Súng, Vi Trùng Và Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18. Đụng Độ Giữa Hai Bán Cầu

❊ ❊ ❊

Trong tất cả các trường hợp nhóm người này giành chỗ nhóm người khác thì trường hợp có quy mô lớn nhất trong 13.000 năm trở lại đây là cuộc đụng độ gần đây giữa các xã hội Cựu Thế giới với các xã hội Tân Thế giới. Khoảnh khắc bi kịch và mang tính quyết định nhất của cuộc xung đột đó, như ta đã thấy ở Chương 3, xảy ra khi đội quân nhỏ bé của Pizarro bắt sống hoàng đế Atahualpa của đế quốc Inca, nhà lãnh đạo tuyệt đối của nhà nước lớn nhất, giàu có nhất, đông dân nhất và tiên tiến nhất về hành chính cũng như công nghệ của người châu Mỹ bản địa. Sự kiện bắt sống Atahualpa là biểu tượng cho việc người châu Âu chinh phục châu Mỹ, bởi cũng chính các nhân tố trực tiếp dẫn tới sự kiện đó hợp lại cũng là nguyên nhân khiến người châu Âu chinh phục được các xã hội châu Mỹ bản địa khác. Giờ ta hãy quay lại cuộc xung đột đó giữa hai bán cầu, áp dụng những gì ta đã biết được kể từ Chương 3. Câu hỏi cơ bản cần phải trả lời là: tại sao người châu Âu đến được và chinh phục được xứ sở của người châu Mỹ bản địa chứ không phải ngược lại? Điểm xuất phát của chúng ta sẽ là so sánh các xã hội Âu-Á với các xã hội châu Mỹ bản địa tại thời điểm năm 1492, năm mà Columbus “phát hiện” ra châu Mỹ.

Chúng ta bắt đầu so sánh từ chỗ sản xuất lương thực, nhân tố có tính quyết định đối với quy mô của quần thể dân cư và độ phức tạp của xã hội, do đó là nhân tố tối hậu quyết định khả năng chinh phục. Khác biệt nổi bật nhất giữa sản xuất lương thực châu Mỹ với sản xuất lương thực Âu-Á là ở các loài hữu nhũ thuần hóa lớn. Ở Chương 9 chúng ta đã gặp 13 loài của Âu-Á vốn đã trở thành nguồn chính cung cấp cho lục địa này protein động vật (thịt và sữa), len, da, phương tiện chính để vận chuyển người và hàng hóa, phương tiện chiến tranh không thể thiếu, và nhân tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng (bằng cách kéo cày và cung cấp phân bón). Cho đến khi bánh xe quay bằng sức nước và cối xay gió bắt đầu thay thế cho sức của các loài hữu nhũ ở Âu-Á vào thời trung đại, chúng cũng còn là nguồn chính cung cấp sức mạnh “công nghiệp” ngoài lực cơ bắp của con người, chẳng hạn như để xoay đá mài và vận hành máy nâng dùng sức nước. Ngược lại, châu Mỹ chỉ có mỗi một loài hữu nhũ thuần hóa lớn là lạc đà châu Mỹ (llamaalpaca), đã vậy loài này chỉ bó hẹp ở một khu vực nhỏ là vùng Andes và vùng duyên hải Peru lân cận. Tuy loài này được dùng để cho thịt, len, da và phương tiện vận chuyển, song nó chẳng bao giờ cho sữa để con người tiêu thụ, chẳng bao giờ được dùng để cưỡi, chẳng bao giờ kéo xe hoặc kéo cày, và chẳng bao giờ được dùng làm nguồn sinh công hay phương tiện chiến tranh.

Ấy là cả một loạt những khác biệt giữa các xã hội Âu-Á với các xã hội châu Mỹ bản địa - phần lớn là bởi hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã lớn ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ đã tuyệt chủng (hay bị tiêu diệt?) vào cuối Kỷ Pleitoxen. Giá như không có những sự tuyệt chủng đó thì lịch sử hiện đại rất có thể đã diễn ra theo một chiều hướng khác. Giá như vậy thì lúc Cortés và đoàn thám hiểm lôi thôi lếch thếch của ông ta đổ bộ lên bờ biển Mexico vào năm 1519, ắt hẳn họ đã ngợp lút giữa hàng ngàn kỵ binh Aztec cưỡi trên những con ngựa châu Mỹ bản địa được thuần hóa. Thay vì người Aztec chết vì bệnh đậu mùa, người Tây Ban Nha ắt sẽ bị quét sạch bởi các vi trùng châu Mỹ do những người Aztec đã có kháng thể truyền sang. Các nền văn minh châu Mỹ dựa trên sức loài vật ắt hẳn đã cử những đoàn quân chinh phục của mình sang làm cỏ châu Âu. Song những hệ quả giả định đó đã không xảy ra bởi các loài hữu nhũ đã bị tuyệt chủng ở châu Mỹ từ hàng ngàn năm trước.

Những sự tuyệt chủng đó đã khiến Âu-Á có nhiều loài hoang dã có thể thuần hóa hơn gấp bội so với châu Mỹ. Hầu hết các ứng viên này bị loại khỏi danh sách có thể thuần hóa bởi một nguyên nhân bất kỳ trong sáu nguyên nhân. Do vậy mà rốt cuộc Âu-Á còn lại 13 loài hữu nhũ lớn được thuần hóa, còn châu Mỹ chỉ có vỏn vẹn một loài. Cả hai bán cầu đều có những loài chim và loài hữu nhũ nhỏ được thuần hóa - như ở châu Mỹ là gà tây, chuột ghinê và vịt Muscovy ở phạm vi rất hẹp còn chó thì phổ biến hơn, còn ở Âu-Á là gà, ngỗng, vịt, mèo, chó, thỏ, ong mật, tằm và vài loài khác. Nhưng tầm quan trọng của tất cả các loài thuần hóa nhỏ đó chẳng là bao so với tầm quan trọng của các loài hữu nhũ lớn.

Âu-Á và châu Mỹ cũng khác nhau ở nghề trồng trọt, mặc dù sự khác nhau ở đây không lớn như ở chăn nuôi. Vào năm 1492, trồng trọt đã phổ biến trên toàn bộ Âu-Á. Trong số ít ỏi các dân tộc săn bắt hái lượm không có cả cây trồng lẫn vật nuôi ở Âu-Á có những người Ainu ở Bắc Nhật Bản, các xã hội Siberia không có hươu, và những nhóm nhỏ sống rải rác khắp những cánh rừng Ấn Độ và Đông Nam Á nhiệt đới sống bằng săn bắt hái lượm và trao đổi với các nhà nông láng giềng. Một số dân tộc Âu-Á khác, đặc biệt là những dân tộc du mục Trung Á và các dân tộc chăn nuôi tuần lộc ở Bắc cực là người Lapp và người Samoyed thì có chăn nuôi gia súc nhưng ít hoặc không trồng trọt gì. Hầu như tất cả các xã hội Âu-Á khác đều có cả trồng trọt lẫn chăn nuôi.

Nông nghiệp cũng phổ biến ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, song những người săn bắt hái lượm vẫn chiếm lĩnh một phần lớn diện tích châu Mỹ so với ở Âu-Á. Các khu vực không hề có sản xuất lương thực ở châu Mỹ bao gồm toàn bộ vùng phía bắc của Bắc Mỹ và phía nam của Nam Mỹ, vùng Đồng bằng Lớn Canada, và toàn bộ phía tây Bắc Mỹ ngoại trừ vài vùng nhỏ ở phía tây nam Hoa Kỳ nơi có nghề nông tưới tiêu. Điều đáng ngạc nhiên là những khu vực không có sản xuất lương thực ở châu Mỹ bản địa vào thời đó bao gồm cả những vùng mà ngày nay, sau khi người châu Âu đến Bắc Mỹ, đã trở thành những vựa lúa mì và bãi chăn thả trù phú nhất của cả Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ: các bang ven bờ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, dải lúa mì của Canada, đồng bằng pampa của Argentina và vùng khí hậu Địa Trung Hải của Chile. Sở dĩ các vùng này xưa kia không có sản xuất lương thực chẳng qua là bởi các vùng này khan hiếm những loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa, cũng như vì các rào cản địa lý và sinh thái ngăn không cho các loài cây trồng và dăm ba loài vật nuôi ít ỏi ở những vùng khác của châu Mỹ có thể thâm nhập vào được. Việc các vùng này trở nên năng sản là có lợi không chỉ cho người châu Âu đến định cư mà trong một số trường hợp còn cho cả chính người châu Mỹ bản địa, bởi người châu Âu đã mang đến các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa thích hợp với các vùng này. Chẳng hạn, các xã hội châu Mỹ bản địa đã trở nên lừng danh vì tài cưỡi ngựa thiện nghệ, trong một số trường hợp còn nổi tiếng cả về nuôi bò và cừu ở một số nơi thuộc vùng Đồng bằng Lớn, miền phía tây Hoa Kỳ và đồng bằng pampa ở Argentina. Ngày nay hễ nói đến người Anh-điêng châu Mỹ là người Mỹ da trắng hình dung đầu tiên đến những chiến binh cưỡi ngựa cùng những người Navajo chăn cừu và dệt vải, song cơ sở cho cái hình ảnh đó chỉ hình thành từ sau năm 1492. Các ví dụ này chỉ cho ta thấy: cái thành tố duy nhất hãy còn thiếu để có thể duy trì sản xuất lương thực ở những khu vực rộng lớn của châu Mỹ chính là bản thân các loài cây trồng và vật nuôi thuần hóa.

Ở những vùng của châu Mỹ nơi người châu Mỹ bản địa đã phát triển được sản xuất lương thực, nền sản xuất lương thực đó cũng bị bó hẹp bởi năm điều bất lợi chính so với nền nông nghiệp Âu-Á: quá phụ thuộc vào cây ngô vốn nghèo protein chứ không phải những loài ngũ cốc đa dạng và giàu protein như ở Âu-Á; phải trồng từng hạt một bằng tay chứ không phải gieo hàng loạt; cày cấy bằng tay chứ không cày bằng sức của loài vật, trong khi nếu cày bằng sức loài vật thì một người có thể canh tác trên một diện tích rộng hơn nhiều, ngoài ra còn có thể trồng trọt trên một số nơi đất màu mỡ nhưng rắn và những nơi đất khó gieo cấy bằng tay (tỉ như đất vùng Đồng bằng Lớn ở Bắc Mỹ); thiếu phân bón loài vật để làm giàu thêm đất; và chỉ có sức người chứ không có sức loài vật để làm những việc nhà nông như đập, xay và xây kênh mương. Những khác biệt đó gợi cho ta rằng nền nông nghiệp Âu-Á tại thời điểm năm 1492 có thể đã mang lại lượng calori và protein bình quân tính theo giờ công người cao hơn so với nền nông nghiệp châu Mỹ.

Những sự khác biệt đó trong nền sản xuất lương thực là một nguyên nhân tối hậu chính dẫn đến sự khác biệt giữa các xã hội Âu-Á với các xã hội châu Mỹ. Trong số các nhân tố trực tiếp phát sinh từ nguyên nhân tối hậu này và dẫn tới khả năng chinh phục của các xã hội Âu-Á, quan trọng nhất là những khác biệt về vi trùng, công nghệ, tổ chức chính trị và chữ viết. Trong số này, nhân tố có quan hệ gần gũi nhất với những khác biệt trong sản xuất lương thực là các loại vi trùng. Các căn bệnh truyền nhiễm vốn thường xuyên ghé thăm những xã hội Âu-Á có mật độ đông đúc - và do đó nhiều người Âu-Á đã được miễn dịch hoặc có cơ chế đề kháng - bao gồm tất cả các tác nhân giết người lớn nhất trong lịch sử: đậu mùa, sởi, cúm, dịch hạch, lao, sốt phát ban, dịch tả, sốt rét, vân vân. Trái ngược với cái danh sách hắc ám này, căn bệnh truyền nhiễm đám đông duy nhất mà ta có thể quy nguồn gốc về các xã hội châu Mỹ bản địa tiền Columbus là các bệnh khuẩn xoắn không phải giang mai. (Như tôi đã giải thích ở Chương 11, người ta vẫn chưa rõ liệu giang mai đã phát sinh từ Âu-Á hay từ châu Mỹ, và cũng đã có người tuyên bố rằng bệnh lao đã hiện diện ở châu Mỹ từ trước thời Columbus, nhưng theo tôi điều này vẫn chưa được kiểm chứng).

Thật nghịch lý rằng sự khác biệt giữa hai lục địa về các loại vi trùng độc hại phát sinh từ sự khác biệt giữa hai lục địa về các loài gia súc có ích. Hầu hết các vi trùng gây ra những bệnh truyền nhiễm đặc trưng cho xã hội loài người đông đúc đã tiến hóa từ chính các vi trùng thủy tổ tương tự vốn từng gây bệnh truyền nhiễm ở các loài thú thuần hóa, mà con người từ khi chuyển sang sản xuất lương thực vào khoảng 10.000 năm trước thì cũng bắt đầu tiếp xúc hằng ngày với các loài này. Âu-Á đã nuôi dưỡng nhiều loài thú thuần hóa và do đó đã làm phát triển nhiều loại vi trùng như vậy, trong khi châu Mỹ có rất ít loài thú thuần hóa nên cũng có rất ít vi trùng. Còn những nguyên nhân khác khiến các xã hội châu Mỹ bản địa có quá ít loài vi trùng chết người như vậy, ấy là do những làng mạc, vốn là chốn sinh sôi nảy nở lý tưởng cho các bệnh truyền nhiễm, ra đời ở châu Mỹ muộn hơn ở Âu-Á đến hàng ngàn năm; và ba vùng ở Tân Thế giới nơi có những xã hội có thành thị (vùng Andes, Trung Mỹ và vùng đông nam Hoa Kỳ) thì đã chẳng bao giờ được nối kết với nhau bằng con đường giao thương nhanh chóng với khối lượng lớn trên quy mô tương tự như đường giao thương vốn đã đưa bệnh dịch hạch, cúm và có thể cả đậu mùa từ châu Á sang châu Âu. Kết quả là ngay cả sốt rét và sốt hoàng nhiệt, những bệnh truyền nhiễm mà rốt cuộc đã trở thành trở ngại chính ngăn cản người châu Âu thực dân hóa vùng nhiệt đới châu Mỹ, cũng là rào cản lớn nhất kìm hãm việc xây dựng Kênh đào Panama, lại hoàn toàn không phải là những căn bệnh của châu Mỹ mà được gây ra bởi các vi trùng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới của Cựu Thế giới và do người châu Âu mang theo đến châu Mỹ.

Chẳng kém phần quan trọng so với vi trùng - với tư cách là nhân tố trực tiếp khiến tại sao châu Âu chinh phục được châu Mỹ - là sự khác biệt trên mọi phương diện về công nghệ. Những khác biệt đó xét đến cùng đều nảy sinh từ việc Âu-Á có một lịch sử lâu dài hơn gấp bội gồm những xã hội sống bằng sản xuất lương thực, có mật độ dân cư đông đúc, chuyên môn hóa về kinh tế, tập trung hóa về chính trị, tương tác và cạnh tranh với nhau. Có thể kể ra năm lĩnh vực công nghệ như sau:

Thứ nhất: kim loại - đầu tiên là đồng thiếc, sau đó là đồng thau, cuối cùng là sắt - được dùng làm công cụ ở tất cả các xã hội phức tạp ở Âu-Á vào năm 1492. Ngược lại, mặc dù đồng thiếc, bạc, vàng và hợp kim đã được dùng làm đồ trang trí ở vùng Andes và một số khu vực khác ở châu Mỹ, nhưng đá, gỗ và xương thú vẫn là vật liệu chính để chế tác công cụ tại hầu hết các xã hội châu Mỹ bản địa, các xã hội này chỉ sử dụng công cụ bằng đồng ở mức độ hạn chế.

Thứ hai, kỹ thuật quân sự ở Âu-Á hùng mạnh hơn nhiều so với ở châu Mỹ. Vũ khí châu Âu bao gồm gươm, giáo và dao găm bằng thép, được bổ sung bằng súng hỏa mai và pháo, binh sĩ thì được bảo vệ bằng áo giáp và mũ trụ làm bằng thép đặc hoặc các vòng thép xâu vào nhau. Thay vì thép, người châu Mỹ bản địa dùng dùi cui và rìu làm bằng đá hoặc gỗ (đôi khi mới làm bằng đồng ở vùng Andes), ná, cung tên, mặc áo giáp bằng vải chần, là những thứ vũ khí và phương tiện bảo vệ kém hiệu quả hơn nhiều. Thêm nữa, các quân đội châu Mỹ bản địa chẳng có vật cưỡi nào để đương đầu với ngựa, trong khi nhờ có loài ngựa dùng để tấn công và vận chuyển nhanh mà người châu Âu đã có ưu thế vượt trội trong giao chiến, cho mãi đến khi một số xã hội châu Mỹ bản địa cũng tự mình tiếp thu được ngựa.

Thứ ba, các xã hội Âu-Á có ưu thế rất lớn về các nguồn vận hành máy móc. Bước tiến đầu tiên so với sức người là sử dụng loài vật - bò, ngựa và lừa - để kéo cày, quay bánh xe xay hạt, nâng nước và tưới tiêu đồng ruộng. Bánh xe bằng sức nước xuất hiện từ thời La Mã và trở nên phổ biến rộng khắp cùng với cối xay dùng thủy triều và cối xay gió vào thời Trung cổ. Kết hợp với các hệ thống bánh xe có răng khớp, các động cơ trang bị sức nước và sức gió này không chỉ dùng để xay hạt và vận chuyển nước mà còn để phục vụ cho rất nhiều mục đích sản xuất khác như nghiền đường, kéo bễ lò rèn, nghiền quặng, làm giấy, đánh bóng đá, ép dầu, làm muối, dệt vải và cưa gỗ. Người ta thường định nghĩa cuộc Cách mạng Công nghiệp một cách tùy tiện là đã khởi đầu từ khi động cơ hơi nước xuất hiện tại Anh vào thế kỷ XVIII, song kỳ thực một cuộc cách mạng công nghiệp dựa trên sức nước và sức gió đã bắt đầu từ thời trung cổ tại nhiều vùng ở châu Âu. Đến năm 1492, tất cả những việc nào mà ở châu Âu được tiến hành bằng sức loài vật, sức nước và sức gió thì ở châu Mỹ vẫn chỉ được tiến hành bằng sức người.

Từ lâu trước khi bánh xe bắt đầu được sử dụng để chuyển đổi lực ở Âu-Á, nó đã trở thành cơ sở cho hầu hết việc vận chuyển trên bộ ở lục địa này - không chỉ đối với xe do súc vật kéo mà với cả xe cút kít do người đẩy, vốn cho phép một hay nhiều người dù chỉ sử dụng lực cơ bắp của con người nhưng vẫn vận chuyển được trọng lượng lớn hơn nhiều so với nếu không dùng xe cút kít. Bánh xe cũng được sử dụng trong nghề làm đồ gốm và làm đồng hồ ở Âu-Á. Không một ứng dụng nào của bánh xe trong số đó được áp dụng ở châu Mỹ - bằng chứng cho thấy ở lục địa này bánh xe chỉ được dùng trong những đồ chơi bằng gốm của người Mexico.

Lĩnh vực công nghệ còn lại cần nhắc tới là giao thông đường biển. Nhiều xã hội Âu-Á đã phát triển được những chiếc tàu buồm lớn, một số trong đó có khả năng đi ngược chiều gió và băng qua đại dương, được trang bị kính lục phân[1], la bàn nam châm, bánh lái và đại bác. Về công suất, tốc độ, tính cơ động và khả năng đi biển, những con tàu Âu-Á đó vượt xa những chiếc bè vẫn được dùng để tiến hành trao đổi hàng hóa giữa các xã hội tiên tiến nhất của châu Mỹ là các xã hội ở Andes và Trung Mỹ. Những chiếc bè đó nương theo chiều gió dọc theo bờ biển Thái Bình Dương. Tàu của Pizarro đã dễ dàng đuổi kịp và bắt sống một chiếc bè như vậy ngay trong chuyến hành trình đầu tiên của ông ta đến Peru.

Ngoài vi trùng và công nghệ, các xã hội Âu-Á và xã hội châu Mỹ bản địa còn khác nhau ở tổ chức chính trị. Cho đến cuối thời Trung cổ hoặc thời Phục hưng, hầu hết Âu-Á đã nằm dưới sự cai trị của các nhà nước có tổ chức. Trong số đó, nổi bật là các nhà nước Habsburg, Ottoman và Trung Quốc, nhà nước Mogul ở Ấn Độ và nhà nước Mông Cổ vào thời hoàng kim của nó ở thế kỷ 13 như những thể hợp nhất rộng lớn đa ngôn ngữ hình thành từ những cuộc chinh phục các nhà nước khác. Vì lý do đó các nhà nước này thường được gọi là đế quốc. Nhiều nhà nước và đế quốc ở Âu-Á có những tôn giáo chính thức góp phần vào sự cố kết của nhà nước, điều cần thiết để hợp thức hóa vị thế lãnh đạo về chính trị và chuẩn y những cuộc chiến tranh chống lại các dân tộc khác. Các xã hội bộ lạc và bầy người ở Âu-Á chủ yếu chỉ bao gồm một ít nhóm nhỏ như những người nuôi tuần lộc ở Bắc Cực, các dân tộc săn bắt hái lượm ở Siberia và những vùng săn bắt hái lượm cô lập ở tiểu lục địa Ấn Độ cũng như Đông Nam Á nhiệt đới.

Châu Mỹ có hai đế quốc, đế quốc Aztec và đế quốc Inca, hai đế quốc này cũng tương đương các đế quốc ở Âu-Á xét về kích thước, dân số, kết cấu đa ngôn ngữ, tôn giáo chính thức và nguồn gốc hình thành từ những cuộc chinh phục các nhà nước nhỏ hơn. Ở châu Mỹ, hai đế quốc này là hai đơn vị chính trị duy nhất có khả năng huy động nguồn lực để xây dựng các công trình công cộng hoặc tiến hành chiến tranh trên quy mô của nhiều nhà nước Âu-Á, trong khi bảy nhà nước Âu-Á (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển và Đan Mạch) đã có nguồn lực để có thể biến châu Mỹ thành thuộc địa trong khoảng từ năm 1492 đến năm 1666. Châu Mỹ cũng có nhiều tù trưởng quốc (một số trên thực tế là những nhà nước nhỏ) ở Nam Mỹ nhiệt đới, ở Trung Mỹ ngoài phạm vi cai trị của đế quốc Aztec, và ở vùng đông nam Hoa Kỳ. Phần còn lại của châu Mỹ chỉ mới ở cấp độ bộ lạc hoặc bầy người.

Nhân tố trực tiếp cuối cùng cần bàn tới là chữ viết. Hầu hết các nhà nước Âu-Á đều có tầng lớp quan lại có chữ viết, và ngoài quan lại ra thì một bộ phận đáng kể dân chúng cũng biết chữ. Chữ viết đã làm tăng sức mạnh cho các xã hội châu Âu do tạo điều kiện cho việc điều hành về chính trị và trao đổi kinh tế, thúc đẩy và hướng dẫn những cuộc thám hiểm và chiến tranh chinh phục, cho phép người ta thu nhận nhiều thông tin và trải nghiệm nhân sinh từ những xứ sở và thời đại xa xôi. Ngược lại, việc sử dụng chữ viết ở châu Mỹ chỉ giới hạn trong giới tinh hoa tại một khu vực nhỏ hẹp của Trung Mỹ. Đế quốc Inca sử dụng một hệ thống kế toán và dụng cụ ghi nhớ dựa trên những nút thắt (gọi là quipu), nhưng đã không đạt tới trình độ dùng chữ viết như một phương tiện để truyền tải thông tin chi tiết.

Như vậy, các xã hội Âu-Á vào thời Columbus đã có ưu thế to lớn so với các xã hội châu Mỹ bản địa về sản xuất lương thực, vi trùng, công nghệ (kể cả vũ khí), tổ chức chính trị và chữ viết. Đó là những nhân tố chính khiến cho hậu quả những cuộc xung đột sau thời Columbus lệch hẳn về một phía. Song những khác biệt đó tại thời điểm năm 1492 chỉ tiêu biểu cho một phân đoạn của những quỹ đạo lịch sử đã kéo dài ít nhất 13.000 năm ở châu Mỹ và còn lâu hơn gấp bội ở Âu-Á. Đặc biệt là với châu Mỹ, phân đoạn năm 1492 đánh dấu chỗ kết thúc quỹ đạo lịch sử độc lập của người châu Mỹ bản địa. Giờ chúng ta hãy lần ngược về những giai đoạn đầu tiên của các quỹ đạo đó.

Bảng 18.[1] tóm lược niên đại gần đúng khi các phát triển chủ chốt xuất hiện ở những “nguyên quán”[2] chính ở mỗi bán cầu (vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc ở Âu-Á, vùng Andes, Amazonia và Trung Mỹ ở châu Mỹ). Bảng này cũng bao gồm quỹ đạo lịch sử của một “nguyên quán” nhỏ tại Tân Thế giới là miền đông Hoa Kỳ và quỹ đạo lịch sử của nước Anh, vốn hoàn toàn chẳng phải là một “nguyên quán” nhưng được liệt kê vào đây để cho ta thấy những sự phát triển đó đã bành trướng ra khỏi vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu nhanh chóng đến nhường nào.

Bảng này cầm chắc sẽ làm cho bất cứ vị học giả uyên thâm nào cũng phải khiếp vía bởi nó quy giản những quá trình lịch sử cực kỳ phức tạp xuống chỉ còn dăm ba niên đại có vẻ như chính xác. Trên thực tế, tất cả các niên đại đó chẳng qua chỉ là những nỗ lực nhằm định danh những điểm còn tranh cãi trên một quá trình phát triển. Chẳng hạn, có tầm quan trọng hơn nhiều so với niên đại đầu tiên khi nhà khảo cổ nào đó tìm ra công cụ bằng kim loại đầu tiên, là niên đại khi có một tỷ lệ đáng kể công cụ được làm bằng kim loại, song công cụ bằng kim loại phải được sử dụng thường xuyên đến đâu thì mới có thể gọi là “phổ biến”? Cùng một nguyên quán đó và cùng một phát triển đó, nhưng niên đại xuất hiện ở nơi này có thể khác với ở nơi kia. Chẳng hạn, trong phạm vi khu vực Andes, đồ gốm xuất hiện ở miền duyên hải Ecuador (3.100 năm trCN) sớm hơn đến 1.300 năm so với ở Peru (1.800 năm trCN). Một số niên đại, tỉ như niên đại hình thành các tù trưởng quốc, khó mà suy ra được từ các cứ liệu khảo cổ, trong khi niên đại các vật thể như đồ gốm hay công cụ bằng kim loại thì có thể suy ra dễ hơn. Một số niên đại ở Bảng 18.[1] rất không chắc chắn, đặc biệt là niên đại phát sinh nền sản xuất lương thực ở châu Mỹ. Dẫu vậy, chừng nào ta còn hiểu rằng bảng này chỉ là một sự đơn giản hóa thì nó vẫn còn hữu ích để ta có thể đối chiếu lịch sử giữa hai lục địa.

Bảng này gợi ý rằng sản xuất lương thực đã bắt đầu cung cấp một phần lớn thực đơn của con người tại những nguyên quán ở Âu-Á sớm hơn khoảng 5.000 năm so với tại những nguyên quán ở châu Mỹ. Ở đây phải nói ngay rằng, tuy người ta không còn hoài nghi gì về niên đại ra đời nền sản xuất lương thực ở Âu-Á song thời điểm phát sinh sản xuất lương thực ở châu Mỹ thì vẫn đang trong vòng tranh cãi. Đặc biệt, các nhà khảo cổ thường nhắc lại rằng họ đã phát hiện được di tích thuần hóa cây trồng ở hang Coxcatlán tại Mexico, hang Guitarrero tại Peru và ở một số di chỉ khác tại châu Mỹ với niên đại xưa hơn đáng kể so với các niên đại được cho trong bảng này. Hiện nay các niên đại công bố đó đang được xem xét lại vì một số lý do: trong thời gian gần đây, việc xác định niên đại trực tiếp bằng cácbon phóng xạ đối với bản thân di tích cây trồng đã cho niên đại sớm hơn trong một số trường hợp; các niên đại xưa hơn mà người ta công bố trước đây là dựa trên niên đại của than củi được cho là cùng niên đại với di tích cây trồng nhưng thật ra có lẽ không phải; và người ta hãy còn chưa biết chắc liệu di tích những loài cây có niên đại xưa hơn đó có đúng là cây trồng chăng hay thật ra chỉ là cây dại được [người tiền sử] thu lượm về. Lại nữa, thậm chí nếu việc thuần hóa cây trồng đã bắt đầu tại châu Mỹ sớm hơn so với niên đại được cho ở Bảng 18.[1] thì điều chắc chắn vẫn là: nông nghiệp đã bắt đầu cung cấp phần lớn calori và tạo điều kiện để con người sống định cư ở các nguyên quán châu Mỹ vào thời điểm muộn hơn rất nhiều so với ở những nguyên quán Âu-Á.

Như ta đã thấy ở Chương 5 và Chương 10, chỉ một số khu vực tương đối nhỏ ở mỗi bán cầu đã đóng vai trò “nguyên quán”, nghĩa là nơi mà sản xuất lương thực đã phát sinh đầu tiên và bành trướng từ đó ra các khu vực khác. Các nguyên quán đó là vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc ở Âu-Á, vùng Andes, Amazonia, Trung Mỹ và miền đông Hoa Kỳ ở châu Mỹ. Chúng ta đặc biệt hiểu rõ tốc độ bành trướng của các phát triển chủ chốt ở châu Âu nhờ khu vực này có nhiều nhà khảo cổ đang làm việc. Như Bảng 18.[1] tóm tắt đối với nước Anh, phải mất những 5.000 năm nền sản xuất lương thực và lối sống theo làng mạc từ vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu mới đến được nước Anh, song từ đó trở đi thì tốc độ tiếp thu của nước Anh đối với [hình thái] tù trưởng quốc, nhà nước, chữ viết và đặc biệt là công cụ bằng kim loại đã nhanh hơn rất nhiều: chỉ mất 2.000 năm để tiếp thu các công cụ kim loại phổ biến đầu tiên làm bằng đồng thiếc và đồng thau, và chỉ mất 250 năm để tiếp thu công cụ phổ biến làm bằng sắt. Rõ ràng, một xã hội đã có sẵn các nhà nông định cư thì sẽ “mượn” nghề luyện kim từ một xã hội khác dễ hơn nhiều so với một xã hội gồm toàn những người săn bắt hái lượm du cư “mượn” nền sản xuất lương thực từ các nhà nông định cư (hoặc bị hất cẳng bởi các nhà nông đó).

Bảng 18.[1]. Quỹ đạo lịch sử của Âu-Á và của châu Mỹ

Niên đại tiếp nhận (phỏng đoán)

Âu-Á

Châu Mỹ bản địa

Lưỡi liềm Phì nhiêu

Trung Quốc

Anh Quốc

Andes

Amazon

Trung Mỹ

Đông Hoa Kỳ

Thuần hóa cây trồng

8.500 TCN

Trước 7.500 TCN

3.500 TCN

Trước 3.000 TCN

3.000 TCN

Trước 3.000 TCN

2.500 TCN

Thuần hóa vật nuôi

8.000 TCN

Trước 7.500 TCN

3.500 TCN

3.500 TCN

?

500 TCN

-

Đồ gốm

7.000 TCN

Trước 7.500 TCN

3.500 TCN

3.100-1.800 TCN

6.000 TCN

1.500 TCN

2.500 TCN

Làng mạc

9.000 TCN

Trước 7.500 TCN

3.000 TCN

3.100-1.800 TCN

6.000 TCN

1.500 TCN

500 TCN

Tù trưởng quốc

5.500 TCN

4.000 TCN

2.500 TCN

Trước 1.500 TCN

Năm 1 CN

1.500 TCN

200 TCN

Công cụ hoặc vật phẩm phổ biến bằng kim loại (đồng thiếc vàhoặc đồng thau)

4.000 TCN

2.000 TCN

2.000 TCN

Năm 1000 CN

-

-

-

Nhà nước

3.700 TCN

2.000 TCN

500 CN

Năm 1 CN

-

300 TCN

-

Chữ viết

3.200 TCN

Trước 1.300 TCN

43 CN

-

-

600 TCN-

-

Công cụ phổ biến bằng sắt

900 TCN

500 TCN

650 CN

-

-

-

Bảng này cung cấp niên đại phỏng đoán thời điểm một số phát minh quan trọng được tiếp nhận rộng rãi ở ba khu vực tại Âu-Á và bốn khu vực tại Châu Mỹ bản địa. Niên đại thuần hóa vật nuôi không tính loài chó, bởi loài này được thuần hóa sớm hơn các loài dùng để phục vụ sản xuất lương thực ở cả Âu-Á lẫn châu Mỹ.

Các tù trưởng quốc được phỏng đoán từ bằng chứng khảo cổ, chẳng hạn nơi mai tang, kiến trúc và nơi cư trú được phân chia theo thứ bậc. Bảng này là sự đơn giản hóa rất nhiều từ một khối sự kiện lịch sử vô cùng phức tạp - nội dung chương có nói rõ về một số trong nhiều thiếu sót nghiêm trọng ở bảng này.

Tại sao quỹ đạo của tất cả các phát triển chủ chốt lại lệch sang những niên đại muộn hơn ở châu Mỹ so với ở Âu-Á? Hẳn là do bốn nhóm nguyên nhân: so với Âu-Á thì châu Mỹ khởi đầu sản xuất lương thực muộn hơn, số loài cây dại và thú hoang có thể thuần hóa ít ỏi hơn, có nhiều rào cản lớn hơn ngăn cản sự phát tán, và có thể là do các khu vực đông dân cư ở châu Mỹ có quy mô nhỏ hơn hoặc biệt lập hơn so với ở Âu-Á.

Về lợi thế xuất phát trước của Âu-Á, con người đã chiếm lĩnh Âu-Á từ khoảng một triệu năm nay, lâu hơn rất nhiều so với ở châu Mỹ. Theo bằng chứng khảo cổ đã đề cập đến ở Chương 1, con người chỉ tiến sang châu Mỹ bằng ngả Alaska vào khoảng 12.000 năm trCN, bành trướng về phía nam các dải băng ở Canada với tư cách những thợ săn Clovis chỉ một vài thế kỷ trước 11.000 năm trCN, và đặt chân đến mũi phía nam của Nam Mỹ ngay trước 10.000 năm trCN. Thậm chí dù niên đại con người đến định cư ở châu Mỹ từ xưa hơn - mà các nhà khảo cổ vẫn còn tranh cãi - được chứng minh là đúng thì các cư dân tiền Clovis giả định kia vì nguyên nhân nào đó không rõ đã phân bố rất thưa thớt và không phát triển lên được thành những xã hội săn bắt hái lượm trù mật vào Kỷ Pleitoxen với dân số tăng nhanh, có công nghệ và nghệ thuật như ở Cựu Thế giới. Sản xuất lương thực đã phát sinh tại Lưỡi liềm Phì nhiêu chỉ 1.500 năm sau khi những người săn bắt hái lượm xuất thân từ các thợ săn Clovis đặt chân đến mỏm phía nam Nam Mỹ.

Có một số hậu quả khả dĩ của sự khởi đầu sớm tại Âu-Á cần được chúng ta xét kỹ hơn. Thứ nhất, liệu có phải mất một thời gian dài sau 11.000 năm trước CN để con người chiếm lĩnh toàn bộ châu Mỹ không? Nếu tính toán bằng con số, ta sẽ thấy khoảng thời gian đó có chăng cũng chỉ chiếm một phần nhỏ quãng thời gian muộn những 5.000 năm để sản xuất lương thực hình thành ở châu Mỹ. Tính toán ở Chương 1 cho ta biết rằng thậm chí dù chỉ có 100 người châu Mỹ bản địa tiên phong vượt qua ranh giới Canada để bước vào Hoa Kỳ ở phía nam và tăng dân số với tốc độ chỉ 1% một năm thì hậu duệ săn bắt hái lượm của họ cũng sẽ tràn ngập khắp toàn bộ châu Mỹ trong vòng 1.000 năm. Dù chỉ bành trướng về phía nam với tốc độ một dặm (1,[6] km) một tháng, những nhà tiên phong đó cũng chỉ mất 700 năm kể từ khi băng qua ranh giới Canada để đến được mỏm cực nam của Nam Mỹ. Tốc độ tăng dân số và bành trướng giả định này là rất thấp so với tốc độ tăng dân số và bành trướng thực tế của những dân tộc đang chiếm lĩnh dần những vùng đất chưa có người ở hoặc có nhưng thưa thớt. Vì vậy, có lẽ chỉ trong vòng vài thế kỷ sau khi những người di cư đầu tiên [từ Âu-Á sang] châu Mỹ là toàn bộ châu Mỹ đã có những người săn bắt hái lượm sinh sống cả rồi.

Thứ hai, liệu có phải một phần lớn trong quãng 5.000 năm chậm trễ kia là thời gian cần thiết để những người châu Mỹ đầu tiên kia làm quen với các loài cây cỏ, chim muông và các loại đá mà họ gặp ở địa phương này? Nếu một lần nữa ta có thể suy luận theo phép tương đồng như khi những người săn bắt hái lượm và nông dân New Guinea và Polynesia chiếm lĩnh các môi trường xa lạ - như những người Maori chiếm lĩnh New Zealand hay người Tudawhe chiếm lĩnh vùng Lòng chảo Karimui ở New Guinea - những người mới đến có lẽ chỉ cần không tới một thế kỷ để phát hiện được nguồn đá nào tốt nhất và phân biệt được loài cây cỏ hay chim thú nào có ích còn loài nào độc hại.

Thứ ba, đâu là lợi thế xuất phát trước của Âu-Á trong việc phát triển công nghệ thích hợp với môi trường đặc thù của mình? Các nhà nông đầu tiên của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Trung Quốc được thừa hưởng cái công nghệ mà những người Homo sapiens hiện đại về mặt hành vi đã phát triển được nhằm khai thác tài nguyên địa phương ở các khu vực đó trong suốt hàng vạn năm. Chẳng hạn, những chiếc rìu bằng đá, hầm chứa ngầm dưới đất và các kỹ thuật khác mà những người săn bắt hái lượm vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã dần dần phát minh ra để sử dụng ngũ cốc dại, đều đã được lưu truyền cho các nhà nông trồng ngũ cốc đầu tiên ở vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Ngược lại, những người đầu tiên đến định cư ở châu Mỹ đã đặt chân tới Alaska trong khi những thiết bị họ có chỉ thích hợp với vùng đài nguyên Siberia Bắc cực. Họ đã phải tự phát minh ra các thiết bị thích hợp với từng môi trường mới mà họ gặp. Sự chậm trễ về công nghệ đó đã góp phần đáng kể khiến cho mọi phát triển ở châu Mỹ bản địa đều muộn hơn ở Âu-Á.

Một nhân tố thậm chí còn hiển nhiên hơn nữa tác động đến sự chậm trễ này là [châu Mỹ] có những loài cây dại và thú hoang nào có thể thuần hóa được. Như tôi đã bàn ở Chương 6, khi những người săn bắt hái lượm tiếp thu nền sản xuất lương thực, ấy chẳng phải vì họ tiên liệu được những lợi ích tiềm tàng mà phải đến đời con đời cháu họ may ra mới hưởng, mà chỉ bởi nền sản xuất lương thực sơ khai kia bắt đầu đem lại ưu thế so với lối sống săn bắt hái lượm. Sức cạnh tranh của sản xuất lương thực thời kỳ đầu so với săn bắt hái lượm tại châu Mỹ không bằng như ở Lưỡi liềm Phì nhiêu hay Trung Quốc, một phần bởi châu Mỹ thực sự thiếu các loài hữu nhũ lớn có thể thuần hóa. Vì vậy, các nhà nông đầu tiên ở châu Mỹ vẫn phải dựa vào thú hoang làm nguồn cung cấp protein và vẫn phải dành phân nửa thời gian để săn bắt hái lượm, trong khi ở cả Lưỡi liềm Phì nhiêu lẫn Trung Quốc việc thuần hóa vật nuôi diễn ra ngay sau thuần hóa cây trồng, [cả hai hợp lại] tạo thành một nền sản xuất lương thực trọn gói nhanh chóng tỏ ra ưu việt và thay thế dần lối sống săn bắt hái lượm. Ngoài ra, các loài súc vật thuần hóa cũng làm cho bản thân nghề nông Âu-Á có sức cạnh tranh hơn bởi cung cấp phân bón, về sau là sức kéo cày.

Các đặc tính của cây dại ở châu Mỹ cũng góp phần khiến cho sản xuất lương thực của châu Mỹ bản địa kém cạnh tranh hơn. Kết luận đó là rõ ràng nhất ở khu vực miền đông Hoa Kỳ, nơi chỉ có chưa đầy một tá loài cây được thuần hóa trong đó có những loài thân thảo hạt nhỏ nhưng chẳng có loài thân thảo nào có hạt to, và không có cây đỗ, cây cho sợi, cây ăn quả nào. Điều đó cũng rõ ràng đối với vùng Trung Mỹ, cây trồng chính ở đó là ngô, vốn cũng bành trướng để trở thành cây trồng chính ở cả một số vùng khác của châu Mỹ. Trong khi lúa mì và lúa mạch dại của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đã tiến hóa thành cây trồng mà ít bị thay đổi nhất và chỉ trong vòng vài thế kỷ, thì cây teosinte dại đã phải trải qua những thay đổi triệt để trong cơ chế sinh sản, cơ chế phân phối năng lượng để sinh hạt, đánh mất lớp vỏ cứng như đá bọc quanh hạt còn lõi thì to ra rất nhiều.

Kết quả là, thậm chí dù ta chấp nhận các niên đại giả định muộn hơn mà giới khoa học đưa ra gần đây đối với thời điểm bắt đầu thuần hóa cây trồng ở châu Mỹ bản địa, thì cũng có một khoảng cách thời gian khoảng 1.500 hoặc 2.000 năm kể từ thời điểm đó (khoảng 3.000-2.500 năm trCN) và thời điểm xuất hiện những làng mạc định cư quanh năm (1.800-500 năm trCN) phổ biến ở Trung Mỹ, vùng nội địa Andes và miền đông Hoa Kỳ. Suốt một thời gian dài, trồng trọt ở châu Mỹ bản địa vẫn chỉ là một bổ sung nhỏ nhoi cho việc tìm kiếm thức ăn bằng săn bắt hái lượm và chỉ nuôi sống được một dân số ít oi. Còn nếu ta chấp nhận những niên đại xưa hơn như từ trước đến nay thì châu Mỹ đã phải mất đến 5.000 năm - chứ không phải 1.500 hay 2.000 năm - từ khi bắt đầu thuần hóa cây trồng cho đến khi sản xuất lương thực đủ khả năng nuôi sống các quần thể làm nông định cư thành làng mạc. Ngược lại, ở hầu hết Âu-Á làng mạc đã xuất hiện rất gần về thời gian so với thời điểm hình thành sản xuất lương thực. (Bản thân lối sống săn bắt hái lượm vẫn đủ năng sản để nuôi sống các làng định cư ngay cả trước khi người ta chuyển sang nông nghiệp ở một số vùng của cả hai bán cầu, như Nhật Bản và Lưỡi liềm Phì nhiêu ở Cựu Thế giới, vùng duyên hải Ecuador và Amazonia ở Tân Thế giới). Tân Thế giới bị giới hạn về chủng loại các loài thuần hóa, điều đó có thể thấy rõ qua việc bản thân các xã hội châu Mỹ bản địa đã chuyển biến như thế nào khi có những loài cây trồng hay vật nuôi khác từ nơi khác du nhập đến, dù là từ một vùng khác của châu Mỹ hay từ Âu-Á. Ví dụ tiêu biểu là những chuyển biến diễn ra khi cây ngô được du nhập vào miền đông Hoa Kỳ và Amazonia, loài llama được tiếp thu ở phía bắc Andes sau khi nó được thuần hóa ở phía nam, và khi loài ngựa [từ Âu-Á đến] xuất hiện ở nhiều vùng của Bắc Mỹ và Nam Mỹ.

Ngoài lợi thế xuất phát trước cũng như chủng loại cây dại và thú hoang của Âu-Á, các phát triển ở Âu-Á cũng được đẩy nhanh hơn nhờ lục địa này cho phép các loài súc vật, cây trồng, ý tưởng, công nghệ và bản thân con người phát tán dễ dàng hơn so với châu Mỹ do hệ quả của một số nhân tố địa lý và sinh thái. Trục chính của Âu-Á là đông-tây, khác với trục chính của châu Mỹ là nam-bắc, cho phép sự phát tán diễn ra mà không gặp sự thay đổi về vĩ độ và các biến thiên môi trường kèm theo sự thay đổi về vĩ độ. Trái ngược với bề ngang theo hướng đông-tây khá đồng nhất của Âu-Á, Tân Thế giới bị thắt nhỏ lại suốt cả chiều dài Trung Mỹ đặc biệt là ở Panama. Thế còn chưa hết, châu Mỹ lại còn bị phân mảnh hơn nữa vì những khu vực không thích hợp cho sản xuất lương thực hoặc cho con người sinh sống đông đúc. Các rào cản sinh thái đó bao gồm những khu rừng mưa ở eo biển Panama chia cắt các xã hội Trung Mỹ với các xã hội vùng Andes và Amazonia, các sa mạc phía bắc Mexico chia cắt Trung Mỹ với các xã hội vùng tây nam và đông nam Hoa Kỳ, những khu vực khô hạn ở Texas ngăn cách đông nam Hoa Kỳ với tây nam Hoa Kỳ, và những sa mạc cũng như núi cao ngăn cách vùng duyên hải Thái Bình Dương của Hoa Kỳ mà lẽ ra đã có thể thích hợp cho sản xuất lương thực. Hệ quả là đã chẳng hề có sự phát tán các loài thú nuôi, chữ viết hay các thể chế chính trị, còn phát tán cây trồng và công nghệ thì hạn chế hoặc diễn ra chậm chạp, giữa các trung tâm của Tân Thế giới là Trung Mỹ, miền đông Hoa Kỳ, vùng Andes và Amazonia.

Một số hậu quả đặc thù của các rào cản đó trong phạm vi châu Mỹ đáng cho ta chú ý. Sản xuất lương thực đã chẳng bao giờ phát tán ra khỏi miền tây nam Hoa Kỳ và thung lũng Mississippi để đến những vựa lúa mì California và Oregon ngày nay của Hoa Kỳ nơi các xã hội châu Mỹ bản địa [thời đó] vẫn tiếp tục sống theo lối săn bắt hái lượm chỉ vì thiếu các loài thuần hóa thích hợp. Lạc đà châu Mỹ (llama), chuột ghinê và khoai tây ở vùng cao nguyên Andes đã chẳng bao giờ đến được cao nguyên Mexico, cho nên Trung Mỹ và Bắc Mỹ vẫn chẳng có loài hữu nhũ thuần hóa nào ngoại trừ chó. Ngược lại, cây hướng dương thuần hóa ở vùng đông Hoa Kỳ đã chẳng bao giờ tới được Trung Mỹ, còn gà tây thuần hóa ở Trung Mỹ đã chẳng bao giờ tới được Nam Mỹ hay miền đông Hoa Kỳ. Ngô của Trung Mỹ phải mất những 3.000 năm còn đậu Trung Mỹ phải mất tới 4.000 năm để vượt qua khoảng cách 700 dặm (1.120 km, ND) từ các nông trại Mexico tới các nông trại ở miền đông Hoa Kỳ. Sau khi cây ngô tới được miền đông Hoa Kỳ, cũng phải mất thêm vài thế kỷ nữa thì việc phát triển một loài ngô năng sản trong điều kiện khí hậu Bắc Mỹ mới kích thích sự hưng thịnh của vùng Mississippi. Ngô, đậu và bí có thể đã phải mất mấy ngàn năm mới bành trướng được từ Trung Mỹ đến miền tây nam Hoa Kỳ. Trong khi các cây trồng Lưỡi liềm Phì nhiêu có thể bành trướng từ đông sang tây và ngược lại đủ nhanh khiến các vùng khác không kịp thuần hóa độc lập cũng các loài đó hoặc những loài tương tự, thì các rào cản ở châu Mỹ lại tạo điều kiện cho sự thuần hóa song song cùng một số loại cây trồng [ở nhiều khu vực khác nhau].

Cũng đáng chú ý như tác động của các rào cản đó đối với việc phát tán cây trồng và vật nuôi là tác động của chúng lên những đặc tính khác của xã hội loài người. Các bảng chữ cái có gốc gác nguyên thủy từ miền đông Địa Trung Hải đã phát tán ra tất cả các xã hội phức tạp của Âu-Á, từ nước Anh đến Indonesia, ngoại trừ những khu vực ở Đông Á nơi văn tự phổ biến là những hệ chữ viết xuất thân từ chữ Hán. Ngược lại, hệ chữ viết duy nhất ở Tân Thế giới - hệ chữ viết của Trung Mỹ - chẳng bao giờ bành trướng được đến các xã hội phức tạp ở vùng Andes và miền đông Hoa Kỳ mà lẽ ra đã có thể tiếp thu nó. Bánh xe được phát minh ở Trung Mỹ như một phần của các món đồ chơi song đã chẳng bao giờ gặp được các con lạc đà được thuần hóa ở vùng Andes để tạo thành một phương tiện vận chuyển cho Tân Thế giới. Từ đông sang tây ở Cựu Thế giới, đế quốc Macedonia và đế quốc La Mã đều trải rộng khắp 3.000 dặm (4.800 km, ND), đế quốc Mông Cổ thì đến tận 6.000 dặm (9.600 km, ND). Nhưng các đế quốc và nhà nước ở Trung Mỹ đã chẳng có hề quan hệ chính trị với - hình như thậm chí chưa hề nghe nói đến - các tù trưởng quốc ở miền đông Hoa Kỳ chỉ cách họ 700 dặm về phía bắc hoặc các đế quốc và nhà nước ở vùng Andes cách họ 1.200 dặm (hơn 1.900 km, ND) về phía nam.

Việc châu Mỹ bị phân mảnh nhiều hơn về địa lý so với Âu-Á cũng phản ánh ở sự phân bố ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học nhất trí chia tất cả các ngôn ngữ Âu-Á (chỉ trừ vài ngoại lệ) thành khoảng một tá ngữ hệ, mỗi ngữ hệ gồm vài trăm ngôn ngữ có họ hàng với nhau. Chẳng hạn, ngữ hệ Ấn-Âu - trong đó có tiếng Anh cũng như tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hy Lạp và tiếng Hindi - bao gồm 144 ngôn ngữ. Chỉ một vài ngữ hệ trong số đó chiếm lĩnh những khu vực rộng lớn không bị chia cắt - trong trường hợp ngữ hệ Ấn-Âu, khu vực của nó bao gồm từ hầu hết châu Âu về phía đông cho đến phần lớn châu Á về phía tây đến tận Ấn Độ. Bằng chứng ngôn ngữ, bằng chứng lịch sử và bằng chứng khảo cổ hợp lại cho thấy rõ rằng mỗi một ngữ hệ được phân bố trên một khu vực rộng lớn và liên tục đó đều xuất phát từ sự bành trướng một ngôn ngữ thủy tổ trong lịch sử, tiếp theo đó là sự biệt hóa ngôn ngữ theo từng khu vực để hình thành một ngữ hệ gồm các ngôn ngữ có quan hệ họ hàng (Bảng 18.[2]). Hầu hết các ngôn ngữ thủy tổ đó sở dĩ bành trướng được hẳn là do ưu thế của những người sử dụng chúng - vốn thuộc về những xã hội sản xuất lương thực - so với các dân tộc săn bắt hái lượm. Ở Chương 16 và Chương 17 ta đã bàn tới những sự bành trướng đó trong lịch sử của các ngữ hệ Hán-Tạng, Nam Đảo và các ngữ hệ Đông Á khác. Trong số những sự bành trướng đó vào thiên niên kỷ gần đây nhất có những cuộc bành trướng đã đưa các ngôn ngữ Ấn-Âu từ châu Âu sang châu Mỹ và Australia, tiếng Nga từ Đông Âu ra khắp Siberia, và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai) từ Trung Á về phía tây đến Thổ Nhĩ Kỳ.

Trừ ngoại lệ là ngữ hệ Eskimo-Aleut ở vùng Bắc Cực châu Mỹ và ngữ hệ Na-Dene ở Alaska, vùng tây bắc Canada và tây nam Hoa Kỳ, châu Mỹ thiếu những ví dụ về các cuộc bành trướng ngôn ngữ trên quy mô lớn được các nhà ngôn ngữ học rộng rãi thừa nhận. Hầu hết giới ngôn ngữ học chuyên về các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa không thừa nhận một nhóm ngôn ngữ lớn và rõ rệt nào khác ngoài các nhóm Eskimo-Aleut và NaDene. Giỏi lắm họ cũng chỉ xem các bằng chứng là vừa đủ để chia các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa khác (khoảng từ 600 đến 2.000 tùy theo cách liệt kê khác nhau) thành khoảng một trăm hay trên một trăm nhóm ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ riêng biệt. Có một quan điểm thiểu số gây tranh cãi, ấy là quan điểm của nhà ngôn ngữ học Josepgh Greenberg - ông này chia toàn bộ các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa khác ngoài các ngôn ngữ Eskimo-Aleut và Na-Dene thành một ngữ hệ duy nhất gọi là Amerind với khoảng một tá ngữ hệ con.

Một số ngữ hệ của Greenberg, cũng như một số nhóm ngôn ngữ theo cách phân loại của các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm truyền thống, có thể lại là di sản từ những cuộc bành trướng dân số ở Tân Thế giới mà động lực một phần là sản xuất lương thực. Các di sản đó có thể bao gồm các ngôn ngữ Uto-Aztec ở Trung Mỹ và miền tây Hoa Kỳ, các ngôn ngữ Oto-Manguea ở Trung Mỹ, các ngôn ngữ Natchez-Muskogea ở đông nam Hoa Kỳ, và các ngôn ngữ Arawak ở vùng Tây Ấn. Song những khó khăn mà các nhà ngôn ngữ học gặp phải trong việc phân loại các ngôn ngữ châu Mỹ bản địa chẳng qua phản ánh những khó khăn mà bản thân các xã hội phức tạp ở châu Mỹ bản địa từng gặp phải khi bành trướng trong phạm vi Tân Thế giới. Giá như có một dân tộc sản xuất lương thực nào ở châu Mỹ bản địa đã thành công trong việc bành trướng ra xa cùng các cây trồng và vật nuôi của mình để rồi nhanh chóng chiếm chỗ các dân tộc săn bắt hái lượm trên một khu vực rộng lớn, thì ắt hẳn họ đã để lại di sản dưới dạng những ngữ hệ có thể dễ dàng nhận diện cũng như ở Âu-Á, và mối quan hệ giữa các ngữ hệ châu Mỹ bản địa đã không rối rắm, gây nhiều tranh cãi đến vậy.

Bảng 18.[2]. Sự bành trướng các ngôn ngữ ở Cựu Thế giới

Niên đại suy ra

Ngữ hệ

Hướng bành trướng

Động lực tối hậu

6.000 hay 4.000 TCN

Ấn-Âu

Ukraina hoặc Anatolia -> châu Âu, Trung Á, Ấn Độ

Sản xuất lương thực hoặc chăn nuôi du mục cưỡi ngựa

6.000 TCN - 2.000 TCN

Elamo - Dravidian

Iran ->Ấn Độ

Sản xuất lương thực

4.000 TCN - hiện nay

Hán-Tạng

Cao nguyên Tây Tạng, Bắc Trung Quốc -> Nam Trung Quốc, Đông Nam Á nhiệt đới

Sản xuất lương thực

3.000 TCN - 1.000 TCN

Nam Đảo

Nam Trung Quốc -> Indonesia, các đảo Thái Bình Dương

Sản xuất lương thực

3.000 TCN

Bantu

Nigeria và Cameroon -> Nam Phi

Sản xuất lương thực

3.000 TCN - năm 1 CN

Nam Á

Nam Trung Quốc -> Đông Nam Á nhiệt đới

Sản xuất lương thực

1.000 TCN - năm 1.500 CN

Thái-Kadai, Mèo-Dao

Nam Trung Quốc -> Đông Nam Á nhiệt đới

Sản xuất lương thực

Năm 892 CN

Hungari

Dãy Ural -> Hungari

Chăn nuôi du mục cưỡi ngựa

1.000 CN - 1.300 CN

Altai (Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ)

Thảo nguyên châu Á -> châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc

Chăn nuôi du mục cưỡi ngựa

1.480 CN - 1.638 CN

Nga

Nga ở châu Âu -> Siberia ở châu Á

Sản xuất lương thực

Như vậy chúng ta đã xác định ba nhóm nhân tố tối hậu khiến người châu Âu có ưu thế vượt trội khi xâm lăng châu Mỹ: Âu-Á có lợi thế xuất phát là có người định cư từ sớm hơn nhiều; nền sản xuất lương thực ở Âu-Á hữu hiệu hơn do có nhiều hơn gấp bội các loài cây dại và đặc biệt là thú hoang có thể thuần hóa; và Âu-Á ít có những rào cản đáng sợ về địa lý và sinh thái ngăn trở sự phát tán trong phạm vi lục địa. Còn một nhân tố thứ tư nữa - mang tính phỏng đoán nhiều hơn - mà ta có thể luận ra từ việc có một số nhân tố mà rất lạ là châu Mỹ đã không phát minh ra được: các xã hội phức tạp ở vùng Andes đã không phát minh được chữ viết và bánh xe mặc dù độ dài lịch sử của các xã hội đó cũng xấp xỉ bằng của các xã hội phức tạp ở vùng Trung Mỹ trong khi các xã hội Trung Mỹ thì lại phát minh ra được; còn bánh xe thì tuy các xã hội Trung Mỹ phát minh ra nhưng lại chỉ được dùng trong các món đồ chơi và rốt cuộc thì biến mất, mặc dù lẽ ra người ta cũng có thể dùng nó để chế tạo xe cút kít do người kéo như ở Trung Quốc. Những trường hợp khó hiểu đó làm ta nhớ lại những trường hợp khác cũng khó hiểu không kém khi một số xã hội nhỏ biệt lập như người Tasmania bản địa, người Australia bản địa, người Nhật Bản, các đảo Polynesia và vùng Bắc cực châu Mỹ đã không phát minh được một số thứ hoặc [đã phát minh được hoặc tiếp thu được nhưng rồi] lại đánh mất. Dĩ nhiên, châu Mỹ [gồm Bắc Mỹ và Nam Mỹ] gộp lại chẳng hề nhỏ tí nào: tổng diện tích của chúng bằng 76% diện tích Âu-Á, còn dân số châu Mỹ tại thời điểm năm 1492 có lẽ cũng bằng một phần lớn dân số Âu-Á. Nhưng châu Mỹ, như ta đã thấy, bị chia cắt thành những “ốc đảo” với những xã hội chỉ liên hệ với nhau một cách yếu ớt. Hẳn là lịch sử bánh xe và lịch sử chữ viết của châu Mỹ bản địa là tiêu biểu cho những nguyên lý vốn đã được minh họa dưới hình thức cực đoan hơn qua trường hợp các xã hội đích thực là xã hội hải đảo.

Sau ít nhất 13.000 năm phát triển riêng biệt, các xã hội tiên tiến ở châu Mỹ và Âu-Á cuối cùng cũng đã đụng độ nhau trong vòng một ngàn năm trở lại đây. Cho tới khi đó, những tiếp xúc duy nhất giữa các xã hội loài người ở Tân Thế giới với các xã hội loài người ở Cựu Thế giới chỉ giới hạn ở những người săn bắt hái lượm ở hai bên bờ eo biển Bering.

Người châu Mỹ bản địa đã chẳng hề thử di cư sang Âu-Á, ngoại trừ ở eo Bering nơi một nhóm nhỏ người Inuit (Eskimo) xuất phát từ Alaska đã chuyển sang định cư ở vùng bờ biển Siberia phía bên kia eo Bering. Cuộc di cư đầu tiên của người Âu-Á sang châu Mỹ mà lịch sử ghi lại được là do người Norse [người Bắc Âu cổ, ND] tiến hành ở các vĩ độ Bắc Cực và dưới Bắc Cực (Hình 18.[1]). Người Norse từ Na Uy ngày nay di cư sang Iceland vào năm 986, và cuối cùng người Norse định cư ở Greenland bắt đầu thường xuyên đặt chân đến bờ biển Đông Bắc Bắc Mỹ trong khoảng từ năm 1000 đến năm 1350. Di chỉ khảo cổ Norse duy nhất được phát hiện ở châu Mỹ là ở Newfoundland, có lẽ là khu vực được gọi là Vinland trong các bản trường ca cổ (saga) của người Norse, nhưng các saga cũng còn nhắc đến những cuộc đổ bộ rõ ràng còn xa hơn về phía bắc, trên bờ biển Labrador và đảo Baffin.

Khí hậu Iceland cho phép chăn nuôi, trồng trọt tuy hết sức hạn chế, và diện tích đảo này vừa đủ để nuôi sống một quần thể dân cư có nguồn gốc Bắc Âu vẫn tồn tại đến ngày nay. Nhưng hầu hết đảo Greenland thì phủ dưới băng, và ngay cả ở hai vùng vịnh ven biển (fjord) thuận lợi nhất ở đây cũng khó lòng có thể sản xuất lương thực theo kiểu người Norse được. Dân số người Norse ở Greenland chưa bao giờ vượt quá dăm ngàn người. Các cư dân này vẫn phải nhập lương thực và sắt từ Na Uy, nhập gỗ từ vùng duyên hải Labrador. Khác với đảo Phục Sinh và các đảo Polynesia xa xôi khác, Greenland không đủ sức nuôi sống một xã hội sản xuất lương thực tự túc, mặc dù nó vẫn có thể nuôi sống các quần thể người Inuit săn bắt hái lượm tự túc cả trước, trong và sau thời kỳ người Norse chiếm cứ đảo này. Bản thân dân số Iceland và Na Uy quá ít ỏi và quá nghèo nên không thể tiếp tục hỗ trợ những người định cư ở Greenland nữa.

54

Hình 18.[1]. Sự bành trướng của người Norse từ Na Uy băng qua Bắc Đại Tây Dương, với niên đại phỏng đoán thời điểm họ đặt chân đến từng khu vực.

Vào thời kỳ Tiểu Băng Hà vào thế kỷ XIII, vùng Bắc Băng Dương trở nên lạnh hơn khiến cho việc sản xuất lương thực ở Greenland cũng như việc đi lại của người Norse từ Na Uy và Iceland đến Greenland càng trở nên khó khăn. Lần tiếp xúc cuối cùng của người Greenland với người châu Âu là vào năm 1410 khi một con tàu của Iceland cập bến [châu Âu] sau khi bị [bão] thổi chệch hướng. Khi người châu Âu rốt cuộc cũng ghé thăm Greenland trở lại vào năm 1577 thì ở đó đã chẳng còn khu định cư nào của người Norse nữa; các khu định cư đó đã biến mất trong thế kỷ XV mà được chẳng sách vở nào ghi lại.

Nhưng bờ biển Bắc Mỹ thì lại xa hẳn ngoài tầm với của các con tàu buồm xuất phát từ bản thân Na Uy bởi công nghệ tàu biển của Na Uy vào thời kỳ 986-1410 không cho phép. Để đến được Bắc Mỹ, người Norse chỉ có thể xuất phát từ chính đảo Greenland vốn chỉ cách Bắc Mỹ qua eo David rộng 200 dặm (320 km). Tuy nhiên, đối với dúm người Norse ít ỏi sống ở tận biên khu xa xôi kia thì khả năng khai phá, chinh phục và định cư lâu dài [trên một lục địa rộng lớn như] châu Mỹ là bằng không. Ngay cả di chỉ Norse duy nhất ở Newfoundland hình như cũng chẳng gì hơn là một khu cắm trại mùa đông của dăm chục người trong vòng vỏn vẹn mấy năm. Các saga của người Norse thuật lại việc trại Vinland của họ bị một giống dân gọi là Skraelings tấn công, rõ ràng dân “Skraelings” đó là những người Anh-điêng vùng Newfoundland hoặc những người Eskimo vùng Dorset.

Số phận của thuộc địa Greenland, tiền đồn xa xôi nhất của châu Âu thời Trung cổ, vẫn còn là một trong những bí ẩn lãng mạn của ngành khảo cổ. Liệu có phải những người Norse cuối cùng ở Greenland đã chết vì đói, hay họ đã cố tìm cách dong buồm ra đi, hay họ đã kết hôn với người Eskimo, hay họ đã chết sạch vì bệnh tật hoặc vì những mũi tên của người Eskimo? Tuy nguyên nhân trực tiếp khiến người Norse ở Greenland biến mất vẫn còn là câu hỏi chưa có lời đáp, song nguyên nhân tối hậu để người Norse không thành công trong việc thuộc địa hóa Greenland và châu Mỹ là quá rõ ràng. Ý đồ đó không thành công là bởi nguồn xuất phát (Na Uy), đích chinh phục (Greenland và Newfoundland) và thời điểm (năm 984 đến năm 1410) đều không đủ đảm bảo cho người châu Âu có thể áp dụng thành công ưu thế vốn có của mình về sản xuất lương thực, công nghệ và tổ chức chính trị. Ở một vĩ độ quá cao khó lòng sản xuất lương thực được nhiều, các công cụ bằng sắt trong tay một dúm người Norse vốn chỉ được hỗ trợ bởi một trong những nhà nước nghèo ở châu Âu không đủ để chọi lại với các công cụ bằng đá, xương thú và gỗ của những người săn bắt hái lượm Eskimo và Anh-điêng, những kẻ có kỹ năng điêu luyện nhất thế giới trong việc sống còn ở vùng địa cực.

Nỗ lực thứ hai của người Âu-Á hòng thuộc địa hóa châu Mỹ đã thành công là bởi nó bao gồm một nguồn xuất phát, một đích chinh phục và một thời điểm vốn dĩ cho phép những ưu thế tiềm tàng của châu Âu có thể phát huy tác dụng. Không như Na Uy, nước Tây Ban Nha đủ giàu và đủ đông dân để hỗ trợ những cuộc du hành thám hiểm và trợ cấp cho các thuộc địa. Người Tây Ban Nha đổ bộ lên các vĩ độ cận nhiệt đới của châu Mỹ, những nơi rất thích hợp cho sản xuất lương thực, ban đầu thì dựa hầu hết trên các loại cây trồng châu Mỹ bản địa song cũng dùng các loài vật nuôi của Âu-Á đặc biệt là bò và ngựa. Công cuộc thuộc địa hóa xuyên đại dương của Tây Ban Nha khởi đầu vào năm 1492, thời điểm kết thúc một thế kỷ phát triển nhanh chóng về công nghệ tàu biển vượt đại dương của châu Âu - cho đến lúc đó công nghệ này đã kết hợp được những tiến bộ trong kỹ thuật đi biển, kiểu dáng buồm và thiết kế tàu đã được phát triển bởi các xã hội Cựu Thế giới tại Ấn Độ Dương (thế giới Hồi giáo, Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia). Kết quả là những con tàu được đóng và trang bị nhân lực ở chính Tây Ban Nha đã có thể dong buồm đến vùng Tây Ấn; chẳng giống một chút nào so với cái nút cổ chai Greenland đã khiến cho công cuộc thuộc địa hóa của người Norse chết yểu. Chẳng mấy chốc các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới sẽ có thêm bạn mới là những thuộc địa của nửa tá nhà nước châu Âu khác.

Những khu định cư đầu tiên của người châu Âu đến châu Mỹ, khởi đầu từ khu do Columbus thành lập vào năm 1492, là ở vùng Tây Ấn. Những người Anh-điêng bản địa sống trên các đảo này - mà dân số tại thời điểm được người châu Âu “phát hiện” lên tới hơn một triệu - đã nhanh chóng bị tiêu diệt trên hầu hết các đảo vì dịch bệnh, bị đánh đuổi, bị bắt làm nô lệ, vì chiến tranh và vì bị giết một cách tình cờ. Vào khoảng năm 1508 thuộc địa đầu tiên được thành lập trên nội địa châu Mỹ, tại eo Panama. Theo sau đó là cuộc chinh phục hai đế quốc lớn trong nội địa là đế quốc Aztecs vào năm 1519-1520 và đế quốc Inca vào năm 1532-1533. Trong cả hai cuộc chinh phục này, những bệnh truyền nhiễm lây qua người châu Âu (có lẽ là đậu mùa) đã góp phần quan trọng: giết chết bản thân các vị hoàng đế cũng như phần lớn dân số người bản địa. Ưu thế vượt trội về quân sự của dù chỉ một dúm kỵ binh Tây Ban Nha, cùng với kỹ năng chính trị của họ trong việc khai thác sự chia rẽ trong nội bộ người châu Mỹ bản địa, đã góp phần còn lại [để người châu Âu chiến thắng]. Người châu Âu tiếp tục chinh phục nốt các nhà nước bản địa còn lại ở Trung Mỹ và miền bắc của Bắc Mỹ trong các thế kỷ XVI và XVII.

Về phần các xã hội bản địa tiên tiến nhất ở Bắc Mỹ, các xã hội ở vùng đông nam Hoa Kỳ và hệ sông Mississippi, các xã hội đó đã bị hủy diệt chủ yếu chỉ bằng các vi trùng do những nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên mang tới và đi trước bản thân các nhà thám hiểm đó. Trong khi người châu Âu bành trướng ra khắp châu Mỹ, nhiều xã hội bản địa khác như xã hội Mandan ở vùng Đồng bằng Lớn và xã hội của người Eskimo Sadlermiut ở Bắc Cực cũng bị quét sạch bởi bệnh tật mà chẳng cần đến hành động quân sự. Còn những xã hội nào không bị tiêu diệt bằng vi trùng theo cách đó thì bị hủy diệt bằng cùng một cách như các xã hội Aztec và Inca, nghĩa là bằng những cuộc chiến tranh toàn diện được tiến hành bởi binh sĩ châu Âu chuyên nghiệp và đồng minh bản địa của họ. Các binh sĩ đó được hậu thuẫn bởi các tổ chức chính trị đầu tiên là của các mẫu quốc châu Âu, sau đó là của các chính phủ thuộc địa của người Âu tại Tân Thế giới, cuối cùng là của các nhà nước độc lập mới theo kiểu châu Âu tiếp bước các chính phủ thuộc địa này.

Các xã hội bản địa nhỏ hơn thì bị hủy diệt một cách ngẫu nhiên hơn, bằng những cuộc tập kích và ám sát ở quy mô nhỏ do những công dân [người Âu] tiến hành trên tư cách cá nhân. Chẳng hạn, những người săn bắt hái lượm bản địa tại California ban đầu có tổng cộng khoảng 200 ngàn người nhưng lại chia manh mún thành khoảng một trăm bộ lạc nhỏ, từng bộ lạc trong số đó thì chẳng cần đến một cuộc chiến tranh cũng có thể đánh bại được. Hầu hết các bộ lạc nhỏ đó bị giết sạch hoặc chiếm đất trong hoặc ngay sau cơn sốt tìm vàng ở California vào năm 1848-1852 khi những người nhập cư châu Âu đổ xô vào bang này để tìm vàng. Một ví dụ tiêu biểu là bộ lạc Yahi ở bắc California, vốn có dân số khoảng 2.000 người và không có súng, đã bị tiêu diệt trong bốn cuộc tập kích của người da trắng có vũ trang: một cuộc tập kích lúc hoàng hôn của 17 người da trắng tấn công một làng Yahi vào ngày 6 tháng tám năm 1865, một cuộc thảm sát người Yahi trong một hẻm núi vào năm 1866, 33 người Yahi bị dồn vào một hang đá rồi bị thảm sát vào khoảng năm 1867, cuối cùng là 4 tay chăn bò giăng bẫy chừng 30 người Yahi, dồn vào một hang đá khác rồi thảm sát vào khoảng năm 1868. Tương tự, nhiều nhóm Anh-điêng ở vùng Amazonia cũng bị tiêu diệt bởi những người [da trắng] di cư trong cuộc bùng nổ cao su[3] vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Những giai đoạn cuối cùng của cuộc chinh phục đó diễn ra trong thập niên hiện nay[4], khi xã hội người Yanomamo và các xã hội Anh-điêng vùng Amazonia khác - mà đến nay vẫn còn độc lập không còn chống lại nổi với bệnh tật - đang bị những kẻ khai thác mỏ giết hại hoặc đang rơi vào vòng kiểm soát của các nhà truyền giáo hay đại diện chính phủ.

Kết quả cuối cùng là các xã hội châu Mỹ bản địa đông đúc đã bị loại trừ khỏi hầu hết các khu vực ôn hòa nhất thích hợp cho sản xuất lương thực và thể chất của người châu Âu. Ở Bắc Mỹ, những xã hội châu Mỹ bản địa nào còn tồn tại đến nay như những cộng đồng còn nguyên vẹn và có quy mô đáng kể thì hầu hết đều sống trong những khu bảo tồn hoặc những vùng đất khác được coi là không thích hợp cho nền sản xuất lương thực và khai mỏ của người Âu, chẳng hạn vùng Bắc Cực hoặc các khu vực khô cằn ở miền tây Hoa Kỳ. Người châu Mỹ bản địa ở nhiều khu vực nhiệt đới đã bị thế chỗ bằng những người di cư từ vùng nhiệt đới ở Cựu Thế giới sang (đặc biệt là người châu Phi đen, cùng với người Ấn Độ ở châu Á và người Java ở Surinam).

Ở nhiều khu vực của Trung Mỹ và vùng Andes, người châu Mỹ bản địa trước kia từng đông đúc đến nỗi thậm chí dù sau bao nhiêu dịch bệnh và chiến tranh, hầu hết cư dân ngày nay ở đó vẫn là người châu Mỹ bản địa hoặc lai [giữa châu Mỹ bản địa với các sắc dân khác]. Điều đó đặc biệt đúng ở các vĩ độ cao ở vùng Andes, nơi các phụ nữ người Âu về mặt di truyền thường gặp khó khăn về sinh lý ngay cả khi sinh sản, và các cây trồng Andes bản địa vẫn tiếp tục là những cây thích hợp nhất cho sản xuất lương thực. Tuy nhiên, ngay cả ở những nơi mà người châu Mỹ bản địa còn sống sót đến nay thì văn hóa và ngôn ngữ của họ cũng đã bị thay thế một cách triệt để bằng văn hóa và ngôn ngữ của Cựu Thế giới. Trong số hàng trăm ngôn ngữ châu Mỹ bản địa từng được dùng ở Bắc Mỹ thì ngoại trừ 187 thứ tiếng, tất cả các ngôn ngữ khác hoàn toàn không còn được sử dụng ngày nay, và trong số 187 thứ tiếng vẫn còn có người nói đó thì hết 149 thứ tiếng là những ngôn ngữ đang hấp hối, theo nghĩa chỉ còn những người già mới nói được trong khi trẻ em thì không còn học nữa. Trong số khoảng 40 dân tộc ở Tân Thế giới, toàn bộ ngày nay đều dùng một ngôn ngữ Ấn-Âu hoặc một ngôn ngữ pha trộn (tiếng creole) làm ngôn ngữ chính thức. Ngay cả ở những nước có số dân châu Mỹ bản địa còn sống sót đông nhất như Peru, Bolivia, Mexico và Guatemala, chỉ cần nhìn qua ảnh các lãnh tụ chính trị và doanh nhân hàng đầu là đủ thấy hầu hết đều là người Âu, trong khi một số quốc gia vùng Caribe có lãnh tụ là người châu Phi da đen còn Guyana thì có lãnh tụ là người Ấn Độ gốc châu Á.

Cư dân châu Mỹ bản địa nguyên thủy đã bị giảm sút với một tỷ lệ lớn, tuy rằng lớn bao nhiêu thì người ta vẫn còn tranh cãi: dự tính rằng ở Bắc Mỹ con số này lên tới 95%. Nhưng toàn bộ dân số loài người ở châu Mỹ ngày nay gần như lớn gấp mười lần so với tại thời điểm 1492 bởi có những người từ Cựu Thế giới (châu Âu, châu Phi và châu Á) đến. Dân số châu Mỹ ngày nay là một hỗn hợp giữa các dân tộc xuất phát từ mọi lục địa ngoại trừ Australia. Sự chuyển dịch nhân khẩu đó trong vòng 500 năm trở lại đây - cuộc chuyển dịch nhân khẩu lớn nhất trên mọi lục địa ngoại trừ Australia - có cội rễ sâu xa từ những sự phát triển trong khoảng từ 11.000 năm trCN cho đến năm thứ 1 công nguyên.

❀ ❀ ❀

[1] . Tiếng Anh sextant. ND.

[2] . Tiếng Anh homeland, từ được dùng ở đây với nghĩa là nơi nền sản xuất lương thực phát sinh sớm nhất và từ đó bành trướng ra các khu vực khác, như tác giả định nghĩa ở một đoạn sau. – ND.

[3] . Bùng nổ cao su (Rubber Boom, hay Ciclo da borracha trong tiếng Bồ Đào Nha, từ 1879 đến 1912) là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử kinh tế-xã hội của Braxin và vùng thuộc rừng Amazon của các nước láng giềng, liên quan đến việc thu hoạch và thương mại hóa cao su. Giai đoạn này tập trung tại vùng Lòng chảo Amazon, dẫn đến sự di cư của một lượng lớn người da trắng châu Âu đến khu vực này, kéo theo dòng công nhân nhập cư, làm sinh ra của cải và đồng thời gây nên những chuyển biến về văn hóa-xã hội.

[4] . Tức thập niên 1990 của thế kỷ XX, thời điểm cuốn sách ra đời. - ND

của các xã hội loài người Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks Thực hiện ebook: Lê X facebook.com/groups/TuSachTamLy/
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.