Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16. Tại Sao Trung Hoa Đã Trở Thành Trung Quốc

❊ ❊ ❊

Nhập cư, chính sách ưu đãi thành phần thiểu số[1], đa ngôn ngữ, đa dạng sắc tộc - bang California của tôi đã từng nằm trong số những bang đi tiên phong trong các chính sách gây tranh cãi này, song hiện nay lại đang đi tiên phong trong việc phản đối kịch liệt các chính sách đó. Chỉ cần liếc vào các lớp học trường công nơi các con tôi đang học là có thể thấy những cuộc tranh cãi trừu tượng kia được cụ thể hóa ra sao qua gương mặt các học sinh. Các trẻ em này nói trên 80 thứ tiếng khi ở nhà, trong khi người da trắng nói tiếng Anh chỉ là thiểu số. Trong số bạn cùng lớp của các con tôi, bất cứ đứa nào cũng có ít nhất cha hoặc mẹ hoặc một trong các ông bà nội ngoại sinh ra ở ngoài nước Mỹ; ba trong số bốn ông bà của các con tôi cũng vậy. Nhưng sự nhập cư đó đơn giản là đang phục hồi lại sự đa dạng mà châu Mỹ từng có suốt hàng ngàn năm. Trước khi người châu Âu di cư đến, vùng nội địa Hoa Kỳ ngày nay đã là nơi sinh sống của hàng trăm bộ lạc người châu Mỹ bản địa nói hàng trăm thứ tiếng, và chỉ trong mấy trăm năm trở lại đây thì tất cả mới được quy lại dưới sự kiểm soát của một chính phủ duy nhất.

Về các phương diện đó thì Hoa Kỳ là một đất nước hết sức “bình thường”. Trong số sáu nước đông dân nhất thế giới thì đã có đến năm nước là những cái “nồi lẩu”[2] và chỉ gần đây mới đạt tới sự thống nhất về chính trị, các nước này vẫn đang bao gồm hàng trăm ngôn ngữ và nhóm dân tộc. Chẳng hạn, nước Nga, vốn ban đầu chỉ là một nhà nước Xlavơ nhỏ bé tập trung ở Mátxcơva, mãi đến năm 1582 mới bắt đầu bành trướng ra ngoài dãy Ural. Từ đó cho tới thế kỷ XIX, nước Nga tiếp tục nuốt chửng hàng tá dân tộc phi Xlavơ khác, nhiều dân tộc trong số đó đến nay vẫn giữ được ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của mình. Cũng như lịch sử nước Mỹ là lịch sử về việc một phần Bắc Mỹ bành trướng thành nước Mỹ, lịch sử nước Nga là lịch sử về việc nước Nga trở thành Nga. Ấn Độ, Indonesia và Brazil cũng là những thực thể chính trị vừa được thành tạo gần đây (hoặc trong trường hợp Ấn Độ là tái tạo), nơi đến ngày nay vẫn có lần lượt 850, 670 và 210 ngôn ngữ.

Trường hợp ngoại lệ lớn đối với quy luật “nồi lẩu” này là nước đông dân nhất thế giới - Trung Quốc. Ngày nay, ít nhất là đối với người bình thường, Trung Quốc là một thể nguyên khối về chính trị, văn hóa và ngôn ngữ. Trung Quốc được thống nhất về chính trị ngay từ năm 221 trCN và vẫn thống nhất như vậy trong hầu hết các thế kỷ từ đó đến giờ. Ngay từ buổi đầu của văn tự ở Trung Quốc, đất nước này luôn luôn chỉ có một hệ chữ viết duy nhất, trong khi châu Âu ngày nay sử dụng hàng tá bảng chữ cái được điều chỉnh. Trong số 1,[2] tỷ người Trung Quốc, hơn 800 triệu người nói tiếng Quan thoại, thứ ngôn ngữ có đông người dùng như tiếng mẹ đẻ nhất trên thế giới. Khoảng 300 triệu người khác nói bảy ngôn ngữ khác khá giống tiếng Quan thoại và cũng khá giống nhau như tiếng Tây Ban Nha giống tiếng Ý vậy. Như vậy, không những Trung Quốc chẳng phải là một nồi lẩu, mà thậm chí sẽ là ngớ ngẩn nếu đi hỏi Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc như thế nào. Trung Hoa vốn dĩ đã là Trung Quốc hầu như ngay từ đầu lịch sử thành văn của nó.

Chúng ta đã quá quen coi sự thống nhất bề ngoài này của Trung Quốc là chuyện tự nhiên đến nỗi quên mất rằng [thực ra] điều đó lạ lùng đến nhường nào. Một nguyên nhân khiến chúng ta lẽ ra không nên lầm tưởng về sự thống nhất ấy là yếu tố di truyền. Tuy rằng lối phân loại chủng tộc thô thiển thường gộp chung toàn bộ người Trung Quốc vào cái gọi là chủng Mongoloid, song cái tiêu chí gọi là Mongoloid đó ẩn chứa nhiều sự khác biệt hơn cả những sự khác biệt giữa người Thụy Điển, người Ý và người Ailen trong phạm vi châu Âu. Đặc biệt, người Bắc Trung Quốc và người Nam Trung Quốc khác nhau khá rõ về di truyền cũng như ngoại hình: trong khi người Bắc Trung Quốc gần người Tây Tạng và người Nepal hơn cả thì người Nam Trung Quốc lại gần người Việt Nam và người Philippines. Tôi có những người bạn quê ở cả Bắc Trung Quốc lẫn Nam Trung Quốc, thường thì chỉ cần liếc qua ngoại hình là có thể phân biệt ai với ai rồi: người Bắc Trung Quốc thường cao hơn, nặng cân hơn, da sáng màu hơn, mũi nhọn hơn, mắt thì nhỏ hơn và có vẻ “xếch” hơn (do cái gọi là “nếp bán nguyệt” của họ)[3].

Bắc Trung Quốc và Nam Trung Quốc cũng khác nhau về môi trường và khí hậu. Miền Bắc khô, lạnh hơn, miền Nam ẩm, nóng hơn. Những khác biệt di truyền nảy sinh trong các môi trường khác nhau đó gợi ý rằng đã từng có một sự cách ly vừa phải giữa các dân tộc ở Bắc Trung Quốc với các dân tộc ở Nam Trung Quốc. Vậy làm thế nào rốt cuộc các dân tộc đó vẫn có cùng những ngôn ngữ và văn hóa như nhau hoặc rất giống nhau?

Vẻ ngoài gần như thống nhất về ngôn ngữ của Trung Quốc cũng còn khó hiểu nếu ta tính đến sự phi thống nhất về ngôn ngữ ở các khu vực khác có người ở từ lâu đời trên thế giới. Chẳng hạn, ở chương trước ta đã thấy rằng New Guinea, với diện tích chưa bằng một phần mười diện tích Trung Quốc và chỉ với 40.000 năm lịch sử loài người, lại có đến hàng ngàn ngôn ngữ, trong đó có những nhóm ngôn ngữ mà sự khác biệt giữa chúng còn lớn hơn gấp bội so với những khác biệt giữa tám ngôn ngữ chính của Trung Quốc. Tây Âu đã tiến hóa hoặc tiếp thu được khoảng 40 ngôn ngữ chỉ trong vòng 6.000 - 8.000 năm kể từ khi các ngôn ngữ Ấn-Âu xâm nhập khu vực này, trong đó có những ngôn ngữ khác xa nhau như tiếng Anh, tiếng Phần Lan và tiếng Nga. Thế nhưng di tích hóa thạch cho thấy con người đã hiện diện ở Trung Quốc từ trên nửa triệu năm trước. Thế thì chuyện gì đã xảy ra với hàng ngàn ngôn ngữ khác xa nhau mà ắt hẳn đã phát sinh ở Trung Quốc trong suốt quãng thời gian dài đến vậy?

Những nghịch lý đó gợi ý rằng kể cả Trung Quốc cũng từng có thời rất đa dạng [về dân tộc và ngôn ngữ] như bất cứ nước đông dân nào khác hiện nay. Trung Quốc chỉ khác ở chỗ đã được thống nhất từ sớm hơn nhiều. Sự “Trung Quốc hóa” của đất nước này nằm ở chỗ nó đã đồng nhất hóa cả một khu vực rộng lớn, biến nó thành một “nồi lẩu” tụ cư ngay từ thời cổ đại, đã giành lấy vùng Đông Nam Á nhiệt đới từ các cư dân bản địa, và đã gây ảnh hưởng to lớn đến Nhật Bản, Triều Tiên và có thể cả Ấn Độ nữa. Vì vậy, lịch sử Trung Quốc cho ta chìa khóa để thấu hiểu lịch sử Đông Á. Chương này sẽ thuật lại Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc như thế nào.

Điểm xuất phát thuận tiện cho chúng ta là một bản đồ chi tiết về các ngôn ngữ của Trung Quốc (Hình 16.[1]). Chỉ cần liếc vào bản đồ này, tất cả những ai trong chúng ta xưa nay vẫn cho rằng Trung Quốc là một khối đồng nhất đều sẽ sáng mắt ra. Hóa ra rằng bên cạnh tám ngôn ngữ “lớn” của Trung Quốc - tiếng Quan thoại và bảy ngôn ngữ có họ hàng gần (thường được gọi chung là “tiếng Trung Hoa”[4] cho đơn giản), mỗi ngôn ngữ có từ 11 triệu đến 800 triệu người nói - Trung Quốc còn có trên 130 ngôn ngữ “nhỏ”, nhiều ngôn ngữ trong số đó chỉ có dăm ngàn người nói. Tất cả các ngôn ngữ đó, dù “lớn” hay “nhỏ”, được chia thành bốn ngữ hệ, các ngữ hệ này khác nhau rất nhiều ở mức độ phân bố dày đặc hay thưa thớt.

Ở một cực là tiếng Quan thoại và các ngôn ngữ họ hàng của nó, các thứ tiếng này là phân hệ Trung Hoa của ngữ hệ Hán-Tạng vốn được phân bố đều từ Bắc xuống Nam Trung Quốc. Ta có thể đi bộ ngang qua Trung Quốc, từ Mãn Châu ở phía bắc xuống Vịnh Bắc bộ ở phía nam mà suốt quãng đường đó chỉ đi qua toàn những vùng nơi cư dân nói tiếng Quan thoại và các thứ tiếng họ hàng của nó như tiếng mẹ đẻ. Ba ngữ hệ khác thì phân bố tản mác, những người nói các ngôn ngữ này tập trung trong những “ốc đảo” mà bao quanh là cả một “biển” những người nói tiếng Trung Hoa và các ngữ hệ khác.

Phân bố đặc biệt manh mún là ngữ hệ Mèo-Dao (còn gọi là Hmông-Miến), gồm 6 triệu người nói chia thành khoảng năm ngôn ngữ mang những cái tên đầy màu sắc là Mèo Đỏ, Mèo Trắng (cũng gọi là Mèo Sọc), Mèo Đen, Mèo Xanh và Dao. Người nói tiếng Mèo-Dao sống trong hàng tá vùng nhỏ bị bao quanh tứ phía bởi những người nói ngôn ngữ thuộc ngữ hệ khác và phân tán trên một diện tích rộng tới nửa triệu dặm vuông, kéo dài từ Nam Trung Quốc tới tận Thái Lan. Hơn 100.000 người nói tiếng Mèo xuất thân từ Việt Nam đã mang theo ngữ hệ của mình đến nước Mỹ nơi người ta thường biết đến họ dưới một cái tên khác là người Hmông.

Một nhóm ngôn ngữ phân bố manh mún khác là ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) mà trong đó các ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất là tiếng Việt và tiếng Campuchia (Khmer). 60 triệu người nói các thứ tiếng Nam Đảo phân bố rải rác từ Việt Nam ở phía đông đến bán đảo Mã Lai ở phía nam và miền bắc Ấn Độ ở phía tây. Ngữ hệ thứ tư và cuối cùng của Trung Quốc là ngữ hệ Thái-Kadai (trong đó có tiếng Thái và tiếng Lào) gồm 50 triệu người nói, phân bố từ Nam Trung Quốc về phía nam đến miền nam Thái Lan và về phía tây đến Myanmar (Hình 16.[1]).

Lẽ tự nhiên, những người nói tiếng Mèo-Dao ngày nay sống phân tán như vậy không phải vì ngày xưa họ đã đi máy bay trực thăng rồi lần lượt kẻ hạ cánh chỗ này người hạ cánh chỗ kia trên khắp cả châu Á. Thay vì vậy, ta có thể phỏng đoán rằng đã có thời họ sống tập trung hơn, chỉ về sau mới trở nên phân tán khi những người nói các ngữ hệ khác bành trướng đến hoặc lôi cuốn họ từ bỏ tiếng nói của mình. Trên thực tế, hầu hết quá trình phân mảnh ngôn ngữ đó đã diễn ra trong vòng 1.500 năm trở lại đây và được ghi nhận khá kỹ trong lịch sử. Tổ tiên những người nói tiếng Thái, Lào và Miến Điện ngày nay đều đã từ miền nam Trung Quốc và các khu vực lân cận di cư xuống vị trí hiện tại trong quá trình lịch sử, liên tục nuốt chửng những kẻ vốn là hậu duệ của những đợt di dân từ trước và đang định cư ở các vùng này. Những người nói các ngôn ngữ Trung Quốc đặc biệt mạnh mẽ trong việc chiếm chỗ các nhóm dân tộc khác - những kẻ mà họ khinh miệt coi là man di mọi rợ - và [buộc] họ phải chuyển sang dùng các ngôn ngữ Trung Quốc. Lịch sử thành văn của triều Chu Trung Quốc từ năm 1100 đến năm 221 trCN mô tả rõ việc các nhà nước nói tiếng Trung Hoa đã chinh phục và hấp thu hầu hết các quần thể dân cư không nói tiếng Trung Hoa ở Trung Quốc.

49
50

Hình 16.[1]. Bốn ngữ hệ của Trung Quốc và Đông Nam Á.

51

Hình 16.[2]. Các biên giới chính trị ngày nay ở Đông Á và Đông Nam Á, dùng để diễn giải sự phân bố các ngữ hệ đã trình bày trong Hình 16.[1].

Ta có thể vận dụng một số kiểu lập luận để xây dựng lại tấm bản đồ ngôn ngữ của vùng Đông Á vào mấy ngàn năm trước. Trước hết, ta có thể đảo ngược những quá trình bành trướng ngôn ngữ mà người ta đã biết trong mấy ngàn năm trở lại đây. Thứ hai, ta có thể lập luận rằng: những khu vực mà ngày nay chỉ có một ngôn ngữ duy nhất, hoặc một khu vực rộng lớn và liên tục nơi chỉ có một nhóm ngôn ngữ có họ hàng với nhau chiếm lĩnh, là bằng chứng cho thấy sự bành trướng về ngôn ngữ của nhóm đó vào một thời điểm chỉ mới gần đây, nghĩa là chưa có đủ thời gian lịch sử để ngôn ngữ đó phân hóa thành nhiều ngôn ngữ. Cuối cùng, ta có thể lập luận ngược lại, rằng khu vực nào mà ngày nay có sự đa dạng cao về ngôn ngữ song tất cả đều nằm trong một ngữ hệ nhất định, thì khu vực đó nằm gần hơn với trung tâm phân bố ban đầu của ngữ hệ đó.

Dùng ba kiểu lập luận đó để quay ngược đồng hồ ngôn ngữ học, ta [có thể] kết luận rằng thoạt kỳ thủy Bắc Trung Quốc là nơi sinh sống của những người nói tiếng Trung Quốc và các ngôn ngữ Hán-Tạng khác; rằng các vùng ở Nam Trung Quốc từng là nơi cư trú của những người nói các ngôn ngữ Mèo-Dao, Nam Á (Austroasiatic) và Thái-Kadai; và rằng những người nói ngôn ngữ Hán-Tạng đã chiếm chỗ những người nói các ngữ hệ khác đó trên khắp Nam Trung Quốc. Một biến động còn mạnh mẽ hơn thế nữa ắt hẳn đã quét qua vùng Đông Nam Á nhiệt đới nằm về phía nam Trung Quốc - ở Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Việt Nam và bán đảo Mã Lai. Dù [cư dân gốc của các vùng này] trước đó nói ngôn ngữ gì đi nữa, các ngôn ngữ đó ắt đã hoàn toàn biến mất, bởi tất cả các ngôn ngữ được sử dụng ở các nước đó ngày nay dường như đều là những ngôn ngữ được du nhập về sau, chủ yếu là từ Nam Trung Quốc hoặc - trong một ít trường hợp - từ Indonesia. Bởi các ngôn ngữ Mèo-Dao chật vật lắm mới tồn tại đến ngày nay, chúng ta có thể đoán rằng Nam Trung Quốc từng là nơi tồn tại của những ngữ hệ khác nữa ngoài các ngữ hệ Mèo-Dao, Nam Á và Thái-Kadai, song không một ngôn ngữ nào thuộc các ngữ hệ khác đó còn sống sót đến ngày nay. Như ta sẽ thấy, ngữ hệ Nam Đảo (mọi ngôn ngữ Philippines và ngôn ngữ Polynesia đều thuộc nhóm này) có thể là một trong các ngữ hệ đó - các ngữ hệ từng biến mất khỏi Trung Hoa đại lục, và chúng ta chỉ biết đến nhờ chúng đã bành trướng sang các đảo Thái Bình Dương và còn tồn tại ở đó đến ngày nay.

Việc nhóm ngôn ngữ này thay thế nhóm ngôn ngữ khác ở Đông Á trong lịch sử làm chúng ta nhớ lại sự bành trướng của các ngôn ngữ châu Âu, đặc biệt là tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha sang Tân Thế giới, nơi mà trước đó từng là quê hương của hơn một ngàn ngôn ngữ châu Mỹ bản địa hay hơn nữa. Qua lịch sử nước Mỹ gần đây, chúng ta biết rằng tiếng Anh đã thay thế các ngôn ngữ Anh-điêng bản địa chẳng phải vì người Anh-điêng thấy tiếng Anh nghe du dương hơn. Trên thực tế, tiếng Anh đã thay thế các ngôn ngữ Anh-điêng là bởi những kẻ di dân nói tiếng Anh đã giết hại hầu hết người Anh-điêng bằng cách gây chiến tranh, ám sát và đổ bệnh cho người Anh-điêng, và những người Anh-điêng sống sót đã buộc phải chấp nhận tiếng Anh, ngôn ngữ của kẻ đa số mới. Nguyên nhân trực tiếp của việc thay thế ngôn ngữ này là bởi những người châu Âu xâm lăng kia có ưu thế về công nghệ và tổ chức chính trị - mà về sâu xa là từ lợi thế xuất phát sớm hơn trong việc sản xuất lương thực - so với người châu Mỹ bản địa. Rõ ràng cũng chính những quá trình đó là nguyên nhân sâu xa khiến cho tiếng Anh đã thế chỗ các ngôn ngữ Australia bản địa và các ngôn ngữ Bantu đã thế chỗ các ngôn ngữ Pygmie và Khoisan nguyên thủy của châu Phi hạ xích đạo.

Do đó, những biến động về ngôn ngữ ở Đông Á đặt ra cho ta một câu hỏi tương ứng: cái gì đã khiến những người nói các ngôn ngữ Hán-Tạng có thể bành trướng từ Bắc Trung Quốc xuống Nam Trung Quốc còn những người nói các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo và các ngữ hệ nguyên thủy khác ở Nam Trung Quốc bành trướng về phía nam vào Đông Nam Á nhiệt đới? Ở đây ta phải viện đến ngành khảo cổ để tìm bằng chứng cho thấy một số dân tộc châu Á đã từng có ưu thế trong công nghệ, chính trị và nông nghiệp so với các dân tộc châu Á khác.

Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, tư liệu khảo cổ đối với hầu hết lịch sử loài người ở Đông Á chỉ phát lộ được dấu vết của những người săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá thô không đánh bóng và không có đồ gốm. Bằng chứng về một cái gì đó không phải như vậy đã phát sinh đầu tiên ở Trung Quốc, nơi mà di tích cây trồng, xương gia súc, đồ gốm và công cụ đá có đánh bóng (Đồ đá mới) đã xuất hiện vào khoảng 7.500 năm trCN. Niên đại ấy nằm trong khoảng một ngàn năm kể từ lúc khởi đầu Thời đại Đồ đá mới và buổi đầu nền sản xuất lương thực ở Lưỡi liềm Phì nhiêu. Song, vì có ít bằng chứng khảo cổ về những gì diễn ra ở Trung Quốc trong một ngàn năm trước đó, nên hiện nay ta không thể biết chắc liệu nguồn phát nguyên sản xuất lương thực Trung Quốc là đồng thời, sớm hơn hay muộn hơn chút ít so với Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ít nhất ta có thể nói rằng Trung Quốc là một trong các trung tâm thuần hóa cây trồng và vật nuôi sớm nhất.

Trên thực tế, Trung Quốc có thể bao gồm hai nguồn phát nguyên sản xuất lương thực độc lập hay nhiều hơn nữa. Trước đây tôi đã nhắc tới sự khác biệt về sinh thái giữa miền bắc Trung Quốc khô, mát với miền nam Trung Quốc nóng, ẩm. Ở cùng một vĩ độ cũng vẫn có sự khác biệt sinh thái giữa vùng đất thấp ven biển với vùng cao nội địa. Mỗi môi trường như vậy có những loài cây dại khác nhau, nên các nhà nông sơ khai ở từng vùng của Trung Quốc hẳn đã có trong tay những loài cây dại khác nhau [để thuần hóa]. Trên thực tế, những loại cây trồng xưa nhất đã xác định được là hai giống kê chịu hạn ở Bắc Trung Quốc nhưng ở Nam Trung Quốc thì lại là cây lúa, điều này cho thấy có thể đã có hai trung tâm thuần hóa cây trồng riêng biệt ở Trung Quốc [thời tiền sử], một ở miền bắc và một ở miền nam.

Các di chỉ Trung Quốc nơi có bằng chứng xưa nhất về cây trồng cũng chứa cả xương các loài gia súc gồm lợn, chó và gà. Các loài gia súc và cây trồng này dần dần được bổ sung thêm nhiều loài thuần hóa khác của Trung Quốc. Trong các loài vật nuôi, trâu là loài quan trọng nhất (để kéo cày), còn các loài khác là tằm, vịt và ngỗng. Các loại cây trồng muộn hơn của Trung Quốc gồm có đậu nành, gai dầu, chanh, trà, mơ, đào và lê. Ngoài ra, cũng như trục đông-tây của Âu-Á cho phép nhiều loài trong số các vật nuôi và cây trồng đó của Trung Quốc có thể bành trướng về phía tây trong thời cổ đại, các loài thuần hóa của Tây Á cũng bành trướng về phía đông đến Trung Quốc và trở thành quan trọng ở đó. Những đóng góp đặc biệt quan trọng của Tây Á vào nền kinh tế Trung Quốc cổ đại là lúa mì và lúa mạch, bò và ngựa, và (ở mức độ thấp hơn) cừu và dê.

Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, ở Trung Quốc nền sản xuất lương thực dần dần đưa tới những dấu hiệu đặc thù khác của “văn minh” mà ta đã đề cập tới ở Chương 11-[14]. Một truyền thống luyện kim màu ưu việt ở Trung Quốc đã khởi nguồn từ thiên niên kỷ thứ ba trCN và cuối cùng dẫn đến việc Trung Quốc đã tạo ra được sản phẩm bằng gang đầu tiên trên thế giới từ rất sớm, khoảng 500 năm trCN. Khoảng 1.500 năm sau đó đánh dấu sự ra đời ồ ạt nhiều phát minh công nghệ ở Trung Quốc mà ta đã đề cập ở Chương 13 trong đó có giấy, la bàn, xe cút kít và thuốc súng. Các thành thị được xây kiên cố xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ ba trCN, với những nghĩa địa mà trong đó có sự khác biệt lớn lao giữa các ngôi mộ đơn sơ với những ngôi mộ được trang hoàng xa xỉ, cho thấy đã bắt đầu nảy sinh sự phân chia giai cấp. Bằng chứng về những xã hội có phân chia giai cấp, nơi các nhà lãnh đạo có thể huy động nhân lực to lớn của thường dân, có thể thấy rõ qua những bức tường bảo vệ thành thị cao ngất ngưởng, những cung điện nguy nga và cuối cùng là con Kênh Lớn (con kênh dài nhất thế giới dài trên 1.600 km) nối liền Bắc Trung Quốc với Nam Trung Quốc. [Di tích xưa nhất về] chữ viết còn lại từ thiên niên kỷ thứ hai trCN song chữ viết có lẽ đã phát sinh sớm hơn. Kiến thức khảo cổ của chúng ta về những thành thị và nhà nước ra đời ở Trung Quốc thời kỳ này được bổ sung bởi các văn bản của những triều đại đầu tiên của Trung Quốc mà xưa nhất là nhà Hạ ra đời từ khoảng 2.000 năm trCN.

Còn về sản phẩm phụ tai hại của nền sản xuất lương thực là các bệnh truyền nhiễm, ta không thể chỉ ra chính xác các căn bệnh chính có nguồn gốc Cựu Thế giới đã nảy sinh ở những nơi nào của Cựu Thế giới. Tuy nhiên, các văn bản của châu Âu từ thời La Mã và thời trung cổ có thuật lại những trận dịch hạch và có thể cả đậu mùa từ phương đông đến, vì vậy các vi trùng đó có thể có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc Tây Á. Bệnh cúm (phát sinh từ lợn) còn có khả năng đã ra đời từ Trung Quốc sớm hơn thế nữa, bởi lợn đã được thuần hóa rất sớm và trở nên một loài vật nuôi quan trọng đến vậy ở khu vực này.

Quy mô rộng lớn và sự đa dạng về sinh thái của Trung Quốc đã khiến nảy sinh nhiều nền văn hóa địa phương riêng biệt, có thể phân biệt rõ về mặt khảo cổ qua những đồ gốm và vật phẩm thuộc nhiều phong cách khác nhau. Vào thiên niên kỷ thứ tư trCN các nền văn hóa địa phương đó đã bành trướng về địa lý và bắt đầu tiếp xúc, cạnh tranh với nhau và hợp nhất vào nhau. Cũng như sự trao đổi các loài thuần hóa giữa những khu vực khác nhau về sinh thái đã làm phong phú nền sản xuất lương thực của Trung Quốc, sự trao đổi giữa các khu vực khác nhau về văn hóa đã làm nền văn hóa và công nghệ Trung Quốc thêm phong phú, còn sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tù trưởng quốc luôn giao tranh với nhau đã dẫn đến sự hình thành những nhà nước còn lớn hơn và tập trung hơn (Chương 14).

Tuy trục bắc-nam của Trung Quốc cũng kìm hãm sự phát tán các loại cây trồng, song rào cản này không nghiêm trọng như ở châu Mỹ hay châu Phi, bởi khoảng cách bắc nam của Trung Quốc nhỏ hơn và bởi Trung Quốc không bị sa mạc chia cắt như châu Phi hay phía bắc Mexico, cũng không bị một eo đất hẹp ngăn đôi như Trung Mỹ. Thay vì vậy, các dòng sông dài theo trục đông-tây (Hoàng Hà ở phía bắc, Dương Tử ở phía nam) giúp cây trồng và công nghệ có thể phát tán dễ dàng từ duyên hải vào nội địa và ngược lại, trong khi khoảng cách lớn giữa đông-tây và địa hình tương đối thoải không chỉ cho phép hai hệ thống sông lớn đó có thể nối với nhau bằng các con kênh mà còn tạo điều kiện cho sự trao đổi giữa miền nam và miền bắc. Tất cả các nhân tố địa lý này đã góp phần làm Trung Quốc sớm thống nhất về văn hóa và chính trị, trong khi miền tây châu Âu vốn cũng có diện tích tương tự nhưng địa hình lại hiểm trở hơn và không có các con sông nối liền nhau thì đã cưỡng lại sự thống nhất về văn hóa và chính trị cho mãi đến ngày nay.

Một số kỹ thuật đã bành trướng từ nam đến bắc ở Trung Quốc, đặc biệt là nấu quặng sắt và trồng lúa. Nhưng hướng bành trướng chính vẫn là từ bắc xuống nam. Xu hướng ấy rõ nhất là ở chữ viết: ngược lại với phía tây lục địa Âu-Á nơi đã ra đời một loạt các hệ chữ viết đầu tiên như chữ hình nêm Sumer, chữ tượng hình Ai Cập, các bảng chữ cái Hittite, Minoan và Semitic, Trung Quốc chỉ tạo nên một hệ chữ viết duy nhất có chứng cứ vững chắc. Hệ chữ viết đó được hoàn thiện ở Bắc Trung Quốc, bành trướng xuống phía nam và ngăn chặn hay đoạt mất cơ hội ra đời của các hệ chữ viết khác đang còn trong trứng nước, để rồi tiến hóa thành hệ chữ viết vẫn đang được dùng ở Trung Quốc ngày nay. Những đặc trưng chính khác của các xã hội Bắc Trung Quốc bành trướng xuống phía nam là kỹ nghệ đồng thiếc, các ngôn ngữ Hán-Tạng và sự hình thành nhà nước. Toàn bộ ba triều đại đầu tiên của Trung Quốc - nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu - đều nảy sinh ở Bắc Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai trCN.

Các văn bản từ thiên niên kỷ đầu tiên trCN còn lại đến nay cho thấy, ngay từ thời đó người Trung Quốc gốc Hán (nhiều người Trung Quốc ngày nay vẫn còn như vậy) đã có xu hướng coi mình là ưu việt hơn về văn hóa so với những kẻ “man di” không phải người Trung Quốc, trong khi người Bắc Trung Quốc thậm chí có xu hướng coi ngay cả người Nam Trung Quốc là mọi rợ man di. Chẳng hạn, một tác giả vào cuối thời nhà Chu vào thiên niên kỷ thứ nhất trCN đã mô tả các dân tộc khác của Trung Quốc như sau: “Dân ở năm vùng đó - các nước vùng giữa và các bộ tộc Nhung, Di và những bộ tộc man di khác xung quanh - có một số đặc tính riêng không thể nào thay đổi được. Các bộ tộc phía đông gọi là Di. Họ để tóc xõa xượi (không buộc) và xăm khắp người. Một số còn ăn đồ ăn không nấu bằng lửa”. Tác giả đời nhà Chu này tiếp tục mô tả các bộ tộc khác ở phía nam, tây và bắc Trung Quốc như những kẻ thích thú những tập quán cũng mọi rợ y như vậy, tỉ như đi mà hai bàn chân quặp vào trong, xăm trên trán, mặc da [thú?], sống trong hang, không ăn ngũ cốc và - dĩ nhiên - ăn đồ sống.

Các nhà nước do nhà Chu của Bắc Trung Quốc lập ra hoặc theo mô hình của nhà Chu đã bành trướng về Nam Trung Quốc trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất trCN mà đỉnh điểm là sự thống nhất Trung Quốc về chính trị dưới đời nhà Tần vào năm 221 trCN. Sự thống nhất văn hóa của Trung Quốc cũng tăng tốc trong cùng thời kỳ đó, bởi các nhà nước Trung Quốc “văn minh” hấp thụ các bộ tộc “dã man” vào mình hoặc trở thành mẫu mực cho các bộ tộc đó sao chép. Có những lúc sự thống nhất văn hóa đó diễn ra một cách tàn khốc: vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần - Tần Thủy Hoàng - buộc tội hết thảy sử sách được viết ra trước đó đều là vô giá trị và hạ lệnh đem đốt hết, gây tổn thất lớn lao cho tri thức của chúng ta ngày nay về lịch sử và chữ viết Trung Quốc thời kỳ đầu. Những biện pháp tàn bạo như vậy ắt đã góp phần khiến cho các ngôn ngữ Hán-Tạng bành trướng ra hầu hết Trung Quốc, trong khi ngữ hệ Mèo-Dao và các ngữ hệ khác thì bị co hẹp lại thành những vùng phân bố manh mún như ngày nay.

Trong phạm vi Đông Á, lợi thế xuất phát trước của Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất lương thực, công nghệ, chữ viết và hình thành nhà nước đã dẫn đến hệ quả là những cách tân của Trung Quốc cũng đóng góp lớn lao vào những sự phát triển ở các khu vực láng giềng. Chẳng hạn, cho đến thiên niên kỷ thứ tư trCN hầu hết Đông Nam Á nhiệt đới vẫn còn là nơi sinh sống của những dân săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá cuội và đá phiến thuộc cái gọi là truyền thống Hòa Bình, đặt theo tên của vùng Hòa Bình ở Việt Nam. Từ đó trở đi, các cây trồng có gốc từ Trung Quốc, công nghệ Đồ đá mới, lối sống theo làng xã và đồ gốm tương tự như của Nam Trung Quốc mới bành trướng xuống Đông Nam Á nhiệt đới, đi kèm theo đó có thể là các ngữ hệ Nam Trung Quốc. Những sự bành trướng trong lịch sử của người Miến Điện, người Lào và người Thái từ Nam Trung Quốc về phía nam đã hoàn tất quá trình Hán hóa vùng Đông Nam Á nhiệt đới. Mọi dân tộc ở khu vực đó ngày nay đều là hậu duệ gần của những người anh em Nam Trung Quốc[5].

Sức mạnh áp đảo đó của Trung Quốc khủng khiếp đến nỗi các dân tộc từng có mặt ở Đông Nam Á nhiệt đới từ trước đó đã chẳng để lại được bao nhiêu dấu vết của mình ở cư dân khu vực đó ngày nay. Chỉ có ba nhóm săn bắt hái lượm còn sót lại - người Semang Negrito ở bán đảo Mã Lai, cư dân đảo Andaman và người Veddoid Neggito ở Sri Lanka - gợi cho ta nghĩ rằng những cư dân Đông Nam Á nhiệt đới xưa kia [trước khi các bộ tộc có gốc từ Nam Trung Quốc bành trướng xuống] có thể da màu thẫm và tóc xoăn như người New Guinea ngày nay chứ không da sáng, tóc thẳng như người Nam Trung Quốc và cư dân Đông Nam Á nhiệt đới vốn là hậu duệ của họ. Số người Negrito ít ỏi còn lại ở Đông Nam Á có thể là những kẻ cuối cùng sống sót từ những dân tộc đã từng đi thực dân hóa New Guinea. Những người Semang Negrito vẫn sống theo lối săn bắt hái lượm và trao đổi với các nông dân láng giềng nhưng lại tiếp thu một ngôn ngữ Nam Á từ các nhà nông đó, cũng như người săn bắt hái lượm Negrito ở Philippines và người Pygmy ở châu Phi đã tiếp thu ngôn ngữ từ các nhà nông mà họ có quan hệ trao đổi. Chỉ ở các hòn đảo Andaman xa xôi, các ngôn ngữ không có quan hệ gì với các ngữ hệ Nam Trung Quốc mới còn lại đến ngày nay - đó là những mảnh ngôn ngữ cuối cùng còn sót lại từ hàng trăm ngôn ngữ Đông Nam Á bản địa mà ngày nay đã hoàn toàn biến mất.

Thậm chí cả Triều Tiên và Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc cho dù nhờ vị trí địa lý tách biệt mà các nước này đã không đánh mất ngôn ngữ hoặc các đặc điểm về ngoại hình và di truyền khác biệt của mình như các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới. Triều Tiên và Nhật Bản tiếp thu gạo từ Trung Quốc vào thiên niên kỷ thứ hai trCN, nghề luyện đồng thiếc vào trước thiên niên kỷ thứ nhất trCN và chữ viết vào thiên niên kỷ thứ nhất CN. Trung Quốc cũng chuyển giao lúa và lúa mạch của vùng Tây Á cho Triều Tiên và Nhật Bản.

Tuy nhìn nhận Trung Quốc có vai trò hạt giống trong nền văn minh Đông Á, song chúng ta không nên phóng đại. Không phải bất kỳ tiến bộ văn hóa nào ở Đông Á cũng đều bắt nguồn từ Trung Quốc, cũng không phải người Triều Tiên, người Nhật Bản và người Đông Nam Á nhiệt đới đều là những kẻ dã man không có óc phát minh và không hề đóng góp được gì. Người Nhật cổ đại đã tạo ra được một trong những loại đồ gốm xưa nhất thế giới và tuy sống bằng săn bắt hái lượm nhưng đã định cư thành làng mạc nhờ có nguồn hải sản dồi dào của Nhật từ lâu trước khi sản xuất lương thực du nhập vào đất nước này. Một số loại cây trồng có thể đã được thuần hóa đầu tiên hoặc một cách độc lập ở Triều Tiên, Nhật Bản và Đông Nam Á nhiệt đới.

Song dù vậy vai trò của Trung Quốc vẫn rất lớn lao. Chẳng hạn, vị thế của văn hóa Trung Quốc ở Triều Tiên và Nhật Bản vẫn còn lớn đến mức Nhật Bản chưa bao giờ nghĩ đến việc từ bỏ hệ chữ viết có nguồn gốc từ Trung Quốc mặc dù thứ chữ đó bộc lộ nhiều nhược điểm trong việc thể hiện ngôn ngữ Nhật, trong khi Triều Tiên mãi mới gần đây mới chịu thay thế thứ chữ viết rườm rà có nguồn gốc từ Trung Quốc bằng bảng chữ cái han’gul tài tình của mình. Sự tồn tại dai dẳng đó của chữ viết Trung Quốc ở Triều Tiên và Nhật Bản là di sản sống động vào thế kỷ 20 của sự thuần hóa cây trồng và vật nuôi ở Trung Quốc gần 10.000 năm trước. Nhờ những thành tựu của các nhà nông đầu tiên ở Tây Á mà Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc và các dân tộc từ Thái Lan đến đảo Phục Sinh (như ta sẽ thấy ở chương sau) đã trở thành anh em của họ.

❀ ❀ ❀

[1] . Nguyên văn: affirmative action, chính sách hoặc chương trình nhằm bảo đảm quyền bình đẳng cho các sắc dân thiểu số hoặc các nhóm dân “thấp cổ bé họng”, chống các hình thức kỳ thị đối với họ, tạo cho họ cơ hội công bằng trong học hành, tuyển dụng, hướng nghiệp, v.v. – ND.

[2] . melting-pot, ý nói những đất nước nơi hòa trộn nhiều dân tộc và ngôn ngữ khác nhau. Có nơi dịch là “chốn tụ cư”. Nước Mỹ vẫn được coi là một melting-pot điển hình. – ND.

[3] . epicanthus fold: nếp gấp da từ chỗ mí mắt, che khuất một phần mắt ở gần mũi. – ND.

[4] . Ở Việt Nam người ta còn có khuynh hướng gọi tắt là “tiếng Hoa” hoặc “tiếng Trung”. Tuy nhiên trong sách này, tôi đề nghị dịch thống nhất là “tiếng Trung Hoa”. – ND

[5] . Những “người anh em Nam Trung Quốc” ở đây hẳn là các tộc Bách Việt theo cách gọi quen thuộc ở ta. ND.

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.