Thi Ca Bình Dân Việt-nam

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
C) Ý Thức Thực Tiễn Trong Lẽ Sống
C) Ý Thức Thực Tiễn Trong Lẽ Sống

❊ ❊ ❊

Khác với mọi lớp người trong xã hội, lớp người bình dân không đem lý trí của họ khám phá thiên nhiên, tìm hiểu cơ cấu vũ trụ, hoặc sáng tạo một tổ chức xã hội để chế ngự cuộc sống loài người. Họ là lớp người bị trị, thấp cổ bé miệng, chỉ lo chống chọi với những bất công luôn luôn vây phủ lấy đời sống họ.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là họ không có những suy tư, cảm nghĩ về cuộc sống. Đã là con người, có một khối óc, dù ở tầng lớp nào, khi đã hòa mình vào lẽ sống, không thể không có những ước vọng. Ước vọng chính là sản phẩm của tâm tư, của sự đòi hỏi về nhân tính. Sự đòi hỏi ấy va chạm với mâu thuẫn của cuộc sống đem lại cho người bình dân những khắc khoải, suy tư, và đó chính là nguồn sống trong tâm giới họ, mà chúng ta gọi là nhân sinh quan.

Điều thiệt thòi đối với họ là những suy tư, cảm nghĩ ấy không được đúc kết thành hệ thống mạch lạc để dựng lên một ngôi nhà tư tưởng cho họ.

Ngôi nhà tư tưởng của họ không tạo dựng trong đơn thuần lý trí. Nó xuất phát ở lãnh vực tâm tư, bởi vì họ là những người chịu đựng trực tiếp với cuộc sống. Họ là con người hiện thực, sống bằng cuộc sống thiết thực, không bị bức màn giả dối của đạo lý bao phủ. Họ gần gũi, va chạm, đương đầu với tất cả mọi khía cạnh vật chất cũng như tinh thần mà lẽ sống con người bắt buộc phải có.

Vì họ sống bằng thực trạng nên tâm hồn họ trở nên thực tế, và những tâm tư của họ chính là những ý thức thực tiễn phát sinh từ trạng thái đích thực của lẽ sống mà ra.

Ở đây, chúng ta tìm hiểu ý thức thực tiễn của người bình dân thời xưa trong lẽ sống, nhưng chúng ta không đi vào những tuế toái của tâm tư họ, vì như thế chúng ta sẽ lạc vào một thế giới phức tạp mà không thể tìm thấy đâu là phương hướng.

Nếu ở những tiêu mục trước đây chúng ta đã đi sâu vào từng khía cạnh của tâm giới người bình dân, thì ở mục này chúng ta thử trèo lên đỉnh núi cao, nhìn chung vào những gì chúng ta đã đào xới được trong lãnh vực tâm tư họ, để đúc kết thành một quan niệm nhân sinh. Như vậy, cũng có nghĩa là chúng ta sẽ làm công việc tổng kết của nhà khảo cứu trong phần đầu của bộ sách này.

Trước hết chúng ta đặt vấn đề con người với lẽ sống.

Con người với lẽ sống, dù tự ngàn xưa, hay ngay trong thế hệ chúng ta, tâm tư vẫn nằm trong hai trạng thái phát triển xã hội. Hai trạng thái ấy là năng lực vật chất và năng lực tinh thần.

Năng lực vật chất phát sinh do khả năng tranh đấu của loài người với thiên nhiên để bảo tồn lẽ sống. Vũ trụ sinh ra loài người, nhưng loài người phải làm mới có ăn. Muốn sống, con người phải dùng đến sức lao động của mình. Cho nên, cuộc sống con người luôn luôn phải kể đến sức lao động, và sức lao động trở thành yếu tố thiết thực của cơm áo.

Tuy nhiên, sức lao động cũng chỉ mới là một phần quan trọng của lẽ sống, mà chúng ta còn phải kể đến trí khôn của con người nữa. Trí khôn con người lần lần xen vào sức lao động, làm cho sức lao động biến đổi năng xuất. Đó chính là kỹ thuật lao động.

Kỹ thuật lao động mỗi ngày một tinh vi, thì đời sống vật chất con người mỗi ngày một đổi mới.

Nhưng, nếu trí khôn con người luôn luôn cải tiến kỹ thuật lao động để tranh đấu với thiên nhiên, thì trí khôn con người lại cũng luôn luôn cải tiến mọi liên hệ giữa con người và con người để đem lại cho xã hội nguồn tinh thần tốt đẹp với ý sống.

Bởi vậy, chúng ta có thể qui kết mọi nỗ lực con người với lẽ sống chỉ là hai năng lực tranh đấu nằm trong hai chiều hướng trên, mà ngày nay chúng ta chia thành hai ngành học thuật, đạo học và khoa học.

Đạo học là ngành học về tinh thần, tìm trong khả năng nhân loại mối liên hệ mật thiết, đúc kết thành hệ thống tâm tư, hướng dẫn ý thức loài người theo một căn bản nhân nghĩa cao đẹp. Vậy đạo học là cái học dùng để cải tiến giữa con người và con người.

Khoa học là ngành học cải tạo vật chất, đào xới trong bộ óc những kỹ thuật lao động, đúc kết và phổ biến để giúp cho nhân loại đạt được một khả năng tranh đấu với thiên nhiên, đem lại cho loài người một sức sống phong phú. Vậy khoa học là cái học dùng để tranh đấu giữa con người với thiên nhiên.

Xét về sự tiến hóa loài người thì xưa nay chúng ta vẫn căn cứ trên hai lãnh vực khoa học và đạo học mà thôi. Khoa học và đạo học lại không thể tách rời. Bởi vì cả hai đều phụng sự cho lẽ sống con người, nếu thiếu một trong hai yếu tố ấy con người sẽ trở nên bi đát.

Qua những thế hệ gần đây, Tây-phương tiến nhanh về khoa học, còn Đông phương lại duy trì những căn bản đạo học để làm nền tảng cho lẽ sống. Sự tiến bộ không cân xứng giữa hai nền học thuật Đông Tây gây cho thế giới loài người một trạng thái chênh lệch và mâu thuẫn. Những điều đó chúng ta có dịp bàn đến ở một quyển sách khác. Ở đây chúng ta thử phân tách xem xã hội bình dân Việt-nam thời xưa có dựa trên hai ngành học thuật ấy mà tiến triển không ?

Khi nói đến học thuật, chúng ta thường dựa trên một hệ thống giáo dục, có chương trình, có trường ốc, có tổ chức. Nghĩa là chúng ta chỉ thừa nhận một nền học thuật khi đã được hệ thống hóa và một cơ sở giáo dục. Nếu quan niệm như thế, chúng ta sẽ đi đến sự phủ nhận xã hội bình dân Việt-nam thời xưa chưa có một nền học thuật nào cả. Nhưng nếu chúng ta quan niệm nền học thuật của dân gian không nhất thiết phải lệ thuộc vào hệ thống tổ chức, thì chúng ta sẽ thấy xã hội bình dân Việt-nam thời xưa vẫn phát triển theo hai chiều hướng khoa học và đạo học.

Về khoa học, khả năng sáng kiến của họ là những cải tiến kỹ thuật lao động thường ngày trong công việc làm ăn từ một nhát cuốc, đến một luống cày, họ đem kinh nghiệm của họ đúc kết thành những bài học không cần ghi chép bằng sách vở, mà chỉ phổ biến trong gia đình, con cái, truyền đạt những kinh nghiệm, sáng kiến ấy từ đời nọ qua đời kia. Tuy những sáng kiến và kinh nghiệp ấy không được đúc kết thành hệ thống giáo dục qua các trường đào tạo chuyên viên, song lối truyền đạt kinh nghiệm trong dân gian, chúng ta không thể phủ nhận giá trị học thuật của họ được.

Về đạo học, tuy họ không có những học thuyết minh định loài người đối với lẽ sống, trong cuộc sống của họ hàng ngày va chạm với thực tại, khiến tâm tư họ phát sinh không biết bao nhiêu cảm nghĩ khác đúc thành những tiếng lòng, di truyền từ đời nọ sang đời kia, qua các điệu hò, câu hát, để phản ảnh lẽ sống con người trước nhân đạo. Như vậy, chúng ta cũng không thể phủ nhận giá trị học thuật của họ được.

Xem thế thì hai nền đạo học và khoa học của loài người đã có từ ngàn xưa, không phải đến ngày nay chúng ta mới tìm thấy. Tuy nhiên, dù chúng ta có phân chia thành hai nền học thuật, song mục đích cũng vẫn là một, tức là cùng phụng sự cho lẽ sống con người : lẽ sống vật chất và lẽ sống tinh thần.

Mà lẽ sống con người không thể đứng độc lập, tách rời mọi biến chuyển của vũ trụ. Do đó, con người muốn cải tiến khoa học, muốn cải tiến đạo học, lại phải dựa vào những qui luật của vũ trụ để phù hợp với trạng thái thiên nhiên. Không một phát minh khoa học nào thành công mà không nhờ tìm hiểu qui luật vũ trụ. Cũng không một đạo lý nào áp dụng được vào cuộc sống loài người, nếu đạo lý ấy không căn cứ vào qui luật diễn biến chung của vạn hữu.

Vậy, chúng ta vượt lên trên hai lãnh vực đạo học và khoa học, trở vào thế giới tâm tư của người xưa, xem lớp người bình dân quan niệm thế nào đối với thân phận con người trước lẽ sống. Tìm được điều đó tức là chúng ta tìm được nền móng của ngôi nhà tư tưởng của họ, mà trong các phần trước đây chúng ta đã có dịp mổ xẻ.

Chúng ta cũng không gán cho họ những ý thức xa lạ, không phải là tư tưởng của họ, mà ở đây chúng ta chỉ gạn lọc những chiều hướng suy tư của họ, đúc kết thành những quan điểm căn bản của họ mà thôi.

Thân phận con người trước lẽ sống !

Đó là một vấn đề phức tạp và khó khăn mà từ trước đến nay loài người đã tốn không biết bao nhiêu công phu của khối óc để tìm tòi, nghiên cứu. Chúng ta hiện có một khối óc của người bình dân. Khối óc ấy đã hình thành qua bốn ngàn năm lịch sử. Tại sao chúng ta không tìm hiều họ, tìm hiểu cả một khối óc vĩ đại của một dân tộc mà chỉ đi tìm tới những bộ óc của từng cá nhận ? Không, theo chúng tôi nghĩ, nếu bỏ quên khối óc khổng lồ ấy, không tìm hiểu họ. không để họ đóng góp vào sự nghiệp tinh thần của nhân loại thì quả là chuyện thiếu sót.

Bởi vậy, chúng tôi muốn khai thác ở khối óc vĩ đại ấy, khối óc của hai mươi lăm triệu người, hay nói một cách thực tế hơn, khối óc của phần đông dân chúng sống gần gũi với thực tế, với thiên nhiên, trong khung cảnh âm thầm, trầm lặng ấy. Ai dám bảo là họ không có một cảm nghĩ, một nhận xét đúng đắn mà ngày nay, trước cuộc sống tao loạn, loài người không thế nào có được !

Hỡi tiền nhân của dân tộc ! Tại sao chúng tôi, người con của thế kỷ hai mươi này, lại phải viện dẫn đến những cảm nghĩ, suy tư của tiền nhân, mà từ trước đến nay mọi người bỏ quên, chỉ đi bới móc, tìm tòi những gì của ngoại lai, của cá nhân, để dùng làm căn bản cho lẽ sống ?

Thưa tiền nhân, chỉ vì từ trước đến nay, những gì họ ca tụng và được loài người trọng vọng, thì ngày nay chỉ là những đổ nát, hoang tàn.

Thử hỏi, qua dòng lịch sử nhân loại, loài người đã tìm thấy thận phận con người trước lẽ sống chưa ? Thế giới loài người ngày nay tự hào văn minh, tiến bộ, nhưng họ vẫn chưa giải đáp được câu hỏi ấy. Và khi chưa tìm ra giải đáp, họ vẫn lao mình vào những cuộc xâu xé, chém giết rùng rợn, đê hèn.

Ngoài kia, tiếng súng đang nổ ! Những tạc đạn đang sát hại hàng loạt người ! Bên tai chúng tôi, họ đang chửi bới nhau qua các kỹ thuật truyền hình, phát thanh, trong lúc họ ca tụng những thành công tực rỡ của khoa học về khả năng chinh phục không gian !

Thưa tiền nhân, loài người của thế hệ hai mươi chúng tôi có tiền bộ về khoa học thực. Họ có thể du hành lên nguyệt điện, phá núi lấp sông, nhưng khối óc thông minh tuyệt đỉnh của họ vẫn không sao hiểu nổi thân phận con người trước lẽ sống !

Con người phải làm thế nào trước lẽ sống để cho họ có một cuộc đời tươi đẹp ? Những tiến bộ khoa học không đáp ứng nổi điều đó. Hàng ngày bom đạn vẫn tiếp tục tước đoạt mạng sống của con người. Vành khăn trắng vẫn tìm ngự trị trên mái đầu xanh, và thảm họa của lẽ sống đưa tâm tư con người tiến dần đến bờ vực thẳm, ở đó bóng tối đen ngòm, khiến chúng tôi, lớp người của thế hệ gọi là văn minh trở nên hoài nghi tất cả những gì mà thế giới chúng tôi ngày nay đang tôn thờ, theo đuổi…

Nhưng mảnh tâm hồn của chúng tôi, những con người hôm nay, đang quằn quại với đau thương, không phải vì yếu đuối, mà vì không tìm thấy thân phận con người trước lẽ sống.

Chúng tôi xin ghi lại ở đây một trong muôn ngàn trạng thái tâm hồn của lớp người trẻ trung thế hệ chúng tồi để xác định điều đó :

« Vùng đêm đen đang vây phủ tôi, ngọn đèn dầu leo lét không làm sáng đủ trang giấy trắng mở trước mặt. Tôi cúi mặt ru hồn mình trong niềm đớn đau cùng tận, nghe thương nhớ vô vàn khép chặt đôi mi. Vùng bóng tối trước mặt, vùng bóng tối chung quanh, vùng bóng tối trong linh hồn con gái. « Can đảm lên con ». Mẹ tôi đã dặn mỗi lần bắt gặp tôi gục đầu trên hai trang giấy trắng hai mở to mắt nhìn trừng bào khoảng hư vô trước mặt. « Can đảm lên con », lời nói như một cơn bão ngân dài thành điệp khúc vang vang trong linh hồn tôi từ mấy hôm nay. Tờ điện tín màu xanh nhàu nát trong tay, tôi giương mắt đọc lại trăm nghìn lần đến thuộc lòng sau từng cơn mê sảng : « Đợi anh nha Linh Thương. Xong cuộc hành quân, anh về ngay ».

II chữ, II lời nói tràn trề hy vọng nuôi sống tôi qua những tháng năm dài mòn mỏi đợi chờ. Cuộc hành quân chấm dứt, các anh lính đã trở về đây tràn đầy những hàng nước, những sạp báo gần nhà tôi. Họ thả hồn theo khói thuốc trên những chiếc xe Lam toàn áo lính mà rôi vẫn bơ vơ, bóng dáng anh vẫn biền biệt phương nào. Một ngày sau khi tiểu đoàn về hậu cứ mới có một người lính đến đây, nhìn nét mặt anh, tôi đã hiểu ngay chuyện anh muốn nói. Nỗi đau đớn tê buốt cả tâm hồn, tôi gật đầu mời anh lính ngồi và yêu cầu anh đừng nói gì cả, tôi chỉ hỏi : « Bây giờ tôi phải làm sao ? » Anh lính cúi đầu : « Chị đi theo tôi ».

Chiếc xe Jeep chở tôi đi đến gặp anh, bóng dáng đó, hình hài đó nằm yên nghỉ nơi đây. « Hai giờ nữa chúng tôi liệm đi, giọng nói của anh lính làm tôi nghẹn ngào. Tôi quỳ xuống gục mặt bên cạnh anh. Thế là hết. Niềm đau đớn chai cứng trong linh hồn. Tiếng bật khóc của em anh, của mẹ anh làm tôi lịm ».

Tôi quỳ thẳng lên, hôn vào trán anh lần cuối cùng rồi lùi ra. Thời gian này không phải thời gian để khóc, còn phải lo nhiều giấy tờ thủ tục… Mẹ nhìn tôi : « can đảm lên con ». Vâng, con sẽ can đảm, con sẽ cố gắng hết sức.

Quan tài đã đưa về, hai hàng nến trắng, hai người lính bồng súng hai bên, người ta đến chia buồn, ai cũng khuyên tôi can đảm, ai cũng khuyên tôi nên chấp nhận một sự đã rồi.

Vâng, tôi gục đầu van lơn, đừng nói gì cả, đừng nói gì cả, tôi đã chấp nhận, và ngàn đời tôi sẽ chấp nhận mọi khốn khổ bất hạnh, xót xa đến trong đời tôi. Tôi mang tang, vành tang ngạo nghễ trên đầu xiết chặt mọi niềm vui trong lòng tôi. Vùng đêm đen khốn khổ của tuổi trẻ, còn một đứa con gái sinh ra đời mang tên thật nhỏ nhoi, hèn mọn : Linh Thương ! Chiếc quan tài nằm đó, nước mắt vây phủ chung quanh, vành tang trắng sáu mái đầu, tôi cúi mặt thần thờ. Tình yêu tôi ngàn đời xin chôn theo anh, xin chôn theo thi hài người lính màu mũ đỏ kiêu sa, ngạo nghễ, nhưng đầy thương yêu. Mẹ nhìn tôi, nhìn anh, mắt mẹ buồn héo hắt xót thương cho tình yêu đứa con gái đầu lòng đã gãy đổ.

Tôi lịm dần theo từng cơn mê sảng, trong giấc hôn mê, anh hiện về đẹp như một thiên thần, tôi gào thét, bám víu vì anh lại bay xa. Từng nắm đất buông rơi vội vã, từng nhát xẻng phũ phàng vùi sâu hình hài anh vào lòng đất. Tôi gào tên anh, tôi hét gọi hồn anh, từ cõi bên kia trở về cho những hiện tượng đang tiếp diễn trước mắt tôi đừng bao giờ là sự thật. Anh đi rồi, tràng đạn nào bay đến kết liễu đời anh ? Ai đã giết anh ?

*

Thân phận hôm nay, tuổi trẻ hôm nay là đó, toàn những nước mắt bi thương, toàn những đổ vỡ xót xa, toàn những vành tang góa phụ. Nỗi ray rứt thống khổ không nguôi trong lòng tôi, trong lòng những người dân cùng một niềm đau thời chinh chiến dày xéo quê hương hàng đêm, màn đêm phũ phàng bao lấy tôi, bao vây lấy cuộc đời tôi. Tiếng gọi nào không thoát nổi từ tiềm thức còn hằn sâu những đau buồn. Tôi chỉ biết gục mặt, cúi đầu, nấm mộ đùn cao như nỗi đớn đau dâng tràn trong lòng tôi.

Tôi cào cấu những nấm đất, xới tung ngôi mộ mới lấp để tìm lại di hài anh, tìm lại những thương yêu trong thoáng chốc bay đi, vùi chôn vào lòng đất. « Can đảm lên con », dư âm tiếng nói của mẹ còn vang lại đó. Niềm đau trong linh hồn tôi còn chất ngất lên cao. Tôi làm gì ? Làm gì để quên đi thực trạng phũ phàng trước mắt ?

« Nín đi Thương, mỗi người đều có một số mệnh, tất cả đã an bài. Rồi Thương sẽ quên, sẽ quên », lời Trâm, bạn tôi vang lên bên tai. Ừ, tôi sẽ quên, nhưng bao giờ tôi quên được ? Bao giờ rôi không còn nhớ gì nữa ? Hàng me già vãn rũ buồn bên vệ đường, thảm cỏ trước mặt tôi vẫn xanh như xưa, nhưng còn tôi, tôi có quên được để yên lặng như vậy không ? Chiều bên giáo đường với tháp chuông cao lồng lộng, với hình ảnh Chúa đau khổ cứu chuộc nhân loại, hình ảnh đức Mẹ dịu hiền tuyệt vời chỉ làm ấm linh hồn tôi trong thoáng chốc rồi quên đi. Tôi yếu kém đức tin quá rồi, chiến tranh đã cướp của tôi cả niềm tin tưởng bên chân giáo đường.

Tôi quá nhỏ bé hèn mọn đến nỗi đã để đánh mất tất cả. Tôi cố gắng vươn lên, vươn lên nhưng niềm tin đã bay vụt thật xa, tôi ngơ ngác nhìn theo, hai bàn tay bỗng thành bất lực. Tuổi trẻ hôm nay là đó, không có niềm tin để bám víu vươn lên. Người mình yêu thương nhất, trong một thoáng súng đạn tàn bạo cướp đi ngôi thần tượng bơ vơ, lạc loài, khốn khổ.

*

Giảng đường chiều thứ năm chỉ gợi lại trong tôi thật nhiều ray rứt. Tôi ngồi đây mà hồn tôi đi đâu ? Đó, những bạn sinh viên chung quanh tôi đó : những Trâm, Anh, Ngọc với vầng trán cao vô tư và Triệu với đôi kính trắng kiêu sa vời vợi. Họ đều hãnh diện với hai chữ sinh viên gắn trước hàng tên. Họ đều cao ngạo với những tình yêu mà người ta đang quỳ xuống dưới chân.

Tôi ngồi đây thu hình thật nhỏ nhoi, tầm thường. Tôi van xin cho tôi được quên, cho đừng nhìn gì cả, đừng nghe gì cả, cả tiếng giảng dạy sang sảng trên kia. Ngòi bút buông xuôi, không vẽ vời được hàng chữ nào. Con Trâm nhìn qua tôi ái ngại, không, đừng nhìn, nhìn vành khăn trên đầu tôi, trên áo tôi hay nhìn cho tôi một chút thương hại ? Không, quay đi, nhìn tôi, niềm đau của tôi sẽ bùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ.

7 giờ tối, tôi đứng lên rời khỏi giảng đường, những quyển sách trên tay, hai vạt áo dài trắng lê thê, tôi lách khỏi đám đông đó và đi thật nhanh về nhà. Chiếc Vespa đứng đợi bên kia đường, vẫn bộ mặt ấy, vẫn màu treillis ấy. Người lính thường đứng đây đợi ai, tôi không biết, nhưng có điều tôi biết người ấy không quen ai trong khu này, hình như anh đứng câm lặng nhìn một hình ảnh, một tà áo nào thì phải, vì mỗi lần đi được nửa đoạn đường tôi thường gặp xe anh chạy vượt qua, yên sau trống. Tự nhiên rôi nghe thương nhớ vô vàn. Anh ơi, sao người đó không là anh, không là anh đứng đợi em trìu mến đưa đón em về để bóng tối cô đơn không quyện lấy chân em, xoắn lấy tà áo em, ngập tràn đôi mắt em. Cơn lốc xoáy đau đớn lại bùng dậy trong bóng tối.

Tôi chạy thật mau, hai hàng nước mắt rơi lả tả… đường vắng, đèn lên hiu hắt. Duy, thằng em tôi trờ tới : « Chị, em chở chị về. » Tôi lặng lẽ ngồi vào băng sau.

Hai chị em tôi yên lặng suốt một quãng đường. Từ ngày anh chết, tôi và cả gia đình tôi, cả gia đình anh đều lặng lẽ âm thầm. Bóng tối, bóng đêm đang chụp phủ lấy người yêu anh, gia đình anh. Tuổi trẻ hôm nay là đó. Chiến tranh tàn phá gãy vụn tất cả. Anh nằm yên nghỉ, những người còn lại ngớ ngẩn mất hồn, ai cũng phải chấp nhận số phận cay nghiệt của mình. Cái chết thật phi lý, người kiêu sa thì cứ kiêu sa, người hèn kém gục mặt, cúi đầu thì cứ gục mặt cúi đầu. Tuổi trẻ hôm nay đó : một thoáng có, một thoáng quên, một thoáng bùng dậy nhưng cơn đau sẽ còn hành hạ đến khi nào khâm liệm được mình trong lòng đất sâu thẳm mịt mùng.

*

Tôi bỏ buổi học thực tập hôm nay. Đến nghĩa trang vuốt ve trong tay những đóa hoa màu trắng, màu tang tóc nghẹn ngào, màu thê thảm của tuổi trẻ của tôi. Tôi quỳ xuống đốt cho anh hai cây nến, nước mắt tôi thấm ướt những đóa hoa nằm im trong tay. Linh hồn rã rời, mệt mỏi. Anh nằm đây, tôi quỳ trên này cách xa nhau vài thước đất mà sẽ chẳng bao giờ được nhìn mặt nhau, chẳng bao giờ được nắm tay nhau dìu nhau trọn đường trần. Máu anh đã đổ ra, cuộc chiến thêm một người hy sinh, anh đi trọn đường anh, nhưng còn em : em mọn hèn, xót xa với vành tang trong linh hồn. Nhưng mà thôi… ngủ đi anh, ngủ đi anh.

Buổi chiều hôm nay thật êm và thật mát, em không nghe súng nổ, không nghe bom đạn reo vang trên quê hương, lòng đất thật yên, anh ngủ đi, anh ngủ đi anh, ngủ yên và trong giấc ngủ đó anh nhớ cầu nguyện cho quê hương mình được an lành, được hiền hòa. Ngủ đi anh, và cầu nguyện cho Nghĩa-trang Quân đội này đừng bao giờ có thêm một nấm mộ nữa, cho quê hương thôi hết chiến chinh. Em ở lại, em sẽ cố gắng, em sẽ đi vào con đường lý tưởng anh đã đi và cầu nguyện cho mãi mãi được ngủ yên, cho những người lính sẽ không còn gục ngã nữa. Để những đứa em, đứa cháu của em sau này đừng mang vành tang góa phụ khi tuổi vừa 19, để tuổi trẻ ngày sau tìm được sự chân thành, hòa đồng và tươi đẹp không như tuổi trẻ hôm nay mà anh, mà em đang lãnh nhận. »

Thắp hương cho người quá cố

NHẬT LINH THƯƠNG

(Trích Nhật-báo Công Luận số 419, 420, 421, 422)

*

Những tâm tư đau khổ trên đây không phải dành riêng cho con người sống trên đất nước Việt-nam, mà là những đổ vỡ cho tất cả nhân loại. Cho nên, phần lớn các nhà nghiên cứu triết học sử của thế hệ hai mươi đã phải thở dài, than : « Hiện tình thế giới loài người là một cảnh hỗn mang tao loạn !… »

Nhưng, cảnh hỗn mang tao loạn ấy là gì ?

Phải chăng loài người không tìm thấy thân phận con người đối với lẽ sống, và họ đã dùng những hiểu biết sai lầm của họ để đưa thế giới loài người vào những đổ vỡ, tang thương

Nếu vậy, thật đau buồn ! Và, chúng tôi tìm về thế giới tiền nhân, soát xét lại những tâm tư, những cảm nghĩ của mấy trăm thế kỷ trước về để tìm xem ở đấy có một tia sáng nào có thể giúp ích cho loài người mà bị thời gian che khuất, tưởng cũng không phải là chuyện vô ích

Người bình dân với tinh thần thực tiễn, tâm tư họ gần gũi với lẽ sống, nên những cảm nghĩ của họ luôn cọ xát với thiên nhiên. Lẽ sống và thiên nhiên phải phù hợp thì mới có thể đạt được trạng thái ổn định trong xã hội loại người

Bởi vậy chúng ta đi tìm nhân sinh quan. Mà nhân sinh quan là gì ? Nói một cách dễ hiểu thì nhân sinh quan chỉ là một ý thức dung hợp giữa lẽ sống cá nhân với lẽ sống tập thể, nằm trong trạng thái ổn định xã hội

Cho nên, nhân sinh quan không phải là ý thức tham vọng cá nhân, nó phải tách rời ra ngoài tính chất ích kỷ của bản ngã, vươn lên mọi tranh chấp cá biệt, kết thành một hệ thống tổ chức xã hội, dung hòa mọi quyền lợi và mọi chi phối giữa vật chất lẫn tinh thần. Với ý thức ấy, người bình dân thời xưa cũng đã tìm thấy nhân sinh quan của họ trong trạng thái sinh hoạt giữa con người với vũ trụ

Đến đây chúng ta thử đi vào nhân sinh quan của người bình dân bằng những ý thức đã biểu lộ qua ca dao.

AM « SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » dự án phi lợi nhuận của TVE-4U.ORG ebook©MotSAch —★— vte-4u© Nhà xuất bản : XUÂN THU USA 1975
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.