Dung nhan bao gồm cái đẹp của thể chất. Trước nhất chúng ta thấy người thời xưa chuộng hàm răng và mái tóc. Họ bảo :
Cái răng cái tóc là gốc con người.
Vậy thì hàm răng thế nào là đẹp ? Mái tóc thế nào là đẹp ?
- Hàm răng :Hàm răng đẹp của người thời xưa là hàm răng nhuộm đen hoặc nhuộm vàng. Họ cho răng trắng là xấu cho nên những người để răng trắng hay bị châm biếm :
Những người má đỏ hồng hồng,
Răng đen rưng rức mà chồng chẳng yêu.
Những người mặt lọ như niêu,
Cái răng trắng ởn, chồng yêu cợt cờ.
Tại sao răng nhuộm lại đẹp ? Răng trắng lại xấu ?
Thật khó giải thích được, vì nó là một phong tục, một mỹ cảm chung của một thời đại. Cũng như có một vài sắc tộc thượng du lấy việc « cà răng căng tai » làm đẹp. Bất kỳ trai gái khi lớn lên đều phải cà răng sát đến nướu, không còn thấy hàm răng đâu nữa. Giả sử có kẻ nào không cà răng họ cho là quái trạng. Như vậy mỹ cảm của họ phát xuất từ một phong tục, và phong tục trở thành mỹ cảm. Người Việt-nam chúng ta thời xưa đối với nhuộm răng không ngoài ảnh hưởng phong tục. Dĩ nhiên một phong tục nào phát sinh cũng phải có nguyên do, chẳng hạn vì sự tín ngưỡng nào đó mà ngày nay chúng ta không thể tìm hiểu nổi.
Trong Phụ nữ tân văn số 15 ra ngày 8-8-1929, ông Phan Khôi nói về cách nhuộm răng của người đàn bà xứ Bắc thuở xưa.
Ông viết : « Ở Bắc-kỳ thuở xưa, đàn bà nhuộm răng có hai cách : nhuộm vàng, nhuộm đen. Nhuộm vàng thì nhuộm bằng cánh kiến, rồi sau nhuộm đen. Có người không nhuộm đen thì để màu vàng nên gọi là răng vàng… »
Trong phong dao Việt-nam lại cũng có nhiều câu ca tụng răng vàng là đẹp, như :
Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp quần, đẹp áo lại tươi răng vàng.
Hoặc :Em đã xinh em lại nhuộm cái bộ răng vàng,
Mảnh gương Tư-Mã thiếp với chàng so chung.
Và họ cũng ca tụng cái đẹp của răng đen như :
Tấm áo đào sao em khéo giữ màu,
Răng đen rưng rức, mái tóc đầu em hãy còn xanh.
Hay :Mình về mình nhớ ta chăng,
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.
Hoặc :Cái răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, để tình anh yêu.
Ngày nay trong thế hệ chúng ta, nếu cô gái nào còn nhuộm răng đen chắc sẽ làm trò cười cho thiên hạ. Tuy nhiên, chúng ta phải quan niệm rằng cái đẹp, cái xấu không phải ở ngoại vật, cũng như răng đen, răng trắng không có cái nào là đẹp, là xấu cả, chỉ có cảm quan của con người ý thức là xấu, là đẹp mà thôi. Thời gian, không gian đã làm thay đổi mỹ cảm con người. Nếu ở thế hệ này, chúng ta cho rằng răng trắng là đẹp, nhưng biết đâu một nghìn năm sau, cái đẹp của răng trắng hôm nay lại trở thành trò cười của hậu thế !
Răng đen đối với người xưa là cái đẹp chung của phong tục, nhưng răng đen muốn được mọi người lưu ý cần phải óng ánh nữa. Đây, họ đã nói lên cảm nghĩ ấy trong bài ca dao « Mười thương » :
Ba thương má lúng đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua.
Như vậy thẩm mỹ của người xưa không phải đơn giản như chúng ta tưởng. Họ cũng rất tế nhị. Nếu chúng ta ngày nay so sánh hàm răng chói ngời như những hạt ngọc thì người xưa cũng có mỹ cảm ấy. Họ bảo :
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đậu làm tương anh đồ.
Anh đồ, biểu tượng cho giai cấp quí phái mà trông thấy cái răng hạt đậu còn phải mềm lòng thì những chàng trai chân lấm tay bùn phải thế nào trước hàm răng đều đặn như hạt đậu ?
Cảm giác được hàm răng đều đặn là đẹp, họ chê những hàm răng khấp khểnh :
Mặt rổ như tổ ong bầu,
Hàm răng khấp khểnh như cầu rửa chân.
Nếu ngày nay chúng ta thấy xa cách với tiền nhân về hàm răng đen, thì chúng ta cảm thấy gần gũi với tiền nhân ở một hàm răng đều đặn và óng ánh.
- Mái tóc : Về mái tóc đẹp, người xưa chuộng mái tóc dài và đen. Da trắng tóc dài là cái đẹp thiên nhiên, mà nay chúng ta vẫn còn ca tụng.Người xưa đã thưởng thức vẻ đẹp ấy trong những câu ca dao như :
Tiếc thay con người da trắng tóc dài,
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu.
Hoặc :Tóc em dài, em cài hoa lý,
Miệng em cười hữu ý, anh thương.
Hình bóng một suối tóc huyền chảy xuống giữa đôi bờ vai quả là một thần tượng vượt hẳn thời gian, không gian. Ngày nay thần tượng ấy tuy đối với thế hệ chúng ta vẫn còn trọng vọng, tuy nhiên sự trọng vọng ấy đã bắt đầu phai nhạt bằng những mái quăn theo kiểu Âu-Mỹ. Đối với người xưa, tóc quăn là một điều đáng chê. Họ châm biếm :
Tóc quăn chải lược đồi mồi,
Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn.
Chẳng những tóc quăn đã không đẹp mà còn tỏ ra là kể xấu tánh nữa :
Tôi đà biết vợ anh rồi,
Quăn quăn tóc trán là người hay ghen.
Bởi vậy, ngày nay nếu chúng ta còn giữ được mỹ cảm của người thời xưa trong hình bóng của suối tóc huyền, thì chúng ta lại khác ở họ những mái tóc quăn.
Vì cho mái tóc huyền là tha thướt, ngây thơ, duyên dáng nên người xưa cũng chọn những lối bới tóc có liên hệ đến cái đẹp ấy. Ví dụ họ đã khen kiểu tóc đuôi gà như :
Chị kia bới tóc đuôi gà,
Nắm đuôi chị lại, hỏi nhà chị đâu ?
Nắm tóc giữ lại hỏi nhà để làm gì nếu không phải vì say mê tính cách duyên dáng của suối tóc ấy ? Thật vậy, một mái tóc huyền khéo trang điểm cũng có thể tạo thành duyên nợ.
Chị kia bới tóc cánh tiên.
Chồng chị đi cưới một thiên cá mòi.
Tuy hài hước nhưng trong cái hài hước ấy không ai không cảm thấy chứa đựng bên trong một tính chất ca ngợi về cái đẹp của mái tóc.
Nhưng không phải tóc dài trong trường hợp nào cũng đẹp ! Cái đẹp của tóc dài da trắng chỉ dành riêng cho đàn bà thôi, còn đối với đàn ông, tuy ngày xưa vẫn để tóc dài, song không phải là hình bóng của thẩm mỹ. Họ bảo :
Đàn bà tốt tóc thì sang,
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu.
Như vậy, chúng ta không thể chê người xưa thiếu thẩm mỹ được. Bởi vì tóc dài biểu tượng cho một hình bóng lả lướt, mảnh mai, nó chỉ thích hợp với thân hình kiều diễm của người đàn bà. Còn đối với người đàn ông, mang tấm thân hùng tráng, mái tóc dài đối với họ còn có giá trị thẩm mỹ nào nữa đâu. Con suối chỉ đẹp khi còn ở trên sườn đồi, róc rách bên khe đá, uốn khúc qua rặng cây, mà nó sẽ trơ trẽn khi chảy xuống đồng bằng, trở thành mương rạch. Suối tóc huyền cũng thế ! Nó không thể là một con suối trên thân hình người đàn ông.
Việc nhuộm răng để tóc dài, đối với người xưa chính là một phong tục. Tuy cả đàn ông lẫn đàn bà đều giống nhau, nghĩa là cùng nhuộm răng, để tóc dài nhưng về phương diện thẩm mỹ người đàn ông đã lộ vẻ tách rời ra khỏi quan niệm cái đẹp của thể xác.
Ngoài việc nhuộm răng, để tóc dài, theo phong tục người Việt-nam thuở xưa tổ tiên chúng ta cho là quan trọng, thì về phương diện thẩm mỹ, người bình dân cũng còn có rất nhiều cảm khoái khác nữa đối với dung nhan nữ giới.
- Thân mình :Nếu chúng ta ngày nay đi tìm cái đẹp trên bóng dáng mảnh mai của người đàn bà, và ví người đàn bà đẹp như cành mai, cây liễu, thì chính mỹ cảm của người xưa cũng không khác mấy. Họ cũng quan niệm thân hình người đàn bà đẹp phải mảnh mai, ẻo lả. Họ ví người đàn bà với cây trúc :
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Cây trúc là một loài cây mảnh khảnh và rất dịu dàng trước gió. Nhưng cây trúc muốn cho mọi người thấy cái đẹp thì phải là cây trúc mọc ở bờ ao mới có giá trị. Còn người đàn bà mảnh mai không cần lệ thuộc vào cảnh vật, bất kỳ họ đứng nơi nào cũng vẫn thấy đẹp. Như vậy người đàn bà mảnh mai có giá trị tuyệt đối mà người bình dân thời xưa đã muốn nói lên điều đó.
Trong truyện kiều, Nguyễn-Du tả sắc đẹp của nàng Kiều như :
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Thì cũng không ngoài cái ý tưởng của người bình dân đã có từ ngàn xưa.
Cho thân hình mảnh mai, ẻo lả là đẹp, nên họ tán thưởng những cô gái lưng ong :
Những người thắc đáy lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Thật ngộ nghĩnh. Tại sao những cô gái có thân hình ẻo lả lại khéo chiều chồng ? Chiều chồng bằng cách nào ? Chúng ta rất khó truy cứu, vì đó chỉ là một kinh nghiệm của tiền nhân, họ không sống với lý luận mà sống với thực nghiệm.
Người con gái lưng ong chẳng những là nguồn mỹ cảm đối với lớp người bình dân, mà cả đến những anh đồ nho cũng đem lòng luyến ái. Bằng chứng anh đồ nho làm thơ mơ ước cô gái lưng ong :
Con gái nhà ai ấy vậy mà…
Lại đây ta hỏi có hay là…
Môi son má phấn hình như thể…
Mắt phụng lưng ong ấy cũng là…
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn…
Nói năng phải lẽ giống con nhà…
Phải chi ta được mà ta để…
Ta để làm chi, để nữa ta…
Phải chăng các anh đồ nho cũng đã đạt được yếu tố thực nghiệm của người bình dân, cho cô gái lưng ong là hạng người khéo chiều chồng, nuôi con ?
Ngày nay, với thế hệ chúng ta, nguồn mỹ cảm ấy vẫn chưa phai mờ. Các chàng trai vẫn còn xem lưng ong là một thần tượng của thẩm mỹ, và chính các cô gái đương thời dù đã có nhiều thay đổi vẫn còn giữ được nguồn thẩm mỹ của ngàn xưa !
Tiền nhân của chúng ta vì thích cái đẹp của thân hình ẻo lả nên đã bất mãn với những người đàn bà có thân xác không được mảnh mai. Họ bảo :
Những người béo trục, béo tròn,
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày !
Thực ra dù ngày nay có một nhà tâm lý học nào uyên bác đến đâu, cũng khó giãi bày được tại sao người đàn bà béo tròn lại hay ăn vụng và đánh con ? Tuy nhiên, chúng ta đừng tưởng lời nói của tiền nhân là vu vơ. Khi một kinh nghiệm đã được di lưu hằng bao nhiêu thế hệ, dù không tìm được nguyên nhân chúng ta cũng không thể nào phủ nhận giá trị của nó.
Quan niệm mảnh mai, ẻo lả của người thời xưa cũng không có nghĩa là ốm yếu. Theo họ thân hình mảnh mai phải là thân hình cân đối, không ốm, không mập, không cao không thấp. Bởi vậy rất ít người đạt được tiêu chuẩn về thẩm mỹ của họ, khiến nhiều cô gái đã phải bực mình, bất mãn :
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn,
Lớn chê béo trục béo tròn.
Gầy chê xương sống xương sườn bày ra !
Thật khắt khe ! Nhưng đây là nguồn mỹ cảm chung cho một lớp người của một thế hệ, nó không có tính cách cá nhân. Nếu là quan niệm cá nhân thì không thể đóng khung cái đẹp vào một quy luật nào cả. Nếu có người chê mập thì lại có kẻ tìm trong cái mập ấy những cái đẹp riêng biệt của nó. Hoặc có người chê ốm thì lại có kẻ tìm cái đẹp riêng trong cái ốm ấy. Ở đây, chúng ta không đi tìm mỹ cảm cá nhân mà đứng trước quan niệm của tập thể đại đa số viết thành qui luật chung cho cái đẹp của dân tộc trong dĩ vãng.
- Khuôn mặt :Khuôn mặt đẹp thường là khuôn mặt sáng sủa và đầy đặn. Ngày nay chúng ta ca tụng khuôn mặt trái soan, nhưng người xưa lại không thích. Họ cho khuôn mặt chữ điền (vuông) mới là đẹp. Họ bảo :
Má miếng bầu coi lâu muốn chửi,
Mặt chữ điền tiền rưỡi cũng mua.
Tại sao mặt chữ điền lại đẹp ? Điều đó thật khó giải thích. Có lẽ người xưa thích những gì ngay thẳng, hồn nhiên nên quan niệm vuông vắn là đẹp chăng ?
Vì cho khuôn mặt vuông vắn là đẹp, nên họ không thích má miếng bầu, vì má miếng bầu tuy mới nhìn có vẻ hấp dẫn, song nhìn lâu lại thấy không có vẻ thành thực, đứng đắn.
Từ chỗ không thích cái má miếng bầu đi đến chỗ họ chê những khuôn mặt phục phịch mà họ cho là mặt mo (dày như cái mo cau) :
Mấy người phúng phính mặt mo,
Chân đi chữ bát dẫu cho không màng.
Mặt mo quả không đẹp tí nào ! Đã không đẹp mà còn biểu lộ tánh nết điêu ngoa nữa.
Trong truyện Kiều, Nguyễn-Du cũng đã gắn cho anh chàng điêu ngoa sở khanh một khuôn mặt mo. Vậy tác giả truyện Kiều có chịu ảnh hưởng quan niệm về thẩm mỹ của người bình dân chăng ?
Tục ngữ có câu : « Mặt dày mày dạn » cũng để chỉ cho những khuôn mặt lì lợm, điêu ngoa. Và mặt dày đây cũng có nghĩa là mặt mo.
Chẳng những họ không thích những khuôn mặt mập tròn và phúng phính, mà họ còn chê những khuôn mặt không cân đối nữa. Họ bảo :
Thà rằng chịu lạnh nằm không,
Còn hơn lấy gái lẹm cằm răng hô.
Như vậy, chỉ có mặt chữ điền là khuôn mặt lý tưởng nhất đối với họ, nên họ có những tình cảm thiết tha :
Chân em đi dép quai ngang,
Mặt vuông chữ điền liền vành cá chôi.
Ta thương mình lắm mình ơi !
Cá chết vì mồi, khốn nạn vì ta.
Hoặc :Cổ tay em vừa trắng trừa tròn,
Mặt mũi vuông vức, chồng con thế nào ?
Tuy nhiên, khuôn mặt chữ điền chỉ mới là cái đẹp khái quát, mà trên đôi má vuông vức của khuôn mặt ấy cũng còn điểm thêm hai đồng tiền nữa thì mới hoàn mỹ.
Má núng đồng tiền, đối với họ, sẽ làm khuôn mặt thêm duyên mỗi khi vừa nói.
Người bình dân thời xưa đã xem đôi má có núng đồng tiền như là một hấp lực đáng kể của nữ giới, mà người đàn ông không thể nào không lưu ở đây một ít cảm tình.
Chúng ta tìm thấy tâm trạng của họ qua các câu ca dao như :
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má núng đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua.
Hoặc :Vào vườn trẩy quả cau non,
Anh thấy em dòn, muốn kết nhân duyên.
Hai má có hai đồng tiền.
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.
Như vậy, má núng đồng tiền không phải không quan trọng đối với thẩm mỹ của người thời xưa.
- Làn da :Trên đây chúng ta đã thấy da trắng tóc dài là nguồn mỹ cảm của người bình dân rồi. Họ đã ca tụng.
Nước trong ai chẳng rửa chân,
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.
Và, họ rất thích những cổ tay tròn trịa, trắng mịn như :
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau.
Tuy nhiên, da trắng đối với họ là tính chất tự nhiên, không vì điểm tô son phấn. Đó là một khái niệm khác hẳn với lớp người quí tộc. Trong lúc những cô gái quí tộc mượn phấn son để làm màu cho sắc đẹp, thì người bình dân lại chống đối. Họ bảo :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Họ quan niệm sắc đẹp là do thực chất của mỗi người, không phải vì điểm tô mà lừa dối ai được. Cho nên từ chỗ chuộng làn da trắng họ lại châm biếm những kẻ đem son phấn để phỉnh phờ :
Cô kia đen thủi đen thui,
Phấn đánh vô hồi, đen vẫn hoàn đen.
Đối với họ, phấn son không cải biến được con người. Chỉ có cái đẹp thiên nhiên mới là cái đẹp có giá trị. Bởi vậy, người bình dân dù là họ không trắng bằng da phấn, họ vẫn tự phụ với giá trị thực chất của nó. Họ bảo :
Trắng da vì bởi phấn dồi,
Đen da vì bởi em ngồi chợ trưa.
Nói như thế có nghĩa là họ đánh giá giữa thực chất và giả tạo. Họ cho những cái giả tạo không xứng đáng để so sánh với thực chất.
Một cô gái nghèo khổ phải dầm dãi nắng mưa, da họ có đen đủi thật, nhưng cái đen đủi ấy là cái đen đủi do hoàn cảnh sinh hoạt tạo nên, vì nếu họ được rảnh rang ngồi trong mát, chưa chắc những kẻ phấn son đã đẹp hơn họ. Như vậy, cái trắng của phấn son, và cái đen đủi của sương gió đều là những cái giả tạo cả, không phải là cái đẹp hay cái xấu của thực chất, phải vượt ra ngoài sự giả tạo ấy, nghĩa là không cần phấn son, vẫn dầm mưa dãi nắng mà vẫn giữ được màu da trắng, thì đó mới là cái đẹp của thiên nhiên, của thẩm mỹ.
Người bình dân không ưa phấn son, nhưng chuộng da trắng tức là thẩm mỹ của họ gắn liền với cái đẹp thiên nhiên ấy.
Xét như thế không phải chúng ta bênh vực lớp người bình dân, bởi vì người bình dân là những anh nông phu, những cô thôn nữ đầu tắt mặt tối, có bao giờ được ăn không ngồi rồi đâu. Thế thì cái đẹp mà họ ca tụng không phải là cái đẹp của ăn không ngồi rồi là cái đẹp xuất sắc trong lớp người chân lấm tay bùn ấy.
Cho nên, nếu họ không thừa nhận cái đẹp của phấn son thì họ cũng không thừa nhận cái đẹp của kẻ ăn không ngồi rồi. Họ bảo :
Trắng da nhờ bởi má cưng ?
Đen da vì bởi lội bưng vớt bèo.
Cái đẹp của người bình dân phải là cái đẹp trong sức lao động thì mới có giá trị, và mới được họ trọng vọng.
Cũng như hoa sen, tuy mọc trong bùn mà không vấy bùn, đó mới là điều xuất sắc của loài hoa.
Dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nắng mưa, sương gió đã làm phai nhạt biết bao nhiêu sắc đẹp của lớp người cần cù chất phác kia, đến nỗi tâm tư họ cảm thấy chứa chan đau khổ :
Thân em như quả ấu gai,
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi, nếm thử mà xem,
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi !
Tuy là lời than thở, song cũng là tiếng nói uất hận đối với đời sống kham khổ của họ.
- Đôi mắt :Nếu đôi mắt là giác quan tế nhị nhất của con người dùng để xét đoán ngoại vật, thì đôi mắt cũng là nguồn giao cảm sâu sắc nhất giữa con người với con người. Con mắt diễn đạt tình cảm con người không bằng lời nói mà bằng những đường nét riêng của nó khiến tâm tư con người có thể trao đổi nhau một cách trầm lặng. Chính vì vậy mà xưa nay về phương diện thẩm mỹ, loài người đã để ý nhiều nhất trên cái đẹp của đôi mắt. Người ta đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để diễn tả cái đẹp huyền diệu của đôi mắt, nhưng họ vẫn chưa hài lòng, vì tiếng nói loài người không đủ để diễn tả những kỳ quan chứa đựng trong đôi mắt, mà chỉ có tâm tư con người mới tìm thấy được trọn vẹn. Một vài nét buồn đọng trên khóe mắt, một vài tia sáng lóe qua rèm mi… chỉ một chút ít hiện tượng nhỏ nhặt và thông thường như vậy, ngôn ngữ loài người cũng đã không sao nói lên hết những bí ẩn của nó, huống hồ đôi mắt là một bầu vũ-trụ của tâm tư, tuy bé nhỏ, nhưng lại mênh mông trong địa hạt biến ảo, đến nỗi con người phải ngộp thở khi lạc vào cõi huyền diệu ấy.
Họ đã gào thét, rên rỉ rất nhiều, để mong cho tiếng gào thét của họ có thể thay thế được ngôn ngữ, nói lên ít nhiều sự bí ẩn của cái đẹp trong đôi mắt, nhưng cuối cùng cũng thất bại, vì tiếng nói của loài người có một công dụng hữu hạn, mà sự huyền diệu trong cái đẹp của đôi mắt là vô biên, cho nên muốn diễn tả cái đẹp của đôi mắt người ta chỉ còn có cách dùng tâm tư để diễn tả tâm tư, tức là cái đẹp tiềm tàng của vũ-trụ diễn tả cái đẹp huyền diệu của đôi mắt.
Thưởng thức cái đẹp trên đôi mắt, và diễn tả cái đẹp không bằng ngôn ngữ mà bằng tâm tư, chính người bình dân thời xưa cũng đã dùng đến phương pháp ấy.
Chúng ta thấy các câu ca dao như :
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau.
Thì quả người bình dân đã dùng một hiện tượng để cắt nghĩa một hiện tượng. Ngôn ngữ con người không có tiếng nói nào để diễn tả được cái tầm mức sắc sảo của cái liếc mắt, chỉ có chiếc dao cau mới nói lên phần nào sự sắc sảo ấy. Chiếc dao cau sáng láng và sắc bén nhất trong các loại dao, mà chỉ có người bình dân sống trong thực tế mới phát sinh những ý tưởng so sánh như vậy.
Một nhà văn không phải trong giới bình dân, cũng đã dùng phương pháp đem hiện tượng giải thích một hiện tượng để ca tụng cái đẹp trong đôi mắt :
Người đẹp từ hai khóe mắt
Làm mờ những ánh ngọc trân châu
Làm phai mặt nước hồ thu thắm
Làm nhạt bao nhiêu ánh nhuộm màu.
Khác với người bình dân, nhà văn bác học không đem chiếc dao cau sánh với đôi mắt, mà đem sự sáng chói của châu ngọc, đem sức trong trẻo của hồ thu để diễn tả.
Đi xa hơn nữa, những nhà văn học còn đưa cái đẹp của đôi mắt vào lãnh vực siêu tưởng, tượng trưng, để thần thánh hóa sự huyền diệu ấy ra ngoài sức sống hiện tại của con người.
Đây, chúng ta thử đọc một đoạn trong bài thơ « Đôi mắt » của Bích-Khê :
Hỡi đôi mắt ! Nơi người là ngọc thạch
Nơi giếng người phản chiếu ánh thiên thần
Nơi suối người giữ kín tiếng châu ngân
Nơi triển lãm cả một bầu tiên động
Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
Người là ai ? Người hỡi ! Người là ai ?
Tuy nhiên, các nhà thơ bác học dù có đi đến lãnh vực tượng trưng, siêu tưởng hay thế nào đi nữa cũng không thoát ra ngoài phương pháp dùng hiện tượng giải thích một hiện tượng thay cho ngôn ngữ, mà chính người xưa cũng đã đạt đến bước đầu của phương pháp ấy.
Thưởng thức cái đẹp trên đôi mắt người bình dân thời xưa không có những cảm giác thần tượng hóa như những nghệ sĩ trong thế hệ chúng ta ngày nay. Tuy tiếng nói của họ mộc mạc, không đủ để nói lên mỹ cảm của mình song họ vẫn xem cái đẹp của đôi mắt là cái đẹp của con người. Họ nhận xét :
Người khôn con mắt đen sì,
Người dại con mắt nửa chì, nửa thau.
Không cần phân tích nhiều, không cần đem tâm tư mình đến một thế giới nào xa xôi, chỉ cần một vài so sánh giữa cái đẹp và cái xấu, người bình dân đã cho chúng ta thấy rõ mỹ cảm của họ không phải kém tinh vi. Nếu Nguyễn-Du tả đôi mắt đẹp của giai nhân như một « làn thu thủy » thì cũng chỉ để nói lên sự trong suốt của đôi mắt mà thôi. Người bình dân nhìn màu đen trong đôi mắt là hiện tượng của sự minh mẫn, sắc sảo, khôn ngoan. Cái đẹp phát lộ từ màu đen ấy. Sự nhận xét của họ tuy thông thường nhưng thực tế dễ hiểu hơn chúng ta.
Nhưng, đối với họ, đôi mắt đẹp có những yếu tố như sắc sảo, lanh lẹ, đen nhánh chưa đủ, mà phải tròn trĩnh nữa. Bởi vậy họ chê những người mắt hí :
Những người ti hí mắt lươn,
Trai thì ăn cướp, gái buôn chồng người.
Ti hí mắt lươn có nghĩa là mắt dài mà không mở rộng ra được. Đối với họ mắt lươn đã không đẹp, mà còn biểu lộ tính dâm đãng, hoang đàng nữa.
Không thích mắt lươn, nhưng họ cũng không thích mắt lồi. Loại mắt nầy họ cho là mắt ốc, đã không hợp với mỹ cảm mà còn xấu xa, hung hang. Họ bảo :
Mấy người con mắt ốc nhồi,
Có tài đánh vợ, đập nồi đập niêu.
Nhưng con mắt lá răm thì họ lại cho là đẹp :
Mấy người con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Lá răm có hình một đầu to, đầu nhỏ. Quan niệm mắt lá răm là đẹp chính họ đã chú trọng đến hai khóe mắt và tìm thấy đó là nơi diễn biến tình cảm con người một cách độc đáo. Xưa nay sử sách đã ghi lại biết bao thành nghiêng nước đổ vì đôi mắt của giai nhân !
Cùng với quan niệm cho đôi mắt lá răm là đẹp, người bình dân thời xưa cũng còn dành rất nhiều mỹ cảm với đôi mắt bồ câu.
Mắt bồ câu tuy tròn trĩnh, không có đôi khóe sắc sảo, song đối với họ, mắt bồ câu lại chứa đựng nhiều cảm tình ! Tâm tư của họ được gắn liền với đôi mắt bồ câu trong các câu ca dao như :
Cầm vàng ném xuống vực sâu,
Mất vàng không tiếc, tiếc đôi mắt bồ câu hữu tình.
Như vậy nguồn thẩm mỹ của người bình dân thời xưa đối với đôi mắt cũng không phải là lãnh đạm lắm.
- Làn môi :Nếu đôi mắt là bầu trời vũ trụ của tâm tư, chứa đựng tính chất biến ảo mà cảm giác con người không thể nào đón hết, thì làn môi lại là một vườn hoa muôn sắc, tô điểm cho bầu vũ trụ biến ảo của tâm tư thêm linh động hơn.
Một nụ cười thoáng đọng trên môi, khi khóe mắt long lanh vài tia sáng thì chính đó là một mùa xuân đầy ấm áp. Nhưng nếu khi rèm mi đẫm lệ, đôi môi hồng khép kín thì đó chính lại là một mùa đông lạnh lẽo, u buồn. Và rèm mi không đến nỗi quá ẩm ướt, khóe mắt thoáng đọng hơi sương, sắc hoa trên môi không được tươi thắm, thì đó lại là một mùa thu chứa đầy thơ mộng… Chúng tôi không muốn nói đến mùa hạ, cái mùa mà đôi mắt nẩy lửa tàn phá mọi cánh hoa đẹp trên sắc môi hồng, làm cho cảm giác con người bị nóng bỏng, khó chịu…
Người bình dân thời xưa nếu đã đem tâm tư gắn liền với cảnh vật thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm nguồn cảm hứng, dĩ nhiên không thể tách rời nguồn thẩm mỹ của mình đối với mọi diễn biến của tâm tư, mà làn môi con người là vườn hoa muôn sắc.
Thưởng thức cái đẹp trên làn môi ví với các cánh hoa như :
Nụ cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Cái đẹp của thiên nhiên được họ gắn liền với cái đẹp của con người.
Nguồn thẩm mỹ của chúng ta ngày nay cũng không khác gì nguồn thầm mỹ của người bình dân thời xưa, chúng ta cũng chỉ có thể diễn tả cái đẹp trên làn môi bằng những cái đẹp của các đóa hoa mà thôi.
Đây, một nhà thơ hôm nay đã diễn tả cái đẹp của làn môi qua nụ cười :
Một cười héo cả trăm hoa nở
Say cả con sông, đắm cả trời !
Đuổi cả mối sầu muôn vạn kiếp
Bẽ bàng tất cả những màu tươi !
Tuy nhiên, nếu ngày nay chúng ta chỉ chú trọng cái đẹp trên hai bờ môi bằng nụ cười, bằng tính chất khát vọng của yêu đương, thì người xưa lại còn một tầm quan sát tế nhị hơn chúng ta nữa. Theo họ làn môi muốn cho đẹp, ngoài việc đỏ mọng, còn phải đều đặn, không mỏng, không dày, không cong, không quặp. Điều đó biểu lộ tinh thần thực tiễn của họ. Họ đã đem mỹ quan nhìn thẳng vào sự vật để phân tách cái đẹp của thực tế ấy. Vì vậy, họ đã có những nhận xét như sau :
Mỏng môi ăn vụng nhà trong,
Dày môi nói láo, cong môi ăn hàng.
Môi mỏng, môi dày, môi cong đối với họ đều không phải những làn môi gợi cảm mà còn chứa đựng những tánh nết xấu xa.
Tầm mắt họ chẳng những chỉ nhìn vào cái đẹp, cái xấu trên hai làn môi, mà còn nhìn chung cả cái miệng nữa.
Miệng rộng đối với người đàn bà không được họ tán thưởng. Họ châm biếm :
Đàn ông miệng rộng thì sang,
Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà.
Hoặc :Đàn ông rộng miệng có tài,
Đàn bà miệng rộng điếc tai láng giềng.
Rộng miệng ở đây tuy họ dùng nghĩa bóng (rộng họng lớn tiếng) nhưng không phải vì thế mà cái miệng rộng không bị họ chê bai.
- Chân mày :Chân mày là đường nét điểm trang cho khuôn mặt, đồng thời cũng biểu lộ những tình cảm con người qua trạng thái tâm tư.
Cũng như chúng ta ngày nay, người xưa đã phân biệt những kiểu chân mày như : chân mày vòng nguyệt, chân mày lá liễu, chân mày rô, chân mày ngài vv…
Tuy nhiên, dù loại chân mày nào, cái đẹp vẫn có chỗ sắc sảo. Người ta đã ví đường chân mày vòng nguyệt, một nét vẽ trên đỉnh núi mùa xuân, hoặc một làn sóng uốn cong trên mặt nước… Tất cả hình bóng ấy cũng chỉ để diễn tả cái sắc sảo của nó mà thôi.
Theo ca dao thì người xưa thích nhất là hai loại chân mày : chân mày lá liễu và chân mày vòng nguyệt.
Họ ca tụng chân mày lá liễu như :
Những người con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Cũng như lá răm, lá liễu hình thon, có một cái đuôi rất nhọn. Cái nhọn của lá liễu chứa đựng một hiện tượng sắc bén phù hợp với đôi khóe mắt lá rămChính nhờ hai mũi nhọn ở khóe mắt đuôi mày mà vẻ mặt con người trở nên sắc sảo. Nhiều giai nhân đã dùng nó sát hại không biết bao nhiêu anh hùng háo sắc. Cho đến người nông phu, chân lấm tay bùn cũng mê mệt vì nó, và cũng sợ hãi đến nỗi phải than thở :
Nhà anh chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
Cầu này cầu ái cầu ân,
Một trăm con gái rửa chân cầu nầy.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.
Thật là hài hước, châm biếm ! Tuy nhiên, trong cái hài hước, châm biếm ấy lại nói lên được tính chất độc địa của đôi chân mày sắc sảo ấy. Cái sắc sảo đến nỗi cá dưới ao còn phải lăn đùng ra chết, huống hồ con người, một sinh vật biết háo sắc !
Trong « Cung oán ngâm khúc » chính Ôn-như Hầu cũng đã nhân cách hóa sự vật để nói lên cái đẹp của nàng Phi Tần :
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa.
Cái đẹp « chim sa cá lặn » thiết tưởng không còn cái đẹp nào hơn. Xem thế, cảm giác của một nông phu và một trí thức đôi lúc cũng có chỗ gặp nhau.
Nếu họ đã thấy đôi mắt lá răm phù hợp với đôi mày lá liễu, thì họ cũng thấy đôi mắt bồ câu phải đi đôi với đôi mày vòng nguyệt.
Đôi mày vòng nguyệt không có đuôi nhọn như đôi mày lá liễu, song lại chứa đựng nhiều tình cảm, cái tình cảm ủy mị, quyến rũ hơn là cái đẹp sắc sảo. Họ bảo :
Chân mày vòng nguyệt thì thương,
Chân mày mũi mác là phường dâm ô !
Chân mày mũi mác cũng có cái nhọn nhưng cái nhọn trực trần bộc lộ tính nết dâm dật, họ không thích.
- Đôi vú :Theo bài khảo luận về « Văn học bình dân nữ giới » trong Phụ nữ tân văn số 15 ngày 8-8-1929, ông Phan-Khôi có viết : « Ở Trung-kỳ và Bắc-kỳ vẫn có phong tục nịt vú cho nhỏ lại. Tục nầy hình như ở Nam-kỳ không có. Bên Tàu cũng có tục nầy, nhưng gần đây người ta cho là hại sức khỏe, nên có cuộc cổ động cho đàn bà không nịt vú nữa. Đó là cuộc đấu tranh giải phóng bộ ngực đàn bà mà họ gọi là « Nữ tử hung bộ chi giải phóng ». Cuộc đấu tranh nầy cũng công phu lắm, chẳng khác cuộc đấu tranh bài trừ phong tục bó chân của người Mãn-thanh »
Xem thế, chúng ta thấy rằng nguồn mỹ cảm của chúng ta ngày nay đã đổi khác và đi đến chỗ ngược lại.
Nếu người xưa vì thích vú nhỏ phải nịt lại cho hợp với thẩm mỹ, thì ngày nay chúng ta lại cho vú lớn là đẹp, nên phải độn thêm. Nịt lại hay độn thêm đều là những hành động ràng buộc, có hại đến sức khỏe cả. Nhưng việc đó thuộc phạm vi nghiên cứu của những nhà y học, đây chúng ta không bàn đến.
Lãnh vực chúng ta cần bàn đến là nguồn gốc của cái đẹp. Tại sao người xưa cho vú nhỏ là đẹp, trái với thẩm mỹ của chúng ta ngày nay ?
Thực ra phong tục nịt vú là phong tục ảnh hưởng do nền văn hóa Trung-quốc. Người Trung-quốc thuở xưa vì chú trọng đến đạo học, nên quan niệm cái đẹp phải trong kín đáo, không phô bày, lộ liễu ra ngoài. Nguồn mỹ cảm của họ thoát thai trong một xã hội, do đó cảm tính con người bị đóng khuôn vào lý trí, do lý trí điều khiển. Mọi hiện tượng sỗ sàng đều bị coi là bất chính cả. Nền đạo lý Trung-quốc du nhập sang nước ta, quan niệm thẩm mỹ vẫn ảnh hưởng vào lớp người quí tộc, và chỉ có lớp người quí tộc mới chịu ảnh hưởng về phong tục nịt vú mà thôi. Người bình dân Việt-nam không hề chịu ảnh hưởng ấy.
Trong bài khảo luận về « Văn học bình dân nữ giới », ở báo Phụ nữ tân văn số 15 ngày 8-8-1929, ông Phan-Khôi đã căn cứ vào câu ca dao :
Trên đầu em đội khăn vuông,
Trông xuống dưới ngực cau buồng còn non.
Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,
Mặt mũi vuông vắn, chồng con thế nào ?
Và kết luận rằng : « Cau buồng còn non là cái vú nhỏ. Người bình dân vẫn cho cái vú nhỏ là đẹp. »
Theo chúng tôi, nếu Phan tiên sinh chỉ căn cứ vào một câu ca dao như vậy mà xác định một quan điểm thẩm mỹ của người bình dân thời xưa e không chính xác.
Nếu quan niệm vú nhỏ là đẹp thì tất nhiên thị hiếu quần chúng bắt buộc các cô thôn nữ đều phải nịt vú hết, và quan niệm người bình dân sẽ đồng hóa với quan niệm duy lý của lớp người quí tộc, và cả quan niệm duy lý của người Trung hoa nữa. Ở đây, chúng tôi thấy trái lại.
Trước hết, chúng tôi không đồng ý với Phan tiên sinh về lời giải thích câu ca dao trên. Theo chúng tôi, « cau buồng còn non » không có nghĩa là tán thưởng cái vú nhỏ, mà có ý ca tụng tuổi dậy thì của cô gái mới bước vào vườn xuân. Vậy, câu ca dao trên không có nghĩa là người bình dân thời xưa vú nhỏ. Nếu họ có thích là thích cái tuổi dậy thì của cô gái ấy.
Mặt khác, người bình dân là người đầu tắt mặt tối, sắc đẹp của họ bao giờ cũng phú thác cho thiên nhiên, đẻ con ra phải cho bú có lúc nơi xó bếp, có lúc trên mặt đê, có lúc banh ngực ra trước cửa nhà. Lối sinh hoạt như vậy chứng tỏ họ không bị ràng buộc vào nguồn thẩm mỹ của duy lý. Trái lại, họ cũng không có ý phô trương để khêu gợi dục tính như những cô gái thế hệ chúng ta ngày nay. Nguồn mỹ cảm của họ dựa vào qui luật đang lên của sức sống không chịu ràng buộc, cũng không chịu giả tạo, họ chỉ tán thưởng những gì tự nhiên của tạo hóa. Vậy chúng ta không thể gắn cho họ một mỹ cảm nào khác hơn là thích cái đẹp tự nhiên của tuổi xuân thời.
Chính họ đã nói lên cái quan niệm ấy trong các câu ca dao như :
Nước sông Ba chảy qua sông Cú,
Thấy dạng em chèo hai cái vú nơ nơ.
Một bộ ngực tròn trịa của cô gái chèo thuyền trên sông đã làm cho các chàng trai đồng nghiệp tán thưởng như vậy, chúng ta không thể nào bảo họ thích vú nhỏ được. Và đây, một cô thôn nữ than thở với chồng :
Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xếch lưng eo hỡi chàng.
Thì rõ ràng chúng ta thấy họ mến tiếc cái đẹp tròn trịa của tuổi xuân thì.
- Giọng nói :Giọng nói tuy bên ngoài sắc diện, song đối với mỹ cảm con người không phải không quan trọng. Xưa nay người ta cho hai yếu tố thinh và sắc đều có tác dụng đi vào cảm giới con người.
Thời xưa, người bình dân tuy cần cù, chất phác, lời nói của họ không văn hoa, bay bướm, song không vì thế mà cảm giới họ không thu nhận nổi hấp lực trong địa hạt âm thanh.
Một giọng hát vắt vẻo trên lưng đồi, ngân vang trong ngàn cây nội cỏ. Một giọng hò lả lướt mông lung theo ánh trăng hòa lẫn với tiếng chày khua, chính đó là hoàn cảnh đưa giá trị của âm thanh vào nghệ thuật. Người bình dân suốt đời sống trong ruộng lúa nương dâu, vui với câu hò, tiếng hát, dĩ nhiên không thể không có một nguồn mỹ cảm đối với âm thanh được.
Từ cái trong trẻo của giọng hò tiếng hát đi dần đến giọng nói thanh tao của con người trong lúc tư tình, dĩ nhiên đó là chuyện tất yếu. Đành rằng họ không cần đến lời nói hoa mỹ, khuôn phép, họ chỉ cần những câu nói hồn nhiên, chân thật. Song trong cái hồn nhiên, chân thật ấy họ lại thích có được giọng nói quyến rủ của con người.
Lời nói hoa mỹ là do khả năng của con người tạo nên, nhưng giọng nói thanh tao là do thiên nhiên đúc kết. Không phải vì tính chất cần cù, mộc mạc mà người bình dân không có được giọng nói thanh tao.
Đối với họ giọng nói thanh tao là do thiên phú. Bởi vậy, trong ca dao bình dân chúng ta thấy rất nhiều chỗ phân tích cái đẹp trong giọng nói con người. Thí dụ :
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Giọng nói lại thường đi đôi với hình dung. Cho nên người đẹp nói tiếng không thanh tao thì cái đẹp ấy cũng giảm mất giá trị, ngược lại người đẹp mà nói tiếng thanh tao thì cái đẹp ấy càng tăng giá trị.
Vì chuộng giọng nói thanh tao, trong trẻo, họ đã đem tiếng nói con người ví với tiếng chuông ngân :
Người thanh tiếng nói cũng thanh,
Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu.