Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 544 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỚ VỀ CHỊ CẢ PHƯƠNG LỆNH NHŨ

❊ ❊ ❊

Gần đây đi Hàng Châu sáu ngày, hầu như ngày nào cũng mưa, tôi không hay ra bên ngoài, cũng rất ít ngồi bên bàn viết. Tôi ở tầng hai của nhà khách, hoặc là đi dạo bên ngoài ban công, hoặc là ngồi trên xa lông nhắm mắt nghỉ ngơi, hoặc là đứng trước hành lang, hai tay tì vào lan can, qua Tây Hồ nhìn với sang Bạch đê[1]. Bạch đê là nơi tôi rất quen, nhưng nhìn Bạch đê như thế này, với tôi có lẽ là lần đầu. Bao nhiêu là người đi đi lại lại, bước chân không dừng. Tôi mơ hồ như đang xem phim đèn chiếu. Những chiếc xe buýt màu sắc rực rỡ, màn dương liễu xanh non và màu phớt hồng của hoa đào đều hiện trên các phông lớn ở đó.

Tôi bỗng nhớ lại: mười sáu năm trước, cũng vào lúc này, tôi và Tiêu San đã mua vé xe lửa về Thượng Hải. Trước lúc ra ga, chúng tôi vội vội vàng vàng lên Bạch đê đi một đoạn dài, để xem cảnh đẹp của cây hoa đào và dương liễu. Hoa đào và dương liễu cao to hơn nhiều so với bây giờ. Cây đã bị đào đi mất, rồi lại trồng lại, chúng vẫn mọc và lớn lên tươi tốt. Thế nhưng Tiêu San thì không bao giờ bước lên Bạch đê nữa...

Tôi còn bụng dạ nào mà ngắm trời ngắm nước nữa? Ngắm trời ngắm nước là chuyện những năm ba mươi kia. Từ năm 1930 đến năm 1937 hầu như năm nào tôi cũng đến Hàng Châu. Chúng tôi có thói quen đi dạo Tây Hồ vào dịp trước hoặc sau Tết Thanh minh. Có một hai năm cả mùa xuân và mùa thu đều đi, mỗi lần không quá ba bốn hôm. Mọi người đều thích leo núi và đi bộ. Bất kể trời tạnh hay mưa, sáng sớm ra khỏi khách sạn ở bên hồ, thế nào cũng đi mãi tới chiều tối, chỉ mang theo một chút lương khô. Dọc đường kẻ nói người cười. Những người cùng đi thì luôn thay đổi, nhưng thói quen và hứng thú thì trước sau không hề đổi thay. Nam Cao phong, Bắc Cao phong, núi Ngọc Hoàng, núi Ngũ Vân, Giếng Rồng, Hổ Báo, Lục Kiều, Tam Trúc, là những nơi hầu như không đi hết và cũng đi không chán. Lúc ấy, tôi đã hầu như có một tình cảm và tinh lực vô cùng tận. Tôi còn nhớ trên con đường nhỏ ngoằn ngoèo ven mười tám khe của Cửu Khê trở về bờ hồ, Lục Lãi, Lệ Ni và tôi trong khi cười nói đã quyết định một kế hoạch là ba người chia nhau dịch sáu bộ tiểu thuyết dài của Tuốc-ghê-ni-ép. Chúng tôi đều làm theo lời hứa hẹn, Lục Lãi giao bản dịch trước nhất, bản dịch của tôi xuất bản muộn nhất. Lục Lãi chết ở trong đội Hiến binh của quân xâm lược Nhật Bản. Lệ Ni thì đã giao tính mệnh cho đồng bào của mình. Nhà nghiên cứu văn học Pháp và nhà phiên dịch, Lê Liệt Văn, mà sau này nghèo khổ và chết ở Đài Bắc, tôi không bao giờ gặp lại họ nữa.

Trong những năm Sáu mươi, từ 1960 đến 1966, mỗi năm tôi đều đến Hàng Châu, nhưng tôi không còn hứng thú leo núi nữa. Tôi cũng không còn bụng dạ nào đi tìm dấu chân người xưa. Năm đầu tôi thường thuê thuyền chơi hồ một mình, hoặc pha một ấm trà ngồi bên hồ hai tiếng đồng hồ, ở Tây Hồ tôi bắt đầu cảm thấy buồn tẻ. Mấy năm sau này, tôi thường kéo cả Tiêu San cùng đi, có lúc còn có hai ba người bạn đồng hành; không còn phải là phong cảnh đẹp ở đây đã hấp dẫn tôi, mà chúng tôi đến chỉ là vì đáp lại tấm lòng của một người bạn. Mấy năm liền đều là chị Phương Lệnh Nhũ đón chúng tôi ở ga Hàng Châu. Sau bốn năm ngày, vẫn là chị đứng ở đường ke nhà ga vẫy tay tiễn chúng tôi về Thượng Hải. Mỗi năm trước sau tiết Thanh minh không đi Hàng Châu, tôi cứ thấy như thiếu một cái gì. Cùng sống với chị Phương Lệnh Nhũ, chúng tôi cũng chỉ hỏi những chuyện xẩy ra gần đó của mỗi người, đi mấy nơi mà không chán (như Linh Ẩn, Hổ Báo, hoặc Cửu Khê) uống vài ấm trà hãm bằng nước khe. Rồi nói, rồi đi, rồi ngồi, rất là bình thản. Đến bây giờ nghĩ lại cũng chẳng có gi đáng nói, thế nhưng, tôi thực sự thấy được sự ấm áp của tình bạn.

Tình bạn cũng có nhiều loại, nhiều kiểu. Hai chữ "ấm áp" dùng nhiều quá rồi, nói không rõ là thứ cảm giác gì. Tôi lúc đó phảng phất thấy trong lòng ấm rực như buổi sáng mùa đông được sưởi nắng không lo nghĩ, không gò bó, mà cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Tôi lại như đứng trước một người chị cả trong một gia đình hoà thuận, có thể nói tuỳ thích không giữ gìn gì hết. Đồng chí Lệnh Nhũ lớn hơn tôi tám tuổi, lớn hơn nhiều so với Tiêu San. Chúng tôi tuy tôn chị làm chị cả, nhưng tính con nít ở chị lại nhiều hơn tôi. Sự hiểu biết của tôi về chị ngày càng sâu sắc: chị là con người hết sức hiền lành…

Bây giờ tôi không nói được rõ tôi quen chị từ bao giờ. Tôi đọc văn của chị trước, trong tập thứ 7 của "Văn học Tùng san" mà tôi biên tập, có một cuốn bút kí của chị lấy tên là "Thư", do Cận Dĩ giới thiệu với tôi. Văn chương không để lại ấn tượng gì sâu sắc cho tôi. Tôi còn mang máng nhớ tác giả là một nhà thơ nữ rất hiền lành đang thổ lộ nỗi lòng mình, nàng buồn bực, bàng hoàng, khao khát. Nhưng khi tôi biết chị thì cái ấn tượng đó lại mờ nhạt đến không còn gì, một nhà giáo đã thay cho nhà thơ. Tôi gặp chị khỏi phải nói là ở nhà Cận Dĩ, chị cùng dạy ở trường Đại học Phúc Đán, cùng ở Hạ Bá của Bắc Bồi, Trùng Khánh. Tôi nói chuyện với chị không nhiều, chỉ thấy chị là một trí thức rất dễ gần. Chị với Cận Dĩ đã trở nên quá quen thuộc. Trong nhà họ Phương, chị là thứ chín, cháu trai cháu gái khá đông, người quen nói chung đều gọi chị là "cô Chín", Cận Dĩ cũng gọi chị như vậy. Tôi trở nên quen biết chị là chuyện sau ngày giải phóng. Quý 3 năm 1951, ba người gồm tôi, Cận Dĩ và chị Lệnh Nhũ tham gia vào Phân đoàn Hoa Đông tham quan căn cứ địa cũ. Cùng đi đến vùng núi Nghi Mông, sau đó chúng tôi lại cùng đến Dương Châu và Diên Thành vùng Tô Bắc, như thế nên tôi với chị trở nên thân thuộc. Thế nhưng về quá khứ của chị, tôi lại biết rất ít, xưa nay tôi vốn ít chú ý đến thân thế của bạn bè, điều tôi muốn tìm hiểu thường là thế giới tinh thần và tình cảm chân thật của mọi người. Chả trách mà trong thời kì "Cách mạng Văn hoá", tôi thường bị người "điều tra" tôi cằn nhằn: "Chơi với bạn mà không điều tra thành phần và xuất thân của người ta". Tôi không thể đáp ứng được yêu cầu của những người "điều tra" này, bởi vì tôi chỉ nói được những ấn tượng cá nhân. Với chị Lệnh Nhũ, hầu như không có người nào tìm tôi để điều tra về chị. Giá như có người nào hỏi tôi, tôi sẽ nói: Sau giải phóng, chị không còn bàng hoàng, buồn bực nữa; tuy vất vả, nhưng trước sau chị vẫn dần dần tiến lên trên con đường cải tạo. Tôi còn nhớ, khi chúng tôi đi tham quan ở nông thôn Sơn Đông, chị và một nữ đồng chí nữa ở trong một gia đình nông thôn, bên cạnh đặt một cỗ quan tài để không, chị cũng vẫn vui vẻ ở được mấy ngày. Chúng tôi cùng hoạt động với nhau không đầy hai tháng, ấn tượng chị để lại cho tôi ngoài vẻ "hiền lành" ra, còn thêm một điều là "thẳng thắn", Từ đó về sau, tôi cũng quen đi, gọi chị bằng "Cô Chín" như Cận Dĩ thường gọi chị.

Về Thượng Hải, chúng tôi ít có dịp gặp nhau, mọi người hình như đều rất bận, lại rất căng thẳng, mà lại chẳng làm nên trò trống gì. Đi họp ở Bắc Kinh, tôi mới lại gặp chị mấy lần, bỗng nghe tin chị được điều đến Hàng Châu làm Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Triết Giang, chị không đủ quyết tâm đi. Tôi hỏi ngay chị, chị bảo là ở Đại học Phúc Đán, chị có nhiều người quen, ở Hàng Châu, ngoài con gái và con rể chị, ở đơn vị toàn là người lạ. Chủ tịch khoá trước của Hội lại là người phạm sai lầm, bị cách chức. Đổi một môi trường công tác mới, chị có điều e sợ. Tôi tin rằng chị sẽ đi Hàng Châu, chẳng cần tôi hà hơi tiếp sức. Tôi cũng chưa từng đến nhà ở tập thể của Đại học Phúc Đán thăm chị. Năm 1959, tôi và Tiêu San đi tham quan Tân An Giang. Đó là lần đầu tiên sau giải phóng, chúng tôi đi Hàng Châu, và ở đó chúng tôi đã cùng chị đoàn tụ, thật đúng như là được gặp người thân. Chị đã già thêm, người lại không được khoẻ, luôn luôn nhớ đến bạn bè ở Thượng Hải, và mấy lần chị nói đến nỗi buồn tẻ trống trải. Tháng 5 năm sau, tôi đi Hàng Châu, nhưng chị lại đi chữa bệnh ở Bắc Kinh, Lần này tôi đi Hàng Châu là để viết một bài phát biểu, khoảng hai tháng sau đó, Đại hội Nhà văn Toàn quốc lần thứ ba sẽ họp ở Bắc Kinh, các đồng chí ở Hội Nhà văn bảo tôi phát biểu trong Đại hội, Tôi chẳng biết là nên bắt đầu nói từ đâu, cầm bút lên, chẳng viết được chữ nào, đành phải núp ở Hàng Châu, ở Tây Hồ thì đúng chẳng ai quấy rầy, có thể nói không từng gặp mặt người quen. Tuy có nhiều thì giờ như thế, nhưng tôi ngồi ở trước bàn, viết chưa được mươi chữ lại xoá đi. Sau đó, cây bút máy bỗng nặng lên hàng tấn, tôi không cầm nổi nó nữa. Kinh nghiệm này những năm ấy tôi đã từng quen rồi. Có lúc viết lách thậm chí trở thành một cực hình, tôi luôn luôn nghĩ: mình "hết tài" rồi. Ngồi trong phòng, tôi thấy buồn bực, bèn dứt khoát bỏ ra ngoài đi lại, ngắm nghía một hồi, có lúc đi bên bờ hồ hai ba giờ liền, có lúc ngồi trong Trúc đình của công viên Tây Sơn cả một buổi sáng, chỉ nhìn cảnh trí quen thuộc của Tây Hồ, tôi không hề nghĩ gì khác. Tôi chuyển tới ba nhà khách, lại thêm một số ngày nữa, cuối cùng viết xong bài phát biểu đó ở Hoa Cảng, tiêu đề là "Văn học phải đi trước Thời đại". Khi tôi đọc bài phát biểu đó trên diễn đàn Đại hội, phảng phất như nó được viết ra trong một lúc, kỳ thực để có được những "lời lẽ hùng hồn" đó, tôi đã phải nghĩ khổ nghĩ sở không biết bao nhiêu ngày.

Năm 1961, thăm Nhật Bản trở về, đầu tháng 6 tôi lại đi Tây Hồ. Tôi cần phải giao bài văn thăm Nhật Bản đầu tiên. Ở Thượng Hải, đến thì giờ ngồi yên mà cầm bút cũng chẳng có, tôi đành lại phải trốn đi Hàng Châu và cũng hoàn thành nhiệm vụ ấy ở nhà khách Hoa Cảng. Tôi lại viết mấy bài bút kí, viết cả truyện ngắn nữa, bởi vì tôi có tình cảm chân thực và ham muốn được sáng tác, tôi đáng viết những tác phẩm mà tôi muốn viết. Lần này tôi ở lại ba tuần. Ở nhà khách còn có một người bạn nữa, anh đến trước tôi, cũng đến để viết. Hàng ngày ăn cơm tối xong, tôi và anh đi dạo, thường là đi tới tận đường vào mộ của cụ Cái Khiếu Thiên mới quay về, Trên đường hầu như không có người đi lại, ánh sáng rất êm dịu. Chúng tôi đi dưới bóng cây xanh, màn đêm buông xuống quanh chúng tôi. Tôi không quên được những cuộc đi dạo thoải mái như thế. Cụ Cái lúc đó vẫn còn sống, cụ đã mua cái sinh phần này khá nhiều năm rồi. Có một lần, thời giờ còn sớm, tới đường vào mộ, tôi bước lên từng bậc tới trước mộ. Chính bản thân cụ Cái đang ngồi trên ghế đá, khoẻ khoắn làm sao, mạnh mẽ làm sao, hài lòng làm sao khi ngắm nhìn bia mộ khắc dòng chữ đỏ ghi tên cụ, nhìn cảnh sắc ở dưới dốc, phảng phất như đây chính là nhà cụ: Cụ đã nói chuyện với tôi như tiếp khách tại nhà mình. Chúng tôi cùng đi xuống, thân thiết bắt tay nhau chào tạm biệt. Đó cũng là lần cuối cùng tôi nói chuyện với cụ. Năm năm sau, tháng 7 năm 1966, tôi đến Tây Hồ tham gia buổi "Đại liên hoan trên hồ” của Hội Nhà văn Á Phi, nghe người ta nói cụ Cái cũng bắt đầu bị đấu tranh phê phán, tôi cũng không tiện hỏi thêm. Sau khi bản thân tôi cũng là tội nhân giam vào "chuồng bò", nghe thấy một tin nồi chõ: Cụ Cái bị bức hại đến chết. Đến cả cụ già 80 tuổi cũng bị cực hình, tôi chưa chịu tin. Một số năm sau mới biết rằng tình hình thực tế còn đáng sợ hơn nhiều so với tin đồn. Không nói đến chuyện cụ không còn cách nào nằm được vào khu mộ đã vất vả tu tạo nhiều năm, đến ngay đường vào mộ, ngay bệ bia, ngay sinh phần, ngay cả bàn đá, ghế đá... đều biến ra tro bụi. Tuy nhiên đôi câu đối khắc ở hai bên bệ bia là thường xuyên xuất hiện trước mắt tôi:

Anh danh cái thế đường ba ngả

Kiệt tác kình thiên dốc bốn chiều.

Nền nghệ thuật ưu tú quyết không phải bạo lực nào cũng có thể xoá mờ đi được.

Tôi nhớ không rõ có phải Cô Chín cùng đi thăm sinh phần của cụ Cái với tôi không, lúc đó chị đã trở lại Hàng Châu, nhưng do trời nóng, chị rất ít khi ra ngoài. Tôi và người bạn ấy đã tới Bạch Lạc Kiều nơi ở vô cùng u tĩnh của chị. Trước cửa rì rào suối chảy, trong sân là một cây ngân hạnh cao to. Chúng tôi ngồi ở bậc thềm dưới cửa sổ nói chuyện rất chan hoà tới ba tiếng đồng hồ. Một buổi chiều khác, ba người chúng tôi ngồi ở đình hóng mát dưới đỉnh Phi lai chùa Linh Ấn cả một buổi. Chúng tôi nói rất ít, tay tôi cầm chén trà, cảm thấy thời gian từ từ trôi đi ở bên mình. Tôi có một cảm giác sung sướng, vô tư lự. Thế nhưng khi phải chia tay chị, bỗng tôi cảm thấy chị như vẫn muốn về Thượng Hải, vì ở đây chị thấy buồn tẻ. Tôi và người bạn từ chùa Linh Ân tiễn chị về Bạch Lục Kiều. Chị liên tục vẫy tay cho chúng tôi, nét mặt cười hiền hậu biết bao, chân thành biết bao, mà cũng đơn côi buồn tẻ biết bao!

Đầu năm sau, năm sáu người chúng tôi từ Quảng Châu đi tham quan đảo Hải Nam. Ngồi trên một chiếc xe du lịch đi quanh đảo một vòng, Cô Chín cũng ở trong đoàn. Tiếp đó, chị lại về Quảng Châu ăn tết với gia đình tôi, rồi đi xem chợ hoa. Chị rất vui mừng viết thư ca ngợi những điều chị thấy lúc đó. Tôi còn nhớ, chúng tôi ở nhà khách của thành phố Hải Khẩu chờ máy bay về Trạm Giang đã tới hai ngày rồi, mọi người đều thấy sốt ruột. Trong khi chuyện phiếm sau bữa cơm tối, chị đã nói về thân thế của chị hơn một tiếng đồng hồ. Không ngờ trên đường đời của chị lại lắm chông gai đến thế, chị đã phải khó khăn nhưng cương quyết vượt ra khỏi sự trói buộc của gia đình kiểu cũ, vứt bỏ cuộc sống hào hoa của một tiểu thư con nhà giàu để đi tìm trí thức, sống bằng sức lực của mình, muốn làm một việc như bản thân chị từng nói "sáng tạo một thế giới mới, một cuộc đời mới", làm "một con người chân thực". Những ngày tháng kiên trì đấu tranh đó, nếu như không được tự do, chị sẽ ốm và chết trong nhà. Chị không chịu khuất phục, cuối cùng đã ra khỏi được cái gia đình giàu có ấy. Chị nói rất giản dị, như nói những chuyện ở đâu đâu, rất xa rất xa. Mà quả thật là những chuyện nhiều năm trước rồi, nhưng chị không thể không xúc động. Chị nói rằng cách đó không lâu, trong một lần học tập, chị đã nói về quá khứ của mình. Sau buổi họp, có một đồng chí nói với chị, trước đây cứ nghĩ rằng chị là một phần tử trí thức cũ được săn sóc cung chiều, thuận buồm xuôi gió, đến giờ mới hay rằng chị cũng phải qua một cuộc đấu tranh gian khổ, cho nên càng hiểu thêm về chị hơn. Tôi nói đúng là như thế, trước đây tôi cũng nghe người ta bảo chị cô độc, thanh cao, hay mặc quần áo màu đen, một mình im ỉm trong nhà, không thì cũng cô đơn đi đi lại lại trong sân. Chị cười. Một con người như chị, ở trong xã hội cũ tránh sao không bị người ta hiểu lầm? Chị đâu có ưa gì cô độc? Trái tim cháy bỏng của chị cần sự ấm áp của cuộc đời biết bao!

Từ sau đó, sự đi lại giữa chị và cả nhà tôi ngày càng mật thiết hơn. Hai đứa con tôi rất quí chị. Chúng tôi đã sống với chị một thời gian ở Hoàng Sơn, lại cùng nhau tắm suối nước nóng ở Tùng Hoá. Trong một năm chúng tôi thế nào cũng phải thăm chị hai ba lần, thư từ qua lại càng nhiều hơn. Chị rất thích đọc thư của Tiêu San và cũng viết khá nhiều thư trả lời Tiêu San. Đầu năm 1966 chị tới Thượng Hải, tôi cùng với người thân và bạn bè ở Thượng Hải chúc mừng chị chẵn bảy mươi tuổi. Lần ấy, chúng tôi đã thoải mái sum vầy với chị mấy ngày liền. Kỳ thực nói là vô tư, cũng cần phải mở ngoặc đơn, vì các nhà văn ở Thượng Hải lúc này đã bắt đầu phải học bài: "phê bình vở kịch lịch sử Hải Thuỵ bãi quan" của Diêu Văn Nguyên. Chiều thứ bảy nào, tôi cũng phải đến Hội trường Văn nghệ để học tập. Có một lần, Diêu Văn Nguyên hí ha hí hửng khích lệ mọi người "nói cho bằng hết". Nhìn thấy hắn phồng mang trợn mắt, hoa chân múa tay, tôi cảm thấy trên đầu tôi mây đen đang kéo đến, một trận bão táp sắp ập ngay xuống. Thời gian Cô Chín ở Thượng Hải không lâu, nhưng chị cứ khăng khăng đòi tham gia lớp học tập của chúng tôi. Tôi cười, khen chị "tích cực học tập", chị bảo chị đến để "rút kinh nghiệm", trở về có thể cũng sẽ phải làm cái việc học tập như vậy, qua đó tôi mới thấy rằng chị cũng hơi lo. Trước và sau Thanh minh năm ấy, tôi và Tiêu San không đi Tây Hồ thăm Cô Chín được. Chị đã cùng mấy người đồng sự vội vàng đi họp ở Bắc Kinh. Tình thế mỗi ngày một căng, ngay cả Tiêu San cũng tham gia đội công tác "tứ thanh” ở nhà máy đồng.

Cô Chín từ Bắc Kinh về, vẫn ghé qua Thượng Hải. Tôi còn nhớ chị ở lại nhà khách mấy ngày, rồi tôi còn nghe chị khen Tiêu San tham gia đội công tác có rất nhiều tiến bộ. Chị không hề nói đến tình hình đi họp ởBắc Kinh. Thế nhưng đến cụ Quách[2] cũng công khai tuyên bố tác phẩm của cụ phải đốt hết, bản thân cụ cũng đồng ý lăn lộn vào đời sống. Bởi thế, một người bạn làm thơ cũng thành khẩn khuyên tôi nên tỏ thái độ. Ngay sau đó, tôi hoàn toàn phủ định mình, không hề cảm thấy đau đớn, ngược lại còn thấy nhẹ nhàng, nghĩ bụng thế nào rồi cũng qua được một thời gian. Hết cuộc vận động này đến cuộc vận động khác, tưởng như mài dũa cho đầu óc người ta nhạy bén thêm, kì thực, ngược lại, nó chỉ mài cùn đi. Mấy tháng ấy, trạng thái tinh thần và tư tưởng, tình cảm của tôi là như thế. Tôi hình như rất sợ sệt, rồi lại tựa hồ chẳng để ý gì. Tôi đến ga Bắc tiễn Cô Chín lên tàu, đưa tay vẫy mãi toa xe từ từ chuyển bánh để chào chị, chị có vẻ mặt hiền như người chị cả. Tôi không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp chị. Nhưng tôi lại có một ý nghĩ: chúng ta không có gì để che mưa, làm sao có thể che nổi một trận mưa như trút nước có thể ập tới! "Chúng ta" đây không chỉ nói riêng tôi, không chỉ nói riêng Cô Chín, còn có rất nhiều người, chung số phận như nhau.

Khoảng hơn hai tháng sau, tôi bất ngờ lại tới Hàng Châu. Tôi đến để tham gia cuộc "Đại liên hoan trên hồ" của các nhà văn Á Phi vừa nói ở trên. Tôi từ Bắc Kinh, đến Vũ Hán. Sau chuyến đi Hàng Châu, các nhà văn Á Phi chia đi ba ngả để tham quan và hẹn gặp nhau ở Hàng Châu. Là phó Đoàn đại biểu của Trung Quốc, tôi và một số đồng chí cùng công tác đến Tây Hồ trước để liên hệ với các nhà văn ở địa phương. Tôi đinh ninh rằng Cô Chín thế nào cũng ra tiếp khách phương xa. Thế nhưng ở đây tôi đã không gặp dù một người quen nào của Hội lien hiệp Văn học Nghệ thuật hay hiệp hội nhà văn. Bảo rằng họ đều có vấn đề, đều không được ra đón. Tôi không dám hỏi thêm nữa, sợ sẽ phải nghe thêm những tin tức đáng sợ. Thôi thì một ông giám đốc Sở văn hoá của tỉnh có mặt cũng có thể biểu hiện được nền văn hoá xán lạn của chúng ta rồi! Trước hôm rời Hàng Châu, một nhà thơ người Philippin hỏi tôi: tại sao ở một nơi non xanh nước biếc, cảnh đẹp như tranh thế này mà lại không gặp một nhà thơ hay nhà văn nào? Tôi ấp a ấp úng, không trả lời được, về đến Thượng Hải, tiễn khách nước ngoài đi rồi, bản thân tôi cũng bị bao vây, không được đi đâu nữa.

Bây giờ tưởng nhớ lại, tôi vẫn còn có cảm giác như mơ như tỉnh. Lúc bấy giờ cũng thế, tôi cứ luôn cho rằng chuyện này không có thật. Thế nhưng sự việc cứ liên tục xảy ra, khám nhà, cưỡng bức lao động, chỉ trong một đêm trở thành người có tội, v.v.. Con gái tôi không thể ở nhà được, nó cùng đi xâu chuỗi với bạn bè. Qua Hàng Châu, nó đã vào thăm Cô Chín. Cô Chín đã tiếp đãi nó và còn cho nó tiền tiêu vặt. Đó là chuyện xảy ra cuối tháng 11, Cô Chín tuy chỉ là liên quan, nên chưa bị cách ly thẩm tra, còn giữ con gái tôi ở lại Bạch Lạc Kiều một đêm. Nghe nói nhân viên phục vụ ở khách sạn Hoàng Sơn đã tố cáo chị tắm bằng sữa bò, Cô Chín vô cùng căm phẫn. Năm 1961, chúng tôi có nghỉ hè ởHoàng Sơn, sau này Tiêu San cũng đưa các con tới nghỉ ở lầu Tử Vân lưng chừng núi. Khách sạn Hoàng Sơn ở ngay phía dưới lầu Tử Vân, hàng ngày chúng tôi đều đi thăm Cô Chín. Ở đó cũng chẳng có gì là hào hoa, sang trọng. Cô Chín cũng chẳng hề được đãi ngộ đặc biệt. Sáng sớm, chúng tôi thường uống sữa đậu nành, chẳng ai từng thấy sữa bò. Thế nhưng đối với những điều gọi là "tố giác" trong vận động, chúng tôi đều thể nghiệm thấy rằng, bên trên cần cái gì, bên dưới có ngay cái đó. Khi còn ít tuổi xem truyện cũ, tôi cứ không hiểu tại sao chỉ có ba chữ "có lẽ có” mà cấu thành tội ác tày đình, đến bây giờ thì hoàn toàn rõ rồi! Mười năm đại hoạ làm một cuộc "Đại triển lãm văn vật phong kiến", mọi người đều "được bài học sâu sắc". Khoảng tháng 10 năm sau, tại trụ sở cũ của Phân hội Nhà văn Thượng Hải, “phái tạo phản” đã đấu tranh phê phán trưởng ban Tuyên huấn Thị uỷ Thạch Tây Dân. Tôi cũng bị lôi ra đấu theo. Hôm đó, “phái tạo phản” ở Hàng Châu đến phát biểu, đòi Thạch Tây Dân không được trực tiếp trả lời. Tôi lo thay cho Cô Chín. Thế nhưng về sau tôi cũng không nhận được tin gì không hay.

Tháng 5 năm 1974, con rể tôi đi công tác ở Hàng Châu. Tôi bảo cháu đến thăm Cô Chín. Cháu đã tìm được chị. Chị vẫn ởnguyên chỗ cũ, chỉ có điều nhà ở bị thu hẹp lại, chỉ còn một gian. Chị đã 78 tuổi, con rể chị đã chết, con gái cũng không được khỏe, rất ít người nhòm ngó đến chị. Chị rấtcô đơn, lạnh vắng, có lúc mong con rể tôi đến để đánh bài tulơkhơ. Chị có viết thư cho tôi, nhưng vấn đề của tôi còn chưa được giải quyết triệt để, không tiện thường xuyên viết thư cho chị. Lại một năm rưỡi nữa qua đi, tình hình của tôi hiển nhiên chưa có gì thay đổi, sinh mạng của tôi vẫn còn đang ở trong bàn tay nanh vuốt của "lũ bốn tên". Con gái tôi cũng đi Hàng Châu. Nó cũng đến Bạch Lạc Kiều. Vợ chồng con gái tôi đã đem lại một chút ấm áp cho cuộc sống cô đơn, lạnh lẽo của một bà già 80 tuổi. Thế nhưng ngoài công tác và học tập, chúng cũng còn hoạt động của chúng, còn phải tham gia những cuộc phê này, phê nọ không bao giờ hết, làm sao có thể thường xuyên đến thăm chị?

Cuối tháng 9 năm 1976 con gái và con rể tôi về Thượng Hải dự Quốc khánh. Tôi hỏi chúng về tình hình Cô Chín. Con gái tôi bảo chị bị viêm phổi phải vào viện điều trị. Vợ chồng nó có đến thăm chị, chị đã không nhận ra được chúng. Sau Quốc khánh, vợ chồng con gái tôi về Hàng Châu đã cắt gửi cho tôi mảnh báo đưa tin về lễ truy điệu đồng chí Phương Lệnh Nhũ, thì ra, lúc chúng tôi đang chuyện trò về chị, chị đã không còn ở trên cõi đời này nữa!

Cô Chín sống 80 năm, không phải không thọ. Trong thời gian bị liên quan, chị còn lội xuống ruộng lao động, chịu được thử thách, và cuối cùng chị đã được "giải phóng". Thế nhưng, chị không lợi dụng đầy đủ được sinh mệnh và tài hoa của chị. Chị không thể chết mà không hối tiếc. Điều khiến người ta tiếc hơn là chị còn thiếu có hơn chục ngày nữa, mà chị không được nhìn thấy "lũ bốn tên” tan rã.

Sau khi "lũ bốn tên" sụp đổ, tôi hai lần đến Tây Hồ, đều không mang hoa đến viếng mộ chị được, vì các mộ như thế không tồn tại. Tôi biết rằng có hộp tro hài cốt, nhưng hộp tro hài cốt sao có thể thay tế đàn ở trong tim người. Trong tim tôi, kỉ niệm về nhà thơ nữ chính trực, hiền lành ấy mãi mãi không phai mờ. Tôi hai lần ghé qua Bạch Lạc Kiều, nhưng chỉ ngồi trên xe chạy ào qua. Trước mắt tôi là một màu xanh, chẳng nhìn thấy rõ thứ gì nữa hết. Thế nhưng trong mắt tôi, có một bà cụ già chống gậy trúc tươi cười vẫy tay không ngớt.

Dời Hàng Châu, tôi đi Bắc Kinh tham dự Lễ truy điệu đồng chí Mao Thuẫn. Ở gian nghỉ của phòng Tân Cương tại Nhân dân Đại lễ đường, tôi ngồi bên đồng chí Đinh Linh. Bà bỗng dưng bảo tôi: "Tôi không thể quên được một con người - Phương Lệnh Nhũ. Trong thời gian tôi gặp khó khăn, chị ấy đã chủ động tìm đến tôi, tỏ lòng muốn giúp đỡ. Lúc đó tôi không dám tin chị ấy, chị ấy đến mấy lần, còn nói: "Tôi thực sự thông cảm với chị, kính trọng chị...". Chị ấy quả là con người tốt". Tôi cảm ơn đồng chí Đinh Linh đã nói những lời như vậy. Bản thân Cô Chín chưa hề nói đến câu chuyện những năm ba mươi.

Viết xong ngày 15 tháng 5.

[1] Bạch đê: Con đê đo Bạch Cư Dị đời Đường đắp. Ở Hàng Châu còn có một con đê do Tô Đông Pha đời Tống đắp gọi là Tô đê.

[2] Quách Mạt Nhược.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.