Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12. Bản Gốc Và Những Chữ Cái Vay Mượn

❊ ❊ ❊

Các tác giả thế kỷ mười chín có xu hướng lý giải lịch sử như là sự hành tiến từ dã man đến văn minh. Những cột mốc chủ yếu trong quá trình chuyển hóa này là sự phát triển nông nghiệp, nghề luyện kim, công nghệ tinh vi, chính phủ tập trung hóa, và chữ viết. Trong số đó, chữ viết xưa nay vẫn được coi là cột mốc có tính giới hạn nhất về địa lý: mãi đến khi đạo Hồi bành trướng và người châu Âu bắt đầu đi chinh phục thuộc địa, chữ viết vẫn hoàn toàn vắng mặt ở châu Úc, các đảo Thái Bình Dương, châu Phi hạ xích đạo và toàn bộ Tân Thế Giới ngoại trừ một phần nhỏ Trung Mỹ. Do hậu quả việc chữ viết phân bố không đồng đều đó, những kẻ tự hào là kẻ văn minh vẫn cho rằng chữ viết là sự khác biệt rõ ràng nhất nâng họ lên vị trí cao hơn so với những lũ người “dã man” hay “mọi rợ”.

Tri thức mang lại quyền lực. Thế nên chữ viết mang lại quyền lực cho xã hội văn minh, bởi nhờ chữ viết mà tri thức có thể được truyền tải chính xác hơn nhiều, với số lượng lớn hơn nhiều và chi tiết hơn nhiều, từ những vùng xa xôi hơn và những thời đại xa xưa hơn. Dĩ nhiên, một số dân tộc (đặc biệt người Inca) đã từng cai quản được cả một đế quốc mà không cần đến chữ viết, và các dân tộc “văn minh” không phải bao giờ cũng đánh bại được các dân tộc “dã man” - các đạo quân La Mã khi đương đầu với các tộc Hung nô đã học được bài học đó. Nhưng việc người châu Âu chinh phục được châu Mỹ, Siberia và châu Úc đã minh họa cho hệ quả điển hình của việc sở hữu chữ viết trong lịch sử.

Chữ viết song hành cùng vũ khí, vi trùng và tổ chức chính trị tập trung hóa như một trong các tác nhân chinh phục ở thời hiện đại. Mệnh lệnh của các tu sĩ và thương gia, những kẻ tổ chức các đoàn tàu chinh phục thuộc địa, đều được truyền đạt bằng chữ viết. Các đoàn tàu chinh phục thuộc địa xác định hải trình nhờ các bản đồ và văn bản hướng dẫn đi biển đã được lập từ những chuyến đi trước đó. Những báo cáo thành văn về các chuyến đi trước đó là tác nhân kích thích cho những chuyến đi sau, bằng cách mô tả sự giàu có và những vùng đất màu mỡ đang đợi người chinh phục. Những báo cáo đó cảnh báo cho các nhà du hành tiếp bước về những khó khăn họ sẽ phải đối mặt và giúp họ chuẩn bị sẵn sàng. Các đế quốc ra đời từ những chuyến đi này được cai quản nhờ chữ viết. Tuy toàn bộ các loại thông tin kể trên cũng được truyền tải bằng những phương tiện khác trong các xã hội chưa có chữ viết, song chữ viết giúp cho việc truyền tải đó dễ dàng hơn, chi tiết hơn, chính xác hơn và giàu thuyết phục hơn.

Nếu vậy thì tại sao chỉ một số dân tộc này chứ không phải những dân tộc khác đã tạo ra chữ viết một khi nó đã có giá trị áp đảo như vậy? Chẳng hạn, tại sao các xã hội săn bắt hái lượm truyền thống đã không phát minh ra hoặc tiếp thu chữ viết? Cùng là đế quốc hải đảo như nhau, song tại sao chữ viết chỉ phát sinh ở nền văn minh Minoa đảo Crete chứ không phải ở đảo Tonga thuộc Polynesia? Chữ viết đã phát sinh bao nhiêu lần cách biệt nhau trong lịch sử loài người, trong những hoàn cảnh nào, vì những mục đích nào? Trong các dân tộc đã phát minh ra chữ viết, tại sao một số dân tộc làm việc đó sớm hơn nhiều so với các dân tộc khác? Chẳng hạn, ngày nay hầu như tất cả người Nhật và người Scandinavia đều biết đọc còn hầu hết người Iraq thì không, thế nhưng tại sao chữ viết đã phát sinh ở chính Iraq gần bốn ngàn năm trước?

Sự phân bố chữ viết từ các khu vực phát nguyên cũng dấy lên những câu hỏi hệ trọng. Chẳng hạn, tại sao chữ viết bành trướng từ vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu sang Ethiopia và Arập nhưng lại không bành trướng từ vùng Andes đến Mexico? Các hệ chữ viết đã bành trướng bằng cách được người ta sao chép, hay các hệ chữ viết phát sinh sớm hơn đã kích thích các dân tộc láng giềng phát minh ra hệ chữ viết của riêng họ? Giả sử ta được cho một hệ chữ viết rất thích hợp với một ngôn ngữ, làm sao ta có thể phát minh một hệ chữ viết khác cho một ngôn ngữ khác? Những câu hỏi tương tự nảy sinh bất cứ lúc nào ta cố hiểu nguồn gốc và sự bành trướng của nhiều khía cạnh khác của văn hóa loài người chẳng hạn như công nghệ, tôn giáo và sản xuất lương thực. Giới sử gia quan tâm đến vấn đề chữ viết thì có lợi thế ở chỗ họ thường tìm được lời giải đáp chi tiết thông qua chính các bản văn. Vì vậy chúng ta sẽ khảo sát sự phát triển của chữ viết, không phải chỉ vì tầm quan trọng tự thân của chữ viết, mà còn bởi nó cho ta có cái nhìn thấu đáo về lịch sử văn hóa nói chung.

Các hệ chữ viết khác nhau ở chỗ mỗi ký hiệu được dùng để biểu đạt một đơn vị lời nói lớn hay nhỏ. Có ba loại giải pháp: một là mỗi ký hiệu biểu đạt một âm tiết cơ bản duy nhất, hai là biểu đạt trọn một âm tiết, ba là biểu đạt trọn một từ. Trong số này, giải pháp được hầu hết các dân tộc sử dụng ngày nay là bảng chữ cái ghi âm. Trong trường hợp lý tưởng, bảng chữ cái sử dụng một ký hiệu đơn nhất (gọi là chữ cái) để ghi mỗi âm cơ bản của ngôn ngữ (gọi là âm vị). Trên thực tế, hầu hết các bảng chữ cái chỉ gồm từ 20 đến 30 chữ cái, và hầu hết các ngôn ngữ có số lượng âm vị nhiều hơn số chữ cái trong bảng chữ cái. Chẳng hạn, tiếng Anh chỉ dùng 26 chữ cái để ký âm khoảng 40 âm vị. Do đó hầu hết các hệ chữ viết dùng bảng chữ cái - trong đó có tiếng Anh - buộc phải gán nhiều âm vị khác nhau cho cùng một chữ cái và biểu đạt một số âm vị bằng cách kết hợp nhiều chữ cái, chẳng hạn các kết hợp gồm hai chữ cái sh và th trong tiếng Anh (mỗi âm vị này trong tiếng Nga và tiếng Hy Lạp chỉ được biểu thị bằng một chữ cái).

Giải pháp thứ hai sử dụng cái gọi là chữ biểu tự (logogram), nghĩa là mỗi chữ viết biểu thị toàn bộ một từ. Đó là chức năng của nhiều ký tự chữ Hán và là phần chủ yếu trong hệ chữ viết của tiếng Nhật (gọi là kanji). Trước khi chữ viết bằng chữ cái ghi âm trở nên phổ biến, các hệ chữ viết dùng logogram từng thông dụng hơn, bao gồm chữ tượng hình Ai Cập, chữ Maya và chữ hình nêm của người Sumer.

Giải pháp thứ ba, ít quen thuộc hơn với hầu hết độc giả cuốn sách này, là sử dụng một ký tự cho từng âm tiết. Trên thực tế, hầu hết các hệ chữ viết này (gọi là syllabary, hay chữ biểu vần) dùng từng ký hiệu riêng để ghi từng âm tiết gồm một phụ âm theo sau là một nguyên âm (chẳng hạn như các âm tiết trong từ family (gia đình): fa-mi-ly), và sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau để viết những loại âm tiết khác nhờ các ký hiệu này. Chữ biểu vần rất phổ biến vào thời cổ đại, chẳng hạn Chữ kẻ vạch kiểu B (Linear B) của nền văn minh Mycene thuộc Hy Lạp. Một số hệ chữ biểu vần vẫn tồn tại đến ngày nay, trong số đó quan trọng nhất là chữ kana mà người Nhật vẫn dùng để đánh điện tín, bản kê ngân hàng và văn bản cho người mù[1].

Tôi đã chủ ý gọi ba cách nói trên là “giải pháp” chứ không phải hệ chữ viết. Thật ra, không một hệ chữ viết nào chỉ thuần sử dụng một trong ba giải pháp đó mà thôi. Chữ Hán không thuần là chữ biểu tự, chữ Anh không thuần là chữ cái. Cũng như mọi hệ chữ viết dùng chữ cái ghi âm, tiếng Anh dùng nhiều chữ biểu tự như các chữ số, các dấu $, % và + nghĩa là những ký tự võ đoán, không tạo thành bởi các yếu tố ký âm mà đại diện cho toàn bộ một từ. Chữ “biểu âm” kẻ vạch B thật ra có nhiều chữ biểu tự, còn các chữ “tượng hình” (tức biểu tự, ND) Ai Cập có cả nhiều ký tự biểu vần cũng như hẳn một bộ chữ cái với từng chữ riêng cho mỗi phụ âm.

Phát minh một hệ chữ viết từ con số không ắt hẳn là việc khó hơn vạn bội lần so với vay mượn và cải biên một hệ chữ viết có sẵn. Các thư lại đầu tiên đã phải tranh cãi với nhau về những nguyên lý cơ bản mà ngày nay ta vẫn coi là chuyện đương nhiên. Chẳng hạn, họ phải hình dung làm cách nào tách một chuỗi phát âm liên tục thành từng đơn vị lời dù các đơn vị đó được coi là từ, âm tiết hay âm vị. Họ phải học cách nhận ra cùng một âm hay đơn vị lời đó qua toàn bộ các biến thể thông thường của chúng ta về âm lượng, ngữ điệu, tốc độ, cách nhấn giọng, cách ngắt cụm từ, và những dị biệt trong cách phát âm của mỗi người. Họ phải quyết định rằng hệ chữ viết nên bỏ qua tất cả những biến thể đó hay không. Thế rồi họ phải phát minh ra những cách ghi các âm đó bằng biểu tượng.

Bằng cách này hay cách khác, những thư lại đầu tiên đã giải quyết được tất cả các vấn đề đó dù không có trong tay hệ một chữ viết hoàn chỉnh nào làm ví dụ đặng hướng dẫn cho nỗ lực của mình. Nhiệm vụ đó rõ ràng là khó khăn đến nỗi chỉ có vỏn vẹn dăm trường hợp trong lịch sử người ta tự phát minh ra chữ viết từ chỗ chưa có gì. Hai trường hợp phát minh chữ viết hoàn toàn độc lập mà ngày nay ta có bằng chứng chắc chắn là chữ viết của người Sumer vùng Lưỡng hà vào khoảng trước năm 3.000 trCN và chữ viết của người Anh-điêng Mexico trước năm 600 trCN (Hình 12.[1]); bên cạnh đó, chữ viết Ai Cập vào năm 3.000 trCN và chữ viết Trung Hoa (trước 1.300 năm trCN) cũng có thể đã phát sinh độc lập. Có lẽ tất cả các dân tộc khác từng tạo ra chữ viết từ sau đó trở đi đều đã vay mượn, cải biên các hệ chữ viết khác hay ít nhất là được gợi ý nhờ các hệ chữ viết khác.

Phát minh chữ viết độc lập mà chúng ta có thể truy nguyên một cách chi tiết nhất chính là hệ chữ viết xưa nhất trong lịch sử, chữ hình nêm Sumer (Hình 12.[1]). Hàng ngàn năm trước khi chữ viết này hình thành đầy đủ, người dân ở một số làng mạc làm nông nghiệp ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã dùng những vật bằng đất sét có nhiều hình dạng đơn giản khác nhau nhằm mục đích kế toán, chẳng hạn như ghi nhận số cừu hay khối lượng hạt. Trong những thế kỷ cuối cùng trước 3.000 năm trCN, những tiến triển trong kỹ thuật kế toán, dạng thức và ký hiệu đã nhanh chóng dẫn tới hệ chữ viết đầu tiên. Một trong các cách tân như vậy là sử dụng những tấm bảng phẳng bằng đất sét làm bề mặt viết chữ, rất tiện lợi. Lúc đầu người ta dùng các dụng cụ vót nhọn để vạch chữ lên đất sét, về sau họ dần dần chuyển sang dùng bút sậy để ấn những điểm rõ nét lên tấm bảng. Những cải tiến về dạng thức bao gồm việc dần dần áp dụng những quy ước mà ngày nay cả thế giới thừa nhận là cần thiết: rằng chữ viết cần phải được tổ chức thành từng hàng hay từng cột theo quy củ (theo hàng ngang đối với người Sumer cũng như người châu Âu ngày nay), rằng phải đọc các hàng theo một hướng nhất quán (từ trái sang phải đối với người Sumer cũng như với người châu Âu ngày nay), và phải đọc các dòng từ trên xuống dưới bảng chứ không phải ngược lại.

46

Nguồn độc lập hoặc có thể là độc lập

Bảng chữ cái

Khác

1. Sumer

9. Tây Semites, Phênixi

5. Tiền Elamite

2. Trung Mỹ

10. Ethiopia

7. Hittite

3. Trung Hoa

11. Triều Tiên (han’gul)

8. Thung lũng Ấn hà

4. Ai Cập

13. Italy (La Mã, Etruscan)

9. Đảo Phục Sinh

14. Hy Lạp

15. Ireland (ogham)

Chữ biểu vần

6. Crete (Chữ kẻ vạch A và B)

12. Nhật Bản (kana)

16. Cherokee

Hình 12.[1]. Dấu hỏi bên cạnh Trung Hoa và Ai Cập biểu thị rằng vẫn còn nghi vấn liệu chữ viết xa xưa ở các khu vực đó có phải là phát minh độc lập hay do được kích thích từ các hệ chữ viết đã phát sinh sớm hơn ở một nơi nào khác. “Khác” hàm ý những chữ viết không phải là bảng chữ cái cũng không phải chữ biểu vần và có lẽ đã phát sinh do chịu ảnh hưởng của các hệ chữ viết sớm hơn.

Song sự thay đổi tối quan trọng chính là việc giải quyết vấn đề cơ bản đối với hầu hết các hệ chữ viết: làm cách nào phát minh ra những ký hiệu dễ nhận biết mà mọi người đều chấp thuận để biểu thị những âm thanh thực sự được nói ra, chứ không phải chỉ những ý tưởng hay những từ ngữ độc lập với cách phát âm của chúng. Về những giai đoạn đầu tiên trong sự hình thành giải pháp này, đặc biệt người ta đã phát hiện được hàng ngàn tấm bảng đất sét được khai quật từ di tích đổ nát của một thành phố Sumer ngày xưa là Uruk trên bờ sông Euphrates cách Baghdad ngày nay khoảng 200 dặm (320 km, ND) về phía đông nam. Những ký hiệu chữ viết Sumer đầu tiên là những bức tranh dễ nhận ra về đối tượng được nói tới (chẳng hạn tranh vẽ con cá hay con chim). Lẽ tự nhiên, các ký hiệu có tính tranh vẽ này bao gồm chủ yếu là chữ số cộng với những danh từ gọi những vật thể nhìn thấy được; các văn bản dùng những ký hiệu này chỉ như những báo cáo kế toán viết bằng chữ tốc ký mà không có những yếu tố ngữ pháp. Dần dần, dạng thức các ký hiệu trở nên trừu tượng hơn, nhất là khi những dụng cụ viết vót nhọn được thay bằng bút sậy. Người ta sáng tạo ra những ký hiệu mới bằng cách kết hợp những ký hiệu cũ để biểu thị những nghĩa mới; chẳng hạn, ký hiệu chỉ cái đầu được kết hợp với ký hiệu chỉ bánh mì để cho ký hiệu hàm nghĩa ăn.

Chữ viết Sumer xưa nhất bao gồm những chữ biểu tự không ký âm. Nói vậy nghĩa là, chữ viết này không dựa trên những âm cụ thể của tiếng Sumer và cũng có thể được phát âm bằng những âm hoàn toàn khác để biểu thị cũng nghĩa đó trong bất kỳ ngôn ngữ nào khác, cũng như ký hiệu số 4 có thể phát âm theo những cách khác nhau như four, chetwíre, neljä và empat tùy theo tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Phần Lan hay tiếng Indonesia vậy. Có lẽ bước tiến quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử chữ viết là sự kiện người Sumer phát minh ra việc ký âm, thoạt tiên bằng cách ghi một danh từ trừu tượng (vốn không thể vẽ thành một bức tranh) bằng một ký hiệu vốn dùng để ghi một danh từ cụ thể và có cùng cách phát âm. Chẳng hạn, vẽ một bức tranh biểu thị mũi tên thì dễ, vẽ một bức tranh biểu thị cuộc sống thì khó, nhưng cả hai [khái niệm] đều được phát âm trong tiếng Sumer là ti, thế là bức vẽ một mũi tên trở thành ký hiệu dùng để chỉ cả mũi tên lẫn cuộc sống. Để tránh nhầm lẫn, người ta thêm vào một ký hiệu câm được gọi là từ hạn định (determinative) để biểu thị từ loại của đối tượng mà người ta muốn nói. Các nhà ngôn ngữ học gọi đây là một cách tân có vai trò quyết định, cái mà đến ngày nay vẫn là nguyên lý nền tảng của các trò chơi chữ, nguyên lý đố chữ (rebus principle).

Khi người Sumer đã nghĩ ra được nguyên lý ký âm này, họ bắt đầu dùng nó không chỉ để ghi danh từ trừu tượng mà còn vào lắm việc hơn thế. Họ dùng nó để ghi các âm tiết hoặc chữ cái đứng cuối về phương diện ngữ pháp. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, rõ ràng ta không thể biết chắc làm cách nào vẽ một bức tranh biểu thị âm tiết thường gặp [ở cuối nhiều từ] là -tion, song thay vào đó ta có thể vẽ một bức tranh để mô tả động từ shun vốn cũng phát âm giống vậy. Người ta cũng dùng các ký hiệu biểu âm để “đánh vần” những từ dài hơn, [nói cách khác là] vẽ một chuỗi tranh liên tiếp, mỗi bức diễn tả một âm tiết trong từ đó. Chẳng khác nào để viết từ believe (tin, tin tưởng), người Anh sẽ vẽ một bức tranh gồm một con ong (bee) theo sau là bức tranh vẽ một chiếc lá (leaf). Ký hiệu biểu âm cũng cho phép các thư lại sử dụng cùng một ký hiệu tranh vẽ để ghi một loạt từ có liên quan với nhau (chẳng hạn như răng, lời nói và người nói) song thêm vào đó một ký hiệu biểu âm để tránh nhầm lẫn (chẳng hạn như chọn lựa một trong các ký hiệu biểu thị số hai, mỗi hay đỉnh, chóp).

Như vậy, chữ viết Sumer dần dần trở thành một hỗn hợp phức tạp giữa ba loại ký hiệu: chữ biểu tự, dùng để ghi toàn bộ một từ hay một cái tên; ký hiệu biểu âm, dùng để đánh vần từng âm tiết, chữ cái, yếu tố ngữ pháp hay từng bộ phận của từ; và từ hạn định không có chức năng phát âm mà chỉ dùng để tránh nhầm lẫn. Tuy nhiên, ký hiệu biểu âm trong chữ viết Sumer còn xa mới là một hệ chữ biểu âm hay bảng chữ cái hoàn chỉnh. Một số âm tiết trong tiếng Sumer không hề có ký hiệu chữ viết riêng để ghi; cùng một ký hiệu có thể được phát âm theo nhiều cách, và cùng một ký hiệu có thể được đọc như một từ, một âm tiết hay một chữ cái.

37

Một ví dụ về chữ viết hình nêm Babylon vốn bắt nguồn từ chữ hình nêm Sumer.

Ngoài chữ hình nêm Sumer, một trường hợp chắc chắn khác về nguồn phát sinh chữ viết độc lập trong lịch sử loài người là của các xã hội châu Mỹ bản địa ở Trung Mỹ, có lẽ là phía nam Mexico. Chữ viết Trung Mỹ được cho là đã phát sinh độc lập với chữ viết của Cựu Thế giới, bởi không có bằng chứng nào đủ thuyết phục cho thấy có sự tiếp xúc giữa các xã hội Tân Thế giới với các xã hội Cựu Thế giới có chữ viết trước khi người Bắc Âu đổ bộ đến Tân Thế giới lần đầu tiên. Ngoài ra, hình thức của ký hiệu chữ viết Trung Mỹ hoàn toàn khác với của bất cứ chữ viết nào của Cựu Thế giới. Người ta đã được biết chừng một tá chữ viết Trung Mỹ, tất cả hoặc hầu hết đều hình như có liên hệ với nhau (chẳng hạn như trong hệ đếm hay hệ lịch) và hầu hết chỉ mới được giải mã một phần. Hiện nay chữ viết Trung Mỹ xưa nhất còn giữ được là chữ viết ở vùng Zapotec phía Nam Mexico từ khoảng 600 năm trCN, nhưng thứ chữ viết được tìm hiểu kỹ hơn hết là chữ viết ở vùng đất thấp Maya, nơi niên đại chữ viết xưa nhất còn giữ được ứng với năm 292.

Tuy có nguồn gốc độc lập và hình thức ký hiệu khác hẳn, song chữ viết Maya vẫn được tổ chức theo những nguyên lý mà về cơ bản tương tự với chữ viết Sumer và các hệ chữ viết Tây Âu-Á khác được gợi ý từ chữ Sumer. Cũng như chữ Sumer, chữ Maya dùng cả ký hiệu biểu từ lẫn ký hiệu biểu âm. Ký hiệu biểu âm cho các từ trừu tượng thường được suy ra từ nguyên lý đố chữ. Nghĩa là, một từ trừu tượng được viết bằng một ký hiệu vốn dùng để ghi một từ khác phát âm tương tự nhưng có nghĩa khác, và nghĩa này có thể dễ dàng miêu tả được. Cũng như các ký hiệu chữ kana của Nhật và chữ Kẻ vạch B của nền văn minh Mycene Hy Lạp, ký hiệu biểu âm Maya hầu hết là những ký hiệu ghi từng âm tiết gồm một phụ âm cộng với một nguyên âm (như ta, te, ti, to, tu). Cũng như các con chữ của bảng chữ cái Sumer thời kỳ đầu, ký hiệu biểu vần Maya bắt nguồn từ những bức tranh mô tả những vật mà cách phát âm bắt đầu bằng âm tiết đó (chẳng hạn, ký hiệu biểu vần Maya “ne” giống như một cái đuôi bởi từ “đuôi” trong tiếng Maya là neh).

47

Một bức họa thuộc trường phái Rajasthani hoặc Gujarati của tiểu lục địa Ấn Độ vào đầu thế kỷ XVII. Chữ viết ở đây, cũng như hầu hết các chữ viết Ấn Độ hiện nay, bắt nguồn từ chữ Brahmi của Ấn Độ cổ đại, đến lượt mình loại chữ này lại bắt nguồn từ bảng chữ cái Aramaic vào khoảng thế kỷ VII trCN qua sự lan truyền ý tưởng. Các hệ chữ viết Ấn Độ áp dụng nguyên lý bảng chữ cái, song về hình dạng các con chữ, thứ tự các con chữ và cách xử lý nguyên âm thì là phát minh của riêng Ấn Độ chứ không sao chép từ bản gốc.

Tất cả những sự song hành đó giữa chữ viết Trung Mỹ với chữ viết cổ đại vùng Tây Âu-Á minh chứng cho tính phổ quát tiềm ẩn trong mọi sáng tạo của loài người. Tuy ngôn ngữ Sumer và các ngôn ngữ Trung Mỹ không hề có mối liên hệ đặc biệt nào với nhau trong số các ngôn ngữ của nhân loại, song cả hai đều khiến nảy sinh những vấn đề cơ bản giống nhau khi người ta muốn đưa chúng vào chữ viết. Những giải pháp mà người Sumer phát minh ra từ trước 3.000 năm trCN lại được người Anh-điêng Trung Mỹ thời kỳ đầu ở cách nửa vòng trái đất tái phát minh vào trước 600 năm trCN.

Trừ những trường hợp có khả năng là ngoại lệ như chữ viết Ai Cập, chữ viết Trung Hoa và chữ viết của đảo Phục Sinh mà ta sẽ xét sau đây, tất cả các hệ chữ viết khác được phát minh ở bất cứ nơi nào trên thế giới, vào bất cứ thời nào, có lẽ đều là hậu duệ của những hệ chữ viết được cải biên từ hay ít nhất là được gợi ý từ chữ viết Sumer hay chữ viết Maya thời kỳ đầu. Một nguyên nhân khiến tại sao có quá ít nguồn phát sinh chữ viết độc lập đến vậy là bởi phát minh một chữ viết từ chỗ chưa có gì là việc cực khó, như ta đã đề cập trên đây. Một nguyên nhân khác là, [nếu trong lịch sử] đã có cơ hội nào để phát minh chữ viết một cách độc lập thì chữ viết Sumer hay chữ viết Trung Mỹ thời kỳ đầu và các hậu duệ của chúng đều hưởng trước cả rồi.

Ta biết rằng việc phát triển chữ viết Sumer đã mất ít nhất hàng trăm năm, có khi tới hàng ngàn năm. Như ta sẽ thấy, để có thể phát triển một chữ viết như vậy thì điều kiện tiên quyết là xã hội loài người phải bao gồm một số đặc tính, các đặc tính này ấn định liệu xã hội đó có coi chữ viết là hữu ích hay không và liệu xã hội đó có khả năng nuôi sống một số thư lại không phải làm gì khác ngoài công việc của mình hay không. Nhiều xã hội khác ngoài các xã hội Sumer và xã hội Mexico thời kỳ đầu - như các xã hội cổ Ấn Độ, đảo Crete và Ethiopia - cũng đã tạo ra được những điều kiện tiên quyết đó. Tuy nhiên, người Sumer và người Mexico cổ đã tình cờ là những kẻ đầu tiên tạo ra được các điều kiện đó ở Cựu Thế giới và Tân Thế giới. Khi người Sumer và người Mexico cổ đã phát minh ra chữ viết rồi, các chi tiết của nguyên lý chữ viết của họ nhanh chóng bành trướng sang những xã hội khác trước khi các xã hội này kịp tiến hóa thêm hàng trăm hay hàng ngàn năm để đạt đến chỗ có khả năng thử nghiệm những hệ chữ viết hoàn toàn của riêng mình. Như vậy, lẽ ra một số khu vực khác cũng đã có khả năng tiến hành thử nghiệm độc lập về chữ viết, song vì hai khu vực nói trên đã “giành trước” cơ hội nên cái tiềm năng nọ bị phí hoài.

Sự bành trướng của chữ viết đã diễn ra bằng một trong hai cách trái ngược nhau, hai cách này song hành với những cách bành trướng công nghệ và ý tưởng trong suốt lịch sử nhân loại. Ai đó đã phát minh ra một cái gì đó rồi đưa vào sử dụng. [Đã vậy] thì tại sao bạn, một kẻ có thể sẽ sử dụng phát minh đó, lại mất công mày mò phát minh một cái gì tương tự để dùng nếu bạn biết đã có người khác tạo ra rồi và mẫu của người đó vận hành tốt?

Sự chuyển giao phát minh này diễn ra dưới nhiều dạng khác nhau. Ở một cực là “sao chép bản gốc”, nghĩa là sao chép hoặc cải biên một bản thảo chi tiết đã có sẵn. Ở cực đối lập là “lan truyền ý tưởng”, nghĩa là người ta chẳng nhận được gì nhiều ngoài ý tưởng cơ bản và buộc phải phát minh lại từ đầu các chi tiết. Biết rằng người khác đã làm được, bạn có động lực để cố gắng tự mình làm, song giải pháp cuối cùng của bạn có thể giống với của nhà phát minh đầu tiên mà cũng có thể không.

Hãy lấy một ví dụ gần đây: các sử gia vẫn đang còn tranh cãi xem trong trường hợp người Nga chế tạo bom nguyên tử, ấy là “sao chép bản gốc” hay “lan truyền ý tưởng”. Có phải nỗ lực chế tạo bom của người Nga chủ yếu là dựa trên bản gốc có sẵn từ các quả bom mà người Mỹ đã chế tạo rồi, bị gián điệp đánh cắp mà chuyển sang Nga? Hay chính vì người Mỹ đã ném thành công một quả bom A xuống Hiroshima mà rốt cuộc Stalin cũng tin rằng quả thật người ta có thể chế ra một quả bom như vậy, sau đó các bác học Nga đã tái phát minh nguyên lý chế tạo bom một cách độc lập dù không nắm được nhiều chi tiết về quá trình phát minh trước đó của người Mỹ đặng làm nguồn hướng dẫn? Những câu hỏi tương tự cũng nảy sinh đối với lịch sử phát minh bánh xe, kim tự tháp và thuốc súng. Giờ ta hãy xét xem việc sao chép bản gốc và lan truyền ý tưởng đã đóng góp thế nào vào sự bành trướng của các hệ chữ viết.

Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp xây dựng hệ chữ viết cho những ngôn ngữ chưa có chữ viết bằng phương pháp sao chép bản gốc. Hầu hết các hệ chữ viết này là cải biên từ những bảng chữ cái có sẵn, tuy cũng có một số người xây dựng hệ chữ viết mới bằng ký hiệu biểu vần. Chẳng hạn, các nhà ngôn ngữ học kiêm truyền giáo đang cải biên bảng chữ cái La Mã cho hàng trăm ngôn ngữ New Guinea và châu Mỹ bản địa. Các nhà ngôn ngữ học của chính phủ đã phát minh bảng chữ cái La Mã cải biên được Thổ Nhĩ Kỳ đưa vào áp dụng vào năm 1928 cho tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như bảng chữ cái Cyrillic được cải biên cho ngôn ngữ của nhiều bộ tộc ở Nga.

Trong một ít trường hợp, ta cũng biết đôi điều về những cá nhân đã xây dựng nên các hệ chữ viết bằng cách sao chép những bản gốc trong quá khứ xa xôi. Chẳng hạn, bản thân bảng chữ cái Cyrillic (ngày nay vẫn được sử dụng ở Nga) bắt nguồn từ việc cải biên các chữ cái Hy Lạp và Do Thái do Thánh Cyril, một nhà tu hành Hy Lạp truyền giáo cho người Xlavơ vào thế kỷ chín phát minh ra. Những văn bản xưa nhất về nhóm ngôn ngữ Giécmanh (trong đó có tiếng Anh) còn lại đến ngày nay được viết bằng bảng chữ cái Gothic được phát minh bởi Giám mục Ulfilas, một nhà truyền giáo sống cùng với dân bộ lạc Visigoths ở vùng nay là Bulgaria vào thế kỷ thứ tư. Cũng như phát minh của Thánh Cyril, bảng chữ cái của Ulfilas là một mớ hỗn hợp gồm những chữ cái vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau: chừng 20 chữ cái Hy Lạp, khoảng 5 chữ cái La Mã và 2 chữ cái hoặc lấy từ bảng chữ cái Runes hoặc do Ulfilas tự chế ra. Song thường là chúng ta chẳng biết gì về cá nhân những người phát minh những bảng chữ cái lừng danh trong quá khứ. Nhưng ta vẫn có thể so sánh những hệ chữ viết mới nảy sinh trong quá khứ với những hệ chữ viết đã tồn tại từ trước đó và có thể suy ra từ hình thái các con chữ xem những chữ nào đã được dùng làm mẫu. Chính vì lý do đó, ta có thể tin chắc rằng hệ chữ biểu vần kẻ vạch B của văn minh Mycene Hy Lạp đã được cải biên vào khoảng 1.400 năm trCN từ hệ chữ biểu vần Kẻ vạch A của văn minh Minoa trên đảo Crete.

Trong suốt hàng mấy trăm lần một hệ chữ viết hiện có được dùng làm bản gốc để cải biên cho một ngôn ngữ khác, thế nào cũng có một vài vấn đề nảy sinh bởi không hề có hai thứ tiếng nào có hệ ngữ âm hoàn toàn giống nhau. Một số chữ cái hay ký hiệu sẽ bị loại bỏ nếu những âm mà các chữ cái đó được dùng để ký âm trong ngôn ngữ cho mượn lại không có ở ngôn ngữ mượn. Chẳng hạn, nhiều âm mà nhiều ngôn ngữ châu Âu biểu thị bằng các chữ cái b, c, f, g, w, x và z lại không có ở tiếng Phần Lan, nên người Phần Lan bỏ luôn các chữ cái này ra khỏi bảng chữ cái cải biên của mình. Lại cũng xảy ra vấn đề ngược lại, ấy là người ta phải chế ra những chữ cái để ghi những âm “mới” có trong ngôn ngữ mượn song lại không có ở ngôn ngữ cho mượn. Khó khăn này được giải quyết bằng nhiều cách khác nhau: chẳng hạn như dùng một kết hợp tùy tiện gồm hai chữ cái hoặc nhiều hơn (chẳng hạn trong tiếng Anh, th được dùng để ghi một âm mà bảng chữ cái Hy Lạp và chữ cái Rune chỉ ghi bằng một chữ cái); thêm một dấu nhỏ vào một chữ cái có sẵn để dễ phân biệt (như dấu ngã trong chữ cái ñ của tiếng Tây Ban Nha, chữ cái ö trong tiếng Đức, và cơ man nào những dấu phụ nhảy múa quanh các con chữ Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ); dùng lại những chữ cái hiện có mà ngôn ngữ mượn vốn dĩ không sử dụng (như người Séc ngày nay dùng lại chữ cái c của bảng chữ cái La Mã để ghi âm ts trong tiếng Séc), hoặc đơn giản là phát minh một chữ cái mới (như các bậc tổ tiên thời trung cổ của chúng ta đã làm khi họ tạo ra các chữ cái mới j, uvà w).

Bản thân bảng chữ cái La Mã cũng là sản phẩm cuối cùng của một chuỗi sao chép bản gốc kéo dài. Các bảng chữ cái hình như đã chỉ phát sinh một lần duy nhất trong lịch sử loài người: ở những người nói các ngôn ngữ Semites, tại khu vực nay là từ Syria đến bán đảo Sinai, vào thiên niên kỷ thứ hai trCN. Tất cả các bảng chữ cái từng tồn tại trong lịch sử cũng như còn tồn tại đến ngày nay đều bắt nguồn từ bảng chữ cái Semites thủy tổ đó, trong một vài trường hợp (như bảng chữ cái ogham của người Ireland) bằng cách lan truyền ý tưởng, nhưng trong hầu hết trường hợp là bằng cách sao chép và cải biên hình thức các chữ cái.

Sự tiến hóa đó của bảng chữ cái có thể truy nguyên về các chữ tượng hình Ai Cập vốn bao gồm một bộ 24 ký hiệu cho 24 phụ âm của tiếng Ai Cập. Người Ai Cập chưa bao giờ tiến hành bước kế tiếp, bước đi mà đối với chúng ta ngày nay là hợp lý, ấy là loại bỏ tất cả các ký hiệu biểu tự, từ hạn định và ký hiệu dùng để ghi những cặp đôi hay bộ ba phụ âm, thay vào đó chỉ sử dụng bảng chữ cái ghi âm. Tuy nhiên, bắt đầu từ khoảng 1.700 năm trCN, những người Semites vốn quen thuộc với chữ tượng hình Ai Cập cũng đã bắt đầu thử nghiệm cái bước đi hợp lý này.

Dùng ký hiệu chỉ để ghi các phụ âm thôi, đó chỉ là cách tân đầu tiên trong những cách tân chủ chốt làm nên sự khác biệt giữa bảng chữ cái với các hệ chữ viết nguyên thủy. Bước thứ hai là giúp người sử dụng nhớ thuộc lòng các chữ cái bằng cách sắp xếp các chữ cái theo một thứ tự cố định và đặt cho chúng những cái tên dễ nhớ. Những cái tên trong tiếng Anh dùng để gọi các chữ cái chỉ là những đơn âm vô nghĩa (“ây”, “bi”, “si”, “di”, vân vân). Nhưng tên của người Semites đặt cho các chữ cái thì có nghĩa trong tiếng Semites; đó là các từ dùng để gọi những sự vật quen thuộc (‘aleph: bò đực, beth: nhà, gimel: lạc đà, daleth: cửa, vân vân). Các từ Semites này có liên hệ theo cách trùng âm đầu (acrophonic) với các phụ âm tiếng Semites mà chúng được dùng để gọi: nghĩa là, chữ cái đầu của từ để gọi sự vật đó cũng chính là chữ cái được đặt tên bằng sự vật đó (‘a, b, g, d, vân vân). Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, hình thức đầu tiên của các chữ cái Semites cũng là hình vẽ chính các sự vật kia. Tất cả các đặc tính này giúp người ta dễ nhớ hình dạng, tên và thứ tự của các chữ cái Semites. Nhiều bảng chữ cái hiện đại, trong đó có bảng chữ cái tiếng Anh, vẫn duy trì thứ tự các chữ cái đã có từ hơn 3.000 năm trước ấy, nếu có điều chỉnh thì cũng rất ít (trong trường hợp bảng chữ cái Hy Lạp thì thậm chí tên các chữ cái cũng giữ nguyên như xưa: alpha, beta, gamma, vân vân). Có một thay đổi nhỏ mà độc giả hẳn đã nhận thấy, đó là chữ g trong bảng chữ cái Semites và Hy Lạp đã trở thành chữ c trong bảng chữ cái La Mã và Anh, trong khi người La Mã chế ra một chữ g mới ở vị trí hiện nay.

Cách tân thứ ba và cuối cùng dẫn tới các bảng chữ cái ngày nay là việc ghi các nguyên âm. Ngay từ thuở đầu của bảng chữ cái Semites người ta đã bắt đầu thử nghiệm những phương pháp viết nguyên âm, bằng cách bổ sung những chữ cái phụ nhỏ để biểu thị một số nguyên âm đã chọn, hoặc thêm những chấm, vạch hoặc móc câu xúm xít quanh các chữ cái ghi phụ âm. Vào thế kỷ chín trCN người Hy Lạp trở thành những kẻ đầu tiên ghi ra các nguyên âm bằng cùng những loại chữ cái vốn chỉ được dùng để ghi phụ âm. Người Hy Lạp nghĩ ra hình thức cho các chữ cái ghi nguyên âm của mình α - ε - η - ι - ο bằng cách “mượn” năm chữ cái vốn được dùng trong bảng chữ cái Phênixi để ghi những phụ âm không có trong tiếng Hy Lạp.

Từ các bảng chữ cái Semites xưa nhất đó, một dòng tiến hóa theo hướng sao chép bản gốc và cải biên đã dẫn đến bảng chữ cái Ethiopia hiện đại thông qua các bảng chữ cái Arập. Một dòng quan trọng hơn nhiều đã tiến hóa theo lối bảng chữ cái Aramaic vốn được dùng để ghi các văn bản chính thức của đế quốc Ba Tư, dẫn đến các bảng chữ cái Arập, Do Thái, Ấn Độ và Đông Nam Á ngày nay. Nhưng dòng tiến hóa gần gũi nhất với các độc giả châu Âu và Mỹ là dòng thông qua người Phênixi đến người Hy Lạp vào đầu thế kỷ thứ tám trCN, sau đó đến người Etrusque vào cùng thế kỷ đó, sang thế kỷ kế tiếp thì đến người La Mã, và bảng chữ cái La Mã có điều chỉnh chút ít chính là bảng chữ cái được dùng để in cuốn sách này. Nhờ ưu thế tiềm tàng của mình là có thể kết hợp tính chính xác với sự đơn giản, các bảng chữ cái đã được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực trên toàn thế giới ngày nay.

Tuy sao chép bản gốc và cải biên là phương cách đơn giản nhất để lan truyền công nghệ, song đôi khi cách đó cũng chẳng khả thi. Các bản gốc có thể bị giữ kín chẳng cho ai đọc, hoặc nếu người ta chưa thấm nhuần về công nghệ đó thì có đọc cũng chẳng hiểu gì. Người ta có thể đồn đãi về một phát minh đã được tiến hành ở đâu đó xa xôi, song chi tiết thế nào thì chẳng đến tai ta được. Có thể người ta chỉ được biết về ý tưởng cơ bản [của phát minh đó] mà thôi: có ai đó, bằng cách nào đó, đã thành công và đạt được kết quả cuối cùng nào đó. Cái tri thức đó có thể chẳng bao giờ gây cảm hứng cho những người khác, theo cách lan truyền ý tưởng, để họ phát minh ra những con đường riêng của mình đặng dẫn đến cùng kết quả như vậy.

Một ví dụ nổi bật trong lịch sử là nguồn gốc của hệ chữ biểu vần được một người Anh-điêng thuộc bộ lạc Cherokee tên là Sequoyah phát minh tại Arkansas vào khoảng năm 1820 để ghi ngôn ngữ Cherokee. Sequoyah quan sát thấy người da trắng ghi những ký hiệu gì đó trên giấy, và nhờ những ký hiệu đó họ có lợi thế rất lớn là ghi lại được và có thể nhắc lại cả những bài nói dài lê thê. Tuy nhiên, cụ thể các ký hiệu đó vận hành ra sao thì đối với ông vẫn là một điều bí ẩn, bởi vì (cũng như hầu hết người Cherokee trước năm 1820) Sequoyah vốn mù chữ và không nói cũng chẳng đọc được tiếng Anh. Do là thợ rèn, Sequoyah khởi đầu bằng việc chế ra một hệ thống kế toán để giúp ông theo dõi các khoản nợ của khách hàng. Ông vẽ một bức tranh riêng cho mỗi khách hàng, kế đó ông vẽ những hình tròn và đường kẻ với kích thước khác nhau để biểu thị số tiền mà người đó nợ.

Vào khoảng 1810, Sequoyah quyết định tiến tới xây dựng một hệ chữ viết cho tiếng Cherokee. Ông bắt đầu từ chỗ vẽ tranh, nhưng rồi lại thôi vì tranh vẽ thì quá phức tạp và đòi hỏi quá cao về tính nghệ thuật. Sau đó ông bắt đầu phát minh ra những ký hiệu riêng cho từng từ một, thế rồi cũng đâm ra không thỏa mãn vì dù đã chế ra đến hàng ngàn ký hiệu nhưng vẫn còn phải tạo nhiều hơn nữa.

36

Bộ ký hiệu mà Sequoyah phát minh ra để ghi các âm tiết của tiếng Cherokee.

Cuối cùng Sequoyah nhận ra rằng các từ được tạo ra bằng một số lượng không nhiều các âm khác nhau, các âm này trở đi trở lại trong nhiều từ khác nhau, cái mà ngày nay ta gọi là âm tiết. Đầu tiên ông chế ra 200 ký hiệu ghi âm tiết, dần dần rút xuống còn 85, hầu hết trong số đó là kết hợp giữa một phụ âm với một nguyên âm.

Để phát minh ra những chữ cái của mình, Sequoyah một phần sao chép những chữ cái trong một cuốn sách tập đánh vần tiếng Anh mà một thầy giáo cho ông mượn. Khoảng một tá chữ cái trong bảng chữ cái biểu vần Cherokee được lấy trực tiếp từ các chữ cái tiếng Anh đó, mặc dù dĩ nhiên là ý nghĩa hoàn toàn thay đổi bởi Sequoyah không biết nghĩa tiếng Anh. Chẳng hạn, ông chọn hình dạng các con chữ D, R, b, h để biểu thị các âm tiết a, e, si và ni trong tiếng Cherokee, trong khi hình dạng của con số 4 được ông chọn để ghi âm tiết se. Ông tự chế ra những ký hiệu khác bằng cách cải biên chữ cái tiếng Anh, chẳng hạn như chế ra các ký hiệu ___, ___ và ___ để ghi các âm tiết yu, sa và na. Lại có những ký hiệu khác hoàn toàn do ông sáng tạo ra như ___, ___ và ___để ghi các âm tiết ho, li và nu. Bảng chữ cái biểu vần của Sequoyah được đông đảo các nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp khâm phục bởi nó hoàn toàn thích hợp với các âm của tiếng Cherokee và lại rất dễ học. Chỉ trong một thời gian ngắn, người Cherokee đã đạt được tỷ lệ hầu như 100% biết đọc biết viết bằng bảng chữ cái này, họ mua hẳn một nhà in, đúc chữ in bằng mẫu tự Cherokee và bắt đầu in sách báo.

Chữ viết Cherokee đến nay vẫn là một trong những ví dụ hùng hồn nhất về một chữ viết nảy sinh từ sự lan truyền ý tưởng. Ta biết rằng Sequoyah đã có được giấy và các vật liệu khác dùng để viết, ý tưởng về một hệ chữ viết, ý tưởng dùng những ký hiệu riêng biệt, và hình thức của một loạt mấy chục ký hiệu. Tuy nhiên, vì Sequoyah không đọc được cũng chẳng viết được tiếng Anh, ông chẳng hề biết các chi tiết hay thậm chí không hề nắm được những nguyên lý của các hệ chữ viết đang tồn tại quanh ông. Nhìn thấy quanh mình toàn những bảng chữ cái mà ông không hiểu được, ông bèn phát minh lại một bảng chữ cái biểu vần mà không hề biết rằng người đảo Minoa ở đảo Crete từng tạo ra một bảng chữ cái biểu vần khác những 3.500 năm trước.

Ví dụ của Sequoyah có thể là tiêu biểu cho thấy việc lan truyền ý tưởng cũng có thể đã dẫn tới nhiều hệ chữ viết vào thời cổ đại. Bảng chữ cái han’gul do Hoàng đế Sejong của Triều Tiên phát minh vào năm 1446 cho tiếng Triều Tiên rõ ràng là lấy ý tưởng từ dạng hình vuông của chữ Hán và từ nguyên lý chữ cái của chữ viết Phật giáo Mông Cổ hoặc Tây Tạng. Tuy nhiên, vua Sejong đã phát minh ra hình thức của các chữ cái han’gul và một số đặc tính riêng biệt cho bảng chữ cái của ông, trong đó có sự kết hợp các chữ cái theo âm tiết thành từng khối vuông, dùng các dạng chữ có liên quan để ghi những phụ âm hoặc nguyên âm có liên quan, và các dạng chữ ghi phụ âm để mô tả vị trí giữ môi hoặc lưỡi khi phát âm phụ âm đó. Tương tự, bảng chữ cái ogham từng được dùng ở Ireland và một phần của vùng văn hóa Celte trên đảo Anh vào khoảng thế kỷ thứ 4 cũng áp dụng nguyên lý chữ cái (trong trường hợp này là của các hệ chữ cái châu Âu) nhưng ở đây người ta cũng lại tạo ra những con chữ hoàn toàn của riêng mình, có lẽ dựa trên hệ thống ký hiệu của ngôn ngữ bàn tay vốn sử dụng năm ngón tay.

Ta có thể tự tin nhận định rằng han’gul và ogham là những hệ chữ viết ra đời từ sự lan truyền ý tưởng chứ không phải là phát minh ra đời một cách độc lập và cô biệt, bởi ta biết rằng cả hai xã hội [tạo ra những hệ chữ viết này] đều có tiếp xúc chặt chẽ với các xã hội vốn đã có sẵn chữ viết, và bởi ta cũng thấy rõ những hệ chữ viết ngoại lai nào đã gợi ý cho họ. Ngược lại, ta có thể tự tin mà nói rằng chữ viết hình nêm Sumer và chữ viết Trung Mỹ thời kỳ đầu là những phát minh độc lập, bởi vào thời điểm chúng xuất hiện đầu tiên thì chưa hề có hệ chữ viết nào tồn tại trước đó ở bán cầu của họ để gợi ý cho họ cả. Còn về trường hợp nguồn gốc chữ viết ở đảo Phục Sinh, ở Trung Hoa và ở Ai Cập, người ta vẫn đang tranh cãi.

Người Polynesia sinh sống trên Đảo Phục Sinh giữa Thái Bình Dương có một chữ viết độc nhất vô nhị mà những mẫu xưa nhất còn giữ được có niên đại rất mới, chỉ khoảng 1851, một thời gian lâu sau khi người châu Âu đặt chân đến Phục Sinh vào năm 1722. Có lẽ chữ viết đã phát sinh một cách độc lập trên Phục Sinh từ trước khi người châu Âu đến, mặc dù không có bằng chứng nào còn sót lại. Song cách giải thích đơn giản nhất là chấp nhận các sự kiện như chúng có, nghĩa là hãy cứ giả định rằng dân đảo Phục Sinh, sau khi nhìn thấy bản tuyên bố sáp nhập - vốn được viết bằng chữ - mà một đoàn thám hiểm Tây Ban Nha trao cho họ vào năm 1770, đã lấy ý tưởng từ đó để phát minh ra chữ viết của riêng mình.

38

Một văn bản Triều Tiên (bài thơ “Hoa trên đồi” của So-Wol Kim) minh họa cho hệ chữ viết độc đáo han’gul. Mỗi khối vuông biểu thị một âm tiết, song mỗi ký hiệu cấu thành bên trong mỗi khối lại biểu thị một chữ cái.

Còn về chữ viết Trung Hoa, mà dấu vết xưa nhất được chứng thực là khoảng 1.300 năm trCN nhưng có thể còn xưa hơn thế, cũng có những ký hiệu độc đáo và một số nguyên lý độc đáo không đâu khác có, và hầu hết các học giả đều cho rằng cũng đã phát sinh độc lập. Chữ viết đã phát triển từ trước 3.000 năm trCN ở Sumer, cách những trung tâm đô thị của Trung Hoa thời cổ những 4.000 dặm (khoảng 6.400 km, ND) về phía tây, và xuất hiện vào trước năm 2.200 trCN ở thung lũng Ấn hà, cách Trung Hoa 2.600 dặm (khoảng gần 4.200 km, ND) về phía tây, nhưng trên toàn bộ khu vực giữa thung lũng Ấn Hà và Trung Hoa thì không có một hệ chữ viết cổ nào được biết đến cả. Như vậy, không có bằng chứng nào cho thấy các thư lại Trung Hoa xưa nhất đã không hề biết tới một hệ chữ viết nào khác hầu gợi ý cho họ.

Chữ tượng hình Ai Cập, loại chữ lừng danh nhất trong mọi hệ chữ viết cổ đại, cũng thường được cho là sản phẩm phát minh độc lập, nhưng cũng có cách giải thích khác rằng đó là sản phẩm của sự lan truyền ý tưởng, và so với trường hợp chữ Hán thì khả năng này lớn hơn. Chữ tượng hình xuất hiện khá đột ngột, gần như trọn vẹn về hình thức, vào khoảng 3.000 năm trCN. Ai Cập chỉ cách Sumer 800 dặm (1.280 km, ND) về phía tây và có quan hệ giao thương với Sumer. Tôi thấy thật đáng ngờ rằng không một chứng cứ nào về sự dần dần hình thành chữ tượng hình Ai Cập còn lại đến ngày nay mặc dù khí hậu khô ráo của Ai Cập lẽ ra thuận lợi cho việc bảo tồn những thử nghiệm đầu tiên về chữ viết, trong khi khí hậu Sumer vốn cũng khô ráo như vậy nên đã bảo quản được rất nhiều chứng cứ về sự hình thành chữ hình nêm Sumer trong ít nhất vài thế kỷ trước 3.000 năm trCN. Cũng đáng ngờ như vậy là sự xuất hiện của một số hệ chữ viết khác mà thoạt nhìn có vẻ như đã được phát minh độc lập, đó là các hệ chữ viết ở Iran, đảo Crete và Thổ Nhĩ Kỳ (cái gọi là chữ viết tiền Elamite, chữ viết bằng hình vẽ Crete và chữ tượng hình Hittite) sau khi chữ Sumer và chữ Ai Cập đã trở nên hưng thịnh. Mặc dù mỗi hệ trong ba hệ kể trên đều dùng những bộ ký hiệu riêng biệt không vay mượn từ chữ Sumer hay Ai Cập, nhưng khó lòng có chuyện những dân tộc tạo ra các chữ viết đó lại không biết đến chữ viết của các dân tộc láng giềng mà họ vẫn hay giao thương.

Sẽ là sự trùng hợp khác thường nếu như, sau hàng triệu năm loài người tồn tại không có chữ viết, tất cả các xã hội sống ở vùng Địa Trung Hải và Cận Đông đó, không ai bảo ai lại tình cờ nảy ra ý tưởng phát minh chữ viết cách nhau chỉ vài thế kỷ. Bởi vậy nên, theo tôi, có thể lý giải đây là trường hợp có sự lan truyền ý tưởng, cũng như trường hợp hệ chữ biểu vần của Sequoyah. Nghĩa là, người Ai Cập và các dân tộc khác có thể đã học được từ người Sumer ý tưởng chữ viết và có thể cả một vài nguyên lý, sau đó họ phát minh ra những nguyên lý khác và toàn bộ hình dạng cụ thể các con chữ của riêng mình.

35

Một ví dụ về chữ viết Trung Hoa: một bản giấy cuộn của Wu Li, năm 1679.

Một ví dụ về chữ tượng hình Ai Cập: bản giấy papyrus về tang lễ của Công chúa Entiu-ny.

Giờ ta hãy quay lại với câu hỏi chính đặt ra ở phần đầu chương này: tại sao chữ viết đã phát sinh và bành trướng đến một số xã hội này chứ không đến nhiều xã hội khác? Xuất phát điểm thuận lợi để chúng ta bàn là khả năng hạn chế, công dụng hạn chế và số người dùng hạn chế của các hệ chữ viết xưa nhất.

Các hệ chữ viết xưa nhất hãy còn chưa hoàn chỉnh, tùy tiện hoặc rắc rối, hoặc cả ba. Chẳng hạn, những chữ hình nêm Sumer cổ nhất không thể dùng để ghi văn xuôi bình thường mà chỉ là một thứ tốc ký kiểu như điện tín, vốn từ chỉ giới hạn ở những tên riêng, chữ số, đơn vị đo lường, những từ dùng để gọi các đối tượng được đếm, và dăm ba tính từ. Đó cũng chẳng khác nào một thư ký tòa án ở Mỹ ngày nay buộc phải ghi “John 27 fat sheep” (John 27 cừu béo) bởi chữ viết Anh thiếu những từ và ngữ pháp cần thiết để viết trọn câu “We order John to deliver the 27 fat sheep that he owes to the government” (Tòa ra lệnh cho John giao nộp 27 con cừu béo mà anh ta còn nợ chính phủ). Chữ hình nêm Sumer thời kỳ sau thì có thể ghi lại văn xuôi, nhưng lại bằng một cách rối rắm như tôi đã nói ở trên, trộn lẫn giữa chữ biểu tự, ký hiệu ghi âm và những từ hạn định không có chức năng phát âm, cộng lại đến hàng trăm ký hiệu riêng biệt. Chữ Kẻ vạch B, chữ viết của văn minh Mycene thuộc Hy Lạp thì ít ra cũng đơn giản hơn, dựa trên một hệ chữ biểu vần gồm khoảng 90 ký hiệu cộng với các chữ biểu tự. Song bù lại ưu điểm đó, chữ Kẻ vạch B lại khá là tùy tiện. Nó lược bỏ bất cứ phụ âm nào ở cuối từ, lại dùng cùng một ký hiệu để ghi đến mấy phụ âm có liên quan với nhau (chẳng hạn cùng một ký hiệu cho cả l lẫn r, cùng một ký hiệu khác cho cả blẫn ph, lại cùng một ký hiệu nữa cho cả g, k lẫn kh). Chúng ta (người Mỹ, ND) đều biết, khi nghe những người Nhật chính hiệu nói tiếng Anh mà không phân biệt nổi l và r thì chúng ta bối rối ra sao; cứ thử hình dung mọi chuyện sẽ rối thế nào nếu bảng chữ cái tiếng Anh cũng làm tương tự là gộp các phụ âm khác lại cho vào cùng một chữ như tôi đã nói! Chẳng khác gì người Mỹ sẽ đánh vần những chữ “lap”, “rap”, “lab” và “laugh” giống hệt như nhau vậy.

Một hạn chế có liên quan nữa, ấy là chỉ một số ít người được học để dùng các hệ chữ viết cổ xưa đó. Tri thức về chữ viết chỉ bó hẹp ở một số thư lại chuyên nghiệp thuộc quyền sử dụng của nhà vua hoặc đền thờ. Chẳng hạn, không hề có bằng chứng nào cho thấy bất cứ người Hy Lạp Mycene nào cũng hiểu được chữ Kẻ vạch B nếu không kể các viên chức nhỏ trong bộ máy quan lại ở cung điện. Bởi chúng ta có thể phân biệt cá nhân từng thư lại một qua chữ viết tay của họ trên các văn bản còn lưu giữ được, nên có thể nói rằng toàn bộ các văn bản bằng chữ Kẻ vạch B còn giữ được ở các cung điện Mycene Hy Lạp là công trình của vỏn vẹn 75 thư lại (trong trường hợp Knossos) và 40 thư lại (trong trường hợp Pylos).

Công dụng của các hệ chữ viết cổ nhất có tính tốc ký, cồng kềnh và tùy tiện đó cũng hạn chế như số người dùng chúng. Bất cứ ai hy vọng phát hiện được tâm tư tình cảm của người Sumer hồi 3.000 năm trCN cầm chắc là sẽ thất vọng. Có chăng, các văn bản Sumer đầu tiên chỉ là những bảng tường trình vô cảm của các quan lại trong cung điện và đền thờ. Khoảng 90% các bảng ghi trong văn khố Sumer xưa nhất ở thành phố Uruk mà ngày nay ta biết là những hồ sơ hành chính ghi về các hàng hóa được nhập vào, những khoản trả cho nhân công và các sản phẩm nông nghiệp được phân phối. Chỉ về sau, khi người Sumer tiến xa hơn chữ biểu tự mà phát minh ra chữ viết ghi âm, họ mới bắt đầu ghi chép văn xuôi tự sự, chẳng hạn các bố cáo và huyền thoại.

Người Hy Lạp Mycene thậm chí chưa bao giờ đạt tới cái giai đoạn bố-cáo-và-huyền-thoại đó. Một phần ba tất cả các bản văn Kẻ vạch B ở cung điện Knossos là những báo cáo kế toán về số cừu và len, còn với chữ viết ở cung điện Pylos thì chiếm tỷ lệ cao bất thường là các bản ghi về vải lanh. Chữ Kẻ vạch B vốn dĩ tùy tiện đến mức nó chỉ được dùng trong các báo cáo ở cung điện, nơi mà do văn cảnh và lượng từ hạn chế nên dù có mập mờ người ta vẫn có thể suy ra được. Không có dấu vết nào cho thấy người ta dùng nó để ghi lại văn chương. Các anh hùng ca Ilyad vàOdyssey được sáng tác và lưu truyền bởi những nghệ nhân mù chữ cho những người nghe mù chữ, mãi đến khi bảng chữ cái Hy Lạp hình thành hàng mấy thế kỷ sau thì mới được ghi lại thành văn bản.

Các chữ viết Ai Cập, Trung Mỹ và Trung Hoa thời kỳ đầu cũng được sử dụng một cách hạn chế như vậy. Chữ tượng hình Ai Cập sớm chỉ dùng để ghi các bố cáo của tăng lữ và nhà nước cũng như báo cáo của quan lại. Tương tự, chữ viết Maya còn giữ được đến nay cũng chỉ dùng để ghi lại các bố cáo, sự ra đời, sự đăng quang và chiến công của các ông vua, cùng những quan sát thiên văn của các tăng lữ. Chữ viết Trung Hoa xưa nhất còn giữ được từ cuối thời nhà Thương chỉ gồm những lời bói toán về cơ sự của triều đình, cái gọi là bốc từ. Một văn bản tiêu biểu đời nhà Thương viết như sau: “Đọc vết nứt [trên mảnh xương thú sau khi nung] xong, nhà vua nói: Nếu hài nhi sinh vào ngày canh, ấy là điềm đại cát”.

Chúng ta ngày nay hẳn muốn đặt câu hỏi tại sao các xã hội từng phát minh ra chữ viết đầu tiên đó lại chấp nhận sự tùy tiện kia để khiến chữ viết chỉ phục vụ cho vài chức năng ít ỏi và chỉ nằm trong tay một dúm vài thư lại. Nhưng ngay cả việc đặt ra câu hỏi đó cũng đã cho thấy cái khoảng cách giữa cách nghĩ của người xưa với những đòi hỏi của chúng ta ngày nay trong thời đại ai cũng biết đọc biết viết. Chính là người ta đã cố tình giữ cho chữ viết cổ chỉ hạn chế trong một vài công dụng ít ỏi kia, khiến những ai muốn phát minh ra những hệ chữ viết ít tùy tiện hơn đều phải thối chí. Các ông vua và tăng lữ Sumer cổ đại muốn chữ viết chỉ được dùng bởi các thư lại chuyên nghiệp để ghi số cừu cần nộp thuế mà thôi, chứ không muốn quảng đại quần chúng dùng nó để viết thơ và bày đặt mưu đồ phản loạn. Chỉ mãi về sau mới có chuyện dân thường sử dụng chữ viết, khi các hệ chữ viết đã trở nên đơn giản hơn và mang tính biểu cảm hơn.

Chẳng hạn, với sự suy tàn của nền văn minh Mycene Hy Lạp vào khoảng 1.200 năm trCN, chữ Kẻ vạch B biến mất và Hy Lạp lại quay về thời kỳ không văn tự. Khi chữ viết rốt cuộc cũng quay về với Hy Lạp vào thế kỷ thứ 8 trCN thì chữ viết Hy Lạp mới, những người sử dụng nó và công dụng của nó đã khác lắm rồi. Chữ viết Hy Lạp lúc này không còn là một hệ thống tùy tiện trộn lẫn giữa chữ biểu vần với chữ biểu tự, mà là một bảng chữ cái vay mượn từ bảng chữ cái ghi phụ âm của người Phênixi được hoàn thiện thêm bằng những chữ cái ghi nguyên âm do chính người Hy Lạp chế ra. Thay vì những danh mục liệt kê cừu mà chỉ các thư lại mới đọc được và chỉ được đọc trong cung điện, bảng chữ cái Hy Lạp mới này ngay từ lúc ra đời đã là phương tiện ghi chép thơ ca và tác phẩm hài hước, được dân thường đọc trong nhà riêng của họ. Chẳng hạn, ví dụ xưa nhất còn lại đến nay về bảng chữ cái Hy Lạp được khắc lên một vò rượu Athenes vào khoảng năm 740 trCN là một dòng thơ thông báo về một cuộc thi múa: “Người nào tham dự mà múa thanh thoát nhất thì sẽ được phần thưởng là chiếc vò này”. Ví dụ kế tiếp là ba dòng thơ dactin sáu âm tiết khắc lên một chiếc cốc uống: “Tôi là chiếc cốc uống ngọt ngào của Nestor. Ai uống cốc này thì dục vọng của nàng Aphrodite mang vương miện đẹp đẽ sẽ tóm lấy y”. Những ví dụ xưa nhất còn giữ được về bảng chữ cái Etruscan và bảng chữ cái La Mã cũng là những dòng chữ khắc trên cốc uống và vật đựng rượu. Mãi đến về sau, nhờ dễ học, bảng chữ cái ghi âm - vốn ban đầu chỉ là phương tiện thông tri có tính cá nhân - mới được dùng vào mục đích công cộng và hành chính. Như vậy, trình tự hình thành các công dụng của bảng chữ cái ghi âm là ngược lại với các hệ chữ cái biểu vần và biểu tự trước kia.

Hẳn chính vì công dụng ít ỏi và số người sử dụng hạn chế nên chữ viết mới xuất hiện muộn màng như vậy trong lịch sử tiến hóa của loài người. Tất cả các hệ chữ viết mà có thể đã được phát minh độc lập (ở Sumer, Mexico, Trung Hoa và Ai Cập) và tất cả các hệ chữ viết đầu tiên được cải biên từ các hệ đó (chẳng hạn như ở Crete, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, thung lũng Ấn hà và khu vực Maya) đều hình thành ở những xã hội có phân chia đẳng cấp với những thiết chế chính trị phức tạp và tập trung hóa, mà các xã hội này đều có liên quan mật thiết với nền sản xuất lương thực, về điều này chúng ta đã khảo sát ở chương trước. Chữ viết ban đầu phục vụ cho nhu cầu của các thiết chế chính trị này (chẳng hạn như lưu trữ hồ sơ và bố cáo lệnh của nhà vua), và người sử dụng chữ viết là những thư lại chuyên môn dành trọn thời gian cho việc đó, [bản thân không sản xuất lương thực mà] sống nhờ lương thực thặng dư do các nông dân sản xuất lương thực làm ra. Các xã hội săn bắt hái lượm thì đã chẳng bao giờ phát minh ra hay thậm chí chưa bao giờ tiếp thu chữ viết, bởi họ không có cả nhu cầu sử dụng chữ viết một cách thể chế hóa lẫn cơ chế xã hội và nông nghiệp cần thiết để tạo thặng dư lương thực đặng nuôi các thư lại chuyên nghiệp.

Như vậy, nền sản xuất lương thực, cùng với hàng ngàn năm tiến hóa xã hội theo sau sự tiếp thu nền sản xuất lương thực, là nhân tố có tầm quan trọng thiết yếu cho sự tiến hóa của chữ viết cũng như cho sự tiến hóa của vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cho người. Chữ viết đã chỉ phát sinh độc lập ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, Mexico và có thể ở Trung Hoa chính bởi đó là những khu vực đầu tiên mà sản xuất lương thực đã nảy sinh ở Tân Thế giới hoặc ở Cựu Thế giới. Một khi chữ viết đã được một vài xã hội đó phát minh ra, nó liền bành trướng nhờ sự giao thương, bằng những cuộc chinh phục và qua đường tôn giáo đến những xã hội khác có nền kinh tế và tổ chức chính trị tương tự.

Tuy sản xuất lương thực là một điều kiện cần thiết cho việc sớm phát minh hoặc sớm tiếp thu chữ viết, song đó không phải điều kiện đủ. Ở đầu chương này tôi đã nhắc đến việc một số xã hội có sản xuất lương thực và tổ chức chính trị phức tạp lại đã không phát minh hoặc không tiếp thu được chữ viết cho mãi tới thời hiện đại. Những trường hợp đó, mà thoạt trông có vẻ khó hiểu với chúng ta, những người hiện đại vốn đã quen coi chữ viết là thứ không thể thiếu đối với một xã hội phức tạp, bao gồm một trong những đế quốc lớn nhất trên thế giới vào thời điểm năm 1520, ấy là đế quốc Inca ở Nam Mỹ. Đó còn là trường hợp đế quốc sơ khai Tonga vùng hải đảo, nhà nước Hawaii vốn đã hình thành vào cuối thế kỷ 18, tất cả các nhà nước và tù trưởng quốc ở châu Phi hạ xích đạo và Tây Phi hạ Sahara trước khi đạo Hồi bành trướng đến vùng này, và những xã hội lớn nhất của người Bắc Mỹ bản địa, các xã hội ở thung lũng sông Missisippi và các phụ lưu của nó. Tại sao hết thảy các xã hội đó đã không có được chữ viết mặc dù chúng đều có những điều kiện tiên quyết giống như các xã hội có chữ viết?

Ở đây ta phải tự nhắc mình rằng đại đa số các xã hội có chữ viết đã có được nó bằng cách hoặc vay mượn từ các xã hội láng giềng hoặc tự mình phát minh ra. Các xã hội không có chữ viết mà tôi vừa liệt kê trên đây là những xã hội đã khởi đầu sản xuất lương thực muộn hơn so với Sumer, Mexico và Trung Hoa. (Trường hợp duy nhất không chắc lắm ở đây là niên đại tương đối của khởi đầu sản xuất lương thực ở Mexico và ở vùng Andes mà xét cho cùng là lãnh địa của đế quốc Inca). Giá như có đủ thời gian, các xã hội chưa có chữ viết đó ắt hẳn cũng đã tự phát triển nên chữ viết của riêng mình. Giá như nằm gần Sumer, Mexico và Trung Hoa hơn, các xã hội đó hẳn đã tiếp thu được chữ viết hoặc ý tưởng về chữ viết từ các trung tâm đó, cũng như Ấn Độ, Maya và hầu hết các xã hội có chữ viết khác đã làm. Nhưng các xã hội đó lại nằm quá xa các trung tâm chữ viết đầu tiên kia nên mãi đến thời hiện đại mới tiếp thu được chữ viết.

Tầm quan trọng của vị trí cô biệt là hiển nhiên nhất trong trường hợp Hawaii và Tonga, cả hai đều cách những xã hội có chữ viết gần nhất tối thiểu 4.000 dặm (6.400 km, ND) qua đại dương. Các xã hội [không có chữ viết] khác thì minh chứng cho một điểm quan trọng rằng khoảng cách theo đường chim bay chẳng phải là cách đo lường thích hợp cho sự cô biệt ở loài người. Vùng Andes chỉ cách Mexico 1.200 dặm (1.920 km), các vương quốc ở Tây Phi chỉ cách Bắc Phi 1.500 dặm (2.400 km) và vùng cửa sông Missisippi chỉ cách Mexico vỏn vẹn 700 dặm (1.120 km). Các khoảng cách đó ngắn hơn nhiều so với khoảng cách mà bảng chữ cái đã phải vượt qua để từ quê hương của nó ở bờ đông Địa Trung Hải đến Ireland, Ethiopia và Đông Nam Á trong vòng 2.000 năm sau khi nó được phát minh. Thế nhưng con người lại bị cản trở vì những rào cản sinh thái và rào cản bằng mặt nước mà chim có thể bay qua dễ dàng. Các nhà nước ở Bắc Phi (có chữ viết) và Tây Phi (không có chữ viết) bị ngăn cách với nhau bởi sa mạc Sahara vốn không thích hợp cho nông nghiệp và thành thị. Tương tự, các sa mạc ở phía bắc Mexico ngăn cách các trung tâm đô thị của miền nam Mexico với các tù trưởng quốc ở thung lũng Missisippi. Việc liên lạc giữa miền nam Mexico với vùng Andes đòi hỏi phải đi bằng đường biển hoặc phải đi đường bộ một quãng dài băng qua eo đất Darien nhỏ hẹp, đầy rừng rậm và chưa bao giờ có thành thị. Chính vì vậy mà vùng Andes, Tây Phi và thung lũng Missisippi bị cách ly hẳn với các xã hội có chữ viết.

Nói vậy không phải có nghĩa là các xã hội không có chữ viết đã hoàn toàn bị cách ly. Tây Phi rốt cuộc cũng đã tiếp thu được các gia súc của Lưỡi liềm Phì nhiêu băng qua sa mạc Sahara, sau đó thì tiếp nhận ảnh hưởng của Hồi giáo trong đó có chữ Arập. Ngô đã phát tán từ Mexico đến vùng Andes và từ Mexico đến thung lũng Missisippi song chậm hơn. Nhưng ta đã thấy ở Chương 10 rằng trục bắc-nam và các rào cản sinh thái ở châu Phi và châu Mỹ đã kìm hãm việc phát tán các loài cây trồng và vật nuôi. Lịch sử chữ viết minh họa rõ cho ta thấy rằng, tương tự như vậy, [rào cản] địa lý và sinh thái có ảnh hưởng thế nào đến sự truyền bá các phát minh của loài người.

❀ ❀ ❀

[1] . Thật ra, như những ai biết tiếng Nhật đều rõ, tiếng Nhật có hai hệ chữ viết biểu vần là hiragana và katakana, cả hai đều được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống chứ không chỉ hạn chế trong mấy công dụng nói trên. – ND.

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.