Tây Hạ Tử Thư 1

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Bốn Tấm Bình Phong

❊ ❊ ❊

Một tuần sau, Đường Phong, Lương Viện, Hàn Giang, Triệu Vĩnh và Giáo sư La lại một lần nữa tề tựu trong căn phòng bí mật ở tòa nhà nhỏ. Trên chiếc bàn trước mặt họ, món bảo vật ngọc cắm bình chạm hoa sen quấn đính ngọc trai đời Tây Hạ đang nằm lặng lẽ...

Sau một tuần đóng cửa nghiên cứu, Giáo sư La Trung Bình đã cơ bản giải mã được những ký hiệu thần bí trên bề mặt tấm bình phong ngọc.

Giáo sư La phân phát bốn bản rập hoa văn trên bề mặt các tấm bình phong ngọc cho mọi người, rồi giới thiệu: "Từ bảy bức tài liệu tuyệt mật đó, chúng ta được biết Y Phượng H ngátđương đương niên niên Y Phượng Các từng phát hiện ra một số ký hiệu thần bí trên bề mặt bình phong ngọc. Y Phượng Các, A Lý Khắc và Mạnh Liệt Phu đều cho rằng, những ký hiệu thần bí trên bình phong ngọc chính là chữ Tây Hạ đã biến mất từ nhiều năm trước, đồng thời cũng tiến hành một số công tác giải mã. Thế nhưng tấm bình phong ngọc do Đường Phong mang về đây, vì sự ăn mòn của thời gian, lại thêm điều kiện bảo quản trước đó không tốt, nên các ký hiệu thần bí bên trên đã bị mờ đục không rõ. Bản rập mà các bạn đang nhìn thấy hiện giờ là do tôi dùng một loại dược thủy đặc biệt rửa lại tấm bình phong ngọc rồi mới rập xuống, coi như đã khá rõ ràng rồi."

Đường Phong ngắm nghía bản rập, nói: "Xem ra Lão gia tử họ Lương từ sớm đã nhận ra đây là chữ Tây Hạ. Ông ấy từng nói với tôi rằng, chữ Tây Hạ là một loại văn chữ đã thất truyền, một thứ chữ chết."

Giáo sư La đáp: "Không sai, chữ Tây Hạ là một loại chữ chết. Hiện nay trong cả nước, thậm chí là trên toàn thế giới, số người có thể đọc hiểu được chữ Tây Hạ tuyệt đối không quá hai mươi người. Lão hủ bất tài, nhiều năm qua học tập và nghiên cứu chữ Tây Hạ nên mới may mắn có thể nhận diện được một ít chữ Tây Hạ."

Lương Viện tò mò ngắt lời cuộc đối thoại giữa Giáo sư La và Đường Phong: "Hai người đừng có ở đó mà lên lớp chúng tôi nữa. Giáo sư La, đã 𡮆 ngài đọc hiểu được những chữ Tây Hạ này, thì mau nói cho chúng tôi nghe, chữ Tây Hạ trên này có ý nghĩa gì đi?"

Giáo sư La cười nói: "Viện Viện, cháu đừng nóng vội. Muốn giải mã những bí mật ẩn giấu trong tấm bình phong ngọc Tây Hạ này, các cháu, bao gồm cả đội trưởng Hàn, tất cả mọi người đều phải nghe tôi lải nhải vài câu đã. Không nói đến việc bắt các cháu phải đọc hiểu chữ Tây Hạ, thì ít nhất cũng phải làm cho các cháu đại khái quen thuộc với lịch sử văn hóa Tây Hạ. Có như vậy, các cháu mới hiểu được giá trị của tấm bình phong ngọc này cùng hàm lượng văn hóa mà nó ẩn chứa, cho nên trước tiên tôi phải lên lớp cho các cháu cái đã."

"Lên lớp ư? Cháu vừa mới hoàn thành việc học ở Mỹ về, đến đây lại chuẩn bị tiếp tục đi học nữa sao?" Lương Viện có chút cụt hứng.

Hàn Giang với vẻ mặt nghiêm nghị nói với mọi người: "Về phương diện học thuật, Giáo sư La là chuyên gia, chúng ta đều là học sinh, hơn nữa còn là học sinh tiểu học, cho nên bắt buộc phải nghe Giáo sư La giảng bài trước. Còn về phần Đường Phong, cậu tất nhiên không phải là học sinh tiểu học trong lĩnh vực này, nhưng tôi có yêu cầu cao hơn đối với cậu, cậu nhất định phải nghe nghiêm túc hơn, học tập nghiêm túc hơn chúng tôi."

Những lời của Hàn Giang khiến Đường Phong cảm thấy áp lực nhân lên gấp bội. Cậu bắt đầu hiểu được vai trò và giá trị của mình trong đội ngũ này, nhưng vào lúc này, cậu cũng không biết bản thân mình có thể đạt được yêu cầu của Hàn Giang hay không, đặc biệt là việc đọc hiểu thứ chữ Tây Hạ đã thất truyền.

Giáo sư La mở máy chiếu lên, trên màn hình xuất hiện một ngọn đại tuyết sơn nguy nga. Dưới chân núi tuyết, ở sâu trong chốn rừng rậm, có một nhóm người mặc áo da thú đang đuổi theo dã thú, hoàn toàn là một khung cảnh của xã hội nguyên thủy. Tiếp đó, Giáo sư La bắt đầu bài giảng của mình: "Người Đảng Hạng lập nên vương quốc Tây Hạ từng là một chi của người Khương cổ đại. Vào thời viễn cổ, người Khương hoạt động ở miền đông cao nguyên Thanh Tạng, họ đã sáng tạo ra văn hóa Tây Khương tại đây. Người Đảng Hạng chính là một chi trong các bộ lạc Tây Khương. Khoảng vào thế kỷ thứ tư sau Công nguyên, người Đảng Hạng bắt đầu bước lên vũ đài lịch sử Trung Quốc, từ đó, người Đảng Hạng chưa từng dừng lại bước chân di cư của mình. Thời kỳ cuối Nam Bắc Triều, người Đảng Hạng bắt đầu hoạt động ở khu vực thượng nguồn Hoàng Hà và tây bắc Tứ Xuyên, chính là vùng đông nam tỉnh Thanh Hải và các huyện Tùng Phan, Hắc Thủy, Bắc Xuyên, Mậu Xuyên thuộc Tứ Xuyên ngày nay. Trong 'Tùy thư - Đảng Hạng truyện' có ghi chép rằng: Người Đảng Hạng lấy họ làm bộ lạc, lớn thì có năm ngàn hơn kỵ binh, nhỏ thì có hơn ngàn kỵ binh, 'tục chuộng võ lực, không có pháp lệnh, mỗi người tự mưu sinh nghiệp, có chiến trận thì tụ tập lại với nhau, không có sưu thuế, không qua lại với nhau. Chăn nuôi trâu, dê, lợn để cung cấp thức ăn, không biết nghề làm ruộng'. Điều này cho thấy, người Đảng Hạng lúc bấy giờ chủ yếu sống bằng nghề chăn nuôi và săn bắn, chưa biết đến sản xuất nông nghiệp, đang ở vào thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy. Về sau, người Đảng Hạng Khương dần phát triển thành tám bộ lạc lớn là Tế Phong thị, Phí Thính thị, Vãng Lợi thị, Phản Siêu thị, Dã Từ thị, Phòng Đương thị, Mễ Cầm thị, Thác Bạt thị, trong đó bộ tộc Thác Bạt có thực lực mạnh nhất."

"Vậy, cái tên 'Đảng Hạng' có từ đâu vậy ạ?" Lương Viện tò mò hỏi.

Giáo sư La giải thích: "Cái tên 'Đảng Hạng' là kết quả của việc phiên âm tiếng Hán, rất có thể là người Hán cổ đại đã mượn cách gọi đối với người Đảng Hạng từ một số dân tộc thiểu số khác ở Tây Bắc, ví dụ như người Mông Cổ gọi người Đảng Hạng là 'Đường Cổ Đặc' hoặc 'Đường Ngột Tứ', một lượng lớn các điển tịch chữ Hán cũng tiếp tục sử dụng cách gọi này; mà người Đảng Hạng thì tự gọi mình là 'Miễn Dược' hoặc 'Mễ Dược', cách gọi này rất gần gũi với cách gọi của người Tạng đối với người Đảng Hạng. Trong các tư liệu văn hiến cổ của người Tạng, họ đã gọi những người Đảng Hạng vốn đã di cư đến vùng đông bắc cao nguyên Thanh Tạng từ thời kỳ Thổ Phồn là 'Mễ Dược'."

"Nói cách khác là vào thời kỳ này người Đảng Hạng đã di cư từ tây bắc Tứ Xuyên đến vùng hồ Thanh Hải rồi sao?" Đường Phong truy vấn.

"Đúng vậy, vào thời kỳ này, trên cao nguyên Thanh Tạng, vương triều Thổ Phồn quật khởi và bành trướng ra bên ngoài. Các bộ lạc Đảng Hạng để tránh sự quấy nhiễu và nô dịch của Thổ Phồn, đã lần lượt di cư về phía một vương triều mới quật khởi khác – Đại Đường. Nhà Đường tiếp nhận họ, người Đảng Hạng bèn di cư đến hành lang Hà Tây và khu vực Cam Nam. Sau loạn An Sử, người Đảng Hạng lại di cư đến khu vực Thiểm Bắc, Hà Sáo, và dần dần định cư tại đây."

Đường Phong tiếp lời Giáo sư La: "Lịch sử phía sau thì tôi biết rồi."

"Vậy thì tiếp theo xin mời cậu nói xem nào." Giáo sư La nhân tiện muốn kiểm tra Đường Phong.

Đường Phong giới thiệu: "Sau khi người Đảng Hạng định cư ở khu vực Thiểm Bắc và Hà Sáo, đã nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Cuối thời nhà Đường, thiên hạ đại loạn, quần hùng nổi dậy, lãnh tụ kiệt xuất của người Đảng Hạng là Thác Bạt Tư Cung đã dẫn dắt người Đảng Hạng không ngừng khuếch trương thực lực của bản thân, đồng thời lập được công lớn trong việc trấn áp cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào. Ông được nhà Đường phong làm Định Nhanh quân Tiết độ sứ, tước phong Hạ quốc công, lại được ban cho họ 'Ngụy Danh'. Do đó, sử sách cũng gọi hoàng tộc Tây Hạ là họ Ngụy Danh. Từ đó về sau, người Đảng Hạng dần chiếm giữ đất đai của năm châu Ngân, Hạ, Tuy, Hữu, Tĩnh, từ đó trở thành một phương chư hầu. Sau khi nhà Tông thành lập, thi hành chính sách tước phiên. Vào thời Tống Thái Tông, hậu duệ của Thác Bạt Tư Cung là Ngụy Danh Kế Bổng kế nhiệm chức Định Nhanh quân Tiết độ sứ. Chẳng bao lâu sau, nội bộ quý tộc Đảng Hạng xảy ra tranh chấp quyền vị, nhà Tống nhân cơ hội đó dụ dỗ Ngụy Danh Kế Bổng dẫn tộc nhân quy thuận nhà Tống, đồng thời dâng hiến đất đai của năm châu Hạ, Tuy, Ngân, Hữu, Tĩnh. Từ đó, nội bộ dân tộc Đảng Hạng xảy ra chia rẽ, gần như suy vong. Lúc này, trong số những người Đảng Hạng không muốn quy thuận nhà Tống, có một người đứng lên hiệu triệu, dẫn dắt tộc nhân trốn chạy đến Địa Cận Trạch cách Đông Bắc châu Hạ 300 dặm, tự lập làm vua để chống lại nhà Tống. Người này chính là người đặt nền móng cho vương triều Tây Hạ – Thác Bạt Kế Thiên.

Hơn hai mươi năm sau đó, dưới sự lãnh đạo của Thác Bạt Kế Thiên, người Đảng Hạng chinh chiến khắp nơi, mở mang bờ cõi, quật khởi ở đại mạc, không chỉ khôi phục lại vùng đất năm châu ban đầu, mà còn công chiếm trọng trấn Tây Bắc – Linh Châu. Đến thời kỳ chấp chính của con trai Thác Bạt Kế Thiên là Thác Bạt Đức Minh, người Đảng Hạng một mặt chu toàn giữa hai thế lực Tống và Liêu, một mặt chinh chiến với Thổ Phồn, Hồi Hột, bành trướng về phía Tây, kiểm soát huyết mạch trên con đường tơ lụa – hành lang Hà Tây, từng bước đặt nền móng cho cương vực của nước Tây Hạ sau này, đồng thời xây dựng kinh thành của vương triều Tây Hạ tương lai dưới chân núi Hạ Lan – Hưng Khánh phủ.

Năm 1038 Công nguyên, con trai của Thác Bạt Đức Minh là Nguyên Hạo sau khi chuẩn bị lâu dài, đã bỏ quốc hiệu được hoàng đế nhà Đường và nhà Tống ban cho, tự xưng là họ Ngụy Danh, chính thức lên ngôi hoàng đế, lập nên vương quốc lấy người Đảng Hạng làm chủ thể, quốc hiệu là Đại Hạ, đời sau thường gọi vương triều này là "Tây Hạ". Thời kỳ đỉnh cao nhất của vương triều Tây Hạ, phía đông lấy Hoàng Hà làm ranh giới, phía tây đến Tây Vực, kiểm soát con đường tơ lụa, phía nam đối đầu với nhà Tống bằng Tiêu Quan, phía bắc kiểm soát đại mạc, lãnh thổ rộng hơn vạn dặm, đại khái bao gồm toàn bộ Ninh Hạ, Cam Túc ngày nay cùng một phần các khu vực Thiểm Tây, Nội Mông Cổ, Thanh Hải, Tân Cương. Sau khi Nguyên Hạo xưng đế, đã thiết lập một bộ chế độ điển chương hoàn chỉnh, còn sáng tạo ra văn tự Tây Hạ độc đáo."

Giáo sư La nghe xong lời tường thuật của Đường Phong, mỉm cười nói: "Đường Phong, những gì cậu vừa nói về lịch sử Tây Hạ hoàn toàn chính xác. Đã cắm cậu nhắc đến việc Nguyên Hạo sáng tạo ra chữ Tây Hạ, vậy thì tiếp theo tôi xin nói về thứ chữ Tây Hạ đã thất truyền này." Giáo sư La chiếu một vài ký hiệu kỳ lạ lên màn hình máy chiếu, giảng giải cho mọi người nghe: "Mấy chữ kỳ lạ trên màn hình máy chiếu này chính là chữ Tây Hạ. Trước khi Nguyên Hạo xưng đế, dân tộc Đảng Hạng không có chữ viết của riêng mình. Những năm đầu, khi người Đảng Hạng du mục trên cao nguyên Thanh Tạng, do ngôn ngữ của người Đảng Hạng gần gũi với tiếng Tạng nên từng mượn chữ cái tiếng Tạng để ghép vần ngôn ngữ. Sự ra đời của chữ Tây Hạ đánh dấu việc nền văn minh của dân tộc Đảng Hạng đã vươn lên một tầm cao mới. 'Tống sử' ghi chép rằng: 'Nguyên Hạo tự chế phiên thư, mệnh Dã Li Nhan Vinh diễn dịch chi, thành thập nhị quyển, tự hình thể phương trọng loại bát phu, nhi họa phả trùng phục. Giáo quốc nhân kỷ sự dụng phiên thư, nhi dịch Hiếu kinh, Nhã, Tứ ngôn tạp tự vi phiên ngữ'. Tống nhân Thẩm Quát trong 'Mộng khỉ bút đàm' của ông đã nói: 'Nguyên Hạo quả phản, kỳ đồ Ngộ Khất tiên sáng tạo phiên thư, độc cục nhất lâu thượng, lụy niên phương thành, chí thị hiến chi'. Hai đoạn ghi chép trong văn hiến này có ý nói rằng trước khi thành lập vương triều Tây Hạ, Nguyên Hạo đã ra lệnh cho đại thần dưới quyền là Dã Li Nhan Vinh sáng tạo ra chữ Tây Hạ để người trong nước sử dụng. Nguyên Hạo còn dịch rất nhiều điển tịch chữ Hán sang chữ Tây Hạ. Thật ra, theo quan điểm của tôi, chữ Tây Hạ không phải do một cá nhân nào đó tạo ra, mà là dần dần hình thành trong dân gian, cuối cùng do Dã Li Nhan Vinh thu thập và biên soạn lại." Giáo sư La một mạch giới thiệu xong quá trình ra đời của chữ Tây Hạ.

Lương Viện chằm chằm nhìn vào mấy chữ Tây Hạ kỳ lạ trên màn hình máy chiếu, bỗng nhiên đặt câu hỏi: "Giáo sư, sao cháu lại cảm thấy mấy chữ Tây Hạ này có chút giống chữ Hán thế ạ, nhưng mà cháu lại chẳng nhận ra chữ nào cả?"

“Hehe, Viện Viện, cháu quan sát rất tinh tế đấy. Chữ Tây Hạ quả thực là mô phỏng theo chữ Hán rồi diễn hóa thành. Các cháu xem, chữ Tây Hạ về mặt kết cấu rất giống chữ Hán, cũng là chữ ô vuông, cũng giống chữ Hán ở chỗ được cấu thành từ các nét chấm, ngang, sổ, phẩy, mác, gập, gập móc... thậm chí phong cách thư pháp cũng giống chữ Hán, có đủ năm kiểu chữ là Khải, Hành, Thảo, Triện, Lệ. Điều này thường khiến những người lần đầu nhìn thấy chữ Tây Hạ nhầm lẫn với chữ Hán, nhưng thực ra nó hoàn toàn là một loại văn tự khác. Chữ Tây Hạ cho đến nay người ta phát hiện được tổng cộng hơn năm ngàn chữ, tuy giống chữ Hán nhưng không có một chữ nào trùng lặp với chữ Hán, điều này phản ánh ý thức dân tộc vô cùng mạnh mẽ của người Đảng Hạng. Chúng ta lại nhìn mấy chữ Tây Hạ này xem, nét bút rườm rà, có nhiều nét xiên, đặc biệt là các nét phẩy và nét mác tương đối nhiều, cho nên trong sử sách mới có câu nói chữ Tây Hạ 'loại phù lục', ý muốn nói chữ Tây Hạ nét bút rườm rà, khó hiểu khó đọc, điều này cũng chôn vùi mối họa ngầm khiến chữ Tây Hạ nhanh chóng biến mất sau khi Tây Hạ diệt vong.

Sau khi Tây Hạ bị người Mông Cổ tiêu diệt, chữ Tây Hạ cũng nhanh chóng biến mất trong dòng chảy dài của lịch sử. Suốt mấy trăm năm trời, không một ai hay biết, cho đến tận niên hiệu Gia Khánh thời nhà Thanh, học giả Cam Túc là Trương Thụ về quê dưỡng bệnh, trong một ngôi chùa ở Vũ Vĩ, ông đã phát hiện ra một căn phòng nhỏ bị đóng kín. Ông bèn hỏi các nhà sư rằng trong phòng có vật gì. Nhà sư đáp: Trong phòng có một tấm bia, văn bia trên tấm bia này vô cùng kỳ dị, e rằng là yêu nghiệt nên mới bị phong kín trong phòng. Trương Thụ làm quan nhiều năm ở bên ngoài, kiến thức rộng rãi, không tin vào những lời yêu nghiệt nên đã yêu cầu nhà sư mở cửa phòng ra để mở mang tầm mắt xem rốt cuộc là yêu nghiệt phương nào. Nhà sư không còn cách nào khác đành phải mở cửa phòng cho Trương Thụ. Trương Thụ phát hiện trong phòng quả nhiên có một tấm bia, văn bia trên đó lại chính là thứ chữ mà một đại học giả như ông cũng không tài nào nhận ra, tức thì vô cùng kinh hãi. Khi ông cẩn thận vòng ra phía sau tấm bia, mới phát hiện mặt sau của tấm bia này khắc chữ Hán, số lượng chữ nhiều ngang ngửa với phần văn tự ở mặt trước. Lúc này Trương Thụ mới chợt vỡ lẽ, hóa ra phần văn tự ở mặt trước tấm bia chính là chữ Tây Hạ đã biến mất từ lâu! Tấm bia này chính là tấm bia nổi tiếng “Lương Châu trùng tu Hộ Quốc tự cảm ứng tháp bia”, hiện vẫn đang được bảo tàng thành phố Vũ Vĩ lưu giữ.

Kể từ đó, chữ Tây Hạ dần dần bắt đầu được giới học thuật coi trọng. Năm 1909, nhà thám hiểm người Nga Kozlov tại di tích thành Hắc Thủy thuộc Kỳ Cảnh Ngạch Tế Nạp đã khai quật trộm được một lượng lớn các tài liệu văn hiến viết bằng chữ Tây Hạ. Kozlov đã vận chuyển tất cả những tài liệu văn hiến Tây Hạ này về Peterburg. Hán học gia người Nga Y Phượng Các đã phát hiện ra cuốn sách nổi tiếng 'Phiên Hán hợp thời chưởng trung châu' trong số các tài liệu văn hiến Tây Hạ mà Kozlov mang về. Đây là một cuốn từ điển song ngữ chữ Tây Hạ và chữ Hán do học giả Tây Hạ Cốt Lặc Mậu Tài biên soạn. Y Phượng Các thông qua cuốn từ điển này đã giải mã được không ít tài liệu văn hiến Tây Hạ cổ đại. Nước ta bắt đầu tiến hành nghiên cứu hệ thống chữ Tây Hạ là hai cha con học giả nổi tiếng La Chấn Ngọc và La Phúc Sường. Năm 1913, hai cha con La Chấn Ngọc và La Phúc Sường đã nhận được một phần cuốn 'Phiên Hán hợp thời chưởng trung châu' từ chỗ Y Phượng Các. Sau nhiều năm nghiên cứu, La Phúc Sường đã sử dụng phương pháp 'Lục thư' truyền thống của chữ Hán, tức là các phương pháp tượng hình, chỉ sự, hình thanh, hội ý, giả tá, chuyển chú để phân tích chữ Tây Hạ, khiến cho nhận thức của con người về cấu trúc chữ Tây Hạ được nâng cao đáng kể. Sau đó, số lượng các học giả dấn thân vào nghiên cứu chữ Tây Hạ ngày một nhiều, thế nhưng vì chữ Tây Hạ đã biến mất từ lâu, không còn giá trị thực tiễn nữa, cộng thêm việc chữ Tây Hạ nét bút rườm rà, khó hiểu khó đọc, cho nên cho đến tận ngày nay, số học giả có thể nắm vững chữ Tây Hạ vẫn vô cùng hiếm hoi."

Nghe xong bài giảng dài dòng của Giáo sư La, mọi người đều đã có được nhận thức nhất định về lịch sử Tây Hạ và chữ Tây Hạ. Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi kiến thức uyên bác của Giáo sư La. Tiếp đó, Giáo sư La còn dùng máy chiếu cho mọi người xem một số chữ Tây Hạ, đồng thời đối chiếu với chữ Hán để dịch cho mọi người xem.

Ngay lúc mọi người đang trầm trồ thán phục trước thứ chữ Tây Hạ cổ đại, thì Hàn Giang lại dán mắt vào tấm bình phong ngọc trước mặt, không thốt lên lời nào. Rốt cuộc nội dung khắc trên tấm bình phong ngọc này là gì? Tại sao lại có trải nghiệm kỳ quái đáng sợ đến thế? Bao nhiêu người vì nó mà mất mạng, lời nguyền máu đáng sợ! ... Những chữ viết trên bình phong ngọc, anh không nhận được lấy một chữ, quả thực là một cuốn thiên thư! Không! Phải nói là một cuốn sách chết mới đúng! Nghĩ đến đây, Hàn Giang bỗng nhiên lên tiếng: "Giáo sư, vậy thì tiếp theo chúng ta hãy cùng giải mã cuốn sách chết thần bí trên tấm bình phong ngọc này đi."

"Sách chết?" Mọi người nghe thấy hai từ thốt ra từ miệng Hàn Giang đều giật mình. Giáo sư La cũng hơi sửng sốt một chút, sau đó mỉm cười nói: "Không sai, đội trưởng Hàn nói rất đúng, đây quả thực là một cuốn sách chết."

"Sách chết! Chẳng lẽ ngay cả giáo sư cũng không nhận ra sao?" Đường Phong kinh ngạc hỏi.

Giáo sư La trầm ngâm hồi lâu rồi nói: "Tôi đã nói từ trước rồi, chữ Tây Hạ cũng giống như chữ Hán, có năm kiểu chữ là Khải, Hành, Thảo, Triện, Lệ. Thế nhưng cho đến tận bây giờ, chữ Tây Hạ của bốn kiểu Khải, Hành, Thảo, Triện thì tôi đều đã nhìn thấy qua rồi, chỉ duy nhất chữ Tây Hạ kiểu Lệ thư là chưa từng có ai nhìn thấy bao giờ. Mà chữ viết trên tấm bình phong ngọc này, theo kinh nghiệm nhiều năm của tôi mà nhìn nhận, thì không phải chữ Tây Hạ kiểu Khải thư, cũng không phải chữ Tây Hạ kiểu Hành thư, lại càng không phải chữ Tây Hạ kiểu Thảo thư hay Triện thư. Cho nên tôi phỏng đoán sơ bộ rằng, chữ Tây Hạ trên tấm bình phong ngọc rất có thể chính là kiểu Lệ thư của chữ Tây Hạ mà người đời chưa từng thấy bao giờ!"

"Ái chà! Phức tạp vậy sao? Đã không có ai từng nhìn thấy bao giờ, vậy thì cũng sẽ không có ai nhận ra đúng không ạ?" Lương Viện khó lòng che giấu được sự thất vọng.

“Hehe, các cháu đừng vội đã chứ! Mặc dù thoạt đầu nhìn thấy những chữ này, tôi cũng không nhận ra, nhưng dẫu sao thì chỉ là khác kiểu chữ mà thôi, văn tự vẫn là văn tự Tây Hạ. Nếu như là những kiểu chữ Tây Hạ thường gặp như Khải thư hay Hành thư, thì tôi chỉ mất chừng một tiếng đồng hồ là có thể dịch xong rồi. Lý do mà tôi phải đóng cửa nghiên cứu suốt một tuần chính là vì kiểu chữ Lệ thư thế này, đây cũng là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy. May mắn là thông qua một tuần nghiên cứu của tôi, dựa vào việc vừa đoán vừa mò thì tôi cũng đã dịch được đại khái nội dung chữ trên tấm bình phong ngọc, chỉ là tôi vẫn không thể hoàn toàn chắc chắn...” Nói đến đây, Giáo sư La lại ngập ngừng thôi không nói nữa.

Hàn Giang ném cho Giáo sư La một ánh mắt đầy tin tưởng: "Giáo sư, dù cho có chính xác hay không, xin ngài cứ nói ra nghe thử xem."

Giáo sư La gật đầu, bắt đầu dịch nội dung chữ trên tấm bình phong ngọc: "Văn tự trên tấm bình phong ngọc được chia thành hai phần trước và sau. Phần chữ phía trước tương đối nhỏ, có chút giống như một bài tựa hoàn chỉnh. Sau khi tôi phỏng đoán sơ bộ, toàn bộ bài tựa này có nội dung là: Con cháu gặp nạn, bốn bình hợp nhất, ngàn núi vạn sông, cửu tử nhất sinh, Hãn Hải Mật Thành, nhờ trời dài bị hộ, có thể thu được tư bản phục quốc, người phục quốc, không phải con cháu ta, ắt chịu huyết chú. Tổng cộng có bốn mươi bốn chữ, nguyên văn không có dấu câu, các dấu câu ở giữa là do tôi thêm vào sau này. Đây chỉ là bản dịch sơ bộ của tôi, trong lòng cũng không nắm chắc, đặc biệt là mấy chữ ‘Hãn Hải Mật Thành’ có phần bị mòn, rất không rõ ràng."

"Giáo sư, bốn mươi bốn chữ này có ý nghĩa gì vậy ạ?" Đường Phong nói lên nghi vấn trong lòng mọi người.

Vẻ mặt Giáo sư La vô cùng ngưng trọng, dường như có rất nhiều điều lo lắng. Sau khi mọi người chờ đợi một lúc lâu, mới nghe thấy Giáo sư La nói: "Bốn mươi bốn chữ này, theo sự phỏng đoán sơ bộ của tôi, liên quan đến một bí mật động trời của vương triều Tây Hạ..."

Giáo sư La nói tiếp: "Tiếp theo tôi sẽ giải mã từng câu một. Câu đầu tiên 'Con cháu gặp nạn', tôi suy đoán chữ 'nạn' này, nên được hiểu là vương triều Tây Hạ gặp đại nạn, ví dụ như khi có nguy cơ mất nước, tức là con cháu đời sau, nếu như gặp phải đại nạn; câu thứ hai 'Bốn bình hợp nhất', câu này tôi đã vắt óc suy nghĩ mà trăm lần vẫn không tài nào hiểu nổi. Thế nhưng sau khi tôi phân tích xong toàn bộ văn bản, quay đầu lại nhìn câu này, mới có chút ngộ ra, cho nên chúng ta tạm thời không xét câu này vội, hãy xem tiếp phần dưới; hai câu tiếp theo là 'Ngàn núi vạn sông, cửu tử nhất sinh', hai câu này xét theo nghĩa đen thì không khó giải thích cho lắm, là đang nói về sự gian nan và nguy hiểm. Gian nan và nguy hiểm gì chứ? Tôi nghĩ chắc là đang nói đến đường đi trắc trở hiểm trở, phải trải qua ngàn núi vạn sông, cửu tử nhất sinh; lại nhìn câu tiếp theo 'Hãn Hải Mật Thành', Hãn Hải Mật Thành rốt cuộc có ý nghĩa gì? Lúc đầu tôi cũng không nghĩ ra, nhưng khi tôi liên kết câu này với hai câu phía trước lại với nhau, thì dường như đã hiểu ra rồi. Trải qua ngàn núi vạn sông, cửu tử nhất sinh, là để đi đến đâu cơ chứ? Chính là để đi đến Hãn Hải Mật Thành."

"Hãn Hải Mật Thành? Đây là cái xó xỉnh nào vậy chứ, phải vượt qua ngàn núi vạn sông, cửu tử nhất sinh mới đến được ư? Đủ sự thần bí rồi đấy!" Lương Viện hỏi Giáo sư La.

Giáo sư La lắc đầu: "Cả đời tôi nghiên cứu lịch sử Tây Hạ, cũng chưa từng nghe nói có cái nơi nào tên là Hãn Hải Mật Thành cả."

"Liệu có phải ý thế này không ạ, Hãn Hải là một địa danh, Mật Thành là một địa danh, nghe 'Mật Thành' có vẻ giống tên của một thành phố." Lương Viện suy đoán.

Đường Phong cũng phỏng đoán: "Hãn Hải, tôi thấy không có ý nghĩa gì đặc biệt cả, chỉ sa mạc mà thôi. Hãn Hải Mật Thành, gộp lại nói chính là một thành phố trong sa mạc, tên là Mật Thành."

Giáo sư La nghe phân tích của Đường Phong, khẽ gật đầu: "Điểm này tôi đồng ý với cách nhìn của Đường Phong. Mật Thành rất có thể là một thành phố ẩn giấu trong sa mạc. Chúng ta lại nhìn tiếp xuống phía dưới, câu tiếp theo 'Nhờ trời dài phù hộ', câu này chắc là không có ý nghĩa thực tế nào cả, chính là có ý cầu xin Trường Sinh Thiên bảo hộ. Cổ đại Trung Quốc, rất nhiều dân tộc du mục phương bắc như Mông Cổ, Khiết Đan, Đảng Hạng đều sùng bái Trường Sinh Thiên. Ra quân, săn bắn, hễ có hoạt động quan trọng nào đều bắt buộc phải cử hành nghi thức để cầu nguyện sự phù hộ của Trường Sinh Thiên. Hai câu tiếp theo, 'Có thể thu được tư bản phục quốc, người phục quốc', theo suy đoán của tôi, ý là nói, trải qua ngàn núi vạn sông, cửu tử nhất sinh, tìm thấy Hãn Hải Mật Thành, thì có thể có được tư bản phục quốc, người phục quốc. 'Tư bản phục quốc', thì còn dễ hiểu, chính là tài sản, các cháu thử nghĩ xem tài sản có thể phục quốc thì phải nhiều đến mức nào chứ!"

"Cháu đã hơi hiểu ra rồi, thảo nào mấy trăm năm qua, bao nhiêu người muốn có được tấm bình phong ngọc này, hóa ra không chỉ vì món trân bảo này, mà còn vì khoản tư bản phục quốc kinh hoàng đó!" Lời nói của Đường Phong khiến tất cả mọi người đều chợt vỡ lẽ.

Trước mắt mọi người bỗng chốc sáng tỏ, dường như chuỗi sự việc liên hoàn này đã có thể sắp xếp lại đầu mối. Thế nhưng lông mày của Giáo sư La vẫn nhíu chặt: "Các cháu đừng vội mừng, sự việc này không đơn giản chỉ là vì tranh đoạt một khối tài sản khổng lồ đâu. 'Tư bản phục quốc' thì dễ hiểu, thế nhưng 'người phục quốc' thì phải hiểu như thế nào đây?"

Người phục quốc! Chẳng lẽ là một đội quân? Làm sao có thể như vậy được, tất cả mọi người đều rơi vào trầm mặc. Giáo sư La nói tiếp: "Được rồi! Chúng ta tạm thời không cần bận tâm đến cái 'người phục quốc' này nữa, hãy nhìn hai câu cuối cùng: 'Không phải con cháu ta, ắt chịu huyết chú'."

Khi mấy chữ "Ắt chịu huyết chú" được phát ra từ miệng Giáo sư La, trong căn phòng mật, trái tim của tất cả mọi người đều run lên một nhịp. Huyết chú! Lời nguyền máu đáng sợ! Lại được khắc thẳng lên tấm bình phong ngọc.

"'Không phải con cháu ta, ắt chịu huyết chú.' Hai câu này tuy đáng sợ nhưng cũng rất dễ hiểu, đây là lời nguyền rủa do người chế tạo ra tấm bình phong ngọc này phát ra lúc bấy giờ. Nếu như người ngoài có được tấm bình phong ngọc, tìm thấy Hãn Hải Mật Thành, nhất định sẽ phải hứng chịu huyết chú." Giáo sư La giải thích xong, nhìn lại mọi người, ai nấy đều mang tâm sự nặng nề, ngay cả Hàn Giang và Triệu Vĩnh vốn trước giờ không bao giờ tin vào chuyện quỷ thần cũng mang vẻ mặt âm trầm.

Vẫn là Lương Viện lên tiếng hỏi trước: "Vậy chúng ta cũng sẽ bị lời nguyền máu nguyền rủa sao ạ?"

Giáo sư La cười nói: "Thực ra, đây phần lớn chỉ là những thứ mà người xưa dùng để hù dọa người khác mà thôi."

"Giáo sư, có lẽ ngài vẫn chưa biết, nửa tháng nay, ngoài Lương Vân Kiệt ra, đã có mấy người vì tấm bình phong ngọc này mà mất mạng rồi." Hàn Giang cuối cùng cũng lên tiếng.

Lời nói của Hàn Giang khiến Giáo sư La cũng phải giật mình. Trầm mặc một lát, Giáo sư La mới khó nhọc nặn ra một nụ cười rồi nói: "Mọi người không cần phải lo lắng, theo nghiên cứu nhiều năm qua của tôi, sau khi vương triều Tây Hạ diệt vong, rất nhiều người Đảng Hạng đã gia nhập đại quân Mông Cổ. Người Mông Cổ gọi những người Đảng Hạng này là quân đội 'Đường Ngột Tứ', trong đó có một chi sau này đã lấy chữ 'Đường' làm họ, định cư ở nội địa. Cho nên cứ theo như thế mà nói, Đường Phong, rất có thể cậu chính là hậu duệ của người Đảng Hạng đấy nhé! Đã là con cháu của người Đảng Hạng thì cũng không cần phải lo lắng về cái gọi là huyết chú gì nữa đâu, hehe."

"Cái gì? Tôi là hậu duệ của người Đảng Hạng ư! Giáo sư La, ngài đừng có an ủi chúng cháu nữa." Tất cả mọi người đều biết Giáo sư La đanga bịa ra một lý do để an ủi mọi người, nhưng ngặt nỗi Đường Phong lại vạch trần Giáo sư La.

"Được rồi, đừng dây dưa mãi vào vấn đề 'huyết chú' này nữa. Chúng ta đã gia nhập Lão K rồi, thì sẽ không sợ bất kỳ lời nguyền máu nào hết!" Giọng điệu của Hàn Giang vô cùng đanh thép.

Hàn Giang đảo mắt nhìn một lượt những người có mặt trong phòng, nghiêm giọng nói: "Việc vạch trần bí mật ẩn giấu của tấm bình phong ngọc vô cùng nguy hiểm, thế nhưng tôi không tin vào cái gọi là huyết chú nào cả. Chẳng lẽ người của mấy trăm năm trước còn có thể sống lại để làm khó chúng ta ư? Chỉ có những kẻ đối thủ tham lam và tàn ác của chúng ta, bọn chúng mới là kẻ thù thực sự của chúng ta! Giáo sư La, ngài vẫn chưa giải mã xem câu thứ hai có ý nghĩa gì kìa?"

Giáo sư La nhìn Hàn Giang rồi lại tiếp tục giải mã: "Tôi đã nói từ trước rồi, lúc đầu tôi cũng không hiểu câu thứ hai 'Bốn bình hợp nhất' có ý nghĩa gì cả. Thế nhưng sau khi tôi giải mã xong toàn bộ văn bản, quay đầu lại nhìn câu thứ hai này, thì dường như đã bắt đầu hiểu được hàm ý của việc bốn bình hợp nhất rồi. Bốn bình hợp nhất ư? Tôi suy đoán chắc là có bốn món bình phong ngọc..."

"Bốn món bình phong ngọc?" Giáo sư La vừa thốt ra câu này, mọi người đều ngạc nhiên đến ngây người.

"Đúng vậy, bốn món bình phong ngọc. Chỉ khi hợp bốn món bình phong ngọc lại làm một, thì mới có thể biết được vị trí chính xác của Hãn Hải Mật Thành. Các cháu xem..." Vừa nói, Giáo sư La vừa đeo găng tay trắng vào, lật mặt sau của tấm bình phong ngọc lên, chỉ vào một số chỗ lõm xuống ở mặt sau rồi nói: "Mọi người xem, những đường nét lõm xuống ở mặt sau này, theo suy đoán của tôi, mặt sau của tấm bình phong ngọc chính là một tấm bản đồ được khắc chìm."

"Bản đồ?"

"Chính xác mà nói thì đó là tấm bản đồ dẫn đến Hãn Hải Mật Thành."

"Vậy chẳng phải đây là một tấm bản đồ kho báu sao?" Lương Viện kinh ngạc hỏi.

Giáo sư La mỉm cười: "Cháu muốn nói thế cũng được thôi, thế nhưng chỉ có mỗi tấm này thì không đủ đâu, phải tập hợp đủ bốn tấm bình phong ngọc lại, ghép chúng lại với nhau, thì mới có thể nhìn rõ tấm bản đồ dẫn đến Hãn Hải Mật Thành."

"Ồ! Hóa ra là vậy." Lương Viện gật đầu.

“Cùng đạo lý đó, chữ Tây Hạ ở mặt trước tấm bình phong ngọc, ngoài phần thứ nhất mà chúng ta đã giải mã ra, phần chính văn với những chữ lớn hơn ở phía bên dưới, tôi suy đoán nói về địa điểm cất giữ của bốn tấm bình phong ngọc, có lẽ còn có một số thông tin khác liên quan đến Hãn Hải Mật Thành. Dưới đây chúng ta hãy xem phần chính văn trên tấm bình phong ngọc. Chữ ở phần chính văn rõ ràng lớn hơn chữ ở phần bài tựa phía trước. Qua sự giải mã sơ bộ của tôi, phần chính văn của tấm bình phong ngọc này dịch sang chữ Hán là: ‘Hắc đầu thạch thất hoang thủy vực, Xích diện phụ trủng bạch cao hà, Trường mi dược nhân quốc tại bỉ’.”

Giáo sư La đọc đến đây thì bỗng im bặt. Lương Viện giục giã: "Giáo sư, sao ngài không đọc tiếp đi ạ?"

"Hết rồi, tôi đọc xong rồi mà."

"Cái gì? Phần chính văn mà chỉ có mấy chữ thế này thôi sao." Mọi người vô cùng cụt hứng.

“Đúng vậy, phần chính văn của tấm bình phong ngọc này chỉ có hai mươi mốt chữ này mà thôi.”

Đường Phong nghe những câu chữ Tây Hạ do Giáo sư La dịch ra, bỗng giật mình kinh ngạc: "Cái... mấy câu này sao tôi cứ có cảm giác như đã từng nghe thấy ở đâu rồi ấy nhỉ. Phải rồi, chính là trong bảy bức thư đó, bức thư của viện sĩ A Lý Khắc gửi cho Mạnh Liệt Phu. Ở phần cuối của bức thư đó, A Lý Khắc đột nhiên viết thêm một đoạn, nói rằng năm xưa lúc lâm chung, Y Phượng Các từng nhắc đến với ông ấy một vài câu thơ, chính là mấy câu này."

"Đúng vậy! Đường Phong, lúc tôi dịch ra mấy câu này cũng vô cùng chấn động. Điều này chứng tỏ năm xưa Y Phượng Các đã giải mã được mấy câu thơ này rồi, chỉ tiếc là sau đó ông ấy đã qua đời, không thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa."

"Vậy bài thơ này có ý nghĩa gì ạ? Nó có liên quan gì đến tấm bình phong ngọc?" Đường Phong hỏi.

“Giới học thuật thông thường cho rằng, ba câu đầu của bài thơ này thuật lại nơi sinh sống của người Đảng Hạng thời kỳ đầu. ‘Bạch cao hà’, tôi cho rằng chính là chỉ lưu vực sông Bạch Hà ở tây bắc Tứ Xuyên ngày nay, nơi đây là khu vực quần cư của người Đảng Hạng thời kỳ đầu. Còn ‘Hắc đầu thạch thất’, kết hợp với nghiên cứu của tôi về tấm bình phong ngọc và phán đoán dựa trên kiến thức tích lũy nhiều năm, Hắc đầu thạch thất rất có thể chính là nơi cất giữ một trong ba tấm bình phong ngọc còn lại. Nếu như suy đoán của tôi đều chính xác, thì điều đó sẽ viết lại toàn bộ lịch sử Tây Hạ, ý nghĩa học thuật vô cùng to lớn.” Có thể nghe ra, khi Giáo sư La nói đến đây, giọng nói đã cao lên rõ rệt.

"Cứ đà này thì việc tìm ra Hắc đầu thạch thất chính là mục tiêu tiếp theo của chúng ta rồi!" Triệu Vĩnh vừa nói vừa ném ánh mắt thăm dò về phía Hàn Giang.

Mọi người đều nhìn Hàn Giang. Hàn Giang không nói gì, ngược lại Đường Phong là người lên tiếng: "Mọi người thưa, tôi không hoài nghi trình độ nghiên cứu của Giáo sư La, thế nhưng chỉ dựa vào chút ít bằng chứng hiện tại mà đã phỏng đoán có bốn tấm bình phong ngọc, lại còn nói cái gì mà 'Hắc đầu thạch thất' đang cất giữ một tấm bình phong ngọc khác nữa chứ, tôi vẫn không thể tin nổi. Hơn nữa, chúng ta cũng không biết vị trí cụ thể của cái 'Hắc đầu thạch thất' này ở đâu cả! Làm sao mà đi tìm đây?"

Giáo sư La nghe xong nghi vấn của Đường Phong, vô cùng bình tĩnh nói: "Tôi đã nói rồi, tất cả những điều này chỉ là phỏng đoán cá nhân của tôi mà thôi. Thế nhưng, câu hỏi này của cậu lại làm tôi sực nhớ ra, trên tấm bình phong ngọc vẫn còn một bằng chứng nữa có thể chứng minh cho phỏng đoán của tôi. Các cậu có lẽ vẫn chưa biết trên tấm bình phong ngọc còn có một chữ Hán nữa."

"Ồ! Trên bình phong ngọc có chữ Hán ư, sao tôi lại không nhìn thấy nhỉ?" Đường Phong đầy vẻ thắc mắc.

Giáo sư La nghiêng tấm bình phong ngọc sang một bên, chỉ vào vách tường ở một bên của tấm bình phong ngọc, nói với mọi người: "Mọi người xin mời nhìn xem, ở đây có một chữ Hán rất nhỏ."

Mọi người vây lại, chăm chú quan sát, quả nhiên, tất cả mọi người đều nhìn thấy ở vách tường bên cạnh của tấm bình phong ngọc có khắc một chữ "Bạch" vô cùng nhỏ.

"Chữ 'Bạch' này thì có thể nói lên điều gì chứ?" Đường Phong khó hiểu.

"Nói lên điều gì ư? Chữ 'Bạch' này thực ra chính là tên của tấm bình phong ngọc này!"

"Tên ư?" Đường Phong hoang mang cực độ.

"Tôi đã nói rồi, tôi phỏng đoán tổng cộng có bốn tấm bình phong ngọc. Chỉ khi gộp bốn tấm bình phong ngọc lại làm một, mới có thể biết được trọn vẹn những gì viết trên bình phong ngọc, mới có thể nhìn rõ tấm bản đồ ở mặt sau bình phong ngọc. Thế thì, những người chế tạo ra bốn tấm bình phong ngọc này khi xưa, lúc chế tạo chắc chắn đã đánh số cho những tấm bình phong ngọc này rồi. Chữ 'Bạch' được viết bằng chữ Hán này chính là số hiệu của tấm bình phong ngọc này, hoặc nói cách khác chính là tên của nó. Tên đầy đủ của tấm bình phong ngọc này phải là – Bình phong ngọc đính ngọc trai chạm hoa sen quấn Tây Hạ số hiệu chữ 'Bạch'."

"Bình phong ngọc đính ngọc trai chạm hoa sen quấn Tây Hạ số hiệu chữ 'Bạch'? Thế còn mấy tấm kia được đánh số gì vậy ạ?" Đường Phong hỏi.

“Mọi người xin hãy lắng nghe tôi từ từ kể tiếp. Mọi người đều biết, cái tên 'Tây Hạ' là cách gọi trong sử sách chữ Hán, chứ không phải là quốc hiệu do chính người Đảng Hạng đặt. Quốc hiệu do chính người Đảng Hạng đặt thì trong giới học thuật có rất nhiều cách nói khác nhau, ví dụ như rất nhiều học giả cho rằng người Đảng Hạng tự gọi đất nước của mình là 'Đại Bạch Cao Quốc' hoặc 'Bạch Cao Đại Quốc'. Thế nhưng lại có một cách nói khác cho rằng người Đảng Hạng gọi đất nước của mình là 'Bạch Cao Đại Hạ Quốc'. Cái tên này là do học giả nghiên cứu về Tây Hạ người Nga Kế Khắc Nặc Phu dựa vào cuốn 'Tây Hạ văn đại tạng kinh' được lưu giữ tại Bảo tàng Nhân chủng học Stockholm Thụy Điển để dịch từng chữ sang chữ Hán mà thành. Cá nhân tôi khá đồng tình với cách nói này. Lại nói tiếp về món bình phong ngọc trước mặt chúng ta đây, phán đoán dựa trên văn tự được khắc bên trên, tấm bình phong ngọc này nên là tấm bình phong ngọc đầu tiên trong số bốn tấm bình phong ngọc. Do đó, tương ứng với bốn chữ 'Bạch, Cao, Đại, Hạ', tôi suy đoán ba tấm bình phong ngọc còn lại lần lượt là bình phong ngọc số hiệu chữ 'Cao', bình phong ngọc số hiệu chữ 'Đại' và bình phong ngọc số hiệu chữ 'Hạ'." Suy đoán của Giáo sư La khiến cho sự tự tin của mọi người tăng lên gấp bội, dường như họ đang ngày càng đến gần hơn với chân tướng của sự việc.

Giáo sư La tiếp tục nói: "Tôi xin bổ sung thêm một điểm nữa, nếu như chúng ta thực sự tìm thấy Hãn Hải Mật Thành, thì ở đó sẽ có những gì? Kho báu, cái này đương nhiên là sẽ có rồi, hơn nữa còn có rất nhiều rất nhiều trân kỳ dị bảo. Thế nhưng tôi lại không có hứng thú lắm với kho báu. Năm 1908, Kozlov phát hiện ra một thành Hắc Thủy, đã khai quật ra hàng vạn di vật văn hóa Tây Hạ. Tôi nghĩ cái Hãn Hải Mật Thành này chỉ có lớn hơn, quan trọng hơn, tráng quan hơn thành Hắc Thủy mà thôi. Tôi không dám tưởng tượng ở đó sẽ được chôn giấu bao nhiêu di sản văn hóa khiến thế giới kinh ngạc, có lẽ sẽ có một bộ 'Đại Tạng Kinh' chữ Tây Hạ hoàn chỉnh, có lẽ sẽ có vô số tượng Phật tinh xảo, rực rỡ hơn cả Đôn Hoàng vĩ đại, có lẽ còn có rất nhiều kỳ tích mà chúng ta thậm chí còn không tài nào tưởng tượng nổi..." Giáo sư La khó lòng che giấu được sự hưng phấn, hoàn toàn say sưa trong Hãn Hải Mật Thành của ông ấy.

Cuối cùng, Hàn Giang đứng phắt dậy, tổng kết lại với mọi người: "Tôi cho rằng suy đoán của Giáo sư La là hoàn toàn hợp tình hợp lý. Vào thời điểm vương triều Tây Hạ bị Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt, người Đảng Hạng vì muốn có một ngày có thể phục quốc, tái hiện lại sự huy hoàng của Bạch Cao Đại Hạ Quốc, đã phái bốn tốp người mang bốn tấm bình phong ngọc cất giấu bí mật về Hãn Hải Mật Thành đi đến bốn nơi khác nhau. Mấy trăm năm trôi qua, người Đảng Hạng cuối cùng cũng biến mất không tăm tích, không còn cơ hội phục quốc nữa, thế nhưng Hãn Hải Mật Thành vẫn luôn làm lay động dây thần kinh của rất nhiều người. Bây giờ chúng ta có thể khẳng định rằng, tấm bình phong ngọc trước mặt chúng ta chính là tấm mà nhà thám hiểm người Nga Kozlov đã phát hiện ra ở di tích thành Hắc Thủy. Lại dựa vào việc Giáo sư La giải mã tấm bình phong ngọc này, chúng ta biết được rằng, rất có thể có một nhóm người Đảng Hạng mang theo tấm bình phong ngọc còn lại, đã quay trở lại ngọn núi lớn nơi người Đảng Hạng bước ra thuở ban sơ. Đây là manh mối duy nhất của chúng ta hiện giờ, cho nên, tìm ra tấm bình phong ngọc này chính là mục tiêu tiếp theo của chúng ta. Chúng ta bắt buộc phải đi trước đối thủ một bước, tìm thấy bốn tấm bình phong ngọc, giải mã bí mật của Hãn Hải Mật Thành."

"Thế nhưng, bước tiếp theo chúng ta nên hành động thế nào đây?" Đường Phong hỏi Hàn Giang.

Hàn Giang chưa kịp trả lời thì Giáo sư La đã lên tiếng: "Muốn tìm thấy tấm bình phong ngọc ở Hắc đầu thạch thất, tôi chợt nhớ ra một manh mối. Vào những năm 20, 30 của thế kỷ trước, nhà thám hiểm người Mỹ Rock hoạt động ở khu vực tây Tứ Xuyên từng đề cập trong một bài viết được ông ta chấp bút vào những năm cuối đời rằng, sau khi kết thúc đợt khảo sát núi tuyết Cống Ga ở tây bắc Tứ Xuyên, vì một trận lũ bùn đá kinh hoàng nên ông ta đã vô tình đi nhầm vào một chốn đào nguyên tiên cảnh. Nơi đó non xanh nước biếc, phong tục dân gian chất phác, người dân địa phương sùng bái Phật giáo nhưng vẫn lưu giữ lại rất nhiều di phong của tôn giáo nguyên thủy. Tù trưởng và lạt ma địa phương đã tiếp đón Rock vô cùng nồng hậu, cuối cùng lại tiễn ông ta ra khỏi chốn đào nguyên tiên cảnh đó. Rock sống ở Trung Quốc nhiều năm, vô cùng am hiểu văn hóa Trung Quốc. Ông ta phát hiện ra những người sinh sống ở đó có sự khác biệt rất lớn về tập tục sinh sống lẫn ngoại hình so với cư dân ở các khu vực khác của tây Tứ Xuyên. Do đó, ông ta cho rằng cư dân ở đó di cư từ nơi khác đến, để rồi Rock lại mạnh dạn phỏng đoán cư dân ở đó chính là hậu duệ của người Đảng Hạng di cư đến khu vực tây Tứ Xuyên để trốn chạy sự truy sát của thiết kỵ Mông Cổ từ mấy trăm năm trước."

Đường Phong nghiêng đầu suy nghĩ một hồi lâu, rồi vặn hỏi Giáo sư La: "Tôi cũng từng nghe nói về lời đồn đại có hậu duệ người Đảng Hạng ở khu vực tây Tứ Xuyên, thế nhưng trong ấn tượng của tôi, hình như người ta đang ám chỉ khu vực Mộc Nhã thì phải? Rock từng đến đó mà."

"Đúng vậy, Rock, cùng với một số nhà thám hiểm khác đều từng đến Mộc Nhã. Rock cũng từng cho rằng người Mộc Nhã chính là hậu duệ của người Đảng Hạng, thế nhưng sau đó khi đến chốn đào nguyên tiên cảnh đó rồi, ông ta lại thay đổi cách nhìn, cho rằng cư dân ở đó mới thực sự giống hậu duệ của người Đảng Hạng hơn. Chỉ tiếc là, sau đó Rock vẫn muốn đi tìm kiếm phiến thế ngoại đào nguyên ấy, thế nhưng ông ta đã đặt chân qua khắp các dãy núi thung lũng ở vùng tây bắc Tứ Xuyên mà vẫn không thể tìm lại được phiến thế ngoại đào nguyên đó nữa. Thế là, Rock đành gọi nơi đó là 'Shangri-La cuối cùng', trở thành sự tiếc nuối suốt cả cuộc đời ông ta."

"Chẳng lẽ Rock không để lại thứ gì kiểu như ảnh chụp hay sao?" Đường Phong hỏi.

Giáo sư La lắc đầu, nói: "Không có. Ông ta tự xưng là trước khi bước vào chốn thế ngoại đào nguyên cách biệt với thế gian đó, từng gặp phải một trận lũ bùn đá kinh hoàng. Ông ta đã thất lạc với những người đi cùng, máy ảnh cùng các thiết bị mang theo cũng bị lũ bùn đá cuốn trôi mất rồi, cho nên không thể lưu lại ảnh chụp cùng các tư liệu khác. Về lần đi nhầm đường đó, ông ta chỉ lưu lại một bản ghi chép văn tự ngắn ngủi mà thôi. Trước kia người ta không xem đây là chuyện thật, thế nhưng tôi lại chợt nhớ ra, Rock trong bài viết còn đặc biệt đề cập đến việc người dân địa phương sùng bái ngọn núi tuyết gần đó, đồng thời nói rằng trong hang động trên núi tuyết có cất giấu thánh vật của bọn họ! Điều này có lẽ dường như có mối liên hệ nào đó với truyền thuyết về 'Hắc đầu thạch thất'."

"Ý ngài là 'Hắc đầu thạch thất' rất có thể nằm ở đó ư?" Lương Viện kinh ngạc hỏi.

Giáo sư La khẽ gật đầu, nói: "Khả năng này rất lớn. Nếu như thực sự giống như phỏng đoán của Rock, nơi đó sinh sống hậu duệ của người Đảng Hạng, vậy thì hang động mà người dân địa phương nhắc đến rất có thể chính là cái gọi là 'Hắc đầu thạch thất'. Mà cá nhân tôi thì vô cùng đồng tình với Rock, ông ta là một nhà thám hiểm vô cùng cẩn trọng, đồng thời cũng là một học giả, tôi nghĩ độ tin cậy trong lời nói của ông ta tương đối cao."

Đường Phong dường như đã hiểu ý của Giáo sư La: "Giáo sư La, ý của ngài là muốn chúng ta đi tìm chốn thế ngoại đào nguyên được Rock gọi là 'Shangri-La cuối cùng' này, tìm thấy hậu duệ người Đảng Hạng ở đó, thì cũng sẽ có thể nắm được tình hình liên quan đến 'Hắc đầu thạch thất' phải không ạ?"

“Đúng vậy, đây là manh mối duy nhất của chúng ta hiện giờ, và tôi kiên định tin rằng nơi đó thực sự tồn tại.” Giáo sư La vô cùng quả quyết nói.

Đường Phong nhìn Giáo sư La, lại nhìn Hàn Giang, muốn nghe xem ý kiến của anh thế nào. Hàn Giang trầm ngâm hồi lâu mới cất lời: "Tôi tin tưởng phán đoán của Giáo sư La. Tìm ra chốn thế ngoại đào nguyên mà Rock từng đến, chính là mục tiêu của chúng ta." Hàn Giang lại đảo mắt nhìn những người có mặt một lượt, dùng giọng điệu ra lệnh nói: "Hành động lần này của chúng ta phải được tiến hành trong trạng thái bảo mật, cho nên sẽ do tôi và Đường Phong trực tiếp thực thi, những người khác ở lại trông coi nơi này. Lúc tôi không có ở đây, công việc ở đây do Triệu Vĩnh chịu trách nhiệm."

Nói xong, Hàn Giang quay sang dặn dò Triệu Vĩnh: "Sau khi tôi đi, phải giữ liên lạc với tôi bất cứ lúc nào, đồng thời làm tốt công tác hậu thuẫn chi viện..." Hàn Giang đang nói thì Lương Viện bỗng cắt lời anh, bất mãn hỏi: "Tại sao hành động lần này lại không dẫn cháu theo?"

Hàn Giang quay đầu nhìn Lương Viện, với vẻ mặt nghiêm nghị nói: "Hành động lần này của chúng ta rất có thể phải thâm nhập vào thung lũng núi tuyết, lại còn có khả năng bị kẻ địch tấn công, cậu là một cô gái, sao có thể đi cùng được chứ!"

"Thế cháu làm gì cơ chứ?"

"Cậu cứ ở đây chăm sóc Giáo sư La, đợi bọn tôi quay về."

Lương Viện còn muốn tranh cãi, nhưng Hàn Giang không thèm để ý đến cô nữa, cùng đi ra ngoài căn phòng mật với Triệu Vĩnh, chỉ để lại một mình Lương Viện bĩu môi, đứng ngốc nghếch ở cửa... Đường Phong nhìn thấy bộ dạng này của Lương Viện, không nhịn được mà phì cười, đúng lúc bị Lương Viện nhìn thấy. Lương Viện trừng mắt lườm Đường Phong một cái sắc lẻm, hậm hực nói: "Cậu cứ cười đi, không cho tôi đi, thì tôi kiểu gì cũng sẽ tự đi cho mà xem, hừ! Từ nhỏ đến lớn, chưa có ai có thể cản được bổn tiểu thư cả."

Đường Phong thu lại nụ cười, cũng học theo dáng vẻ của Hàn Giang, với vẻ mặt nghiêm nghị nói với Lương Viện: "Cô Lương à, nơi này không phải là chỗ để cô giở thói đại tiểu thư đâu nhé. Tôi thấy cô vẫn nên ở lại đây chăm sóc Giáo sư La thì hơn."

Lương Viện bị Đường Phong chọc cho tức điên lên, đẩy chiếc xe lăn của Giáo sư La hậm hực bỏ đi. Trong phòng mật lúc này chỉ còn lại một mình Đường Phong. Cậu bước đến bên cửa sổ, lật nhẹ một góc tấm rèm cửa dày cộm lên. Ở đằng xa, núi non tĩnh lặng, trong lòng Đường Phong bỗng dấy lên một thứ linh tính chẳng lành.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.