Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
G) Tâm Tư Con Người Đối Với Ngoại Vật
G) Tâm Tư Con Người Đối Với Ngoại Vật

❊ ❊ ❊

Từ ngàn xưa, các nhà văn bác học đều quan niệm rằng tâm hồn người bình dân hầu hết gắn liền với mây ngàn cỏ nội, ruộng lúa nương dâu. Bởi lẽ cuộc sống của họ không tách rời những cảnh vật ấy.

Nhận xét trên không sai ! Cảnh vật đối với tâm tư con người có liên hệ mật thiết. Những buồn, vui, hờn, giận, đau đớn, thích thú… trong bản năng con người không bao giờ độc lập với vũ trụ cả.

Chính người bình dân thời xưa đã quan niệm như vậy, và họ đã nói lên tiếng nói của quan niệm họ :

Người vui thì cảnh cũng vui,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Hoặc : Khi vui non nước cũng vui,

Khi buồn sáo thổi, kèn đôi cũng buồn.

Họ đã thấy tâm tư gắn liền với ngoại vật, và ngoại vật là tấm gương phản ảnh của tâm tư, mà cũng là nơi chứa đựng tình cảm con người. Họ đem tình cảm phủ lên cảnh vật, và gởi vào cảnh vật những tâm tư trong cuộc sống.

Như vậy, đối với họ, cái vui buồn của ngoại vật chỉ là sản phẩm của tâm tư.

Không, tuy họ thấy cảnh vật diễn biến theo tâm tư họ, nhưng rồi họ lại thấy tâm tư họ bị ảnh hưởng rất mạnh ở ngoại vật :

Ngồi buồn khuấy nước giỡn trăng,

Nước xao trăng lặn, buồn chăng hỡi buồn !

Tâm tư con người không thể tách rời ngoại cảnh, thì cũng không thể nào độc lập được với ngoại cảnh. Nếu vũ trụ vì sự mâu thuẫn chung của tạo vật, phát sinh cảnh nắng mưa, gió bão, thì chính tâm tư con người cũng vì sự mâu thuẫn chung trong cuộc sống mà diễn biến qua nhiều trạng thái của tâm tư. Tâm giới và ngoại giới đều là sản phẩm của vũ trụ. Con người không có gì cả. Con người với vũ trụ cũng chỉ là một. Hay nói cách khác, con người là một bộ phận của vũ trụ không thể đứng riêng ra ngoài qui luật thiên nhiên để tạo thành vũ trụ, trong đó có con người.

Xưa nay, người ta quan trọng hóa con người, cho tâm giới con người là một đối tượng của vũ trụ, thành thử họ phân tách giữa tâm và vật, nhưng nếu chúng ta quan niệm con người với vũ trụ là một, thì vấn đề tâm và vật cũng chỉ là của vũ trụ, và sự diễn biến ngoài vũ trụ với sự diễn biến trong tâm tư cũng chỉ là một sợi dây chằn chịt có liên hệ mật thiết với nhau, do yếu tố mâu thuẫn chung trong qui luật sinh diệt mà thôi.

Bởi vậy, nếu chúng ta cho cảm giới người bình dân gần gũi với cảnh vật hơn những lớp người khác thì cũng chỉ mới đúng trên quan điểm cá biệt, mà chưa đúng trên quan điểm duy nhất.

Trên quan điểm cá biệt chúng ta thấy người bình dân Việt-nam sống về nông nghiệp, cảnh sắc của núi sông hun đúc họ có một tình cảm bao la hơn, từ cái vui, cái buồn của họ đều phảng phất qua cảnh vật, và mọi diễn biến của cảnh vật được tâm tư họ tiếp nhận làm thành cái buồn, cái vui của tâm tư họ.

Nhưng nếu chúng ta đứng trên quan điểm duy nhất của cảm giới con người, thì chúng ta lại thấy không những chỉ có người bình dân mới đem tâm tư hòa vào cảnh vật và thu nhận những trạng thái của cảnh vật gói vào vào tâm tư mà tất cả mọi người không ai tránh khỏi sự liên hệ giữa tâm tư và ngoại cảnh.

Một cô gái phòng khuê sống trong phong lưu đài các, cảm giới của họ không thể vì bốn bức tường ngăn cách thân phận họ mà tâm tư họ tách ra khỏi ngoại vật. Bởi vì, khi nói đến tổ chức xã hội loài người, chúng ta thấy có sự phân chia giai cấp, nhưng khi nói đến con người, chúng ta lại thấy nó chỉ là một. Con người của phòng khuê cũng như con người của đồng nội, trong phạm vi thiên tánh, tức là trạng thái biến động của vũ trụ, thì họ vẫn như nhau.

Ai dám bảo cô gái phòng khuê không mang những ưu tư trước mây ngàn cỏ nội ! Ai dám bảo cô gái khuê phòng không thể thu nhận ở cõi lòng mình những sắc thái của thiên nhiên ! Tâm tư con người đều giống nhau trước qui luật biến động của vạn hữu, chỉ khác nhau ở lãnh vực giao cảm, nghĩa là trạng thái đúc kết của tâm tư do sinh hoạt xã hội phân hóa mà thôi.

Bởi vậy, trong phạm vi tâm giới và ngoại giới, chúng ta không thể nào phân biệt giai cấp bình dân hay quí tộc, mà chúng ta thấy tất cả đều là con người, và cùng chung một vũ trụ.

Cái buồn của cô gái phòng khuê có thể không giống cái buồn của cô thôn nữ, cái vui của cô thôn nữ không giống cái vui của cô gái phòng khuê, nhưng tác động của tình cảm, nghĩa là sự gắn bó giữa cái vui và cái buồn của hai cô gái đối với ngoại cảnh thì vẫn như nhau. Cả hai cô đều nhận được cái vui, cái buồn từ tâm tư mình diễn biến ở ngoại cảnh, và sự diễn biến ngoại cảnh tác động vào cái buồn cái vui trong tâm tư mình.

Do đó từ một anh chàng nghệ sĩ, một cô gái lầu xanh, một nàng khuê phụ, một gã nông dân, cho đến các bậc vua chúa không ai tách rời được tâm tư với cảnh vật, và tất cả đều phải dùng mọi diễn biến của tâm tư, bởi vì cảnh vật và tâm tư đều là trạng thái của vũ trụ.

Nói như thế cũng có nghĩa là không phải chỉ có người bình dân sống gần gũi với thiên nhiên mới đem tình cảm mình hòa vào thiên nhiên, gắn liền với cảnh vật những sắc thái của tâm tư, mà tất cả mọi người, dù trong từng lớp nào, cũng đem tâm tư đi tìm cảnh vật, và thu nhận những trạng thái biến động của cảnh vật làm yếu tố giao cảm của tâm tư mình.

Đây, một nàng chinh phụ đã đem tâm tư mình giao cảm với cảnh vật trong cái buồn nhớ nhung của cô gái phòng khuê :

Hoa đãi nguyệt, nguyệt in một tấm,

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,

Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,

Trên hoa dưới nguyệt, trong lòng xiết đau.

(Chinh phụ ngâm)

Như vậy, đủ thấy dù phải sống trong bốn vách tường của xã hội duy lý, người chinh phụ vẫn không bị bốn bức tường ấy làm ngăn cách giữa tâm tư và ngoại cảnh.

Còn đối với người thôn nữ, sống giữa cõi bao la, trời mây bát ngát, trong cái buồn nhớ nhung luyến ái, tâm tư họ cũng chỉ hòa vào cảnh vật, không khác gì cô gái phòng khuê :

Gió đưa trăng thì trăng đưa gió,

Trăng lặn rồi, gió biết đưa ai !

Tình cảm của cô gái phòng khuê và cô gái đồng ruộng đối với ngoại cảnh quả không khác gì nhau cả.

Cho đến một cô gái lầu xanh, khi buồn đã đem tâm tư gieo vào cảnh vật :

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một mầu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi… !

(Kim Vân Kiều)

Thì đối với cái buồn của một cô thôn nữ sống trong thửa ruộng nương dâu, vẫn không khác mấy :

Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ,

Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?

Buồn trông chênh chếch sao mai,

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?

Đêm đêm tưởng dãi ngân hà,

Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,

Tào-khê nước chảy hãy còn trơ trơ… !

Đã không một bầu tâm tư nào không chứa đựng cảnh vật, thì cũng không có cảnh vật nào thoát ra ngoài tâm tư. Diễn biến của cảnh vật và tâm tư vẫn là diễn biến chung của vạn hữu.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thừa nhận trạng thái diễn biến vạn hữu là trạng thái cố định, thì chúng ta lại cũng phải thừa nhận tánh chất đổi thay của vạn hữu qua thời gian và không gian.

Tâm tư con người cũng vậy. Sự diễn biến của tâm tư và cảnh vật tuy cố định, nghĩa là bất kỳ thời gian và không gian nào, tâm tư con người cũng không thể nào tách rời cảnh vật, nhưng trong cái không thể tách rời ấy lại có chỗ khác nhau, qua thời gian, không gian, và qua sự biến thái của mọi chế độ xã hội.

Như vậy có nghĩa là con người không khác nhau trong lãnh vực duy nhất của vũ trụ, và không giống nhau trong lãnh vực biến dịch. Tính chất của vũ trụ đối với con người là tính chất nhất thể, còn tính chất biến dịch đối với vạn hữu là tính chất đa thể, lệ thuộc vào cá biệt.

Buồn vui là trạng thái của tâm tư, dù cho người ngàn xưa, hay người của muôn nghìn thế hệ về sau vẫn không thay đổi. Tiền nhân của chúng ta có buồn, có vui, và chúng ta ngày nay cũng có buồn, có vui. Trạng thái tâm tư có khác gì đâu ? Tiền nhân của chúng ta đã đem cái buồn vui ấy gởi gắm vào cảnh vật, và thu nhận ở cảnh vật những diễn biến làm tình cảm cho tâm tư, thì ngày nay chúng ta cũng đem những buồn vui của chúng ta trao đổi với ngoại cảnh. Cũng chẳng có gì khác nữa.

Nhưng cái khác biệt của tiền nhân đối với chúng ta là tính chất cái buồn, cái vui ấy.

Tính chất của cái buồn, cái vui giữa tiền nhân và chúng ta không thể giống nhau được. Đó chính là yếu tố biến dịch của thời gian và không gian. Cho nên khi chúng ta đem con người trở về với con người thì mọi người đều giống nhau, và khi chúng ta đem con người trở về với cuộc sống thì mọi cái lại khác nhau.

Ở đây chúng ta không đi tìm con người trong tính chất vũ trụ mà đi tìm con người trong tính chất biến dịch. Chúng tôi muốn nói đến cuộc sống bình dân, nên chúng ta lại phải cứu xét đến tính chất của tâm tư họ khi đã bị hòa vào cuộc sống.

Cuộc sống chi phối tình cảm con người, và gieo vào cảm giới con người một tính chất riêng rẽ, mà chúng ta gọi là tâm trạng.

Người bình dân đem tâm trạng hòa với ngoại vật, tìm ở ngoại vật những buồn vui đang phát khởi trong lòng họ, và coi ngoại vật cũng chính là lòng họ.

Quan niệm ngoại vật, nội tâm đồng nhất như vậy, chính người bình dân đã gần với lẽ sống thiên nhiên.

Đây, chúng ta thử tìm vào cảm giới của họ khi đứng trước thiên nhiên :

Chim bay về núi tối rồi,

Không cây nó đậu, không mồi nó ăn !

Một cánh chim lạc loài trong hoàng hôn tận cuối trời đã làm cho họ nghĩ đến cảnh cô đơn, đói khát và không nơi nương tựa. Họ cảm thấy thân phận con chim cũng như thân phận con người, và tất cả muôn loài trong vũ trụ đều chịu chung số phận như nhau. Sự thương xót bản thân đi đến sự thương xót ngoại vật, và cảm giác của họ là cảm giác bình đẳng trước cuộc sống.

Không những họ mang ý thức bình đẳng giữa con người và con người, mà tính chất bình đẳng của họ còn bao trùm cả muôn loài vạn vật nữa. Cho nên cảm nghĩ họ khi hòa vào ngoại vật đã vượt quá giới hạn con người.

Bởi vậy, lúc nào họ cũng nhân cách hóa ngoại vật như :

Cá lý ngư sầu tư biếng lội,

Con chim trên cành sầu cội biếng bay !

Nhân cách hóa sự vật không với mục đích bắt sự vật phục vụ cho cảm giới con người, mà để diễn tả tính chất độc lập, bình đẳng của ngoại vật.

Khác với tính chất bình dân, các nhà văn bác học trong giai cấp quí tộc cũng nhân cách hóa sự vật, nhưng họ nhân cách hóa không phải với tinh thần bình đẳng, độc lập trước cuộc sống, mà họ nhân cách hóa với dụng ý để phục vụ cảm giới cá nhân họ.

Ví dụ khi cần diễn tả một sắc đẹp tuyệt mỹ của nàng Phi-Tần, Ôn-như Hầu đã mượn chim cá để nói lên :

Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,

Lửng da tời nhạn ngẩn ngơ sa ?

Chim sa cá lặn vì nhìn thấy sắc đẹp của nàng Phi-Tần, vậy cảm giác của tác giả đối với ngoại vật chỉ là gán ép và điều khiển. Con cá, con chim với tác giả cũng là loại cá chim phong lưu và không sống được ngoài vòng phong tỏa của ý thức con người.

Nguyễn-Du, tác giả truyện Kiều đối với ngoại vật cũng thế. Ngoại vật chỉ xoay quanh cảm giới con người để phục vụ cho lẽ sống con người.

Khi tả sắc đẹp của nàng Kiều, ông viết :

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh ?

Sự ghen của hoa, của liễu là chỉ để phục vụ cho sắc đẹp nàng Kiều mà thôi.

Đối với người bình dân ngoại vật không cần phải phục vụ cho cảm giới con người, mặc dù vẫn được họ nhân cách hóa :

Chú mèo trèo lên cây cau,

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đàng xa,

Mua mắm mua muối, giỗ cha chú mèo.

Mèo chuột vẫn sống tự do, vẫn bình đẳng và độc lập với cuộc sống loài người, không bị sự bắt buộc hiện diện của nó để phục vụ cho mục đích nào trong cảm giác con người cả.

Sự sống con người càng phức tạp, tâm tư chiếm đoạt của con người càng gay gắt thì cảm giới con người càng đi lần vào chỗ độc tài, ý thức con người đi lần đến chỗ ngự trị ngoại vật. Bởi vậy tâm tư của chúng ta ngày nay nếu nói đến ngoại vật thì đó chỉ là ý thức bắt buộc ngoại vật phục vụ cho cảm giới chúng ta mà thôi.

Nếu chúng ta được nghe một thi nhân tả mùa thu :

Con nai vàng ngơ ngác,

Đạp trên lá vàng khô.

(LTL)

Thì con nai vàng và chiếc lá khô kia chính là sở hữu trong cảm giới mà tác giả bắt buộc nó phục vụ cho hình ảnh của mùa thu.

Người bình dân trái lại, không dùng tính chất bắt buộc ấy đặt ngoại vật độc lập với cảm giới.

Chiều chiều vịt lội cò bay,

Con voi bẻ mía chạy ngay vô rừng.

Con vịt, con cò, con voi, cây mía xuất hiện trong cảm giới họ không chịu sự điều khiển ý thức của họ, mà chỉ hoạt động theo hệ thống thiên nhiên, cũng như họ đi cắt cỏ, gánh phân… thế thôi. Cảm nghĩ của họ đối với ngoại vật là độc lập, bình đẳng và tương quan. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ, khi trong ca dao bình dân đầy dẫy những câu hát, như :

Cái cò là cái cò con,

Mẹ đi xúc tép để con ở nhà

Mẹ đi một quãng đường xa,

Mẹ sà chân xuống phải mà anh lươn.

Ông kia có cái thuyền nan,

Chỉ vào ao rậm xem lươn bắt cò

Ông kia chống gậy lò cò,

Con lươn tụt xuống, con cò bay lên.

Chúng ta đừng tưởng những bài hát như thế đối với họ không có ý nghĩa. Tâm tư chúng ta ngày nay bị thời gian đúc kết do không biết bao nhiêu phức tạp của cuộc sống, khiến chúng ta không còn giữ được bản chất hồn nhiên nữa, thì làm sao thu nhận và hòa hợp nổi cảm giới của người xưa ?

Ngày nay mỗi ý nghĩ, mỗi cảm giác chúng ta khi hòa vào ngoại vật, nếu không rên rỉ kêu than thì cũng bắt ép hình bóng của ngoại vật phải phụng sự cho cuộc sống tinh thần của chúng ta. Đó là kết quả của một chuỗi thời gian mà loài người đã dùng lý trí đưa xã hội loài người trải qua những cuộc chém giết, xâu xé đến tận cùng.

Tâm tư người xưa không phải như tâm tư của chúng ta. Họ không biết lợi dụng, họ không bắt những cánh én phải dệt cho họ những mùa xuân để họ thưởng thức. Họ không bắt rặng liễu phải rủ tóc buồn đứng chịu tang để tô điểm một mùa thu trong cảm giới của một thi nhân. Họ không bắt mặt nước hồ thu phải cau mày lại để diễn tả cái giận dữ của một cô gái đẹp khi họ thích. Họ không lấy màu sắc đậm đà trên đỉnh núi mùa xuân để diễn tả bộ ngực đẹp của giai nhân mà các nhà thơ ca tụng… Không, hình ảnh ngoại vật đi vào tình cảm của họ không bị lợi dụng, không bị nô lệ cho cảm giác họ, không bị bắt ép phục vụ cho tham vọng của một tâm hồn họ. Tính chất người bình dân không muốn lợi dụng ai, không muốn lợi dụng ai, không muốn bắt ai nô lệ cho mình, nên họ cũng không thể bắt hình bóng ngoại vật phải phụng sự cho tham vọng cảm giác họ được. Họ xem sự sống của ngoại vật cũng độc lập và bình đẳng như sự sống của họ.

Trạng thái ấy đã biểu lộ rõ rệt qua các câu hát hồn nhiên và vô tư như :

Con mèo con chó có lông,

Cây tre có mắc, nồi đồng có quai !

Chúng ta cho là vô lý, thiếu ý nghĩa ! Phải ! Nó vô lý đối với chúng ta, bởi vì chúng ta đòi hỏi ngoại vật lúc nào cũng phục vụ cho cảm giới chúng ta cả, nếu nó tách rời nhiệm vụ ấy thì trở thành vô lý, thiếu ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa của người bình dân thời xưa sống trong tâm tư hồn nhiên, không đem tình cảm chinh phục ngoại cảnh, thì đối với họ không là vô lý !

Mà, tại sao lại vô lý ? Tại sao chúng ta lại bắt họ phải tưởng tượng con mèo con chó không có lông ? Hoặc, chúng ta bắt họ tưởng tượng lông con mèo con chó bóng láng và óng ả như những giọt sương đọng trên suối tóc giai nhân ? Không, tâm hồn người bình dân không như tâm hồn của chúng ta ngày nay. Họ cũng muốn ngoại vật được sống độc lập, tự do như tâm hồn của họ, không bị áp chế và lợi dụng.

Khi mà tâm hồn của họ đối với cuộc sống còn hồn nhiên, chất phác như :

Rủ nhau xuống biển bắt cua,

Lên non bắn nhạn, lên chùa nghe kinh.

Thì cảm giới của họ đối với ngoại vật cũng phải hồn nhiên và chất phác như :

Ngó lên đám bắp trổ cờ

Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông.

Hoặc : Chiều chiều én liệng trên trời

Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây.

Tâm tư hồn nhiên, chất phác của người bình dân trước ngoại vật như vậy, chúng ta tưởng không lấy gì làm lạ.

Trong quyển « Phong tục miền Nam », ông Đào-văn-Hội đã nghe lời một cụ già sửa lại câu hát :

Con mèo con chó có lông

Cây tre có mắc, nồi đồng có quai.

Chúng tôi xin trích lại đoạn ấy :

« Đây, tôi xin mở dấu ngoặc, và nhắc lại câu ta thường nghe hát :

Con mèo con chó có lông

Ống tre có mắc, nồi đồng có quai.

Thật hiển nhiên quá ! Có gì lạ đâu ?

Nhưng một cụ già mà chúng tôi được hầu chuyện cho biết rằng câu ấy truyền tụng sai, chính ra phải như sau mới đúng :

Con gà con vịt cũng không,

Bóng tre có mát, ngoài đồng không ai.

Ấy là cảnh đồng buổi trưa vắng vẻ nông phu đã về nhà, gà vịt tìm nơi tránh nắng, chỉ có khóm tre bóng mát, giữa cánh đồng rộng rãi bao la… »

Thật ra chúng tôi không đồng ý với sự sửa chữa bằng cách suy nghiệm như vậy. Nếu bảo câu hát « con mèo con chuột có lông » là vô lý, không có gì lạ, thì những câu như :

Ngó lên đám bắp trổ cờ

Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông.

Hoặc : Chiều chiều én liệng trên trời,

Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây.

Lại có gì lạ, hoặc hữu lý đâu ? Chúng tôi tưởng cái lạ, cái hữu lý chính là trạng thái tâm hồn của người xưa, trạng thái tâm hồn khác biệt với trạng thái tâm hồn chúng ta ngày nay. Cho nên những vết tích tâm tư, lưu lại với thời gian, chúng tôi thiết tưởng nên cố gắng tìm hiểu hơn là thay đổi.

Vì tâm tư người bình dân thời xưa mang tính chất hồn nhiên, vô tư, phản ảnh ngoại vật, cho nên ngoại vật cũng hồn nhiên, vô tư như tâm trạng họ. Cũng chính vì thế mà tâm giới họ đã đưa ngoại vật hòa hợp vào cuộc sống thực tiễn của họ đến nỗi chúng ta thấy tâm giới và ngoại cảnh hình như muốn lẫn lộn cùng một sinh hoạt xã hội.

Trạng thái ấy biểu lộ rất rõ rệt qua những bài hát sau đây :

Cái cò chết tối hôm qua

Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

Một đồng mua trống mua kèn

Một đồng mua mỡ đốt đền thờ vong

Một đồng mua mớ rau rong

Đem về thái nhỏ thờ vong con cò

Tâm tư họ hòa vào ngoại vật đưa sức sống của ngoại vật vào cảm giới : con người với tính chất tương đồng, không riêng rẽ. Nếu họ có những đau buồn, băn khoăn, mến tiếc trước cái chết của người thân, thì họ cảm thấy ngoại vật cũng biết đau buồn, mến tiếc trước cái mất mát ấy.

Bởi vậy, tình cảm họ bàng bạc trước mọi sinh vật, như :

Cái cò đi đón cơn mưa,

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về !

Cò về thăm gốc cây đề

Giương cung anh bắn cò về làm chi ?

Cò về thăm bác thăm dì

Thăm cô xứ Bắc, thăm dì xứ Đông.

Tình cảm đối với ngoại vật cũng như tình cảm giữa con người với con người. Nhưng giữa con người và con người có những mâu thuẫn vì lẽ sống, còn tình cảm họ với ngoại vật chỉ chứa đựng tính chất thương yêu mà thôi. Ví dụ :

Cóc chết để nhái mồ côi

Chẩu ngồi chẩu khóc : chàng ôi là chàng !

Ễnh ương đánh lệnh đã vang,

Tiền đâu mà trả nợ làng ngóe ơi !

Từ con cóc, con nhái, con cò, con vịt… đến muôn loài vạn vật, đối với tâm tư người bình dân trước lẽ sống như bình đẳng.

Nhưng tại sao tâm hồn họ đối với vạn vật muôn loài lại có sự bình đẳng như vậy ? Dĩ nhiên đó là trạng thái thiên nhiên. Tâm tư họ chưa bị lịch sử tranh đấu của loài người làm biến chất.

Đã sẵn có tình thương đối với muôn loài vạn vật như vậy cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi một anh nông phu dắt trâu ra đồng hát vang lên :

Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Hoặc họ đặt địa vị con trâu ngang với con người :

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,

Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa.

Nhà đạo đức học thường nói : « Muốn biết trình độ văn minh của một dân tộc cao hay thấp người ta có thể xét ngay ở cách dân tộc ấy đối đãi với loài vật ».

Thật vậy, nếu những hành động chặt đuôi chó, cắt tai mèo không phải là những hành động văn minh thì chính người bình dân Việt nam ta thưở xưa cũng không đến nỗi man rợ.

Đây, chúng tôi xin lược trích một vài hình ảnh đã in trên những làng quê đất Việt thuở xưa, được ông Hoa-Bằng ghi lại trong quyển « Dân tộc tính trong ca dao Việt-nam » xuất bản tại Hà-nội năm 1952 :

« …Một cô bé độ 12, 13 tuổi, chễnh chệ ngồi trên lưng con bò mẹ dưới bóng hoàng hôn.

Đàng xa xa, con bê con mà cô thường gọi quen nó bằng tiếng nựng nịu là « Mế », đang mải miết ăn hết đám cỏ nọ lại ngoạm đến chòm cỏ kia. Nó ăn mãi… rồi lại la cà nô đùa, quên cả đường về.

Cô bé ngồi trên lưng mẹ « Mế » cất tiếng thương yêu gọi Mế :

Mế ơi là con bò Mế !

Mế hương, Mế hoa,

Mế cà, Mế rợ,

Mế ở ba mùa.

Ai mua chẳng bán,

Ai hoạn chẳng cho,

Cắt cỏ ăn no.

Cày bừa cho đỡ mẹ Mế

Mế ơi là con bò Mế !

Mế ! Mế ! Mế !

Giọng cô lanh lảnh, rung động cả bầu không khí phẳng lặng êm đềm… Người ta ngẫm nghĩ mãi về bài « Gọi Mế » của cô mới hiểu tình thương của cô đối với con bò con. Cô cắt cỏ nuôi cho nó ăn, ai muốn mua nó cô cũng chẳng bán, ai hoạn nó cô cũng chẳng cho. Cô hy vọng trong vài ba năm nữa Mế lớn lên sẽ giúp đỡ mẹ Mế trong công việc cày bừa, khiến mẹ Mế khỏi phải một mình vất vả…

Cũng một chiều, trên sườn đồi đi về mấy chiếc nhà tranh lẻ tẻ, dưới rặng sim, những tàu lá thô sơ nhuộm đẫm ánh tà vàng lợt, mấy cô gái thơ ngây mộc mạc ngất ngưởng trên lưng trâu, véo von hát :

Nghé ơi là nghé !

Nghé khôn theo mẹ

Nghé dại theo đàn

Nghé chớ ăn càn

Người ta đánh nghé !

… … …

Một nhát đến tai

Hai nhát đến đầu !

Lấy tiền đâu, của đâu

Chuộc lấy đầu lâu

Mang về trả mẹ Nghé !

Đó là mấy bài ca mục đồng đầy ý nghĩa thương yêu loài vật. Đó cũng là những nét biểu hiện lòng bác ái bao la, man mác của dân tộc Việt-nam… »

Bản chất người bình dân ngày xưa bắt nguồn từ tâm tư hồn nhiên, tạo cho cảm giới họ có một đặc tính vô tư, bình đẳng và độc lập trước cuộc sống ngoại vật. Tuy nhiên, xã hội loài người không đứng yên, dòng thời gian trôi mãi, mỗi bóng mặt trời khi đi qua là là mỗi vết tích ghi lại trên lịch sử xã hội loài người. Bởi vậy, những gì chất phác hồn nhiên trong cảm giới cũng không thể bảo tồn được. Tâm tư người bình dân cũng theo lịch sử thời gian biến thiên. Từ những câu hát vô tư, mộc mạc chuyển sang ý thức đau buồn, khắc khoải như :

Vì mây cho núi lên trời,

Vì chưng gió thổi, hoa cười với trăng.

Vì sương cho núi bạc đầu,

Vì đâu mưa nắng cho rầu rĩ hoa.

Tâm tư đau buồn của họ phát xuất từ cuộc sống xã hội loài người chuyển vào cảnh vật, và chính cảnh vật đối với họ cũng chịu một thân phận đau khổ như họ :

Thương cho thân thể quả dừa,

Non thì khoét mắt, già cưa lấy đầu.

Hoặc : Thương thay thân phận con rùa,

Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia.

Tuy nhiên, càng đau đớn trước những biến thái của xã hội loài người, người bình dân càng đem tình thương gắn vào ngoại vật. Chỉ có những kẻ bị mất tình thương trước cuộc sống loài người mới thấy tình thương là quí giá. Họ muốn nói lên cái quí giá ấy bằng cách chia xẻ nỗi khổ đau của muôn loài vạn vật xung quanh họ.

Một tiếng dế kêu giữa đêm trường cũng đủ làm cho tâm tư đau khổ của họ nổi dậy hòa lẫn với tiếng dế ấy ! Ví như :

Lòng thương con dế ở hang

Nắng mưa phải chịu sõi sàng tiếng kêu !

Một luồng gió thổi qua, một chiếc lá vàng rơi, họ cũng cảm thấy xót xa cho thân phận của cây cối.

Đố ai quét sạch lá rừng,

Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.

Chính họ cảm thấy chẳng những loài người tạo cho mình một cuộc sống khổ đau, mà muôn loài vạn vật trong vũ trụ cũng bị sức mâu thuẫn của thiên nhiên tạo cho chúng những đau khổ chẳng kém loài người.

Chỉ có kẻ đau khổ mới thấy được đau khổ ! Người bình dân là lớp người thấp thỏi nhất trong xã hội nên thấy khổ đau nhiều hơn ai hết. Bởi vậy lòng nhân đạo dễ kích động đối với họ.

Tính chất ấy đã biểu lộ qua các câu ca dao rất cảm động như :

Chiều chiều bắt nhái cắm câu,

Nhái kêu cái ẹo, thảm sầu nhái ơi !

Móc một con nhái vào lưỡi câu, tiếng kêu đau đớn của con nhái đã làm cho họ liên tưởng đến thân phận đau đớn của họ trước cuộc sống loài người !

Hỡi những bậc vua chúa thời xưa trong cung vàng điện ngọc ! Bên tai các ngài lúc nào cũng bị tiếng đờn, tiếng tiêu du dương mãi, chắc các ngài chưa bao giờ được nghe tiếng đau đớn của một con nhái bị mắc vào lưỡi câu, để xem thử lòng mình có nhói lên một cảm giác thương hại như người bình dân chăng ?

Nhưng thôi ! Chúng ta hãy trở lại với người bình dân !

Cuộc sống của người bình dân càng đau khổ thì tâm tư của họ lại đi lần vào tình thương ; cho nên cảm giới của họ đối với ngoại vật rất gần gũi và khắng khít. Họ gắn liền tâm tư họ với cảnh vật.

Một lỗ chân trâu, một chiếc gàu tát nước, một con đường mòn, một tiếng gà gáy ban mai… tất cả những gì có liên hệ đến đời sống họ đều được họ xem như tình bạn.

Đây, chúng ta nghe một cô gái giãi bày tâm tư họ đối với ngoại vật :

Giả ơn cái cối cái chày,

Nửa đêm gà gáy, có mày có tao !

Giả ơn cái cọc bờ ao,

Nửa đêm gà gáy, có tao có mày !

Thì không còn tình cảm nào thống thiết hơn.

Cuộc sống đã đưa lớp người bình dân đi lần vào trạng thái khổ đau, nên tâm tư họ đối với ngoại vật cũng lần lần tiến tới trạng thái ấy. Cảnh vật trở thành nơi chứa đựng những khắc khoải ưu tư của họ.

Tóm lại, nếu chúng ta thừa nhận tâm tư và ngoại giới là hai lãnh vực ảnh hưởng mật thiết với nhau thì chúng ta có thể gọi đó là hai người bạn.

Khi đã là bạn, tất nhiên phải có những tâm hồn gần gũi nhau.

Cho nên, nếu nguồn văn chương bác học đã chọn trong cảnh vật một người bạn hào hoa, phong nhã, bóng bẩy, lả lướt… để hợp với tâm hồn họ thì chính người bình dân lại chọn trong cảnh vật một người bạn cần cù, chất phác, đau khổ, xót thương… để hợp với cảm giới họ.

Cũng chính vì vậy mà chúng ta ngày nay có hai dòng văn chương : Bác học và Bình dân.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.