Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 526 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THƯƠNG NHỚ TIÊU SAN

❊ ❊ ❊

Hôm nay là ngày kỷ niệm sáu năm ngày Tiêu San tạ thế, quang cảnh sáu năm trước còn hiện ra rõ mồn một trước mắt tôi. Hôm ấy, tôi từ Đài hoá thân về nhà, lòng dạ cứ rối tung; phải hai ba ngày sau, tôi mới dần dần bình tĩnh lại được, một mình ngồi trước bàn viết một bài kỷ niệm nàng. Năm mươi năm trước, tôi vẫn có thói quen như vậy, mỗi lần có tình cảm gì đó mà không biết thổ lộ với ai, thì tôi thường gửi gắm vào trang giấy. Thế mà mấy ngày tháng 8 năm 1972 ấy, tôi ngồi ba bốn tiếng mỗi ngày trước trang giấy trắng, mà không viết được dòng nào. Tôi cay đắng nghĩ rằng lẽ nào bị nhốt trong "chuồng bò” mấy năm, mình đã biến thành “bò” thật sự rồi sao? Trên đầu hình như có một tảng đá đè nặng, mọi ý nghĩ cứ như đông cứng lại. Tôi dứt. khoát bỏ bút xuống, nhất định không viết gì nữa.

Sáu năm trôi qua, Lâm Bưu, "lũ bốn tên" và bọn tay chân chúng nó thực sự muốn làm cho tôi đần độn như thú vật. Thế nhưng tôi vẫn sống, mà lại sống khoẻ mạnh là đằng khác, đầu óc cũng không mụ mẫm đi, đôi khi còn có thể viết văn được nữa kia. Gần đây, tôi thường đến Đài hoá thân dự lễ hoả táng mấy ông bạn già. Trong nhà lễ đường, tôi nhớ bao nhiên chuyện vui buồn lẫn lộn.

Đứng trong lễ đường, tới dự chỉ vài ba chục người. Chúng tôi đang khóc cạnh thi hài "Tiêu San", để từ biệt lần cuối cùng, bỗng tôi sực nhớ đến câu nói của Giác Tân trong cuốn Gia đình[1] của tôi: "Cô ta chết, chắc cũng không biến thành ma quỷ đâu". Bốn mươi bảy năm trước, viết câu đó, tôi đâu có ngờ chính là tôi viết về mình hôm nay đây. Nước nắt tôi không chảy, nhưng tôi cảm thấy như vô vàn móng tay nhọn sắc cào xé lòng tôi. Tôi đứng bên thi hài Tiêu San, nhìn khuôn mặt trắng nhợt, đôi môi không nói ra được bao nhiêu điều muốn nói, phải nuốt đi. Tôi nghiến chặt răng, thầm gọi tên nàng. Tôi nghĩ, tôi lớn hơn nàng những mười ba tuổi, làm sao lại không thể chết trước nàng, như thế này chẳng quá bất công hay sao? Rốt cuộc, nàng bị tội gì kia chứ? Nàng cũng bị nhốt "chuồng bò", đứng xếp hàng đeo bảng "Quỷ bò, thần rắn", lại phải cầm chổi quét đường nữa. Rốt cuộc, vì sao vậy? Lý do rất đơn giản, nàng là vợ tôi. Nàng mắc bệnh mà không được chữa chạy, cũng vì nàng là vợ tôi. Nghĩ hết cách, cho đến ba tuần lễ trước ngày mất, bằng con đường cửa sau, nàng mới được vào bệnh viện. Nhưng ung thư đã di căn rồi, ung thư ruột thành ung thư gan!

Nàng không muốn chết, nàng muốn sống, muốn cải tạo tư tưởng, muốn trông thấy Chủ nghĩa Xã hội xây dựng thành công. Nguyện vọng ấy không thể nói là hoang đường của người u mê. Quả là nàng có thể sống được, nếu như nàng không phải là "con vợ tôi", của lão Kim đen này. Tóm lại là tôi liên lụy đến nàng, tôi đã hại nàng!

Trong thời gian tôi bị đưa "ra rìa", bị hành hạ về tinh thần, thì nàng cũng bị hành hạ như tôi. Có điều, tôi không bị đánh đập, còn nàng thì bị thắt lưng da bịt đồng của "Hồng vệ binh từ Bắc Kinh đến" quật vào người để lại bên mắt trái những vết tím bầm, phải mất bao nhiêu ngày mới tan. Nàng bị đánh chỉ vì nàng bảo vệ tôi. Thấy một bầy trẻ con nửa đêm xông vào nhà, sợ chúng nó lôi tôi đi, nàng bèn lẻn ra cổng chạy đến đồn công an phía trước, xin các đồng chí sang can thiệp. Ở đó chỉ có một người trực, không dám làm gì. Trước mặt, anh công an kia, chúng nó dùng thắt lưng bịt đồng đánh túi bụi, giải về, rồi chúng nó nhốt cả hai vợ chồng chúng tôi vào chuồng xí, khoá trái lại.

Không những nàng chia sẻ những nỗi đau khổ của tôi mà nàng còn an ủi động viên tôi rất nhiều. Lúc "lũ bốn tên" hoành hành, tôi vẫn ở cơ quan nguyên như trước (Hội liên hiệp các nhà văn Trung Quốc - Phân hội Thượng Hải), nhưng bị coi là "tội phạm", là "tiện dân". Cuộc sống thật nặng nề, khó chịu; có hôm chín, mười giờ đêm mới được về nhà. Qua cửa trông thấy gương mặt nàng thì những nỗi u uất trong lòng tôi tan biến cả. Bao nhiêu điều oan khuất, bao nhiêu chuyện bực bội, tôi có thể thổ lộ với nàng. Có một dạo, đêm nào trước khi đi ngủ, hai vợ chồng cũng phải nuốt vài viên thuốc an thần mới chợp mắt được, nhưng tờ mờ sáng hôm sau đã thức giấc rồi. Tôi gọi nàng, nàng cũng gọi tôi. Tôi đau khổ nói: "Như thế này thì không sống nổi", Nàng nhắc lại cũng đau khổ như thế: "Thật không sống nổi”. Nhưng nói thêm: "phải kiên trì mới được!"; Hoặc: "kiên trì tức là thắng". Tôi nói "không sống nổi" là vì thời gian ấy, mỗi ngày, trong "chuồng bò", tôi phải lao động, học tập, viết kiểm thảo, viết thu hoạch tư tưởng. Bất cứ ai cũng có thể mắng mỏ, huấn thị, chỉ huy tôi. Những người ngoài “phân hội" đến liên tục, cũng tuỳ ý điểm danh, gọi tôi ra "thị chúng", lại còn bắt tôi tự nói “tội" của mình ra. Thời gian làm việc không hạn định, do tổ giám đốc "chuồng bò" tuỳ ý định đoạt. Bất cứ ai cũng có thể xộc vào nhà tôi, thích lấy cái gì thì lấy. Bấy giờ chưa có "đại hội phê đấu trước quần chúng" đại quy mô để quay phim, nhưng cũng sắp sửa đến nơi rồi.

Nàng nói "không sống nổi" là vì đã hai lần nàng bị lôi đến cơ quan, lao động tạp vụ, sau đó cũng thường tham gia "bồi đấu". Trên bức tường ở đường Hoài Hải, có một chỗ dành riêng cho "Mục đại phê phán", ở đó có dán tờ "báo chữ to" nêu tội trạng của tôi; tên tuổi cả nhà tôi đều trưng ra để "thị chúng". Không cần nói cũng biết đại danh của "con đàn bà thối" chiếm chỗ nổi bật nhất. Những hàng chữ ấy như một thứ trùng độc cắn rứt lòng nàng. Nàng bị bọn học sinh "phái cuồng vọng” ở Học viện kịch Thượng Hải đột nhiên công kích, lôi đến "Phân hội Nhà văn", trong lúc ấy thì trước cổng nhà tôi, chúng dán một tờ báo chữ to kể tội nàng. May mà đêm hôm ấy, con tôi xé quách đi, nếu không thì tờ báo chữ to kia có thể hại đến tính mệnh nàng.

Những cặp mắt trắng dã, những tiếng chế giễu, những câu nhục mạ gặm nhấm lòng nàng, thân thể nàng. Tôi thấy sức khỏe nàng suy sụp dần. Vẻ bình tĩnh bề ngoài của nàng là giả tạo, còn trong lòng thì nàng đau khổ hết sức. Giống như một nồi nước sôi, làm sao nàng che đậy kín nổi? Làm sao nàng có thể bình tĩnh được? Nàng luôn luôn an ủi tôi, tin tưởng tôi. Nhưng nàng thấy vấn đề của tôi ngày một nghiêm trọng, sức ép của cấp trên với tôi ngày một tăng, nàng lại càng lo lắng. Có lúc, tôi và nàng cùng đến cơ quan hoặc từ cơ quan về, hễ đến đầu ngõ Cự Lộc, gần "Phân hội", hoặc đến đầu ngõ Hồ Nam, gần nhà chúng tôi thì bao giờ nàng cũng cúi gục đầu xuống. Tôi hiểu nàng, thương nàng, và cũng hết sức lo lắng cho nàng không thể chịu đựng nổi nữa. Tôi nhớ có một hôm hết giờ làm việc, bình thường chúng tôi không bị giữ lại. Về đến nhà đã hơi mừng, nàng vào bếp làm thức ăn. Tôi mở báo ngày hôm ấy ra xem thì thấy trang ba, đăng bài của hai nhà văn công nhân, đầu não của "phân hội" lúc bấy giờ; “Triệt để vạch bộ mặt thật phản cách mạng của Ba Kim”. Thật là một đòn giáng vào đầu tôi. Tôi xem vài ba hàng rồi vội giấu đi, sợ nàng trông thấy. Nàng làm cơm xong, bưng ra nét vẫn tươi vui. Lúc ăn, nàng nói nói, cười cười. Cơm xong, nàng đòi xem báo, tôi cố ý làm cho nàng lảng sang chuyện khác. Nhưng vô ích, nàng đã tìm được tờ báo rồi. Vẻ tươi vui trên khuôn mặt nàng liền biến mất. Đêm ấy, nàng không nói một lời nào cả, đi vào phòng ngủ rất sớm. Sau tôi mới biết nàng nằm trên giường khóc thầm. Thế là mất một đêm tưởng có thể yên tĩnh. Hôm nay, hồi tưỏmg lại tình cảnh lúc bấy giờ, tôi như còn thấy trước mắt gương mặt nàng ướt đầm. Tôi muốn lau khô những dòng nước mắt ấy biết chừng nào, để vẻ tươi vui lại hiện lên trên gương mặt nàng vốn đã tiều tụy. Dù có phải giảm bớt mấy năm của tôi trên cõi đời để đổi lấy một đêm yên tĩnh trong gia đình, tôi cũng cam lòng!

Tôi nghe người con dâu của đồng chí Chu Tín Phương kể lại: bà Chu trước khi mất, thường bị bọn đầu gấu lôi ra làm quả bóng xô đi đẩy lại, đến nỗi mình mẩy mềm nhũn. Có người khuyên bà trốn đi, bà nói: "Tôi trốn đi thì chúng nó lại đến hành hạ ông nhà tôi như thế thôi mà". Tiêu San không hề bị hành hạ về thể xác kiểu mới ấy, nhưng tinh thần thì cũng bị người ta dày vò khác gì quả bóng. Nàng suy nghĩ như thế này: về tinh thần, nàng có bị dày vò một chút, nhưng sức ép đối với tôi sẽ giảm nhẹ đi. Kỳ thực, cách suy nghĩ ấy dại dột quá, kết quả chỉ khổ nàng mà thôi. Tôi thấy nàng càng ngày càng tiều tụy, thấy sức sống của nàng ngấm ngầm tắt dần. Tôi đau lòng biết bao nhiêu. Tôi khuyên nàng, an ủi nàng. Tôi muốn vực nàng đứng thẳng lên, nhưng vô ích!

Nàng luôn luôn hỏi tôi: "Vấn đề của anh, bao giờ mới giải quyết xong?" Tôi cười cay đắng: "Rồi cũng xong thôi mà". Nàng thở dài: "Sợ em không đợi được đến lúc ấy nữa". Sau đó thì nàng ngã bệnh. Có người khuyên nàng quay điện thoại đến gọi tôi về. Không biết ai đã trả lời nàng, nói: "Ông ấy đang viết kiểm thảo, không nên làm ông ấy phân tán tư tưởng. Vấn đề của ông ấy đại khái cũng có thể giải quyết xong". Đến khitôi ở Trường cán bộ Mồng 7 tháng Năm được về nhà nghỉ phép, thì nàng đã nằm liệt trên giường rồi, không ngồi dậy được nữa. Nàng vẫn hỏi tôi: "Viết kiểm thảo ra sao! Có ổn được không". Đúng là bấy giờ tôi đang viết kiểm thảo, mà đã viết những mấy lần rồi. Họ bắt tôi viết đi viết lại, chỉ cốt cho tôi sụp đổ. Nhưng làm sao nàng có thể hiểu được?

Bấy giờ thì chỉ cách ngày nàng qua đời không đến hai tháng, ung thư đã di căn, nhưng chúng tôi không hề biết gì hết. Muốn tìm các bác sĩ kiểm tra lại cho chắc mà cũng không thể nào được. Ngày thường đến bệnh viện lấy số vào phòng khám, chờ mỏi mắt mới thấy bóng bác sĩ hoặc sinh viên thực tập. Họ tuỳ tiện viết cho một cái đơn thuốc, thế là xong. Chỉ khi nào sốt 39 độ mới được ghi số cấp cứu, còn không thì cứ chen chúc với các bệnh nhân khác ở phòng đợi mà chờ suốt buổi. Hồi đó, đi đến bệnh viện khám mà tìm cho được phương tiện giao thông, cũng đã gay rồi. Thường thì anh con rể tôi mượn xe đạp đặt mẹ vợ ngồi lên xe, nó thong thả đẩy đi. Có lần, nàng thuê được một chiếc xe ba bánh con con đi khám, khám xong, không thuê được xe về nhà, đành để người bạn đưa nàng đi khám dìu đi bộ về. Đi bộ một đoạn lại phải dừng lại nghỉ. Đến đầu phố, suýt nữa ngã, phải nhờ người qua đường đến nhà tin cho biết. May có cô cháu họ của nàng đến thăm, thế là cô ấy cõng về... Nàng muốn được chiếu X quang kiểm tra xem bệnh gì ở ruột, nhưng đành chịu. Sau nhờ một người bà con giúp đỡ, đi cửa sau, chiếu được hai lần mới biết là ung thư ruột. Rồi lại phải nhờ bạn bè đi cửa sau, vào nằm viện. Nàng mừng lắm, cho là sẽ được cứu sống. Chỉ một mình nàng là không hề biết bệnh tình thực tế của mình mà thôi. Vào viện, nàng chỉ sống được ba tuần lễ.

Thời gian nghỉ phép về nhà đã hết hạn, tôi xin nghỉ hai lần nữa, ở nhà săn sóc nàng. Nhiều nhất cũng không hơn một tháng. Tôi thấy bệnh nàng ngày càng trầm trọng, quả thực không thể để mặc nàng mà đành lòng được. Tôi xin kéo dài thời gian nghỉ. Ông đội trưởng "Đội tuyên truyền công nhân" của cơ quan buộc ngày hôm sau tôi phải có mặt ở trường. Tôi trở về, nàng hỏi, tôi không giấu được. Nàng thở dài nói: "Anh cứ yên tâm mà đi". Nàng quay mặt sang chỗ khác, không để tôi nhìn thấy. Con gái tôi và anh con rể, trước tình cảnh ấy, chạy liều đến gõ cửa trình bày với ông đội trưởng kia, mong ông ta để tôi ở lại thành phố săn sóc người bệnh. Nhưng ông ta "giữ vững nguyên tắc", lắc đầu, lại còn nói: "Ông ấy không phải là bác sĩ, ở nhà, làm được cái quái gì!". Ở nhà không có lợi cho ông ấy cải tạo đâu. Hai đứa tức giận quay về, chỉ nói cơ quan không đồng ý, sau đó mới truyền đạt lại cho tôi câu "danh ngôn" kia. Tôi còn có thể nói gì nữa!. Ngày mai đành có mặt ở Trường cán bộ thôi!

Suốt đêm ấy, nàng không ngủ được, tôi cũng không chợp mắt được tí nào. Bất ngờ sáng sớm hôm sau, đứa con trai tôi, trước đây theo đội đến ở nơi nào đó, xa gia đình, bỗng xuất hiện trong phòng chúng tôi. Nó về từ khuya. Nhận được thư nhà, nó xin phép về thăm mẹ, nhưng nó đâu có ngờ bệnh tình mẹ nó đã đến nông nỗi này. Thấy mặt nó, tôi giao mẹ nó cho nó mà trở lại Trường. Ngồi trên xe lòng tôi rối như mớ bòng bong. Quả thực, tôi không sao hiểu nổi cơ sự lại như thế này. Tôi ở lại trường đã năm ngày, không có cách gì liên lạc được với gia đình. Tôi đoán bệnh tình nàng tồi tệ lắm, nhưng người ta không cho tôi hỏi thăm nàng. Năm ấy, tôi khổ sở biết nhường nào. Đến ngày thứ năm, lãnh đạo "phái tạo phản" của Trường thông tri cho tất cả chúng tôi biết sáng sớm hôm sau, về thành phố, họp. Do đó, tôi mới được về nhà thăm vợ. Nhờ bạn bè giúp đỡ, nàng được vào phòng ung thư gan của bệnh viện Trung Sơn. Mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng, hôm sau sẽ vào viện. Trước hôm vào viện, nàng mong mỏi được gặp tôi, thì cuối cùng tôi đã về đây. Đến tôi cũng không ngờ bệnh tình nàng lại phát triển nhanh như thế. Thấy mặt nhau, mà tôi không nói được lời nào. Nàng chỉ nói: "Rốt cuộc em đã vào viện được rồi". Tôi đáp: "Em cứ yên tâm mà chữa trị nhé". Ông cụ thân sinh nàng vào thăm, mắt cụ đã loà, chật vật lắm mới vào được bệnh viện thăm con gái, có thể là để vĩnh biệt con gái mình.

Ăn trưa xong, tôi liền đi tham gia Đại hội đội mũ phản cách mạng cho người khác. Người bị phê phán, bị đội mũ khá đông, trong đó có một người tôi quen: đồng chí Vương Nhược Vọng, trước đây cũng là nhà văn, nhưng ít tuổi hơn tôi. Chúng tôi cùng bị nhốt chung một "chuồng bò" một thời gian. Tội của ông ta là "cất mũ phái hữu" (Đồng chí Vương Nhược Vọng, năm 1957 bị qui sai là phái hữu, năm 1962 được cất mũ, gần đây đã được cải chính, phục hồi danh dự). Ông ta không phục, không nghe. Ông ta nêu lên báo chữ to, thanh minh rằng ông ta tự giải phóng ông ta chứ. Do đó, tội ông ta càng to, không kể bị giam một thời gian, còn đội mũ phản cách mạng, đi lao động quản thúc. Ngồi trong hội trường, tôi như đắm chìm trong một giấc mộng ma quái. Họp xong về nhà, nhìn Tiêu San, tôi cảm thấy thân thiết vô cùng, tuồng như từ cõi âm trở lại nhân gian. Nhưng nàng mệt, không muốn nói chuyện, chỉ thỉnh thoảng nói nhát gừng vài câu. Tôi còn nhớ hai lần nàng nói: "Em không thấy"; Tôi liền hỏi nàng: "Không thấy cái gì"? Hồi lâu, nàng mới nói: "Em không thấy anh được giải phóng". Tôi còn biết nói như thế nào nữa!

Cậu con trai tôi đứng bên cạnh, gục đầu ủ rũ, mất tinh thần, cơm tối ăn chỉ lưng bát, như thể bị cảm. Bỗng, nàng đưa tay chỉ nó, hỏi khe khẽ: "Con thế nào?" Hồi đó, nó ở vùng nông thôn tỉnh An Huy đã ba năm rưỡi; về chính trị không ai quản, về đời sống, lao động không đủ ăn, vả lại, vì là con của tôi nên bị tước quyền công dân. Trước thì nó học cách im lặng, sau thì nó học hút thuốc. Tôi nhìn nó mà xót xa trong lòng. Tôi hối hận là trước kia, mình không nên viết tiểu thuyết, càng không nên sinh con đẻ cái làm gì. Tôi còn nhớ hai năm trước đây, lúc khổ nhục quá, không chịu nổi nữa, nàng nói: "Các con, chúng nó bảo ba làm hỏng việc hết, hại cả nhà". Thật như lấy dao cứa vào da thịt tôi. Tôi lặng thinh, âm thầm nuốt nước mắt. Nàng lịm đi được một giấc, tỉnh dậy, bỗng hỏi tôi: "Mai anh không đi à?". Tôi đáp: "Không đi". Ấy là vì ông đội trưởng "Đội tuyên truyền công nhân" báo cho biết hôm nay không phải đến trường, mà ở lại thành phố. Hắn còn hỏi tôi: "Ông có biết bà Tiêu San mắc bệnh gì không?". Tôi trả lời: "biết". Kỳ thực, người trong nhà giấu không cho tôi biết sự thật, qua câu hỏi của hắn, tôi đã đoán ra.

Sáng sớm hôm sau, nàng trở dậy đi bệnh viện. Một người bạn, cùng con gái, con rể tôi, đưa nàng đi. Thay quần áo xong, nàng ngồi chờ xe. Nàng có vẻ bồn chồn, lại có vẻ lưu luyến, nhìn khắp nơi. Có lẽ nàng đang nghĩ: Không biết còn trở lại đây mà nhìn những thứ này không?. Tôi ra tiễn nàng, lòng lại như đeo thêm một tảng đá nặng nữa.

Khoảng gần hai mươi hôm, hôm nào tôi cũng đến bệnh viện, ở lại với nàng suốt buổi, săn sóc nàng, ngồi cạnh giường bệnh, thỉnh thoảng cùng nàng nói vài câu ngắn ngủi. Bệnh tình nàng ngày càng nguy kịch, người càng suy nhược, bụng trướng dần, cử động khó khăn. Bây giờ, phòng bệnh không có ai trông nom. Ngoài ăn uống ra, mọi thứ trong sinh hoạt phải tự lo lấy, Sau này, nghe những bệnh nhân nằm cùng phòng, khen nàng "kiên cưòrng", nói là ngày nào, buổi sáng hay ban đêm, nàng cũng lẳng lặng cố trở dậy đi vào nhà vệ sinh. Bác sĩ cho chúng tôi biết sức khoẻ của nàng không chịu phẫu thuật được nữa, sợ nhất là ruột bị tắc, nếu không tắc thì có thể sống thêm một thời gian nữa. Nửa tháng sau khi nàng vào nằm viện, tức là từ tháng 8 năm 1966, có một thời gian ngăn ngắn, tôi vừa cảm thấy đau khổ, vừa cảm thấy hạnh phúc. Ấy là khoảng thời gian chúng tôi được sống yên tĩnh với nhau lần cuối cùng, cho đến bây giờ tôi không thể nào quên. Nhưng sau đó nửa tháng, bệnh tình của nàng lại phát triển. Một hôm, sau bữa ăn trưa, bác sĩ bảo con tôi tìm tôi có chuyện cần bàn. Bác sĩ cho tôi biết: ruột bệnh nhân bị tắc rồi, phải mổ. Mổ không chắc đã thành công, có thể nửa chừng phát sinh chuyện, nhưng không mổ, hậu quả thế nào không đoán được. Ông ta muốn tôi quyết định, và muốn tôi khuyên nàng đồng ý. Tôi quyết định ngay, đồng thời vào phòng giải thích với nàng. Nghe xong, nàng chỉ nói mỗi câu; "Xem chừng chúng ta sắp xa nhau rồi". Nàng nhìn tôi, mắt ướt đẫm. Tôi nói: "Không thể như thế...". Giọng tôi nghẹn lại. Sau đó, chị y tá trưởng Lý đến an ủi nàng, nói: "Để tôi đỡ bà, không sao đâu...". Nàng nói: "Chị giúp tôi là tốt rồi". Thời gian gấp rút lắm. Bác sĩ, các y tá chuẩn bị nhanh chóng, rồi đưa nàng vào phòng mổ. Chúng tôi ở ngoài hành lang, đi đi lại lại mãi, suốt mấy tiếng đồng hồ, chờ đến khi nàng được đưa ra yên ổn. Rồi đứa con trai tôi đẩy xe đưa mẹ về phòng bệnh. Nó ở với mẹ canh chừng, thức trắng đêm, được hai ngày thì nó lăn ra ốm. Khám mới biết nó bị viêm gan. Từ khi nó ở nông thôn vùng An Huy về, chúng tôi vốn định giấu mẹ nó, nhưng vô ý thế nào, mẹ nó biết được. Nàng hỏi luôn miệng: "Con làm sao?".

Chính bản thân tôi cũng không biết nó làm sao cả, thì nói thế nào cho nàng yên tâm được. Tối đến về nhà, bước vào căn phòng trống trải, vắng ngắt, cơ hồ tôi muốn gào lên: "Mọi thứ tai hoạ, hãy giáng xuống đầu tôi hết đi. Tôi chịu đựng được tất".

Tôi phải cảm tạ chị y tá trưởng tốt bụng và nhiệt tình ấy. Thấy tình cảnh chúng tôi như thế, chị rất thông cảm, muốn tôi giao phó đứa con trai cho chị lo liệu giùm. Chị sắp xếp mọi việc, đưa nó đến phòng khám, khám bệnh, kiểm tra, dẫn nó vào phòng cách ly, Nằm ở phòng cách ly, nó mong chờ bệnh tình của mẹ nó chuyển biến tốt, đến là khổ sở. Còn mẹ nó thì nằm trên giường bệnh, chỉ thều thào nói được vài câu ngắn ngủi, cứ hỏi: "Đường Đường làm sao rồi?". Nhìn đôi mắt ướt đẫm của nàng, tôi biết nàng muốn nhìn thấy mặt đứa con yêu quý của nàng biết bao nhiêu!

Mỗi ngày phải tiếp máu, tiếp nước cho nàng. Thấy tôi đi ra, nàng hổn hển hỏi: “Tiếp bao nhiêu (c.c) máu? làm thế nào bây giờ?". Tôi an ủi nàng "cứ yên tâm, không sao đâu, cốt lành bệnh". Nàng không chỉ nói một lần: "Chỉ khổ anh thôi". Tôi có khổ gì? Tôi có thể vì người thân yêu nhất của tôi mà làm mọi việc, dù là nhỏ nhặt đến đâu, cũng vui lòng. Sau đó, nàng suy sụp hẳn. Bác sĩ phải tiếp dưỡng khí, cắm ống vào mũi suốt ngày. Mấy lần nàng đòi dứt ra, biết nàng khó chịu. Nhưng nghe chúng tôi khuyên bảo, nàng đành cố gắng chịu đựng. Sau khi mổ, nàng chỉ sống được năm ngày nữa. Không ai ngờ nàng lại đi nhanh như vậy. Năm ngày ấy, tôi luôn túc trực bên nàng, lặng nhìn nàng đau quằn quại (bản thân tôi chưa hề phải chịu đựng như thế). Nhưng ngoài hai ba lần xin đưa bình dưỡng khí cồng kềnh kia đi chỗ khác, bốn lần tỏ ý lo tiếp máu nhiều không trả nổi phí tổn, nàng không ân hận điều gì cả. Mỗi khi trông thấy người quen thuộc đến thăm hỏi, nàng thường nói như thế này: "Xin tha lỗi. Tôi làm phiền ông (hay bà). Nàng nằm yên tĩnh lạ thường, nhưng cũng chưa phải hôn mê, vẫn mở to con mắt. Đôi mắt rất to, rất đẹp, rất trong. Tôi nhìn như nhìn một ngọn đuốc sắp tắt. Tôi muốn đôi mắt ấy cứ sáng mãi. Tôi sợ nàng sẽ bỏ tôi mà đi. Thậm chí vì mười bốn cuốn "tà thư"[2] của tôi mà tôi chịu băm vằm, chỉ cầu cho nàng được sống.

Trước đây không lâu, tôi có đọc cuốn "Cuộc đời của Mác”, Mai Lâm viết, có trích bức thư Mác viết cho con gái kể lúc bà Mác mất. Trong thư nói: "Mẹ con tắt thở rất nhanh, cái bệnh ấy làm cho người ta chết dần như người già suy nhược, đến nỗi những giờ cuối cùng cũng không vật vã, mà cứ lịm dần như nằm ngủ. Đôi mắt của mẹ con mở to, đẹp hơn, sáng hơn bao giờ hết". Vợ ông Mác chết vì bệnh ung thư. Tôi lặng lẽ nhìn đôi mắt to, càng đẹp, càng trong sáng của Tiêu San, nhớ đến đoạn trên, cũng được an ủi phần nào. Nghe nói quả là nàng cũng không vật vã lúc lâm chung, cũng lịm dần vào giấc ngủ. Tôi nói như thế là vì nàng rời khỏi thế gian này, tôi không ở bên cạnh nàng. Hôm ấy là ngày chủ nhật, vì phát hiện ở nhà tôi có người mắc bệnh viêm gan, trạm vệ sinh phòng dịch được nghỉ, nàng dặn chúng tôi ăn trưa xong sẽ vào thay. Không ngờ vừa bưng bát cơm lên tay thì điện thoại gọi, bảo con gái tôi đến viện ngay, nói rằng mẹ nó "không xong rồi". Thật như tiếng sét giữa trời trong. Tôi và con gái, con rể vào bệnh viện liền. Giường nệm nàng nằm đã đưa đi đâu cả. Người ta cho biết đã chuyển nàng xuống nhà xác. Chúng tôi lại đến cầu thang gác để đến đó, thì gặp cô em họ trước cửa. Có lẽ là cô ta nhờ ai đó đưa người bệnh đang hấp hối xuống. Nàng không được đặt vào hòm ướp lạnh, nàng nằm trên băng ca khiêng đi, quấn trong tấm khăn trải giường, kín bưng, không nhìn thấy mặt mũi. Tôi chỉ nhìn thấy tên nàng ghi ở đó mà thôi. Tôi cúi xuống, vỗ vỗ mấy cái vào tấm vải trắng bao bọc có giống đôi chút hình người, vừa khóc vừa gọi tên nàng. Thời gian không quá mấy phút. Như vậy, có thể gọi là cáo biệt nhau được sao?

Theo cô em họ nói lại, nàng tắt thở, cô ta cũng không chứng kiến. Nàng vừa bảo cô ta gọi bác sĩ, bác sĩ đến nói chẳng sao cả. Sau đó thì nàng lịm dần. Cô ta cứ tưởng nàng đang ngủ thật. Một chị y tá đến tiêm thuốc, mới phát hiện tim nàng ngừng đập rồi. Tôi không được cùng nàng vĩnh quyết. Tôi có bao nhiêu điều chưa nói hết được với nàng. Nàng cũng không để lại lời trối trăng nào với tôi khi ra đi. Sau này, tôi thường nghĩ rằng, nàng bảo cô em họ "gọi bác sĩ" (Tiếng Trung Quốc là "trảo y sinh") rất có thể không phải là "trảo y sinh", mà là "trảo Lý tiên sinh" (gọi ông Lý). (Ba Kim vốn tên là Lý Nghiêm Đường). Ngày thường nàng vẫn gọi tôi như thế. Tại sao trưa hôm đó, tôi không có mặt trong phòng bệnh? Người trong nhà cũng không ai ở bên nàng cả. Nàng chết thật thảm thương!

Mọi việc đã kết thúc. Mấy hôm sau, tôi và con gái, con rể, đến Đài hóa thân nhận chiếc bình đựng tro, gửi lại ở phòng bảo tồn ba năm, hết hạn, thì đưa về nhà. Có người khuyên an táng nhưng tôi để nguyên bình tro ấy trong phòng ngủ của tôi, tôi cảm thấy nàng vẫn cùng tôi ở chung một chỗ.

* * *

Những ngày quái gở ấy rồi cũng qua đi. Sáu năm phảng phất như chớp mắt, đã lùi sâu vào quá khứ. Thật ra, đâu phải là một chớp mắt. Khoảng thời gian ấy, có biết bao nhiêu ngày đẫm máu nước mắt. Không phải chỉ sáu năm mà thôi đâu. Từ khi bắt đầu viết bài này đến bây giờ cũng đã nửa năm. Nửa năm qua tôi thường vào đài hoá thân mặc niệm, dự lễ những ông bạn bị ”lũ bốn tên” hãm hại đến chết. Cứ nghĩ rằng họ không còn đem trí tuệ và tài năng của họ cống hiến cho Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa, tôi thương tiếc vô cùng. Mỗi lần mang băng đen, cầm hoa giấy, tôi lại nhớ đến người bạn thân thiết nhất của tôi, một người yêu văn nghệ bình thường, một người dịch thuật thành tích không lớn, một người tâm địa hiền lành. Nàng là phần sinh mệnh của tôi, trong nắm tro của nàng có máu, nước mắt của tôi. Nàng là một độc giả của tôi. Năm 1936, lần đầu tiên, tôi gặp nàng ở Thượng Hải. Năm 1938 và 1941, hai lần chúng tôi sống với nhau ở Quế Lâm. Năm 1941, chúng tôi kết hôn ở Quý Dương. Lúc tôi biết nàng, nàng chưa đến 20 tuổi. Tôi phải chịu trách nhiệm to lớn về sự trưởng thành của nàng. Nàng đọc tiểu thuyết của tôi, viết thư cho tôi, có tình cảm với tôi. Trước khi gặp tôi, nàng đang học ở trường Trung học, vì tham gia phong trào học sinh, nàng bị đuổi về quê một thời gian ngắn, rồi lại vào học ở một trường khác. Giả sử không vì tôi thì năm 1937-1938, nàng nhất định đã lên Diên An rồi. Chúng tôi yêu nhau 8 năm mới đến Quý Dương làm lễ cưới. Chỉ in thiếp cưới gửi đi, chứ không bày tiệc. Từ Quý Dương, chúng tôi kẻ trước người sau vào Trùng Khánh, ở một buồng nhỏ, bảy tám mét vuông, dưới gầm cầu thang Nhà xuất bản "Văn hóa sinh hoạt". Nàng nhờ người ta mua được bốn chiếc cốc pha lê, bắt đầu tổ chức một cái gia đình nho nhỏ. Nàng cùng tôi trải qua một cuộc sống đủ mọi thứ khó khăn. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật căng thẳng, chúng tôi rời khỏi Quảng Châu, chỉ khoảng mười tiếng đồng hồ trước khi quân Nhật tiến vào thành phố. Từ Quảng Đông, chúng tôi sang Quảng Tây, từ Côn Minh lên Quế Lâm, từ Kim Hoa đến Ôn Châu, chia tay rồi lại đoàn tụ, đoàn tụ rồi lại chia tay. Trong cuốn "Thông tin trên đường lữ thứ", hai tập, có nhiều trang tôi ghi lại quãng đời này. Bốn năm năm trước, có ông bạn cho rằng tôi không nên đưa những trang ấy vào sách làm gì, phê bình: "Không thể cho đó là văn chương được". Sau khi "Văn tập" của tôi xuất bản, lại ông bạn khác cho rằng: tôi không nên đưa những trang ấy vào. Họ nói cũng có lý. Hai năm lại đây, không phải một lần, tôi đã nói với bạn bè, với độc giả rằng: tôi đã quyết định không tái bản Văn tập nữa. Nhưng bản thân tôi, tôi vẫn thường đưa hai tập ấy ra xem. Những năm tháng ấy, trong lúc tôi ở vào một tình cảnh khốn khổ, bạn bè đều khá lên cả, nàng vẫn thường âu yếm nói với tôi: "Anh đừng buồn, em không thể xa anh, em sẽ mãi mãi bên anh". Đúng như vậy, lần cuối cùng vào phòng mổ, nàng mới nói câu này: "Chúng mình phải xa nhau...".

Tôi sống cùng nàng hơn ba mươi năm, nhưng tôi chưa giúp gì được nhiều cho nàng. Nàng có năng khiếu hơn tôi, nhưng không chịu khó đào sâu suy nghĩ. Thấy nàng dịch Puskin và Tuốcghêniép tôi thường vui mừng, nhưng nàng dịch chưa hay lắm, chưa làm rõ được phong cách của Puskin và Tuôcghêniép. Những bản dịch của nàng cũng có ít nhiều sáng tạo, tôi đọc cũng thấy thú vị. Nàng thay đổi cuộc sống của mình, không muốn làm người nội trợ trong gia đình, nhưng lại không cần cù, nghiên cứu. Nàng nghe lời một người bạn khuyến khích, được đồng chí Diệp Dĩ Quần đồng ý (sau này Diệp Quần cũng bị "lũ bốn tên" hãm hại đến chết), đưa vào "lao động nghĩa vụ" ở tờ tạp chí Văn học Thượng Hải, cũng có làm được vài việc. Nhưng khi phong trào (Cách mạng Văn hoá) nổi lên, nàng lại bị phê phán, nói nàng chỉ lo bản thảo cho lão nhà văn già, lại nói nàng là do tôi phái đến để "do thám.” Để cải tạo tư tưởng, nàng muốn đi con đường tắt, xin tham gia phong trào "tứ thanh", nhờ người đưa vào làm ở tổ công tác Xưởng đúc đồng nọ. Công tác bận rộn, khẩn trương, nhưng nàng rất vui. Nhưng đến khi tôi sắp bị đưa "ra rìa" thì người ta gọi nàng về "Phân hội Nhà văn Thượng Hải" để tham gia phong trào. Lần tham gia những cuộc đấu tranh phong ba bão táp như thế, lại với tư cách là người thân của nhân vật "quyền uy phản động", nàng không biết phải làm thế nào cho phải. Nàng lúng túng, đứng ngồi không yên. Lo cho tôi, lại lo cho tiền đồ của con cái. Nàng mong mỏi có ai giúp đỡ nàng một tay, nhưng bạn bè đều lánh xa hết, các "đồng sự" đưa nàng ra làm tấm bia để bắn, có người còn chỉnh nàng, qua đó để chỉnh tôi. Nàng không phải là nhân viên chính thức của "Phân hội Nhà văn", hoặc của tạp chí nào, nhưng vẫn bị lệnh cưỡng chế lao động tạp vụ, đeo bảng, đã được thả về rồi lại bị lôi đến cơ quan. Sau một thời gian, nàng về nhà, thì “phái tạo phản” cơ quan tôi lại báo tin cho biết "Uỷ ban" phạt nàng quét đường. Nàng sợ người ta trông thấy. Mỗi ngày, sáng tinh mơ, đã dậy cầm chổi đi, quét đến rã người, mới về nhà đóng cổng lại, thở dài. Đôi lúc nàng gặp bọn học sinh đi học, chúng nó còn chửi nàng là "con vợ thối của lão Ba Kim". Tình cờ trông thấy nàng cầm chổi trở về, tôi không dám nhìn thẳng nàng, tôi cảm thấy tôi mắc tội với nàng. Đối với nàng đây là một đòn chí mạng,

Không đầy hai tháng nàng ngã bệnh. Sau đó thì không ra quét đường nữa (cô em gái tôi quét thay một thời gian), nhưng sức khoẻ cũng không hồi phục được nữa. Mặc dù nàng chịu cả thảy bốn năm, nhưng cho đến chết, nàng cũng không thấy tôi được trả lại tự do. Ngày đó là ngày cuối cùng của nàng, nhưng quyết không phải đời nàng đã kết thúc. Đời nàng với đời tôi sẽ kết thúc một lần.

Tôi tuyệt đối không bi quan. Tôi muốn tranh thủ nói thật nhiều. Tôi muốn làm việc cho Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa của chúng ta đến hơi thở cuối cùng. Tôi muốn khi nào hết khả năng làm việc, trên giường bệnh của tôi có những cuốn tiểu thuyết Tiêu San đã dịch. Rồi sau khi tôi vĩnh viễn nhắm mắt, thì hãy đem trộn lẫn tro tôi vào tro nàng đựng chung vào một bình!

[1] Một tập trong bộ ba “Dòng nước xiết” Gia, Xuân, Thu viết trước kháng chiến chống Nhật.

[2] "Tà thư": là những tác phẩm bị coi là sách độc hại.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.