 loài cỏ dại có sẵn trong vùng. Dĩ nhiên, các thay đổi tiến hóa (do được trồng) ở cơ chế phát tán hạt và ngăn chặn nảy mầm hẳn là những hệ quả không thể tiên liệu được của những gì các nhà nông đầu tiên đó đã làm. Nhưng việc họ ngay từ đầu đã chọn thu hoạch lúa mạch và lúa mì emmer chứ không phải loài ngũ cốc nào khác mang về nhà trồng cho thấy rằng hẳn là họ làm vậy một cách có ý thức, dựa trên những tiêu chí dễ dàng nhận thấy là kích thước hạt, ăn được và năng suất cao.
Ví dụ này về thung lũng Jordan, giống như ví dụ về Tell Abu Hureyra, cho thấy các nhà nông đầu tiên đã dùng tri thức chi tiết về các loài bản địa sao cho có lợi cho mình. Biết rõ các loài cây bản địa hơn hầu hết các nhà thực vật học chuyên nghiệp hiện đại, chắc hẳn họ hầu như đã chẳng hề bỏ sót không trồng bất cứ loài cây dại có ích nào tương đối thích hợp cho việc thuần hóa.
Giờ ta có thể khảo sát xem các nông dân bản địa, ở hai phần của thế giới (New Guinea và miền đông Hoa Kỳ), vốn đã có những hệ thống sản xuất lương thực nảy sinh tự phát nhưng rõ ràng còn khiếm khuyết so với hệ tương tự của Lưỡi liềm Phì nhiêu, đã làm gì khi có các loại cây trồng năng sản hơn du nhập từ nơi khác đến. Nếu những loại cây trồng đó không được họ tiếp thu vì những lý do văn hóa hay lý do gì khác, chúng ta vẫn sẽ còn đó một tồn nghi lớn. Mặc cho tất cả những lập luận của chúng ta từ trước đến giờ, ta vẫn cứ phải đặt nghi vấn rằng hệ thực vật hoang dã bản địa vẫn có một loại cây dại lẽ ra có thể là tổ tiên cho một cây trồng có giá trị, nhưng các nông dân bản địa đã không khai thác được nó vì những nhân tố văn hóa tương tự. Hai ví dụ này cũng sẽ minh họa chi tiết một sự kiện trọng yếu trong lịch sử: rằng những loại cây từ những phần khác nhau trên thế giới không hẳn là đều năng sản như nhau.
New Guinea, hòn đảo lớn nhất thế giới sau Greenland, nằm ngay ở phía bắc Australia và gần xích đạo. Bởi vị trí ở vùng nhiệt đới và sự đa dạng cao về địa hình và môi trường sống, New Guinea phong phú cả các loài cây cỏ lẫn động vật, tuy không phong phú bằng các khu vực nhiệt đới ở lục địa bởi đây là một hòn đảo. Người ta đã sinh sống ở New Guinea ít nhất là 40.000 năm nay, lâu hơn nhiều so với ở châu Mỹ và cũng lâu hơn chút ít so với những người hiện đại theo nghĩa giải phẫu học từng sống ở Tây Âu. Như vậy người New Guinea đã có khối cơ hội để hiểu biết tường tận hệ thực vật và động vật ở nơi mình sống. Liệu họ có cảm thấy cần áp dụng tri thức đó vào việc phát triển nền sản xuất lương thực hay không?
Tôi đã nhắc rằng để người ta tiếp thu sản xuất lương thực, [trước hết phải] diễn ra sự cạnh tranh giữa lối sống sản xuất lương thực với lối sống săn bắt hái lượm. Lối sống săn bắt hái lượm ở New Guinea không hữu hiệu đến mức khiến người ta mất đi động lực phát triển nền sản xuất lương thực. Đặc biệt, những thợ săn New Guinea hiện đại còn phải chịu một bất lợi lớn là sự khan hiếm thú săn: không có con thú đất liền bản địa nào lớn hơn loài chim không biết bay nặng 100 cân Anh[3] (con cassowary) và con kanguru nặng 50 cân Anh[4]. Những người New Guinea sống ở vùng đất thấp ven biển có thể kiếm được nhiều cá và sò ốc, một số người dân vùng đất thấp trong nội địa đến nay vẫn còn săn bắt hái lượm, sống được chủ yếu nhờ cây cọ sago mọc hoang. Nhưng không một dân tộc nào còn sống theo lối săn bắt hái lượm trên vùng cao ở New Guinea; thay vì vậy tất cả người dân vùng cao New Guinea ngày nay đều làm nông, chỉ dùng lương thực hoang dã để bổ sung thêm vào thực đơn hằng ngày. Khi dân vùng cao vào rừng để đi săn, họ vẫn mang theo rau trồng ở nhà để ăn. Nếu chẳng may hết cái ăn dự trữ đó thì ngay cả họ cũng sẽ chết đói dù họ biết rõ từng li từng tí các lương thực hoang dã có trong vùng. Bởi lối sống săn bắt hái lượm không còn đứng vững được ở phần lớn New Guinea hiện nay, nên chẳng có gì lạ rằng tất cả dân vùng cao và hầu hết dân vùng thấp New Guinea ngày nay là những nhà nông định cư có những hệ thống sản xuất lương thực tinh vi. Những khu đất rộng trước kia là rừng trên vùng cao đã được các nông dân New Guinea truyền thống chuyển thành những hệ thống đồng ruộng có hàng rào, được tưới tiêu, thâm canh hầu nuôi sống những cộng đồng dân cư đông đúc.
Bằng chứng khảo cổ cho thấy nguồn gốc của nền nông nghiệp New Guinea là rất cổ, niên đại khoảng 7.000 năm trCN. Vào các niên đại sớm đó, toàn bộ đất liền quanh New Guinea hãy còn do những người săn bắt hái lượm sinh sống, cho nên nền nông nghiệp cổ này ắt đã được phát triển một cách độc lập ở New Guinea. Tuy người ta chưa phục hồi được di tích chắc chắn về cây trồng ở các cánh đồng cổ đại đó, nhưng ắt hẳn các loài cây đó bao gồm cũng một số loại cây trồng vẫn được trồng ở New Guinea vào thời điểm người châu Âu đến chiếm làm thuộc địa và ngày nay ta biết là đã được thuần hóa tại New Guinea từ các loài cây hoang bản địa. Đứng hàng đầu trong số các cây trồng được thuần hóa tại New Guinea là loại cây trồng hàng đầu thế giới ngày nay, cây mía, mà sản lượng hằng năm hiện nay gần như tương đương sản lượng của cây trồng thứ hai (lúa mì) và thứ ba (ngô) cộng lại. Những cây trồng khác rõ ràng có nguồn gốc New Guinea là một nhóm cây chuối gọi là chuối Australimusa, cây phỉ Canarium indicum và cây khoai sọ đầm lầy khổng lồ cũng như nhiều loại thân, rễ cỏ ăn được và rau xanh. Cây bánh mì và khoai lang cũng như khoai sọ (thường) cũng có thể đã được thuần hóa ở New Guinea, mặc dù kết luận này chưa chắc chắn vì các loài cây dại tổ tiên của chúng không chỉ mọc ở New Guinea mà phân bố từ New Guinea đến Đông Nam Á. Hiện ta thiếu bằng chứng khả dĩ giải đáp câu hỏi liệu chúng có được thuần hóa ở Đông Nam Á như người ta vẫn nghĩ không, hay chúng cũng được thuần hóa một cách độc lập ở New Guinea, thậm chí chỉ ở New Guinea mà thôi.
Tuy nhiên, hóa ra rằng vùng sinh vật của New Guinea cũng có ba hạn chế nghiêm trọng. Thứ nhất, không một loài ngũ cốc nào đã được thuần hóa ở New Guinea, trong khi một số loài ngũ cốc vô cùng trọng yếu đã được thuần hóa ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, vùng Sahel và Trung Hoa. New Guinea, bằng việc chỉ tập trung vào các cây cho rễ và thân, lại đẩy tới mức cực đoan một xu hướng thường gặp nơi các hệ thống nông nghiệp ở các vùng nhiệt đới ẩm khác (vùng Amazon, Tây Phi nhiệt đới và Đông Nam Á), nơi mà nông dân cũng nặng về các loại cây trồng cho rễ nhưng đồng thời cũng cố trồng được ít nhất hai loại ngũ cốc (lúa gạo châu Á và một cây ngũ cốc có hạt khổng lồ ở châu Á gọi là “nước mắt của Job”). Một lý do khả dĩ khiến tại sao New Guinea không trồng ngũ cốc là sự thiếu hụt thấy rõ các loài cây hoang khả dĩ làm vật liệu: trong số 56 loài cây dại thân thảo có hạt lớn nhất trên thế giới, không một loài nào mọc ở New Guinea cả.
Thứ hai, hệ động vật ở New Guinea không có loài thú lớn nào có thể thuần hóa được. Những loài gia súc duy nhất ở New Guinea, lợn và chó, đến từ Đông Nam Á qua ngả Indonesia trong vòng mấy ngàn năm trở lại đây. Hệ quả là, trong khi dân vùng thấp ở New Guinea lấy protein từ cá mà họ bắt được, thì dân vùng cao New Guinea lại thiếu protein trầm trọng bởi các cây trồng cung cấp hầu hết calori cho họ (khoai sọ và khoai lang) vốn nghèo protein. Khoai sọ chẳng hạn, chỉ có 1% protein, ít hơn nhiều thậm chí so với gạo trắng, và thấp hơn nhiều so với lúa mì và đậu của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu (lần lượt là 8-14% và 20-25% protein).
Trẻ em trên các vùng cao New Guinea bị bụng ỏng, nét đặc trưng cho chế độ ăn uống nhiều về số lượng nhưng thiếu protein. Người già người trẻ ở New Guinea thường xuyên ăn chuột, nhện, ếch và các con vật nhỏ khác, những thứ mà những dân tộc ở các vùng khác có khả năng nuôi gia súc lớn hoặc săn được con mồi lớn chẳng bao giờ động đến. Thiếu protein có lẽ cũng là lý do tối hậu khiến tại sao tục ăn thịt người lại phổ biến ở các xã hội vùng cao truyền thống tại New Guinea.
Cuối cùng, ở các thời trước, những cây trồng lấy rễ có sẵn ở New Guinea vốn cũng hạn chế về hàm lượng calori như protein bởi chúng không mọc tốt lắm ở những vùng cao nơi nhiều người New Guinea sinh sống ngày nay. Tuy nhiên, nhiều thế kỷ trước đây, cây khoai lang, một cây trồng lấy rễ có nguồn gốc tận Nam Mỹ, đã đến New Guinea có lẽ theo ngả Philippines nơi người Tây Ban Nha đã mang nó đến. So với khoai sọ và các loại cây trồng lấy rễ có lẽ xưa hơn của New Guinea, khoai lang có thể trồng ở nơi cao hơn, mọc nhanh hơn, năng suất cao hơn tính trên mỗi hécta canh tác và giờ công. Hệ quả của việc du nhập cây khoai lang là dân số vùng cao tăng vọt. Nghĩa là, thậm chí dù người ta đã làm nông nghiệp ở vùng cao New Guinea từ nhiều ngàn năm trước khi cây khoai lang được du nhập, song các loại cây trồng địa phương đã khiến mật độ dân số và độ cao sinh sống của họ bị hạn chế.
Nói ngắn gọn, New Guinea là một trường hợp trái ngược với Lưỡi liềm Phì nhiêu và có thể chỉ ra nhiều điều cho chúng ta. Cũng như những người săn bắt hái lượm ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, những người săn bắt hái lượm ở New Guinea đã phát triển sản xuất lương thực một cách độc lập. Tuy nhiên, sản xuất lương thực bản địa của họ bị hạn chế vì khu vực của họ không có những loài ngũ cốc, cây họ đậu và loài thú có thể thuần hóa, vì tình trạng thiếu protein ở vùng cao, và bởi không có nhiều những loài cây bản địa trồng lấy rễ ở vùng thấp. Thế nhưng bản thân người New Guinea biết rõ về các loài cây dại và thú hoang ở nơi mình sống chẳng kém bất cứ dân tộc nào khác trên Trái đất ngày nay. Họ hẳn đã có thể đã phát hiện và thử nghiệm bất cứ loài cây dại nào đáng được thuần hóa. Họ hoàn toàn có khả năng nhận biết đâu là những giống cây hữu ích có thể bổ sung vào danh mục cây trồng của mình, như ta đã thấy qua việc họ hồ hởi tiếp thu cây khoai lang khi nó được du nhập từ nơi khác đến. Cũng một bài học đó vẫn đúng ở New Guinea tận ngày nay, bởi vì những bộ lạc nào có lợi thế tiếp xúc với các cây trồng và vật nuôi mới được du nhập (hoặc do những nhân tố văn hóa mà sẵn sàng tiếp thu chúng) thì đang phát triển, trong khi những bộ lạc nào không có lợi thế đó hay sự sẵn sàng tiếp thu đó thì mai một. Như vậy, sự hạn chế của nền sản xuất lương thực bản địa tại New Guinea chẳng có gì liên quan tới bản thân các dân tộc New Guinea, mà hoàn toàn là do vùng sinh vật và môi trường của New Guinea.
Một ví dụ khác về việc nền nông nghiệp bản địa có thể bị hạn chế bởi bản thân hệ thực vật bản địa, ấy là vùng phía tây Hoa Kỳ. Cũng như New Guinea, vùng này thuận lợi để người ta có thể thuần hóa một cách độc lập các loài cây dại bản địa. Tuy nhiên, về những phát triển đầu tiên của sản xuất lương thực tại miền đông Hoa Kỳ, chúng ta biết rõ hơn nhiều so với ở New Guinea: người ta đã xác định được các giống cây mà những nông dân đầu tiên ở khu vực này đã trồng, niên đại và trình tự thuần hóa các loài cây này người ta cũng đã biết. Từ lâu trước khi các loại cây trồng bắt đầu từ nơi khác đến, người châu Mỹ bản địa đã định cư ở các thung lũng sông tại miền tây Hoa Kỳ và phát triển nền sản xuất lương thực thâm canh dựa trên các loài cây bản địa. Từ đó họ có khả năng tận dụng các loài cây dại hứa hẹn nhất. Họ đã thực sự canh tác những loại cây nào, và hành trang cây trồng bản địa của họ rốt cuộc là thế nào nếu so sánh với hành trang của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu gồm những loại cây trồng sáng lập?
Hóa ra các loại cây trồng sáng lập của miền đông Hoa Kỳ là bốn loại cây trồng được thuần hóa vào khoảng 2.500-1.500 năm trCN, muộn hơn hẳn 6.000 năm sau khi lúa mì và lúa mạch được thuần hóa ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Một loài bí bản địa cho quả nhỏ cũng như hạt ăn được. Ba loài sáng lập khác được trồng chỉ vì cho hạt ăn được (hướng dương, một loài cây có họ hàng với hoa cúc gọi là sumpweed, và một cây có họ xa với rau bina gọi là goosefoot).
Nhưng bốn loại cây trồng cho hạt và một cây cho quả thì còn xa mới là đủ để có một hành trang sản xuất lương thực toàn diện. Trong suốt 2.000 năm, bốn loại cây trồng sáng lập đó chỉ cung cấp một phần bổ sung nhỏ nhoi vào khẩu phần ăn của con người bên cạnh lương thực hoang dã đặc biệt là các loài thú hữu nhũ và chim nước lớn, cá, sò ốc và quả hạch. Nghề nông vẫn không cung cấp một phần quan trọng cho thực đơn của họ cho mãi tới giai đoạn 500-200 trCN, sau khi ba loài cây cho hạt khác (knotweed, maygrass và lúa mạch nhỏ) được đưa vào trồng.
Một nhà dinh dưỡng hiện đại hẳn sẽ hoan nghênh bảy loài cây trồng đó của miền đông Hoa Kỳ. Tất cả đều có hàm lượng protein cao - 17 đến 32% so với 8-14% của lúa mì, 9% của ngô, và thậm chí còn thấp hơn đối với lúa mạch và gạo trắng. Hai loài trong số đó, hướng dương và sumpweed, còn chứa nhiều dầu (45-47%). Đặc biệt, sumpweed hẳn có thể là loài cây trong mơ của nhà dinh dưỡng, với hàm lượng protein lên tới 32% và dầu 45%. Thế tại sao đến ngày nay chúng ta không còn ăn những thứ lương thực trong mơ ấy nữa?
Than ôi, tuy về giá trị dinh dưỡng thì chúng có ưu thế vượt trội là vậy, song hầu hết các loài cây trồng miền đông Hoa Kỳ đó lại có những bất lợi nghiêm trọng ở những khía cạnh khác. Goosefoot, knotweed, lúa mạch nhỏ và maygrass đều có hạt nhỏ xíu, khối lượng chỉ bằng một phần mười so với hạt lúa mì và lúa mạch. Còn tệ hơn thế, sumpweed là một loài chuyên thụ phấn bằng gió có họ hàng với cỏ ambrosi (ragweed), loài cây vốn khét tiếng là nguyên nhân gây ra bệnh sốt mùa hè[5]. Cũng như cỏ ambrosi, hạt phấn của sumpweed có thể gây bệnh sốt mùa hè nếu cây mọc thành những cụm lớn sum suê. Nếu điều ấy chưa đủ làm bạn nguội đi nhiệt huyết muốn trở thành nhà nông chuyên trồng cây sumpweed thì hãy coi chừng: nó có mùi rất gắt mà một số người không chịu nổi, khi thu hoạch và xử lý nó thì lại còn có thể bị kích thích da.
Các cây trồng Mexico rốt cuộc cũng bắt đầu đến được miền đông Hoa Kỳ theo những con đường mậu dịch sau năm 1. Ngô đến miền này vào khoảng năm 200, nhưng trong suốt nhiều thế kỷ vai trò của nó vẫn rất thứ yếu. Cuối cùng, khoảng năm 900 xuất hiện một giống ngô khác thích hợp với mùa hè ngắn của Bắc Mỹ, đến khi đậu được du nhập vào khoảng năm 1.100 thì đã hình thành đầy đủ bộ ba cây trồng Mexico gồm ngô, đậu và bí. Nghề nông ở miền đông Hoa Kỳ bắt đầu được thâm canh mạnh, và những tù trưởng quốc đông dân bắt đầu phát triển dọc theo sông Mississippi và các phụ lưu của nó. Ở một số khu vực, các loài cây trồng bản địa có từ trước vẫn tiếp tục tồn tại bên cạnh bộ ba cây trồng Mexico năng sản hơn nhiều, nhưng ở các khu vực khác thì chúng bị bộ ba này chiếm chỗ hoàn toàn. Không một người châu Âu nào từng thấy sumpweed mọc trong vườn tược của người Anh-điêng bởi đến khi người châu Âu bắt đầu chiếm châu Mỹ làm thuộc địa vào năm 1492 thì nó đã biến mất với tư cách cây trồng. Trong tất cả các loài cây trồng cổ đại đặc sản của miền đông Hoa Kỳ, chỉ có hai loài (hướng dương và bí miền đông) là cạnh tranh nổi với các cây trồng được thuần hóa ở nơi khác và vẫn được trồng đến ngày nay. Những quả bí sồi[6] và bí mùa hè (summer squash) đều ra đời từ những quả bí châu Mỹ đã được thuần hóa từ hàng ngàn năm trước.
Như vậy, cũng như trường hợp New Guinea, trường hợp miền đông Hoa Kỳ có thể nói cho ta nhiều điều. Cứ theo suy diễn thì vùng này ắt phải là một vùng thích hợp để có thể có một nền nông nghiệp bản địa năng suất cao. Vùng này có đất đai màu mỡ, lượng mưa vừa phải đều đặn và khí hậu thích hợp giúp duy trì một nền nông nghiệp trù phú như ngày nay. Hệ thực vật vùng này rất phong phú các loài, trong đó có những loài cây dại có quả hạch (cây sồi và cây mại châu). Người châu Mỹ bản địa đã phát triển được một nền nông nghiệp dựa trên các cây trồng bản địa, nhờ vậy đã có thể sinh sống thành làng, thậm chí còn phát triển được một nền văn hóa phồn thịnh (văn hóa Hopewell từng tập trung ở khu vực ngày nay là Ohio) vào khoảng 200 năm trCN đến năm 400. Vì vậy suốt nhiều ngàn năm họ đã có khả năng khai thác những loài cây dại hữu ích nhất làm cây trồng tiềm năng dù các loài đó là gì đi nữa.
Tuy nhiên, thời kỳ hưng thịnh Hopewell chỉ nổi lên gần 9.000 năm sau khi các làng mạc đã xuất hiện ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Lại nữa, mãi đến sau năm 900 thì sự hình thành bộ ba cây trồng Mexico mới kích thích một sự bùng nổ dân số, cái gọi là thời hưng thịnh Mississippi vốn đã làm phát sinh những đô thị lớn nhất và xã hội phức tạp nhất mà người châu Mỹ bản địa phía bắc Mexico từng đạt tới. Nhưng sự bùng nổ đó xuất hiện quá muộn, khiến người châu Mỹ bản địa ở Hoa Kỳ ngày nay không kịp chuẩn bị đối phó với thảm họa thực dân hóa khi người châu Âu xuất hiện. Nền sản xuất lương thực chỉ dựa trên các cây trồng miền đông Hoa Kỳ đã không đủ để kích thích sự bùng nổ đó, vì những lý do không khó chỉ ra. Những cây ngũ cốc có sẵn ở khu vực này còn xa mới hữu ích như lúa mì và lúa mạch. Người châu Mỹ bản địa miền đông Hoa Kỳ đã không thuần hóa được loài cây họ đậu, cây lấy sợi, cây ăn trái hay cây quả hạch nào. Họ không có loài thú thuần hóa nào ngoại trừ chó mà ngay cả loài này hẳn cũng đã được thuần hóa tại nơi khác ở châu Mỹ.
Cũng rõ một điều rằng người châu Mỹ bản địa ở miền đông Hoa Kỳ đã không bỏ qua những loài cây trồng có tiềm năng trong số các loài cây dại ở quanh họ. Ngay cả các nhà nhân giống ở thế kỷ XX, được trang bị bao nhiêu là sức mạnh khoa học hiện đại, vẫn chẳng thành công bao lăm trong việc khai thác các loài cây dại Bắc Mỹ. Phải, chúng ta đã thuần hóa được đậu pecan, một loài quả hạch, và việt quất, một loài cây ăn trái, ta cũng đã cải thiện được vài cây ăn trái của lục địa Âu-Á (táo, mận, nho, mâm xôi, mâm xôi đen và dâu) bằng cách lai ghép với các loài cây dại Bắc Mỹ có họ hàng với chúng. Tuy nhiên, dăm thành công nhỏ nhoi đó chẳng làm thay đổi thói quen thực phẩm của chúng ta là bao so với ngô đã làm thay đổi thói quen thực phẩm của người châu Mỹ bản địa miền đông Hoa Kỳ từ sau năm 900.
Các nhà nông hiểu biết nhất về các loài cây trồng bản địa miền đông Hoa Kỳ, tức là bản thân những người châu Mỹ bản địa sống ở vùng đó, đã tính sổ các loài đó bằng cách loại bỏ hoặc đâm coi nhẹ chúng từ khi bộ ba cây trồng Mexico xuất hiện. Hệ quả đó cũng cho thấy rằng người châu Mỹ bản địa không hề bị trói buộc bởi tính bảo thủ văn hóa, mà hoàn toàn có khả năng đánh giá đúng một loại cây trồng tốt khi họ gặp. Vậy là, cũng như ở New Guinea, những hạn chế đối với nền sản xuất lương thực bản địa ở miền đông Hoa Kỳ không phải là vì bản thân các dân tộc châu Mỹ bản địa, mà tùy thuộc hoàn toàn vào vùng sinh vật và môi trường của châu Mỹ.
Đến nay ta đã xét các ví dụ về ba khu vực tương phản nhau, ở tất cả các khu vực đó sản xuất lương thực đã phát sinh một cách độc lập. Ở một cực là Lưỡi liềm Phì nhiêu; ở cực đối lập là New Guinea và miền đông Hoa Kỳ. Các dân tộc ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu thuần hóa các loài cây bản địa sớm hơn nhiều. Họ thuần hóa được nhiều loài hơn gấp bội, thuần hóa được những loài năng sản hơn gấp bội hoặc có giá trị hơn gấp bội, thuần hóa một loạt cây trồng đa dạng hơn gấp bội, phát triển sản xuất lương thực thâm canh và dân số tăng nhanh chóng, hệ quả là họ tiến vào thế giới hiện đại với một nền công nghệ tiên tiến hơn, tổ chức chính trị phức tạp hơn, và những căn bệnh có tính truyền nhiễm hơn có thể lây lan cho các dân tộc khác.
Ta thấy rằng những khác biệt đó giữa vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, New Guinea và miền đông Hoa Kỳ phát sinh trực tiếp từ những khác biệt giữa số loài cây và loài thú hoang dã có thể thuần hóa được ở mỗi nơi, chứ không phải từ những hạn chế của bản thân các dân tộc. Khi có những loài cây trồng năng sản hơn được du nhập từ nơi khác tới (khoai lang ở New Guinea, bộ ba cây trồng Mexico ở miền đông Hoa Kỳ), người dân địa phương đã nhanh chóng tận dụng chúng ngay, qua đó tăng cường sản xuất lương thực và gia tăng dân số. Xa hơn thế, tôi cho rằng các khu vực trên thế giới nơi mà sản xuất lương thực hoàn toàn chưa hề phát sinh độc lập - California, Australia, đồng bằng pampas ở Argentina, Đông Âu, vv. - hẳn còn có ít loài cây và thú có thể thuần hóa hơn cả New Guinea và miền đông Hoa Kỳ, những nơi mà chí ít cũng đã phát sinh một nền sản xuất lương thực dù hạn chế. Thật ra, công trình nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu của Mark Blumler về các loài cỏ dại bản địa có hạt lớn đã được nhắc tới trong chương này, cùng với nghiên cứu toàn cầu về các loài hữu nhũ lớn bản địa (sẽ được trình bày ở chương sau), đều nhất trí chỉ ra rằng tất cả các khu vực nơi không hề có sản xuất lương thực bản địa hoặc chỉ có sản xuất lương thực ở mức hạn chế đều là những nơi thiếu các loài hoang dã có thể thuần hóa thành cây trồng ngũ cốc và vật nuôi.
Hãy nhớ lại rằng sản xuất lương thực phát sinh từ chỗ cạnh tranh giữa lối sống sản xuất lương thực với lối sống săn bắt hái lượm. Vì vậy, người ta có thể tự hỏi liệu có phải tất cả các trường hợp sản xuất lương thực phát sinh muộn hoặc không hề phát sinh hẳn đều là do nguồn lương thực hoang dã có thể săn bắt và hái lượm ở các vùng đó là cực kỳ phong phú, chứ không phải vì ở đó có lắm loài thích hợp để thuần hóa. Trên thực tế, hầu hết các vùng nơi sản xuất lương thực bản địa phát sinh muộn hoặc không hề phát sinh thì đều có nguồn lương thực hoang dã hết sức nghèo nàn chứ không phải là phong phú cho những người săn bắt hái lượm, bởi hầu hết các loài hữu nhũ lớn của Australia và châu Mỹ (nhưng không phải của lục địa Âu-Á và châu Phi) đã bị tuyệt chủng vào cuối thời kỳ Băng hà. Ở các khu vực đó, lối sống sản xuất lương thực hẳn đã ít phải cạnh tranh với lối sống săn bắt hái lượm hơn là ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Vì vậy, chúng ta không thể quy việc các vùng đó không có nền sản xuất lương thực hoặc chỉ có ở mức hạn chế là do ở đó dồi dào thực phẩm săn bắt hái lượm.
Để tránh hiểu sai những kết luận trên, chúng ta nên kết thúc chương này bằng những lời cảnh báo đối với hai quan điểm cường điệu: một quan điểm cho rằng người ta luôn luôn sẵn sàng đón nhận các loài cây trồng và vật nuôi tốt hơn, quan điểm thứ hai cho rằng tùy theo một khu vực có sẵn những loài cây dại và thú hoang nào mà sản xuất lương thực ở khu vực đó có bị hạn chế hay không. Cả hai quan điểm đó đều không hoàn toàn đúng.
Chúng ta đã đề cập nhiều ví dụ về việc người dân địa phương đón nhận những cây trồng năng sản hơn vốn đã được thuần hóa ở nơi khác. Kết luận chung của chúng ta là: các dân tộc vốn dĩ có khả năng nhận biết những loài cây nào có ích, đã vậy thì ắt họ phải nhận biết được còn giỏi hơn thế những loài cây bản địa nào thích hợp để thuần hóa nếu như có các loài cây ấy [ở địa bàn sinh sống của họ], và họ không bị ngăn cản làm vậy bởi tính bảo thủ văn hóa hoặc những điều cấm kỵ. Nhưng ta cần phải thêm một cụm từ hạn định quan trọng vào câu này: “về lâu dài và ở những khu vực rộng lớn”. Bất cứ ai hiểu biết về các xã hội loài người đều có thể kể ra vô số thí dụ về các xã hội từng khước từ những loài cây trồng, gia súc và những cách tân khác dù chúng có năng suất cao đi nữa.
Lẽ tự nhiên, tôi không tán thành ý kiến rõ ràng là sai lầm rằng xã hội nào cũng sẽ mau mắn chộp lấy bất kỳ sự cách tân nào khả dĩ có ích cho nó. Sự thật là, ở mức độ toàn bộ các châu lục và các khu vực rộng lớn nơi có hàng trăm xã hội cạnh tranh với nhau, một số xã hội sẽ cởi mở hơn với cách tân, một số xã hội khác thì bảo thủ hơn. Những xã hội nào chịu tiếp nhận các cây trồng, vật nuôi hay công nghệ mới thì có thể sẽ nhờ đó mà tự nuôi mình tốt hơn, sinh sôi nảy nở, chiếm chỗ, chinh phục hoặc tiêu diệt những xã hội khước từ đổi mới. Đó là một hiện tượng quan trọng; và các biểu hiện của nó không chỉ bó hẹp ở việc tiếp thu những cây trồng mới mà còn xa hơn nhiều, ta sẽ quay lại vấn đề này ở Chương 13.
Cảnh báo thứ hai của tôi liên quan đến quan điểm rằng sự phát sinh sản xuất lương thực có thể bị hạn chế bởi số loài hoang dã có sẵn trong từng khu vực. Tôi không nói rằng sản xuất lương thực sẽ không bao giờ có thể phát sinh, dù trong bao lâu đi nữa, ở tất cả các khu vực nào mà sản xuất lương thực quả thật đã không phát sinh độc lập cho đến thời hiện đại. Những người châu Âu ngày nay, khi nhận thấy người châu Úc bản địa bước vào thế giới hiện đại như những người săn bắt hái lượm thời đồ đá, vẫn cho rằng [nếu không có thế giới hiện đại thì] người châu Úc bản địa sẽ đời đời kiếp kiếp như thế mãi.
Để thấy rõ ý tưởng này sai lầm đến đâu, hãy hình dung một vị khách từ hành tinh khác đáp xuống Trái đất vào năm 3.000 trCN. Nhà thám hiểm không gian sẽ quan sát thấy không hề có sản xuất lương thực ở miền đông Hoa Kỳ, bởi sản xuất lương thực mãi đến khoảng 2.500 năm trCN mới bắt đầu phát sinh ở đó. Giá như vị khách vũ trụ từ năm 3.000 trCN rút ra kết luận rằng vì thiếu các loài cây dại và thú hoang thích hợp để thuần hóa ở miền đông Hoa Kỳ nên sản xuất lương thực sẽ mãi mãi không bao giờ xuất hiện ở vùng đó được, thì các sự kiện ở thiên niên kỷ sau đó sẽ chứng minh rằng vị khách đó sai. Ngay cả một vị khách đến thăm vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu vào năm 9.500 trCN chứ không phải 8.500 trCN cũng sẽ lầm tưởng rằng Lưỡi liềm Phì nhiêu sẽ vĩnh viễn không thích hợp cho sản xuất lương thực.
Như vậy có nghĩa: luận điểm của tôi không phải là California, Australia, Tây Âu và tất cả các khu vực khác sở dĩ không có nền sản xuất lương thực bản địa là do thiếu những loài có thể thuần hóa và ở đó sẽ mãi mãi chỉ những người săn bắt hái lượm mới sinh sống được nếu như không có những loài thuần hóa từ nơi khác được du nhập vào hoặc không có những dân tộc phương xa di cư tới. Thay vì vậy, tôi lưu ý rằng các khu vực trên thế giới khác xa nhau ở [chủng loại] các loài có thể thuần hóa được, rằng, tương ứng với điều đó, các khu vực cũng khác nhau ở niên đại phát sinh sản xuất lương thực, và sản xuất lương thực ở một số vùng trù phú đã không phát sinh độc lập cho mãi tới thời hiện đại.
Australia, vốn được coi là châu lục “lạc hậu” nhất, minh họa rõ điểm này. Ở đông nam Australia, phần có nhiều sông và thích hợp nhất cho sản xuất lương thực, các xã hội châu Úc bản địa hình như đã tiến hóa theo một quỹ đạo mà cuối cùng sẽ dẫn đến nền sản xuất lương thực bản địa. Họ đã xây dựng những làng mạc mùa đông. Họ đã bắt đầu xử lý môi trường một cách sâu sắc nhằm sản xuất cá bằng cách bện bẫy cá, lưới đánh cá, thậm chí xây cả những con kênh dài. Giá như người châu Âu không thuộc địa hóa Australia vào năm 1788 và làm thui chột cái quỹ đạo tiến hóa đó thì trong vòng vài ngàn năm nữa người châu Úc bản địa hẳn đã trở thành những người sản xuất lương thực, nuôi cá đã thuần hóa ở trong ao, trồng khoai lang và các loài cỏ bản địa có hạt nhỏ đã được thuần hóa.
Dưới ánh sáng đó, giờ đây ta có thể trả lời câu hỏi hàm ẩn trong nhan đề của chương này. Tôi đã hỏi liệu nguyên nhân khiến người Anh-điêng Bắc Mỹ không thuần hóa được loài táo dại Bắc Mỹ là do bản thân những người Anh-điêng hay là do loài táo.
Khi hỏi vậy, tôi không hàm ý rằng táo chẳng bao giờ có thể thuần hóa ở Bắc Mỹ được. Hãy nhớ lại rằng, trong lịch sử, táo nằm trong số những loài cây ăn trái khó trồng nhất và là một trong những loài cây chính được thuần hóa muộn nhất ở Âu-Á, bởi để nhân giống nó thì phải có kỹ thuật ghép. Chẳng có bằng chứng nào cho thấy táo đã được trồng trên quy mô lớn ngay cả ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, châu Âu thì cho mãi tới thời Hy Lạp cổ, [nghĩa là] 8.000 năm sau khi sản xuất lương thực đã khởi đầu ở lục địa Âu-Á. Giá như người châu Mỹ bản địa đã tiến triển với cùng tốc độ [như lục địa Âu-Á] trong việc phát minh hoặc tiếp thu kỹ thuật ghép cây thì ngay cả họ rốt cuộc cũng sẽ thuần hóa được cây táo vào khoảng năm 5.500, [nghĩa là] chừng 8.000 năm sau khi sản xuất lương thực bắt đầu ở Bắc Mỹ vào khoảng 2.500 năm trCN.
Như vậy, nguyên nhân khiến người châu Mỹ bản địa không thuần hóa được táo Bắc Mỹ vào thời điểm người châu Âu đến châu Mỹ không phải là ở bản thân con người cũng chẳng phải ở loài táo. Về những điều kiện tiên quyết về sinh học để có thể thuần hóa loài táo, các nông dân Anh-điêng Bắc Mỹ cũng giống như các nông dân Âu-Á, còn táo dại Bắc Mỹ cũng chẳng khác gì táo dại Âu-Á. Quả thực, một số giống táo bán ngoài siêu thị ngày nay mà bạn hẳn đang vừa gặm vừa đọc chương này chỉ được phát triển gần đây bằng cách giao phối chéo táo Âu-Á với táo Bắc Mỹ. Thay vì vậy, nguyên nhân khiến người Anh-điêng Bắc Mỹ không thuần hóa được táo là nằm ở toàn bộ danh mục các loài cây dại và thú hoang có sẵn cho người châu Mỹ bản địa. Chính vì trong danh mục đó số lượng các loài có thể thuần hóa được là ít ỏi cho nên sản xuất lương thực mới phát sinh ở Bắc Mỹ một cách muộn màng.
❀ ❀ ❀
[1] . Chickpea: một loài đậu có hạt lớn màu vàng nhạt, dùng làm rau ăn. – ND.
[2] . Ý nói các loài cây trồng và vật nuôi. – ND.
[3] . Khoảng 45 kg. – ND.
[4] . Khoảng 22,5 kg. – ND.
[5] . Hayfever, còn dịch là “bệnh sốt mùa cỏ khô”, thực chất là một chứng dị ứng trước phấn hoa, kích thích phần trên của hệ hô hấp và mắt, làm người bệnh bị những triệu chứng như chảy nước mũi, ngứa mũi, ngứa mắt, chảy nước mắt, sổ mũi. – ND.
[6] . Tạm dịch chữ acorn squash, một loại bí mọc vào mùa đông, hình dạng giống như quả sồi, vỏ màu xanh lục thẫm có sọc, thịt màu vàng hoặc cam. – ND.