Các loài vật thuần hóa được thảy đều giống nhau; nhưng mỗi loài vật không thuần hóa được thì đều không thuần hóa được theo một cách riêng.
Nếu bạn cảm thấy mình đã đọc câu gì đó giông giống thế này ở đâu rồi thì bạn đúng đấy. Chỉ cần thay đổi chút ít thôi, thế là ta đã có câu đầu nổi tiếng trong cuốn tiểu thuyết vĩ đại Anna Karenina của Tolstoy. “Các gia đình hạnh phúc đều giống nhau; mỗi gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo một cách riêng”. Bằng câu đó Tolstoy muốn nói rằng, để được hạnh phúc, một cuộc hôn nhân phải thành công ở nhiều phương diện: sự hấp dẫn tính dục, thỏa thuận về tiền nong, giáo dục con cái, tôn giáo, cha mẹ hai bên và các vấn đề đạo đức cốt yếu. Chỉ cần một trong các phương diện hệ trọng đó mà trục trặc là hôn nhân sẽ có nguy cơ tan vỡ dù nó có tất cả các thành tố cần thiết khác để có hạnh phúc.
Nguyên lý này có thể mở rộng nhằm thấu hiểu rất nhiều điều khác nữa về cuộc sống chứ không chỉ hôn nhân. Chúng ta hay tìm những lập luận dễ dàng, chỉ dựa trên một nhân tố để lý giải sự thành công. Tuy nhiên, đối với hầu hết những điều hệ trọng, thành công thực tế phụ thuộc vào việc tránh được những nguyên nhân riêng biệt có thể khiến ta thất bại. Nguyên lý Anna Karenina lý giải một đặc tính của việc thuần hóa loài vật vốn có những hệ quả nặng nề đối với lịch sử loài người. Cụ thể là, có quá nhiều loài hữu nhũ lớn thoạt trông có vẻ như thuần hóa được, như ngựa vằn và lợn cỏ peccary, lại chưa bao giờ được thuần hóa, và hầu như tất cả các loài vật được thuần hóa thành công đều là ở lục địa Âu-Á. Đã đề cập ở hai chương trước về việc tại sao nhiều loài cây dại có vẻ thích hợp để thuần hóa lại chẳng bao giờ được thuần hóa, giờ chúng ta sẽ giải quyết câu hỏi tương tự đối với các loài gia súc hữu nhũ. Câu hỏi trước đây của chúng ta về táo và người Anh-điêng trở thành câu hỏi về ngựa vằn và người châu Phi.
Ở chương 4 chúng ta đã nhớ lại rằng các loài gia súc hữu nhũ lớn, bằng nhiều cách, đã có tầm quan trọng cốt tử đối với các xã hội loài người có sở hữu chúng. Đáng chú ý nhất là, chúng cung cấp thịt, sản phẩm từ sữa, phân bón, phương tiện vận chuyển trên bộ, da thuộc, kéo xe tấn công trong quân sự, kéo cày, cho len, cũng như mang những vi trùng có khả năng giết chết những ai chưa từng gặp các vi trùng đó.
Ngoài ra, dĩ nhiên, các loài gia súc hữu nhũ nhỏ, gia cầm và côn trùng thuần hóa cũng có ích cho con người. Nhiều loài chim được thuần hóa để cho thịt, trứng và lông; gà ở Trung Hoa, nhiều giống vịt và ngỗng ở nhiều phần của Âu-Á, gà tây ở Trung Mỹ, gà guinea ở châu Phi và vịt Muscovy ở Nam Mỹ. Sói được thuần hóa ở Âu-Á và Bắc Mỹ để trở thành chó nhà làm bạn đi săn, lính gác, thú cưng và - ở một số xã hội - thức ăn của chúng ta. Các loài gặm nhấm và nhiều loài hữu nhũ nhỏ khác được thuần hóa để làm thức ăn gồm có thỏ ở châu Âu, chuột Ghinê ở vùng Andes, một loài chuột khổng lồ ở Tây Phi, và có thể một loài gặm nhấm gọi là hutia ở các đảo Caribê. Chồn sương được thuần hóa ở châu Âu để săn thỏ, mèo thì được thuần hóa ở Bắc Phi và Tây Nam Á để săn các loài gặm nhấm nhỏ có hại. Các loài hữu nhũ nhỏ được thuần hóa gần đây, vào thế kỷ XIX và XX, gồm có chồn, chồn vizon[1] và sóc sinsin[2] để lấy lông và chuột đồng làm thú cưng. Thậm chí một số loài côn trùng cũng được thuần hóa, đáng chú ý là ong cho mật ở Âu-Á và tằm cho lụa ở Trung Hoa.
Nhiều loài vật nhỏ đó cho con người thức ăn, quần áo hoặc hơi ấm. Nhưng không một loài nào trong đó kéo cày hoặc kéo xe, không một loài nào làm phương tiện cho người cưỡi - không một loài nào ngoại trừ chó kéo xe trượt tuyết - hoặc trở thành phương tiện chiến tranh, và không một loài nào trong số đó có tầm quan trọng ngang với các loài hữu nhũ lớn về phương diện cung cấp thực phẩm. Vì vậy phần còn lại của chương này sẽ chỉ nói về các loài hữu nhũ lớn.
Tầm quan trọng của các loài hữu nhũ được thuần hóa chỉ gói gọn trong một vài loài ăn cỏ lớn sống trên đất liền, số lượng các loài này ít ỏi đến kỳ lạ. (Chỉ những loài ăn cỏ trên mặt đất mới được thuần hóa mà thôi, vì lý do hiển nhiên rằng nếu là loài hữu nhũ sống dưới nước thì sẽ khó nuôi và khó phối giống chừng nào chưa có những cơ sở hiện đại kiểu Thế giới Biển). Nếu định nghĩa “lớn” là “nặng trên 45 kilôgam” thì chỉ có 14 loài như vậy đã được thuần hóa trước thế kỷ 20 (xem danh sách ở Bảng 9.[1]). Trong Mười Bốn Loài Tiên Tổ đó, 9 loài (“Chín Loài Tiên Tổ Thứ Yếu” ở Bảng 9.[1]) chỉ trở thành gia súc quan trọng ở một số khu vực hạn chế trên thế giới: lạc đà Arập, lạc đà châu Á, lạc đà châu Mỹ (llama và alpaca, vốn là hai giống khác nhau của cùng một loài tổ tiên), lừa, tuần lộc, trâu, bò yak, bò banteng và con minh[3]. Chỉ có 5 loài đã trở nên phổ biến và quan trọng trên khắp thế giới. Năm Loài Tiên Tổ Chính được thuần hóa đó là bò, cừu, dê, lợn và ngựa.
Thoạt nhìn thì danh sách này dường như đã bỏ sót nhiều cái tên đáng kể. Thế còn những con voi châu Phi mà quân đội của Hannibal[4] đã dùng để vượt dãy Alpes thì sao? Thế còn những con voi châu Á mà ngày nay vẫn được dùng trong công việc ở Đông Nam Á? Không, tôi không quên chúng đâu, nhưng ở đây có một khác biệt quan trọng. Người ta thuần dưỡng được voi, nhưng chưa bao giờ thuần hóa[5] chúng thành gia súc được. Những con voi của Hannibal từng là, và voi châu Á hiện nay vẫn là, những con voi rừng bị bắt và thuần dưỡng; nhưng chúng không giao phối sau khi đã bị bắt. Ngược lại, “gia súc” được định nghĩa là một con vật được phối giống có chọn lọc sau khi đã bị con người bắt và do đó đã có sự điều chỉnh [về di truyền - ND] so với tổ tiên hoang dã của nó, để sử dụng bởi con người, kẻ kiểm soát sự sinh sản của con vật và cung cấp thức ăn cho nó.
Thế nghĩa là, sự thuần hóa bao gồm việc biến một con vật hoang dã thành một loài có ích hơn cho con người. Những loài thực sự được thuần hóa khác với các tổ tiên hoang dã ở nhiều phương diện. Những khác biệt này nảy sinh từ hai quá trình: con người lựa chọn những cá thể có ích cho con người hơn so với các cá thể khác cùng loài ấy, và phản xạ tiến hóa tự động ở loài vật trước lực của chọn lọc tự nhiên trong môi trường con người mà vốn dĩ khác với chọn lọc tự nhiên trong môi trường hoang dã. Ta đã thấy ở Chương 7 rằng các điều vừa nói trên cũng đúng với sự thuần hóa các loài cây.
Các loài thú thuần hóa đã tách khỏi tổ tiên hoang dã của chúng theo những cách sau đây. Nhiều loài thay đổi về kích thước: bò, lợn và cừu trở nên nhỏ hơn khi được thuần hóa, trong khi chuột ghinê thì lại to ra. Cừu và lạc đà alpaca được chọn để cho len nên lông ít đi hoặc mất hẳn lông, trong khi bò được chọn vì cho nhiều sữa. Một số loài thú thuần hóa có não nhỏ hơn và các cơ quan cảm thụ ít phát triển hơn so với tổ tiên hoang dã, bởi chúng không còn cần não to hơn và cơ quan cảm thụ phát triển hơn mà tổ tiên chúng cần để có thể trốn thoát những thú săn mồi hoang dã.
Để nhận thức đầy đủ những sự thay đổi đã phát triển [ở các loài vật này] do sự thuần hóa, ta chỉ cần xét loài sói, tổ tiên hoang dã của chó nhà, với nhiều giống chó khác nhau. Một số loài chó to hơn nhiều so với sói (Great Danes), trong khi các loài khác lại nhỏ hơn nhiều (chó Bắc Kinh). Một số loài thon thả hơn, được gây giống để đua (chó đua), trong khi những loài khác chân ngắn hơn và để chạy đua thì vô dụng (giống chó chồn - dachshund). Chúng khác nhau rất nhiều về hình dáng lông và màu lông, một số loài thậm chí không có lông. Người Polynesia và người Aztec đã phát triển được những nòi chó đặc biệt chỉ dùng để ăn thịt. Cứ thử so sánh chó chồn với sói, nếu không biết trước thì ta chẳng thể nào ngờ rằng chó chồn đã xuất thân từ sói.
Bảng 9.[1]. Mười Bốn Loài Tiên Tổ của các loài gia súc hữu nhũ ăn cỏ
| Năm Loài Chính |
| 1. Cừu. Tổ tiên hoang dã: loài cừu mouflon châu Âu ở Tây Á và Trung Á. Hiện phổ biến khắp thế giới. |
| 2. Dê. Tổ tiên hoang dã: loài dê bezoar ở Tây Á. Hiện phổ biến khắp thế giới. |
| 3. Bò. Tổ tiên hoang dã: loài bò cổ đại aurochs nay đã tuyệt chủng, trước đây phân bố khắp lục địa Âu-Á và Bắc Phi. Hiện phổ biến khắp thế giới. |
| 4. Lợn. Tổ tiên hoang dã: loài lợn rừng, phân bố khắp lục địa Âu-Á và Bắc Phi. Hiện phổ biến khắp thế giới. Thực ra là loài ăn tạp (thường ăn cả thức ăn động vật lẫn thức ăn thực vật), trong khi 13 loài còn lại trong Mười Bốn Loài Tiên Tổ đều chỉ ăn cỏ. |
| 5. Ngựa. Tổ tiên hoang dã: loài ngựa hoang ở miền nam nước Nga nay đã tuyệt chủng; một phân loài khác của loài này vẫn còn sống sót ngoài hoang dã đến tận thời hiện đại, đó là ngựa Przewalski ở Mông Cổ. Hiện phổ biến khắp thế giới. |
| Chín Loài Thứ Yếu |
| 1. Lạc đà Arập (một bướu). Tổ tiên hoang dã: nay đã tuyệt chủng, trước kia sống ở Arập và các khu vực lân cận. Chủ yếu vẫn giới hạn ở Arập và Bắc Phi, tuy có sống trong hoang dã ở Australia. |
| 2. Lạc đà Bactrian (hai bướu). Tổ tiên hoang dã: nay đã tuyệt chủng, trước kia sống ở Trung Á. Chủ yếu vẫn giới hạn ở Trung Á. |
| 3. Lạc đà châu Mỹ (llama và alpaca). Hình như đây là hai giống khác nhau thấy rõ của cùng một loài chứ không phải hai loài riêng biệt. Tổ tiên hoang dã: loài guanaco ở vùng Andes. Chủ yếu vẫn giới hạn ở vùng Trung Mỹ, mặc dù một số được phối giống làm vật chuyên chở ở Bắc Mỹ. |
| 4. Lừa. Tổ tiên hoang dã: loài lừa hoang châu Phi ở Bắc Phi, có lẽ trước kia còn sinh sống cả ở vùng Tây Nam Á lân cận. Trước kia được nuôi làm gia súc chỉ ở Bắc Phi và phía tây lục địa Âu-Á, nay cũng được sử dụng ở các nơi khác. |
| 5. Tuần lộc. Tổ tiên hoang dã: loài tuần lộc bắc Âu-Á. Chủ yếu vẫn chỉ được nuôi làm gia súc ở khu vực đó, tuy hiện nay một số cũng được sử dụng ở Alaska. |
| 6. Trâu. Tổ tiên hoang dã sinh sống ở Đông Nam Á. Vẫn được dùng làm gia súc chủ yếu chỉ ở khu vực đó, mặc dù hiện nay cũng được sử dụng nhiều ở Brazil và nhiều con khác đã thoát ra ngoài hoang dã ở Australia và những nơi khác. |
| 7. Bò yak. Tổ tiên hoang dã: bò yak hoang ở vùng Himalaya và cao nguyên Tây Tạng. Chủ yếu vẫn chỉ giới hạn ở khu vực đó. |
| 8. Bò Bali. Tổ tiên hoang dã: bò banteng (một loài họ hàng với aurochs) ở Đông Nam Á. Chủ yếu vẫn chỉ giới hạn ở khu vực đó. |
| 9. Bò mithan. Tổ tiên hoang dã: con minh (gaur, một loài bò rừng khác có họ hàng với aurochs) ở Ấn Độ và Miến Điện. Chủ yếu vẫn chỉ giới hạn ở khu vực đó. |
Tổ tiên hoang dã của Mười Bốn Loài Tiên Tổ được phân bố không đồng đều trên trái đất. Nam Mỹ chỉ có một trong mười bốn vị tổ này, từ đó sinh ra hai giống lạc đà châu Mỹ (llama và alpaca). Bắc Mỹ, Australia và châu Phi hạ Sahara không có một loài nào. Thật đáng ngạc nhiên rằng châu Phi hạ Sahara không có loài hữu nhũ bản địa nào là tổ tiên của gia súc ngày nay, bởi một lý do chính để ngày nay khách du lịch đến thăm châu Phi là để nhìn thấy những loài hữu nhũ hoang dã phong phú đa dạng ở đó. Ngược lại, tổ tiên hoang dã của 13 trong số Mười Bốn Loài Tiên Tổ (kể cả toàn bộ Năm Loài Tiên Tổ Chính) đều chỉ ở lục địa Âu-Á. (Như đã đề cập ở một chỗ khác trong sách này, trong một số trường hợp, tôi dùng thuật ngữ “Âu-Á” để chỉ cả Bắc Phi, vốn về mặt địa sinh học và trên nhiều khía cạnh của văn hóa nhân loại là gần gũi với Âu-Á hơn là châu Phi hạ Sahara).
Dĩ nhiên không phải tất cả 13 loài tổ tiên hoang dã này đều có mặt cùng một lúc ở toàn bộ lục địa Âu-Á. Không một khu vực nào có toàn bộ 13 loài, một số trong các loài này chỉ có ở riêng một vùng chẳng hạn như bò yak, chỉ sống ngoài hoang dã tại Tây Tạng và các vùng cao nguyên lân cận. Tuy nhiên, nhiều phần của Âu-Á quả thật từng có một vài loài trong 13 loài đó cùng một lúc, chẳng hạn, bảy trong các loài tổ tiên hoang dã này đã cùng có mặt ở Tây Nam Á.
Sự phân bố rất không đồng đều các loài tổ tiên hoang dã này giữa các châu lục đã trở thành một nguyên nhân quan trọng khiến tại sao người Âu-Á chứ không phải người của các châu lục khác đã là những người có súng, vi trùng và thép. Làm sao lý giải được sự tập trung của Mười Bốn Loài Tiên Tổ ở lục địa Âu-Á đây?
Có một nguyên nhân khá đơn giản. Âu-Á có nhiều loài hữu nhũ hoang dã trên đất liền nhất, dù đấy có là tổ tiên của một loài gia súc hay không. Ta hãy định nghĩa “ứng viên để thuần hóa” là bất cứ loài hữu nhũ nào sống trên đất liền, ăn cỏ hoặc ăn tạp (nhưng không phải ăn thịt là chính), cân nặng trung bình trên 100 cân Anh (45 kg). Bảng 9.[2] cho thấy Âu-Á có nhiều ứng viên nhất, 73 loài, cũng như có số lượng loài nhiều nhất trong nhiều nhóm cây cối và động vật khác. Đó là do Âu-Á là lục địa lớn nhất trên thế giới, cũng lại rất đa dạng về sinh thái, với những môi trường sống khác nhau từ rừng nhiệt đới nhiều mưa cho tới rừng ôn đới, sa mạc, đầm lầy cho tới lãnh nguyên mênh mông. Châu Phi hạ Sahara có ít ứng viên hơn, 51 loài, cũng như có số lượng loài ít hơn trong hầu hết các nhóm cây cối và động vật khác, bởi vì nó nhỏ hơn và kém đa dạng về sinh thái hơn so với Âu-Á. Châu Phi ít có các khu vực rừng mưa nhiệt đới hơn Đông Nam Á, và hoàn toàn không có hệ môi trường ôn đới nào ngoài vĩ tuyến 37. Như tôi đã đề cập ở Chương 1, châu Mỹ trước kia hẳn đã có số lượng ứng viên tương đương châu Phi, song hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã lớn ở châu Mỹ (kể cả ngựa châu Mỹ, hầu hết loài lạc đà và các loài khác lẽ ra đã có thể được thuần hóa nếu chúng còn sống sót) đã bị tuyệt chủng từ khoảng 13.000 năm trước. Australia, lục địa nhỏ nhất và tách biệt nhất, luôn luôn có số loài hữu nhũ hoang dã lớn ít hơn nhiều so với Âu-Á, châu Phi hay châu Mỹ. Cũng như châu Mỹ, tại Australia hầu hết số loài ứng viên ít ỏi ngoại trừ kanguru đỏ đã tuyệt chủng vào khoảng thời gian khi con người di cư sang lục địa này lần đầu tiên.
Bảng 9.[2]. Các loài hữu nhũ ứng viên cho việc thuần hóa
| Châu lục | ||||
| Âu-Á | Châu Phi hạ Sahara | Châu Mỹ | Châu Úc | |
| Ứng viên | 72 | 51 | 24 | 1 |
| Các ứng viên được thuần hóa | 13 | 0 | 1 | 0 |
| Tỷ lệ ứng viên được thuần hóa | 18% | 0% | 4% | 0% |
“Ứng viên” được định nghĩa là một loài hữu nhũ hoang dã sống trên đất liền, ăn cỏ hoặc ăn tạp, nặng trung bình trên 100 cân Anh (khoảng 45 kg).
Như vậy, việc tại sao Âu-Á đã là nơi chủ yếu có các loài hữu nhũ lớn được thuần hóa có thể lý giải một phần như sau: trước tiên, đó là châu lục nơi có hầu hết các loài hữu nhũ hoang dã lớn [đủ tiêu chuẩn là] ứng viên, và châu lục này có số loài bị tuyệt chủng ít nhất trong 40.000 năm qua. Song những con số ở Bảng 9.[2] cảnh báo chúng ta rằng lý giải như vậy vẫn chưa đủ. Quả đúng là tỷ lệ ứng viên đã thực sự được thuần hóa cũng cao nhất ở Âu-Á (18%) và đặc biệt thấp ở châu Phi hạ Sahara (trong số 51 ứng viên không một loài nào được thuần hóa cả!). Đặc biệt đáng ngạc nhiên là số loài hữu nhũ chưa bao giờ được thuần hóa ở châu Phi và châu Mỹ rất cao mặc dù chúng có những họ hàng gần gũi hoặc loài tương đồng ở Âu-Á mà các loài đó thì đã được thuần hóa. Tại sao ngựa Âu-Á thì được thuần hóa nhưng ngựa vằn châu Phi lại không? Tại sao lợn Âu-Á được thuần hóa chứ không phải lợn cỏ pecari châu Mỹ hay ba loài lợn rừng thứ thiệt của châu Phi? Tại sao chính năm loài có guốc hoang dã của Âu-Á (bò hoang auroch[6], trâu, bò yak, con minh và bò banteng) [là tổ tiên của gia súc có guốc ngày nay] chứ không phải trâu châu Phi hay bò bison châu Mỹ? Tại sao chính cừu mouflon [là tổ tiên của cừu nuôi ngày nay] chứ không phải cừu sừng lớn của Bắc Mỹ?
Có phải tất cả các dân tộc ở châu Phi, châu Mỹ và Australia, mặc dù khác biệt nhau là vậy, vẫn có chung một số trở ngại về văn hóa khiến họ không thuần hóa được các loài trong khi các dân tộc ở Âu-Á thì không có những trở ngại đó? Chẳng hạn, có phải vì châu Phi có lắm loài hữu nhũ lớn hoang dã có thể săn bắn được nên người châu Phi chẳng cần mất công thuần hóa gia súc làm gì cho mệt?
Lời đáp cho câu hỏi đó rất rõ ràng dứt khoát: Không! Cách lập luận trên bị bác bỏ bởi năm loại bằng chứng: các dân tộc ở ngoài Âu-Á đã nhanh chóng tiếp thu các loài thú đã thuần hóa của Âu-Á; con người ở bất cứ đâu trên thế giới cũng có xu hướng thích nuôi thú trong nhà; Mười Bốn Loài Tiên Tổ đã được thuần hóa nhanh chóng; một vài loài trong số đó về sau cũng được thuần hóa một cách độc lập ở những khu vực khác; và ngày nay, dù đã rất nỗ lực, người ta vẫn chẳng thành công được là bao trong việc thuần hóa thêm những loài mới.
Trước hết, khi Năm Loài Gia Súc Tổ Tiên Chính của Âu-Á được du nhập đến châu Phi hạ Sahara, chúng đã được tiếp thu bởi những dân tộc châu Phi khác nhau nhất bất cứ khi nào điều kiện cho phép. Nhờ vậy những người chăn nuôi châu Phi đó đã có được một lợi thế to lớn so với những người săn bắt hái lượm châu Phi khác và nhanh chóng giành chỗ những người này. Đặc biệt, các nông dân Bantu sau khi tiếp thu bò và cừu đã bành trướng ra khỏi quê cha đất tổ của mình ở Tây Phi, trong một thời gian ngắn đã giành chỗ của những người săn bắt hái lượm ở hầu hết phần còn lại của châu Phi hạ Sahara. Ngay cả dù không tiếp thu cây trồng, những người Khoisan vốn tiếp thu bò và cừu khoảng 2.000 năm trước cũng đã giành chỗ những người săn bắt hái lượm Khoisan trên hầu hết phía nam châu Phi. Việc du nhập ngựa nuôi ở Tây Phi đã làm thay đổi hình thái chiến tranh ở đó, biến khu vực này thành một loạt các vương quốc chuyên sử dụng kỵ binh. Nhân tố duy nhất khiến ngựa đã không thể bành trướng ra ngoài Tây Phi là căn bệnh trùng mũi khoan do ruồi tsetse làm lây nhiễm.
Cũng một mẫu hình như vậy lặp đi lặp lại ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới, mỗi khi những người vốn thiếu những loài hữu nhũ bản địa thích hợp để thuần hóa rốt cuộc cũng có cơ hội tiếp thu các loài gia súc của Âu-Á. Ngựa châu Âu đã được người châu Mỹ bản địa hồ hởi đón nhận ở cả Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ chỉ trong vòng một thế kỷ sau khi ngựa [xổng chuồng] thoát khỏi nơi định cư của người châu Âu. Chẳng hạn, đến thế kỷ XIX những người Anh-điêng vùng Đồng bằng Lớn ở Bắc Mỹ đã lừng danh là những chiến binh cưỡi ngựa kỳ tài và những tay săn bò bison thiện nghệ, nhưng kỳ thực mãi đến cuối thế kỷ XVII họ mới tiếp thu loài ngựa. Tương tự, cừu được tiếp thu từ người Tây Ban Nha đã làm biến đổi các xã hội của người Anh-điêng Navajo và dẫn đến, bên cạnh nhiều điều khác, việc người Navajo trở nên lừng tiếng với những tấm thảm len đan đẹp đẽ. Chỉ trong vòng một thập niên sau khi người châu Âu di cư đến Tasmania mang theo chó, những người Tasmania bản địa, vốn trước đó chưa hề nhìn thấy chó, đã bắt đầu nuôi chó với số lượng lớn để dùng làm chó săn. Như vậy, trong số hàng ngàn dân tộc bản địa rất đa dạng về văn hóa của Australia, châu Mỹ và châu Phi, không hề có một thứ cấm kỵ văn hóa phổ quát nào ngăn không cho người ta tiếp thu các loài thú đã thuần hóa.
Không nghi ngờ gì nữa, nếu như một số loài hữu nhũ hoang dã của các châu lục đó có thể thuần hóa được thì một số dân tộc Australia, châu Mỹ và châu Phi hẳn đã thuần hóa chúng và gặt hái được nhiều lợi thế từ chúng cũng như họ đã hưởng lợi từ các loài gia súc Âu-Á mà ngay sau khi gặp được là họ lập tức tiếp thu. Chẳng hạn, ta hãy xét tất cả các dân tộc ở châu Phi hạ Sahara trong khu vực có ngựa vằn hoang và trâu rừng sinh sống. Tại sao ít nhất một trong các bộ lạc săn bắt hái lượm châu Phi đó đã không thuần hóa những con ngựa vằn và trâu rừng kia đặng nhờ đó thống trị được các dân tộc châu Phi khác chứ không phải đợi đến khi ngựa và gia súc móng guốc từ Âu-Á đến? Tất cả các nhân tố này cho thấy, nguyên nhân khiến các châu lục khác đã không thuần hóa được các loài thú hữu nhũ lớn bản địa như Âu-Á là vì ở các khu vực đó thiếu bản thân các loài hữu nhũ hoang dã thích hợp, chứ không phải vì [những lực cản nào đấy ở] bản thân các dân tộc bản địa.
Loại bằng chứng thứ hai để bác bỏ cùng một luận điểm này liên quan đến [tập quán] nuôi thú nhà. Nuôi những con vật hoang làm thú nhà và dạy dỗ chúng là một giai đoạn sơ khởi của việc thuần hóa thú. Song người ta ghi nhận được rằng thú nuôi đã tồn tại ở hầu hết các xã hội loài người trên mọi châu lục. Sự đa dạng của các loài vật được thuần dưỡng bằng cách này lớn hơn nhiều so với sự đa dạng của các loài rốt cuộc đã thực sự được thuần hóa, trong đó có đôi loài mà chẳng mấy khi ta có thể hình dung lại trở thành thú nuôi trong nhà được.
Chẳng hạn, ở các làng tại New Guinea nơi tôi làm việc, tôi thường gặp người ta nuôi những con như chuột túi (kanguru), thú có túi (possum) và các loài chim từ chim bắt ruồi cho tới chim ưng biển. Hầu hết những con vật đó cuối cùng đều bị họ ăn thịt, nhưng một vài con vẫn được nuôi làm thú cưng trong nhà. Thậm chí người New Guinea còn thường xuyên bắt con non của loài đà điểu đầu mèo (cassowary, một loài chim không biết bay to như đà điểu) đem về nuôi cho lớn để ăn thịt như một món cao lương mỹ vị, mặc dù những con đà điểu đầu mèo trưởng thành cực kỳ nguy hiểm, thỉnh thoảng vẫn mổ lòi ruột dân làng. Một số dân tộc châu Á nuôi chim ưng để dùng trong nghề săn bắn, mặc dù người ta vẫn biết đôi khi những con thú nhà mạnh mẽ này giết chết người điều khiển chúng. Người Ai Cập và người Assyria cổ đại cũng như người Ấn Độ ngày nay thuần dưỡng báo dùng để đi săn. Những bức tranh của người Ai Cập cổ đại vẽ cho thấy họ còn thuần hóa cả (cũng chẳng lấy gì làm lạ lắm) những loài thú hữu nhũ có móng như linh dương và linh dương sừng cong, những loài chim như sếu, nhưng đáng ngạc nhiên hơn, họ còn thuần dưỡng cả hươu cao cổ (vốn có thể nguy hiểm) và kỳ lạ nhất là cả loài linh cẩu. Voi châu Phi được thuần dưỡng từ thời La Mã cổ đại dù rõ ràng là nguy hiểm, còn voi châu Á thì vẫn được thuần dưỡng đến ngày nay. Có lẽ loài thú nuôi khó ngờ nhất là gấu nâu châu Âu (cùng loài với gấu xám châu Mỹ) mà người Ainu ở Nhật Bản thường xuyên bắt từ khi còn nhỏ, thuần dưỡng và nuôi để giết ăn thịt trong một nghi thức tế lễ.
Như vậy, nhiều loài thú hoang dã đã đạt tới giai đoạn đầu tiên trong chuỗi quan hệ giữa thú và người dẫn đến sự thuần hóa, nhưng chỉ một ít loài đi được đến cuối chuỗi quan hệ đó để trở thành thú nuôi thực sự. Hơn một thế kỷ trước, nhà khoa học người Anh Francis Galton đã tóm lược sự khác biệt này một cách súc tích như sau: “Có vẻ như mọi loài thú hoang dã đều từng có cơ hội được thuần hóa, rằng chỉ một ít… đã được thuần hóa từ lâu, nhưng phần lớn còn lại, vốn đôi khi bị khiếm khuyết chỉ ở một chi tiết nhỏ, đành cam phận là thú hoang mãi mãi.”
Niên đại thuần hóa cho ta một bằng chứng thứ ba xác nhận quan điểm của Galton rằng các dân tộc chăn nuôi đầu tiên đã nhanh chóng thuần hóa tất cả các loài hữu nhũ lớn thích hợp để thuần hóa. Tất cả các loài mà niên đại thuần hóa được xác minh bởi bằng chứng khảo cổ đều được thuần hóa trong vòng mấy ngàn năm đầu tiên của các xã hội trồng trọt-chăn nuôi định cư xuất hiện sau khi Thời kỳ Băng hà cuối cùng kết thúc. Như được tóm tắt trong Bảng 9.[3], kỷ nguyên thuần hóa các loài hữu nhũ lớn khởi đầu với cừu, dê, lợn và kết thúc bằng lạc đà. Từ năm 2.500 trCN. không có thêm loài quan trọng nào được thuần hóa nữa.
Dĩ nhiên, đúng là một số loài hữu nhũ nhỏ đã được thuần hóa lần đầu tiên muộn hơn nhiều so với 2.500 năm trCN. Chẳng hạn, thỏ mãi đến thời Trung Cổ mới được thuần hóa để lấy thịt, chuột để phục vụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thì mãi đến thế kỷ XX mới được thuần hóa, còn chuột đồng thì mãi đến thập niên 1930 mới được thuần hóa làm thú cảnh. Việc người ta không ngừng phát triển công cuộc thuần hóa các loài hữu nhũ nhỏ cũng chẳng có gì lạ bởi có tới hàng ngàn loài hoang dã làm ứng viên, và bởi chúng có quá ít giá trị đối với các xã hội xưa kia nên người ta chẳng bõ công nuôi. Nhưng việc thuần hóa các loài hữu nhũ lớn hầu như đã chấm dứt từ 4.500 năm trước. Đến khi đó, ắt hẳn tất cả các loài trong số 148 loài hữu nhũ lớn có thể làm ứng viên thuần hóa đều đã được thử nghiệm không biết bao nhiêu lần, rốt cuộc chỉ một số ít loài qua được thử nghiệm, và chẳng còn sót lại loài nào có thể thuần hóa mà lại chưa được thuần hóa.
Lại còn một loại bằng chứng thứ tư chứng minh tại sao một số loài hữu nhũ thích hợp cho việc thuần hóa hơn nhiều so với các loài khác, ấy là việc nhiều khu vực khác nhau đã thuần hóa cùng một loài tại những thời điểm khác nhau và độc lập với nhau. Gần đây, bằng chứng di truyền dựa trên các phân đoạn của vật chất di truyền - được gọi là DNA ti thể - đã xác nhận rằng, đúng như người ta chờ đợi bấy lâu nay, bò có bướu ở Ấn Độ và bò không bướu châu Âu đều xuất phát từ hai quần thể riêng biệt của một loài bò tổ tiên hoang dã vốn tách khỏi nhau từ hàng ngàn năm trước. Nghĩa là, người Ấn Độ đã thuần hóa phân loài bò hoang tại Ấn Độ, người Tây Nam Á đã thuần hóa một cách độc lập các phân loài bò hoang riêng ở khu vực mình, và người Bắc Phi hẳn cũng đã thuần hóa một cách độc lập các phân loài bò hoang Bắc Phi.
Tương tự, sói cũng đã được thuần hóa một cách độc lập để thành chó ở châu Mỹ và có thể ở một số khu vực khác nhau của lục địa Âu-Á trong đó có Trung Hoa và Tây Nam Á. Lợn ngày nay có nguồn gốc từ việc thuần hóa độc lập ở Trung Hoa, miền tây Âu-Á và có thể ở cả một số khu vực khác. Các ví dụ này một lần nữa nhấn mạnh rằng, cũng một số loài ít ỏi đó, những loài thích hợp cho việc thuần hóa, đã thu hút sự chú ý của nhiều xã hội loài người khác nhau.
Bảng 9.[3]: Niên đại gần đúng của bằng chứng sớm nhất đã xác minh được về sự thuần hóa các loài hữu nhũ lớn
| Loài | Niên đại (trCN) | Địa điểm |
| Chó | 10.000 | Tây Nam Á, Trung Hoa, Bắc Mỹ |
| Cừu | 8.000 | Tây Nam Á |
| Dê | 8.000 | Tây Nam Á |
| Lợn | 8.000 | Trung Hoa, Tây Nam Á |
| Bò | 6.000 | Tây Nam Á, Ấn Độ, (?) Bắc Phi |
| Ngựa | 4.000 | Ukraina |
| Lừa | 4.000 | Ai Cập |
| Trâu | 4.000 | Trung Hoa? |
| Llamaalpaca | 3.500 | Andes |
| Lạc đà Bactrian | 2.500 | Trung Á |
| Lạc đà Arập | 2.500 | Arập |
Đối với bốn loài hữu nhũ lớn được thuần hóa khác - tuần lộc, bò yak, con minh và bò banteng - thì hãy còn ít bằng chứng về niên đại thuần hóa. Niên đại và địa điểm thuần hóa trình bày trên đây chỉ là những niên đại và địa điểm sớm nhất đã được xác minh cho đến nay; việc thuần hóa có thể đã bắt đầu sớm hơn và ở một nơi khác.
Việc những nỗ lực thuần hóa ngày nay không đưa lại kết quả cho ta thêm một loại bằng chứng cuối cùng để thấy rằng, sở dĩ ngày xưa người ta không thuần hóa được số lớn loài hoang dã còn lại là do những khiếm khuyết ở bản thân các loài đó, chứ không phải do khiếm khuyết ở những con người cổ đại. Người châu Âu ngày nay là kẻ thừa kế một trong những truyền thống thuần hóa loài vật lâu đời nhất trên Trái đất, truyền thống từng khởi đầu ở Tây Nam Á khoảng 10.000 năm trước. Từ thế kỷ mười lăm, người châu Âu đã bành trướng ra toàn thế giới và tiếp xúc với những loài hữu nhũ vốn không có ở châu Âu. Những người châu Âu di cư, như những người tôi đã gặp có nuôi chuột túi và thú có túi làm cảnh ở New Guinea, đã thuần dưỡng hay nuôi làm cảnh nhiều loài hữu nhũ bản địa như dân bản địa từng làm. Những người chăn nuôi và trồng trọt di cư từ châu Âu sang các lục địa khác cũng đã có những nỗ lực nghiêm túc hòng thuần hóa một số loài thú bản địa.
Vào thế kỷ XIX và XX, ít nhất sáu loài hữu nhũ lớn - linh dương châu Phi (eland), nai sừng tấm (elk), nai sừng tấm Bắc Mỹ (moose), hươu xạ (musk ox), ngựa vằn và bò bison châu Mỹ - đã là đối tượng cho những dự án được tổ chức đặc biệt tốt nhằm thuần hóa chúng, được thực hiện bởi các chuyên gia nhân giống động vật theo phương pháp khoa học hiện đại và các nhà di truyền học. Chẳng hạn, eland, loài lớn nhất trong số các loài linh dương châu Phi, đã được lựa chọn về chất lượng thịt và số lượng sữa tại Vườn thú Askaniya-Nova ở Ukraina cũng như tại Anh, Kenya, Zimbabuê và Nam Phi; một nông trường thử nghiệm dành cho nai sừng tấm được điều hành bởi Viện Nghiên cứu Rowett ở Aberdeen, Scotland; và một nông trường thử nghiệm dành cho nai sừng tấm Bắc Mỹ đã hoạt động tại Công viên Quốc gia Pechero-Ilych ở Nga. Song, những nỗ lực đó đến nay chỉ đạt được thành tựu rất hạn chế. Tuy thịt bò bison đôi khi cũng xuất hiện trong một số siêu thị ở Mỹ, và tuy nai sừng tấm Bắc Mỹ đã được dùng để cưỡi, lấy sữa và kéo xe trượt tuyết ở Thụy Điển và Nga, nhưng không một thử nghiệm nào như vậy mang lại được thành quả đủ giá trị kinh tế đặng thu hút nhiều nhà chăn nuôi. Đặc biệt đáng quan tâm là trường hợp loài linh dương châu Phi eland, ngay cả khi được thuần hóa thử nghiệm ở chính châu Phi, nơi mà kháng thể chống bệnh và khả năng chịu đựng khí hậu lẽ ra có thể giúp việc thuần hóa thuận lợi hơn nhiều so với các loài thú hoang dã Âu-Á vốn dễ dàng mắc các căn bệnh châu Phi, thì kết quả vẫn không như ý muốn.
Như vậy, cả những người chăn nuôi bản địa vốn đã có cơ hội thử nghiệm các loài ứng viên trong suốt hàng ngàn năm lẫn các nhà di truyền học hiện đại đều chẳng thành công trong việc thuần hóa thêm những loài hữu nhũ lớn khác ngoài Mười Bốn Loài Tiên Tổ vốn đã được thuần hóa cách đây ít nhất 4.500 năm. Song, các nhà khoa học ngày nay, nếu muốn, hoàn toàn có thể thực hiện một phần của định nghĩa về thuần hóa đối với nhiều loài, ấy là kiểm soát việc sinh sản của chúng và cung cấp thức ăn cho chúng. Chẳng hạn, các vườn thú ở San Diego và Los Angeles hiện nay đang tiến hành kiểm soát việc sinh sản của những con kền kền khoang cổ cuối cùng còn sống sót ở California một cách gắt gao hơn bất cứ loài thuần hóa nào khác. Mỗi cá thể kền kền khoang cổ đều được nhận diện bằng di truyền, một chương trình máy tính xác định con trống nào sẽ giao phối với con mái nào nhằm đạt được mục đích của loài người (trong trường hợp này là để nâng cao tối đa tính đa dạng sinh học qua đó bảo vệ loài chim đang có nguy cơ tuyệt chủng này). Các vườn thú đang tiến hành những chương trình sinh sản tương tự cho nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng khác như khỉ gorilla và tê giác. Nhưng sự chọn lọc sinh sản ngặt nghèo đối với kền kền khoang cổ California không cho thấy chút triển vọng nào sẽ cho ra một sản phẩm có lợi về kinh tế. Những nỗ lực của vườn thú đối với tê giác cũng vậy, mặc dù tê giác sống có thể cho tới hơn ba tấn thịt. Như ta sẽ thấy sau đây, để được thuần hóa, tê giác (và hầu hết các loài hữu nhũ lớn khác) có những trở ngại không thể vượt qua.
Trong toàn bộ 148 loài hữu nhũ hoang dã lớn, ăn cỏ và sống trên đất liền của cả thế giới - những ứng viên để thuần hóa - chỉ 14 loài qua được cuộc sát hạch. Tại sao 134 loài còn lại không vượt qua được? Khi Francis Galton nói về những loài khác “đành cam phận mãi mãi là loài hoang dã”, ấy là ông nói về những hoàn cảnh nào vậy?
Câu trả lời suy ra từ nguyên lý Anna Karenina. Để được thuần hóa, một loài hoang dã ứng viên phải sở hữu nhiều đặc tính khác nhau. Chỉ cần thiếu bất kỳ một trong các đặc tính cần thiết này là nó sẽ khó lòng thuần hóa được, cũng như chỉ cần thiếu một thành tố là khó lòng xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Thử đóng vai mai mối cho cặp ngựa vằnngười và những đôi đũa lệch khác, chúng ta có thể xác định ít nhất sáu nhóm nguyên nhân khiến việc thuần hóa loài nào đó bị thất bại.
Thực đơn ăn uống. Mỗi khi một con vật ăn một loài cây hay một loài vật khác, sự chuyển đổi sinh khối thức ăn thành sinh khối của kẻ tiêu thụ thức ăn có tỷ lệ hữu hiệu thấp hơn 100% rất nhiều, thường chỉ khoảng 10%. Nghĩa là, phải mất 10.000 kg ngô mới cho ra 1.000 kg bò. Nếu muốn có 1.000 kg thú ăn thịt, ta phải nuôi nó bằng 10.000 kg thú ăn cỏ, thú ăn cỏ đến lượt mình lại phải nuôi bằng 100.000 kg ngô. Ngay cả trong số các loài ăn cỏ và ăn tạp, có nhiều loài, chẳng hạn gấu koala, quá khảnh ăn đến nỗi khó lòng trở thành thú nuôi trong nông trại được.
Chính vì sự không hiệu quả có tính cơ bản này mà chưa hề có loài hữu nhũ ăn thịt nào được thuần hóa làm thức ăn. (Không, chẳng phải vì thịt chúng dai hoặc không ngon: các loài cá hoang dã chuyên ăn thịt, chúng ta vẫn ăn suốt đấy thôi, và cá nhân tôi có thể làm chứng cho hương vị thơm ngon của bánh xăng-uých nhân thịt sư tử). Loài gần như ngoại lệ là chó, vốn ban đầu được thuần hóa để giữ nhà và giúp người đi săn, nhưng có những nòi chó được phát triển và nuôi làm thức ăn ở vương quốc Aztec, Polynesia và Trung Hoa cổ đại. Tuy nhiên, việc thường xuyên ăn thịt chó đã từng là giải pháp cuối cùng của những xã hội loài người bị khan hiếm thịt: những người Aztec không có loài hữu nhũ thuần hóa nào khác, người Polynesia và người Trung Hoa cổ thì chỉ có lợn và chó. Những xã hội loài người nào được may mắn có nhiều loài hữu nhũ ăn cỏ thuần hóa thì chẳng thèm ăn thịt chó ngoại trừ như một món cao lương mỹ vị đặc biệt (như ở một số vùng tại Đông Nam Á ngày nay). Ngoài ra, chó không hẳn là loài ăn thịt mà là ăn tạp: nếu bạn ngây thơ đến mức cho rằng con chó cưng của bạn quả thật là loài ăn thịt thì chỉ cần đọc kỹ danh sách thành phần cấu tạo trên những túi thức ăn cho chó. Những con chó mà người Aztec và người Polynesia từng nuôi làm thức ăn đã được vỗ béo ngon lành chỉ bằng rau và rác thải.
Tốc độ tăng trưởng. Để đáng được loài người nuôi, các loài thuần hóa còn phải tăng trưởng nhanh. Điều đó loại trừ khỉ gorilla và voi mặc dù chúng là những loài ăn cỏ vốn dễ tính trong chuyện ăn uống và lại có rất nhiều thịt. Có nhà nông nào đợi nổi 15 năm cho lũ gorilla và voi mình nuôi lớn lên đến tuổi trưởng thành? Muốn nuôi voi để chúng làm việc cho mình, những người châu Á ngày nay cứ việc bắt voi hoang dã mà thuần dưỡng, như thế rẻ hơn nhiều.
Những khó khăn khi sinh sản trong điều kiện bị giam nhốt. Loài người chúng ta không thích làm tình dưới con mắt soi mói của kẻ khác; một số loài vật hứa hẹn nhiều giá trị cũng thế. Chính vì vậy mà con người thất bại khi muốn thuần hóa báo gấm, loài chạy nhanh nhất trong tất cả các loài trên mặt đất, mặc dù chúng ta có động cơ mạnh mẽ để làm như vậy trong hàng mấy ngàn năm.
Như tôi đã nhắc, báo gấm thuần dưỡng được người Ai Cập và người Assyria cổ đại cũng như người Ấn Độ hiện đại coi là của quý, một loài đi săn ưu việt hơn chó gấp bội lần. Một hoàng đế triều đại Mogul của Ấn Độ có một cái chuồng nuôi những một ngàn con báo gấm. Nhưng mặc dù nhiều ông hoàng giàu có đã đầu tư hàng bao nhiêu tiền của, tất cả báo gấm của họ đều là những con bị bắt ngoài hoang dã mang về thuần dưỡng. Nỗ lực của các ông hoàng nhằm làm báo gấm sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt đều thất bại, ngay cả các nhà sinh vật học ở các vườn thú hiện đại cũng mãi đến năm 1960 mới có được ca báo gấm sinh con thành công đầu tiên. Ngoài hoang dã, mấy anh em báo gấm cùng săn đuổi một nàng báo gấm cái suốt mấy ngày, hình như cần phải có cuộc tán tỉnh dữ dội trên khắp không gian rộng lớn này thì con cái mới có thể rụng trứng hoặc sẵn sàng giao phối được. Báo gấm thường từ chối tiến hành cái nghi thức tán tỉnh nhiêu khê đó nếu ở trong chuồng.
Một khó khăn tương tự cũng khiến những dự án phối giống loài vicuña rơi vào thất bại. Vicuña là một loài lạc đà hoang ở vùng Andes Nam Mỹ, len của chúng rất quý, được coi là loại len đẹp nhất, nhẹ nhất so với len của mọi loài vật. Những người Inca cổ đại lấy len vicuña bằng cách dụ những con vicuña hoang vào bãi quây sẵn, xén lông chúng rồi thả cho chúng đi. Ngày nay những thương gia nào muốn có thứ len xa xỉ này thì hoặc phải làm theo cùng một phương pháp đó hoặc chỉ còn cách giết vicuña hoang dã. Mặc dù nếu nuôi được loài này thì sẽ có khối tiền lại được cả uy tín, nhưng mọi nỗ lực hòng nuôi vicuña trong chuồng để sản xuất len đều thất bại, vì nhiều lý do: trước khi giao phối, vicuña phải tiến hành một nghi thức tán tỉnh kéo dài rất ư rắc rối, điều này không thể thực hiện trong điều kiện nuôi nhốt; những con vicuña đực không thể nào chịu nổi nhau; và loài vicuña đòi hỏi vừa phải có lãnh thổ riêng cho chúng ăn cỏ quanh năm lại vừa phải có một lãnh thổ riêng khác quanh năm cho chúng ngủ.
Tính khí dữ tợn. Lẽ tự nhiên, hầu như bất cứ loài hữu nhũ nào đủ lớn đều có khả năng giết chết người. Đã nhiều người bị giết bởi lợn, ngựa, lạc đà và bò. Dẫu vậy, một số loài thú lớn có tính khí dữ tợn hơn và nguy hiểm hơn - đến độ hết thuốc chữa - so với các loài khác. Xu hướng thích giết người đã loại bỏ nhiều loài lẽ ra đã có thể là ứng viên lý tưởng cho việc thuần hóa.
Một ví dụ hiển nhiên là gấu xám Bắc Mỹ (grizzly). Thịt gấu là một món cao lương mỹ vị đắt tiền, gấu xám có thể nặng tới 765 kg, chúng chủ yếu ăn cỏ (mặc dù chúng cũng là những tay săn đáng sợ), thực đơn rau cỏ của chúng rất phong phú, chúng chỉ cần ăn rác thải của người là lớn khỏe như vâm (vì vậy mà gây bao rắc rối tại các công viên quốc gia Yellowstone và Glacier) và sinh trưởng khá nhanh. Giá như gấu xám biết cư xử cho đúng mực khi bị nuôi nhốt thì hẳn chúng đã trở thành một loài thú cho thịt tuyệt vời. Dân Ainu ở Nhật từng thử nghiệm nuôi gấu xám con như một phần của một nghi lễ. Tuy nhiên, vì những lý do dễ hiểu, người Ainu cho rằng giết và ăn thịt gấu xám con khi chúng lên một tuổi là việc khôn ngoan. Nuôi gấu xám đến quá tuổi đó có thể sẽ vô cùng nguy hiểm; tôi chưa hề biết có trường hợp nào gấu xám trưởng thành mà lại được thuần dưỡng không.
Một loài thú khác lẽ ra có thể thích hợp để thuần hóa nhưng cũng bị loại vì những lý do hiển nhiên không kém là trâu rừng châu Phi. Nó lớn tương đối nhanh, trọng lượng có thể tới một tấn và sống trong những đàn có cơ cấu theo tôn ti trật tự rất phát triển, một đặc tính với những ưu điểm mà ta sẽ đề cập tới dưới đây. Nhưng trâu rừng châu Phi được coi là loài hữu nhũ nguy hiểm nhất và khó lường nhất ở châu Phi. Bất cứ ai đủ điên rồ để thử thuần hóa nó đều hoặc sẽ mất mạng trong khi làm vậy hoặc sẽ buộc phải giết con vật trước khi nó trở nên quá lớn và quá dữ. Tương tự, hà mã, một loài ăn cỏ nặng tới bốn tấn, lẽ ra có thể là những gia súc nuôi lý tưởng nếu như chúng không nguy hiểm đến vậy. Mỗi năm chúng giết một số người tương đương với bất cứ loài hữu nhũ châu Phi nào kể cả sư tử.
Chẳng mấy ai ngạc nhiên khi những loài ứng viên khét tiếng dữ dằn đó bị loại bỏ trong quá trình thuần hóa. Song còn những ứng viên khác mà sự nguy hiểm của chúng thì ít ai biết. Chẳng hạn, tám loài ngựa hoang (ngựa và các loài tương cận) khác nhau rất nhiều về tính khí, dẫu cho về di truyền tám loài này giống nhau đến nỗi có thể giao phối với nhau để sinh ra những hậu duệ hoàn toàn khỏe mạnh (tuy thường vô sinh). Hai loài trong số đó, ngựa và lừa Bắc Phi (tổ tiên của lừa ngày nay) đã được thuần hóa tương đối thành công. Có liên hệ gần gũi với lừa Bắc Phi là lừa hoang châu Á còn được gọi là onager[7]. Do quê hương của loài này ở Lưỡi liềm Phì nhiêu, cái nôi của nền văn minh phương Tây và sự thuần hóa loài vật, nên các dân tộc cổ đại ắt hẳn đã thử nghiệm rất nhiều với lừa hoang châu Á. Từ các văn bản Sumer và muộn hơn, ta biết rằng thời đó người ta thường xuyên săn onager, bắt chúng về cho giao phối với lừa và ngựa. Một số văn bản cổ mô tả những con vật giống như ngựa được dùng để cưỡi hoặc kéo xe, đó rất có thể là lừa hoang châu Á. Tuy nhiên, tất cả các tác giả từng viết về nó từ thời La Mã cho đến tận những người trông vườn thú ngày nay thảy đều kêu trời về tính khí nóng nảy và thói quen khó chịu của chúng là hay cắn người. Hệ quả là, mặc dù về nhiều phương diện khác chúng giống như lừa cổ đại, song lừa hoang châu Á chưa bao giờ được thuần hóa cả.
Bốn loài ngựa vằn châu Phi còn tệ hơn thế. Người ta từng thử thuần hóa chúng, thậm chí từng đi xa đến mức buộc chúng vào xe: người ta từng thử cho chúng kéo xe ở Nam Phi vào thế kỷ XIX, và nhà tỷ phú lập dị Lord Walter Rothschild từng diễu qua phố phường London trong một cỗ xe do ngựa vằn kéo. Than ôi, càng lớn ngựa vằn càng trở nên nguy hiểm không chịu nổi. (Nói thế không có nghĩa là loài ngựa chẳng có con nào tính khí dữ dằn, nhưng với ngựa vằn và lừa hoang châu Á thì hầu như con nào cũng dữ như nhau). Ngựa vằn có cái thói quen khó chịu là hay cắn người rồi cứ thế không chịu buông. Vì vậy hằng năm chúng làm bị thương những người trông vườn thú ở Mỹ nhiều hơn cả cọp! Ngựa vằn cũng hầu như không thể tóm được bằng thòng lọng - ngay cả những tay cao bồi đoạt giải quán quân về bắt ngựa bằng thòng lọng cũng phải chịu thua - bởi chúng có khả năng phán đoán vị trí thòng lọng quăng vào chúng không sai chạy mảy may để kịp né đầu tránh.
Vì vậy rất hiếm khi (thậm chí chưa bao giờ) người ta thắng yên hoặc cưỡi lên được ngựa vằn, nên nhiệt tình của người Nam Phi muốn thuần hóa chúng cứ nguội dần. Hành vi hung hãn khó lường của một loài hữu nhũ lớn có khả năng gây nguy hiểm cũng là một phần nguyên nhân tại sao những thử nghiệm ban đầu tỏ ra rất hứa hẹn trong việc thuần hóa linh dương châu Phi (eland) và nai sừng tấm (elk) rốt cuộc lại chẳng lấy gì làm thành công.
Xu hướng hay hoảng loạn. Các loài hữu nhũ ăn cỏ lớn thường phản ứng lại nguy cơ từ các loài thú săn hoặc con người theo những cách khác nhau. Một số loài hay hoảng sợ hơn, nhanh nhẹn, được lập trình để hễ nhận ra một mối nguy là biến ngay lập tức. Những loài khác chậm chạp hơn, ít khi hoảng sợ hơn, tìm sự bảo vệ ở bầy đàn, cùng đứng lên khi bị đe dọa, và chỉ khi nào cần thiết mới bỏ chạy. Hầu hết các loài hươu và linh dương (trừ ngoại lệ nhãn tiền là loài tuần lộc) thuộc loại trước, còn cừu và dê thuộc loại sau.
Lẽ tự nhiên, những loài hay hoảng sợ hơn thì khó nuôi nhốt hơn. Nếu bị nhốt vào một khu đất quây kín, chúng sẽ dễ bị hoảng loạn và hoặc sẽ chết vì bị sốc hoặc sẽ húc mình vào hàng rào hòng thoát thân kỳ đến khi chết. Điều đó đúng với loài linh dương chẳng hạn, vốn là loài từng được người ta săn bắn nhiều nhất trong suốt hàng ngàn năm ở một số vùng thuộc Lưỡi liềm Phì nhiêu. Chẳng có loài hữu nhũ nào mà các dân tộc đầu tiên định cư ở khu vực đó có nhiều cơ hội thuần hóa hơn linh dương. Song chưa một loài linh dương nào từng được thuần hóa cả. Hãy thử hình dung bạn đang cố nuôi nhốt một con vật cứ không ngừng chạy tới chạy lui, mù quáng quật mình túi bụi vào thành chuồng, có thể nhảy cao gần 9 m và chạy với tốc độ 50 dặm[8] một giờ!
Cơ cấu xã hội. Hầu như tất cả các loài hữu nhũ lớn đã thuần hóa đều là những loài mà tổ tiên hoang dã có chung ba đặc tính xã hội sau: sống thành bầy; duy trì một hệ thống cai trị theo tôn ti trật tự rất phát triển giữa các thành viên trong bầy; và các bầy thường chiếm lĩnh những lãnh thổ đan cài vào nhau chứ không phải những lãnh thổ phân ranh với nhau một cách rạch ròi. Chẳng hạn, các bầy ngựa hoang bao gồm một con đực, tối đa sáu con cái và bầy con. Con cái A có vai vế cao hơn các con cái B, C, D và E; con cái B có vai vế dưới con A nhưng cao hơn con C, D và E; C có vai vế dưới con B và A nhưng cao hơn con D và E; vân vân. Khi bầy di chuyển, các thành viên của chúng duy trì một thứ tự bất di bất dịch: đi sau cùng là con đực; đi đầu là con cái có vai vế cao nhất, theo sau nó là đàn con của nó theo thứ tự tuổi, con nhỏ nhất đi đầu; theo sau con này là các con cái khác theo thứ tự vai vế, theo sau mỗi con là đàn con của nó theo thứ tự tuổi. Bằng cách đó, nhiều con trưởng thành có thể cùng tồn tại trong một bầy mà không thường xuyên đánh nhau, mỗi con đều biết vị trí của mình.
Cấu trúc xã hội đó là lý tưởng cho việc thuần hóa, bởi trên thực tế con người đã chiếm lĩnh cái hệ thống thứ bậc kia. Khi đi theo đàn, ngựa nhà theo sau kẻ dẫn đầu là con người cũng như chúng thường theo sau con cái có thứ bậc cao nhất. Các bầy cừu, dê, bò và chó cổ đại (sói) cũng có hệ thứ bậc tương tự. Khi những con thú nhỏ lớn lên trong một bầy như vậy, chúng ghi nhớ vào óc những con vật mà chúng thường thấy bên cạnh mình. Trong điều kiện hoang dã thì đó là các thành viên cùng loài với chúng, song những con thú nhỏ trong các bầy gia súc thì cũng nhìn thấy con người bên cạnh mình nên cũng ghi nhớ cả con người vào óc.
Những con vật sống theo bầy đó thích hợp với việc chăn nuôi. Bởi chúng có thể chịu đựng lẫn nhau nên ta có thể nuôi chúng thành bầy. Bởi theo bản năng chúng thường tuân theo một kẻ dẫn đầu và sẽ ghi nhớ vào đầu rằng con người là kẻ dẫn đầu đó, nên chúng có thể dễ dàng được điều khiển bởi người chăn cừu hoặc chó chăn cừu. Các loài sống thành bầy có thể sống được khi bị quây kín và chen chúc vào một chỗ bởi chúng đã quen sống thành quần thể đông đúc khi ở ngoài hoang dã.
Ngược lại, thành viên của hầu hết các loài quen sống trên lãnh thổ riêng biệt thì không thể nuôi thành bầy. Chúng không chịu đựng nổi nhau, chúng không ghi nhớ con người, chúng không có bản năng phục tùng. Có ai từng thấy mèo (vốn chỉ sống cô độc, mỗi con một cõi riêng khi ở ngoài hoang dã) nối đuôi thành hàng theo sau một con người và cho phép con người nuôi chúng thành bầy chưa? Bất cứ ai yêu mèo đều biết mèo không phục tùng con người như loài chó vốn tự bản năng là phục tùng con người. Mèo và chồn sương là những loài hữu nhũ sống riêng lẻ duy nhất mà con người từng thuần hóa, bởi chúng ta làm vậy không phải để nuôi chúng thành đàn lớn đặng lấy thịt mà để làm thú săn hoặc thú nuôi đơn độc trong nhà.
Tuy hầu hết các loài sống riêng lẻ không hề được thuần hóa, song không phải ngược lại là hầu hết các loài sống theo bầy đều có thể thuần hóa được. Hầu hết là không thể, vì một trong mấy nguyên nhân nữa sau đây:
Thứ nhất, ở nhiều loài, các bầy chiếm lĩnh những lãnh thổ có phân ranh giới rạch ròi chứ không chồng lấn vào nhau. Nếu với những loài sống đơn độc ta không thể nhốt chung hai con đực như thế nào thì với những loài này cũng không thể nhốt chung hai bầy vào một chỗ như thế ấy.
Thứ hai, nhiều loài sống theo bầy trong một phần của năm lại chuyển sang sống cô độc khi đến mùa sinh sản, khi đó chúng đánh nhau và không chịu nổi sự có mặt của nhau. Điều này đúng đối với hầu hết các loài hươu và linh dương (một lần nữa tuần lộc lại là ngoại lệ), và đó là một trong những nhân tố chính khiến tất cả các loài linh dương sống theo bầy vốn làm châu Phi thành nổi tiếng đã bị loại khỏi danh mục thuần hóa. Tuy câu đầu lưỡi khi người ta nói đến linh dương châu Phi là “những bầy đàn mênh mông dày đặc trải dài đến tận chân trời” song trên thực tế các con đực trong những bầy này mỗi con chiếm một lãnh thổ riêng và đánh nhau dữ dội khi đến mùa sinh sản. Vì vậy những loài linh dương này không thể được nuôi nhốt trong những bãi quây kín như cừu, dê hay bò. Tập tính sống theo lãnh thổ riêng kết hợp với tính khí hung dữ và tốc độ tăng trưởng chậm đã khiến tê giác không thể nhập bọn vào các loài gia súc.
Cuối cùng, nhiều loài sống theo bầy, một lần nữa lại bao gồm hầu hết các loài hươu và linh dương, không có hệ thống tôn ti trật tự rõ ràng và không có sẵn bản năng sẵn sàng ghi nhớ vào óc một kẻ lãnh đạo có vai trò thống trị (và qua đó ghi nhớ con người như là kẻ lãnh đạo thống trị chúng). Hệ quả là, mặc dù nhiều loài hươu và linh dương đã được thuần dưỡng (ta cứ hãy nhớ lại những câu chuyện Bambi có thật), song người ta chưa bao giờ thấy những con hươu và linh dương đó được chăn thành đàn như cừu. Cái khó đó cũng làm thất bại nỗ lực thuần hóa loài cừu hai sừng ở Bắc Mỹ, vốn thuộc cùng nòi với cừu mouflon châu Á, tổ tiên của cừu nhà ngày nay. Cừu hai sừng thích hợp với chúng ta và tương tự cừu mouflon ở hầu hết phương diện ngoại trừ một phương diện cốt yếu: chúng không có cái tập tính hành động rập khuôn của cừu mouflon - một số cá thể sẽ phục tùng những cá thể nào mà chúng thừa nhận là có vị thế lãnh đạo chúng.
Giờ ta hãy quay lại vấn đề tôi đã đặt ra ở đầu chương này. Khởi thủy, một trong những khía cạnh khó hiểu nhất ở việc thuần hóa loài vật là chẳng hiểu vì lý do gì một số loài có thể thuần hóa được trong khi những loài có họ hàng gần gũi chúng thì không. Hóa ra ngoại trừ một số ít loài, còn lại hầu hết các ứng viên cho việc thuần hóa đều đã bị loại trừ theo nguyên lý Anna Karenina. Con người và hầu hết các loài vật làm thành những “cặp hôn nhân không hạnh phúc”, có thể vì một hay nhiều nguyên nhân: thực đơn ăn uống, tốc độ tăng trưởng, tập tính giao phối, tính khí, xu hướng hay hoảng sợ và một số đặc điểm trong tổ chức xã hội của con vật. Chỉ một tỷ lệ phần trăm nhỏ các loài hữu nhũ lớn hoang dã là có thể “kết đôi hạnh phúc” với con người nhờ tương thích với tất cả các khía cạnh riêng rẽ đó.
Các dân tộc Âu-Á đã ngẫu nhiên thừa hưởng được số loài hữu nhũ ăn cỏ lớn có thể thuần hóa nhiều hơn gấp bội so với các dân tộc trên những châu lục khác. Hệ quả đó, cùng tất cả những lợi thế lớn lao cho các xã hội Âu-Á, bắt nguồn từ ba nhân tố cơ bản là địa lý, lịch sử và đặc tính sinh học của các loài hữu nhũ. Trước hết, Âu-Á nhờ diện tích rộng và đa dạng về sinh thái nên có nhiều ứng viên hơn cả. Thứ hai, Australia và châu Mỹ, chứ không phải Âu-Á hay châu Phi, đã mất hầu hết các ứng viên trong làn sóng những cuộc tuyệt chủng đại quy mô vào cuối kỷ Pleitôxen - có thể vì các loài hữu nhũ của Australia và châu Mỹ, thật chẳng may, là những loài đầu tiên gặp phải con người một cách bất ngờ vào một giai đoạn muộn trong lịch sử tiến hóa của loài người, khi kỹ năng săn bắn của chúng ta đã phát triển cao độ. Cuối cùng, ở Âu-Á, tỷ lệ các loài ứng viên còn sống sót tỏ ra thích hợp để thuần hóa là cao hơn so với ở các lục địa khác. Một cuộc khảo sát các loài ứng viên chưa bao giờ được thuần hóa, tỉ như các loài hữu nhũ lớn sống theo bầy ở châu Phi, cho thấy có nhiều lý do cụ thể khiến từng loài một bị loại trừ. Như vậy, Tolstoy hẳn sẽ chấp thuận cái ý tứ sâu xa được đưa ra trong một văn cảnh khác bởi một tác giả xưa hơn ông là Thánh Matthew: “Nhiều người được gọi nhưng chỉ ít người được chọn”.
❀ ❀ ❀
[1] . Tiếng Anh: mink. – ND.
[2] . Tiếng Anh: chinchilla. – ND
[3] . Tiếng Anh: gaur, một loài bò hoang có kích thước lớn, lông sẫm, sống ở vùng rừng núi Đông Nam Á. – ND
[4] . Hannibal (247-183 tr.CN), chính khách và nhà quân sự nổi tiếng của thành bang cổ đại Carthage (Tunisia ngày nay). Từng tiến hành những cuộc chiến tranh lớn với đế quốc La Mã để giành quyền kiểm soát khu vực Địa Trung Hải. – ND.
[5] . Lưu ý: ở đây tác giả phân biệt rõ hai khái niệm to tame, nghĩa là bắt thú hoang từ nơi hoang dã về rồi nuôi dạy mà không tiến hành phối giống, và to domesticate nghĩa là biến một loài thú hoang dã thành thú nhà hoàn chỉnh, bao gồm việc phối giống chúng trong điều kiện nuôi nhốt. Tôi đề nghị dùng chữ “thuần dưỡng” để dịch “to tame” và “thuần hóa” để dịch “to domesticate”. – ND.
[6] . Một loài bò hoang đã tuyệt chủng, có sừng dài, được cho là tổ tiên của bò nhà hiện nay. Nguồn gốc ở Bắc Phi, châu Âu, Tây Nam Á. Cái tên aurochs có gốc gác từ tiếng Đức Auerochs nghĩa là “bò nguyên thủy”. – ND.
[7] . Từ có gốc Hy Lạp onagros, kết hợp từ “onos” (lừa) và “agrios” (hoang dã), để gọi một loài lừa hoang lông màu vàng sẫm, có một sọc dọc theo lưng, gốc gác ở Iran và các vùng lân cận. – ND.
[8] . Tương đương 80 km/giờ. – ND