Thế nào là đẹp ? Thế nào là xấu ?
Tại sao đẹp ? Tại sao xấu ?
Một vấn đề rất thông thường, và mỗi chúng ta đều nói đến hàng ngày. Tuy nhiên, từ xưa đến nay chưa một ai tìm ra chân tướng của nó.
Bạn đi cùng tôi vào một phòng triển lãm tranh ảnh, tôi chỉ một bức tranh bảo là đẹp ; bạn lắc đầu, chỉ một bức khác mà tôi không thích.
Một chiều thu, tôi và bạn ngồi trên bờ hồ. Tôi say sưa nhìn những áng mây vàng trôi trên mặt nước ; nhưng bạn lại hững hờ, tâm hồn bạn lại thả theo những cánh bướm chập chờn trên các đóa hoa.
Ở một đầu phố kia, hai cô gái đang hơ hớ xuân thì, tóc mây buông xõa trên bờ vai, đôi môi đỏ mọng dưới làn son thắm, chiếc áo với kỹ thuật tân thời làm nổi lên những đường cong khêu gợi và để lộ ra một phần da ngực nõn nà. Tôi bấm vào tay bạn tỏ ý tán thưởng, nhưng đôi mắt bạn thờ ơ trước vẻ đẹp của họ. Bạn lại đăm chiêu nhìn vào một cô gánh nước ở ven đường, với thân hình nẩy nở như tiết ra một sinh lực tiềm ẩn dưới làn da ngâm ngâm, và những bắp thịt rắn rỏi như đang vươn lên tìm ý sống.
Tại sao lại có sự khác biệt như thế ?
Dĩ nhiên, tôi và bạn không cùng một quan điểm về cái đẹp, cái xấu !
Nhưng không phải chỉ có tôi và bạn không hợp ý nhau, mà hầu như mỗi người trong chúng ta đều không bao giờ có quan niệm thẩm mỹ đồng nhất. Bởi vậy, cái đẹp, cái xấu chỉ là nguồn mỹ cảm của cá nhân, chỉ có cảm giác cá nhân, mới nói lên được, mới mô tả được thế nào là đẹp, thế nào là xấu. Đã không đồng nhất, mà nhiều lúc, mỹ cảm của chúng ta lại tương phản nhau nữa.
Cái đẹp của Đông-phương không phải như cái đẹp của Tây-phương. Cái đẹp của người xưa không như cái đẹp của người nay. Mỹ cảm chẳng những chia cách giữa con người mà còn chia cách giữa thời gian, không gian nữa.
Vậy chúng ta muốn đi tìm chân tướng cái đẹp, cái xấu, không thể không đi tìm nguồn gốc của mỹ cảm.
Mà, mỹ cảm là gì ?
Nói một cách giản dị, thì mỹ cảm là sự ưa thích của cảm giác con người khi hòa vào ngoại vật. Trước đây, chúng ta đã có dịp đề cập lãnh vực cảm giác của con người, và xác định rằng cảm giác là cơ quan truyền thụ đưa ngoại hình vào tâm tư. Ở địa hạt tâm tư, chúng ta thấy sự thèm muốn, ưa thích ; nó chính là cái dục vọng con người. Khi phần dục vọng này hòa lẫn với cảm giác thì đó là nguồn mỹ cảm.
Cho nên, mỹ cảm chúng ta có thể nói là nguồn lạc thú của dục vọng khi được giao tiếp với ngoại vật. Nó là một khả năng đòi hỏi để hưởng thụ, mà dục vọng con người là bản tính thiên nhiên luôn luôn vươn đến ý sống.
Khi nói đến bản tính thiên nhiên thì con người không khác nhau, nhưng vì mỹ cảm đã nằm vào lãnh vực tâm tư, ảnh hưởng ở cuộc đời, nên mỹ cảm dần dần trở thành cá biệt, lệ thuộc vào hoàn cảnh xã hội hơn là tính chất thiên nhiên.
Tính chất cá biệt trong mỹ cảm đi dần đến cá tính con người. Trạng thái thương, yêu, hờn, giận cũng chính bắt nguồn từ mỹ cảm mà ra. Thương, ghét là gì, nếu không phải là sự ưa thích hay đố kỵ do cảm giác con người giao tiếp với ngoại vật ? Khi ưa thích thì cảm giác dễ chịu, khi đố kỵ thì cảm giác bực dọc, chống đối.
Ngoại vật luôn luôn giữ tính chất khách quan, mà tâm tư con người thì hay biến đổi theo trạng thái xã hội, cho nên mỹ cảm con người cũng theo tâm tư mà biến chuyển không ngừng.
Trước đây một trăm năm, người Việt-nam mặc chiếc áo cổ kiềng, nhưng sau đó, họ cho cổ kiềng là quê màu, lạc hậu, họ thay đổi mặc kiểu áo cổ bâu. Thế rồi đúng một trăm năm sau người Việt-nam trở lại mặc áo cổ kiềng mà họ cho là đẹp, là tân tiến. Vậy ngoại vật không có cái đẹp, cái xấu gì cả, chỉ có tâm tư con người gắn vào ngoại vật những cảm giác ưa thích, hoặc ghét bỏ mà thôi.
Người bình dân thuở xưa cũng đã nhìn thấy khía cạnh chân tướng của tình cảm con người, nên đã nói lên cảm nghĩ của họ :
Khi thương trái ấu cũng tròn,
Khi ghét bồ hòn cũng méo.
Từ cái méo trở thành cái tròn, và từ cái tròn biến sang cái méo đều do tâm tư con người tạo ra cả. Vậy thì cái đẹp và cái xấu chỉ có ở tâm tư con người chứ không nằm ở ngoại vật.
Nói như thế cũng có nghĩa là người thời xưa đã thừa nhận sự khác biệt trong lãnh vực mỹ cảm con người, và phủ nhận cái đẹp tất nhiên của ngoại vật.
Quan niệm này người bình dân thời xưa còn cho chúng ta thấy rõ ràng hơn nữa ở những câu ca dao như :
Lỗ mũi thì tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy pho pho,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm cài đầu.
Cũng như chúng ta ngày nay, người xưa quan niệm cái đẹp cái xấu không là cố định. Nguồn gốc của mỹ cảm nằm trong lãnh vực tâm tư, và diễn biến theo trạng thái sinh hoạt của mỗi người. Chính sự thương, ghét trong tâm tư con người đã đánh giá ngoại vật. Ví dụ như :
Thương nhau thương cả đường đi,
Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.
Cũng con đường ấy, cũng những lùm cây phất phơ dưới nắng chiều, tại sao lúc thương nhau chúng ta lại tìm thấy con đường ấy chứa đầy tình cảm, mà đến lúc ghét nhau chúng ta lại thấy chán ngắt vì con đường.
Một nhà thơ bảo chúng ta : « Tôi ca tụng cái đẹp của loài người, cái đẹp thiên nhiên mà loài người dù thế hệ nào cũng phải công nhận. »
Nói thế cũng không có nghĩa là ngoại vật sẵn có cái đẹp để con người hưởng thụ. Cái đẹp mà nhà thơ vừa nói cũng chỉ là cái đẹp ở trong tâm tư con người mà thôi. Tâm tư con người từ dục vọng đi lần đến cá biệt do ảnh hưởng xã hội, nếu có cái đẹp nào tồn tại với thời gian, không gian chẳng qua là do bản năng dục vọng con người giữ được ý thức ấy. Bản năng dục vọng con người lúc nào cũng vươn đến ý sống, mà thời gian, không gian không thay đổi được ý sống ấy ; nên tâm tư con người gặp nhau ở lãnh vực đó, thế mà nhà nghệ sĩ lại tưởng mình tìm thấy ở thiên nhiên một cái đẹp bất diệt đối với tâm tư con người. Thực ra, không có cái đẹp nào ở ngoài tâm tư cả.
Trước đây nghìn năm, cổ nhân đã ca tụng :
Nước trong ai chẳng rửa chân,
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.
Và, đến ngày nay, chúng ta vẫn ca tụng dòng nước trong, vẫn tán tụng làn da trắng mịn trên đôi má, như vậy cũng không có nghĩa dòng nước trong và đôi má trắng mịn tự nó có cái đẹp độc lập với tâm tư con người. Sở dĩ dòng nước trong và đôi má trắng mịn được tồn tại trong mỹ cảm con người chỉ vì nó biểu dương cho sức sống, nên mặc dù thời gian không gian có đổi khác mà ý sống con người vẫn là qui luật tất yếu của vạn hữu, nên vẫn giữ được bản chất của nó.
Tuy nhiên sức sống của ngoại vật cũng chỉ có giá trị đối với mỹ cảm con người khi tâm tư con người biết cảm giác được sức sống ấy. Cho nên, một kẻ đang hấp hối trên giường bệnh dù có nhìn thấy đôi má trắng hồng cũng không thể nào cảm giác được cái đẹp ấy, bởi lẽ cá nhân người bệnh đang lâm vào hoàn cảnh sắp bị tiêu diệt.
Một nhà nghệ sĩ khi đứng trước bầu trời thu, thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, tự cho rằng dù con người sống trong hoàn cảnh nào, với tâm trạng nào cũng không thể không cảm khoái.
Quan niệm như vậy, họ đã gắn ở ngoại vật một cái đẹp ngoài tâm tư, và chối bỏ qui luật ảnh hưởng giữa cuộc sống với tâm tư. Thực ra, tâm tư cá nhân chỉ gặp nhau ở tính chất bản năng và không thể gặp nhau ở trạng thái cá biệt.
Con người khi đã lao mình vào cuộc sống thì trạng thái cá biệt bao trùm cả tâm tư, tính chất bản năng thiên nhiên chỉ còn lại với vạn hữu một phần nhỏ.
Tính chất cá biệt là trạng thái phân hóa giữa con người và con người, do cuộc sống xã hội tạo nên. Nếu chúng ta đã thừa nhận mỹ cảm con người ảnh hưởng ở tâm tư, mà tâm tư con người do cuộc sống chi phối, thì chúng ta cũng phải đi đến kết luận là mỹ cảm con người do sinh hoạt xã hội đúc kết. Mỹ cảm lệ thuộc vào thời gian, không gian và trạng thái xã hội.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận hoàn toàn sự giống nhau về tâm tư trong tập thể, cũng không phải chúng tôi cho rằng tâm tư con người khi đã bước vào lãnh vực cá biệt, chịu ảnh hưởng sinh hoạt xã hội thì mỹ cảm không còn thể nào gặp nhau trong lãnh vực tập thể nữa.
Không ! Chúng tôi vẫn tìm thấy có sự giống nhau của tâm tư khi trạng thái sinh hoạt của con người giống nhau.
Một nghệ sĩ bên trời Âu tâm trạng gần giống với một nghệ sĩ ở chân trời Á. Một ý tưởng của người thời xưa có thể thông cảm được với người thời nay. Và nói rộng hơn nữa, tâm tư của mỗi lớp người trong xã hội đều gần gũi với nhau chỉ vì hoàn cảnh sinh hoạt của họ tương tợ.
Mỹ cảm của một chàng nông dân chân lấm tay bùn, sống trong nghèo đói ở miền này sẽ gần gũi với mỹ cảm của một chàng nông dân chân lấm tay bùn, sống trong nghèo đói ở vùng khác. Đó là chuyện tất nhiên, vì mỹ cảm phát xuất ở tâm tư, mà tâm tư là sản phẩm sinh hoạt xã hội.
Điều mà chúng ta không thể nào phân định được một cách chính xác là hoàn cảnh sinh hoạt xã hội loài người rất phức tạp. Tuy cùng sống trong một giai cấp xã hội, cùng một cảnh nghèo đói, nhưng họ không hoàn toàn giống nhau về tính chất, do đó, đứng về mặt cá biệt mà nói thì trong cái giống nhau lại có chỗ khác nhau, ngược lại trong cái khác nhau lại có chỗ giống nhau. Chính vì vậy mà nguồn mỹ cảm con người phát sinh lắm chiều hướng dị đồng.
Ở đây, chúng ta đi vào cảm giới của người thời xưa, để tìm hiểu quan niệm về cái xấu, cái đẹp của họ, dĩ nhiên chúng ta không tránh khỏi về tính chất dị đồng. Tuy nhiên, nếu trong lãnh vực cá biệt, chúng ta không thể nào quan niệm từng cá nhân, thì trong tập thể chúng ta lại rất dễ nhìn thấy chiều hướng tâm tư của một lớp người, của một thế hệ nổi bật lên trên ý thức sinh hoạt của họ.
Ý thức sinh hoạt làm tấm gương phản chiếu cảm quan của một lớp người trong mỗi thế hệ. Nó tạo thành những phong trào, những khuynh hướng, mà chúng ta gọi là nếp sống. Vậy, nếp sống cũng chính là bộ mặt của tâm tư trong đó có phần mỹ cảm chung của tập thể.
Một du khách muốn tìm hiểu mỹ cảm của một nước nào, một dân tộc nào, một tầng lớp nào, chỉ cần nhìn vào nếp sống của họ cũng có thể nhận định được. Do đó, chúng ta đi tìm nguồn mỹ cảm của người bình dân thời xưa cũng không khó lắm. Nguồn mỹ cảm của họ tuy đã vùi sâu trong dĩ vãng, nhưng vết tích vẫn còn lưu lại với chúng ta trong tục ngữ, phong dao, chúng ta có thể dùng những vết tích ấy tìm hiểu tâm tư mà không sợ sai lạc mấy trên quan điểm chung của tập thể.
Để việc khảo sát được dễ dàng chúng ta tuần tự đi vào từng phần của nguồn mỹ cảm thời xưa.
Nói đến mỹ cảm tức là nói chung mọi lạc thú của cảm giác con người trong sinh hoạt xã hội. Nhưng trong mục khảo luận này chúng ta không đi vào cõi bao la ấy, mà chỉ hạn chế trong phạm vi sắc đẹp, nghĩa là chúng ta chỉ khảo sát quan niệm người xưa đối với nhan sắc con người mà thôi. Quan niệm về nhan sắc đối với nhan sắc, xưa cũng như nay, người ta chú trọng ở nữ giới hơn là nam giới.
Chính người xưa cũng đã minh định ý thức ấy bằng câu tục ngữ : « Trai tham sắc, gái tham tài. » Bởi vậy, người đàn ông muốn được lòng nữ giới phải cố tạo cho mình một tài năng, ngược lại, người đàn bà muốn chinh phục nam giới phải gò gẫm cho mình có một sắc đẹp.
Quan niệm trai tài gái sắc trở thành một giá trị tương đương trong lẽ sống mà người xưa đã từng so sánh như :
Trai anh hùng, gái thuyền quyên.
Hoặc :Bên tài bên sắc lấy nhau cũng vừa.
Vì lẽ đó, khi nói đến nhan sắc, người ta chỉ nghĩ đến đàn bà, và chỉ người đàn bà mới cần có nhan sắc. Còn người đàn ông, miễn về thể chất đừng tật nguyền, cái đẹp, cái xấu của họ trước mắt nữ giới chỉ có ở tính tình và sự khôn dại mà thôi.
Vậy chúng ta khảo sát nhan sắc nữ giới cũng chính là khảo cứu về mỹ cảm của nam giới. Đồng thời, nguồn mỹ cảm cũng là nguồn mỹ cảm chung cho nếp sống sinh hoạt đương thời.
Dù ở trong thời gian, không gian nào, một cô gái đương thì cũng được mọi chàng trai chú ý tới. Sự chú ý của những chàng trai đối với những cô gái đang xuân là quy luật tất nhiên trong lãnh vực luyến ái, nhưng nó lại có một trạng thái ràng buộc về mỹ cảm. Khi được nhiều người chú ý tới, cô gái dù muốn dù không cũng phải đặt mình vào ảnh hưởng của sự ràng buộc ấy. Một khi thấy mình trở thành mục tiêu giữa tầm mắt phán xét của mọi người, cô gái không có quyền từ chối ý thức tranh đua trong lãnh vực thẩm mỹ. Do đó, người xưa đã có những câu hát vừa châm biếm, vừa hóm hỉnh :
Gái chưa chồng trông mong đi chợ,
Trai chưa vợ thơ thẩn ngoài đường.
Nhận xét như vậy người xưa cũng đã đạt được tâm lý chung trong trạng thái ganh đua về thẩm mỹ. Trông mong đi chợ là chính các cô muốn đem nhan sắc mình dò xét mỹ cảm chung của mọi người, và những chàng trai chưa vợ thơ thẩn ngoài đường cũng không ngoài mục đích đem mỹ cảm mình hòa vào mỹ cảm chung để hun đúc cho thế hệ đương thời một chiều hướng về cảm quan. Cho nên, không ai bảo ai, mà định luật chung của xã hội đã âm thầm đẩy nếp sống con người vào một ràng buộc, tạo cho thế hệ, mỗi giai cấp có một chiều hướng về thẩm mỹ.
Nhưng, quan niệm « trai tham sắc, gái tham tài » do đâu mà có ? Phải chăng là định luật tất yếu của thiên nhiên ?
Khi nói đến tiếng « tham » tức là nói đến dục vọng con người, mà dục vọng con người nằm trong ý thức vươn lên của lẽ sống. Nhà kinh tế học dựa vào lẽ sống giải thích bản chất « tham tài » của nữ giới là ý thức thực tiễn của sinh hoạt xã hội. Người đàn bà tay yếu chân mềm, lấy chồng mong được sự bảo vệ của người đàn ông, nên tham vọng của họ là muốn gởi thân vào một kẻ có đủ khả năng bảo vệ họ. Nhà tâm lý học cũng đi đến kết luận không khác mấy, nhưng về tính chất căn bản thì không dựa vào yếu tố kinh tế, mà cho đó chỉ là uy lực thiên nhiên. Vũ trụ đã sinh người đàn bà với thể chất mềm yếu, nên sự thiếu thốn của họ là cái mạnh, trong lúc người đàn ông đã có cái mạnh ở bản thể rồi thì phải đi tìm cái yếu để bù trừ. Từ chỗ đi tìm cái yếu, người đàn ông đi tìm nhan sắc ; từ chỗ đi tìm cái mạnh, người đàn bà đi tìm tài năng.
Giải thích hiện tượng trên, các thuyết gia đều có những quan điểm riêng biệt, nhưng cuối cùng vẫn gặp nhau trong dục vọng, tức là ý sống : ý sống của bản năng trong ý sống của xã hội.
Khi đã nhận thức mình là phái yếu và cũng là phái đẹp, người đàn bà mặc nhiên đặt mình vào một trách nhiệm đối với nhan sắc. Nhan sắc họ trước mắt người đàn ông, chúng ta có thể chia làm hai phần : dung nhan và phục sức.