Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 539 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TƯỞNG NHỚ ÔNG PHONG

❊ ❊ ❊

Đồng chí Phong Nhất Ngâm gửi thư bảo tôi nói đôi điều về sự đi lại giữa tôi và ông thân sinh ra chị ấy. Tôi gần đây hay ốm vặt, động một tí lại cảm thấy mệt mỏi, nhưng công việc lại rất bận rộn, rất ít có thì giờ yên lặng để suy nghĩ. Thành phố mà tôi đang ở đây rất nhiều tiếng ồn, muốn cho đầu óc được yên tĩnh, quả thực là khó quá, luồng suy nghĩ vừa mới bước vào "quá khứ" thì lập tức có những tiếng động lục cục lôi nó trở lại. Quá khứ, hiện tại và tương lai luôn luôn trộn vào với nhau, muốn nhớ lại, suy nghĩ cho tử tế, không biết nên bắt đầu làm từ đâu.

Sau khi nhận được thư của đồng chí Nhất Ngâm, tôi cùng sơ sơ nghĩ qua mấy lần. Tôi thấy rằng giữa tôi và ông thân sinh của chị ấy, không có mối qua lại riêng tư. Tôi cũng thấy lạ. Đúng lý ra, chúng tôi phải trở nên bạn bè qua lại mật thiết. Thứ nhất, ông Tử Khải và tôi đều là tác giả ra sách khá nhiều ở hiệu sách Khai Minh; thứ hai, tuy trong những năm hai mươi, ba mươi, một số bạn của tôi thường nói tới ông Tử Khải bằng những lời lẽ rất thân thiết, hữu hảo, trong số họ, có người đã cùng với ông mở ra trường Lập Đạt, có người là học trò của trường này; Thứ ba tôi cho rằng ông là một nhà nhân đạo chủ nghĩa, mà trong tư tưởng của tôi cũng có mầm mống của chủ nghĩa nhân đạo; Thứ tư, không cần nêu thí dụ nữa... nghĩ tới nghĩ lui, nguyên nhân duy nhất đại khái là tính tôi cô độc, không thích nói chuyện, không khéo giao thiệp, không muốn gặp người lạ, có chuyện gì cũng chỉ để trong bụng, giấu trong lòng, có gì không giấu hết, thì nhờ vào giấy bút. Tôi ít được tham gia các hoạt động văn nghệ thời bấy giờ, và cũng rất ít ló mặt trong những trường hợp công khai. Ngay từ những năm ba mươi, tôi đã có một ý nghĩ thế này: tên tuổi của nhà văn không thể tách rời tác phẩm của mình. Đến bây giờ tôi vẫn giữ vững chủ trương đó. Nhà văn mãi mãi không thể xa rời người đọc, mãi mãi không thể xa rời nhân dân. Là một người đọc, tôi không thể quên được ông Tử Khải.

Bây giờ, tôi hoàn toàn không thể nói được tôi đã gặp ông Phong lần đầu tiên vào lúc nào (sau này tôi cũng gọi ông Tử Khải theo thói quen như thế), cũng không nói rõ được tình hình lúc mới gặp nhau; Thế nhưng tôi còn nhớ khi còn đi học ở Nam Kinh, đó là năm 1924 thì phải, tôi đã thích những bức tranh vui của ông, xem những ý cảnh trong thơ cổ do ông vẽ, xem tâm linh và sự viễn tưởng của trẻ em mà ông vẽ, đối với tôi, là một thứ hưởng thụ rất khoan khoái, về sau này, cứ như thế mãi. Cuối năm 1928, từ nước Pháp trở về, tôi cùng ở với Sách Phi, ông ấy làm việc ở hiệu sách Khai Minh, cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi là "Diệt vong" cũng xuất bản ở hiệu sách Khai Minh. Sách Phi luôn luôn nói tới ông Phong, cũng không chỉ một lần ca ngợi ông "hiền lành", chất phác. Ông còn là một người lao động chuyên cần nữa. Tôi đã nhìn thấy từng tập, từng tập bản dịch và tranh vẽ của ông. Ông giới thiệu những hiểu biết cơ bản về nghệ thuật phương Tây. Ông kể chuyện về các nhà soạn nhạc phương Tây, ông giải thích lịch sử phát triển của Hội hoạ phương Tây, ông cổ động cho việc bảo vệ sinh vật, ông thăm dò thế giới tinh thần của trẻ em... Tôi chưa từng gặp ông, nhưng trong óc tôi có một hình ảnh của "ông Phong", một con người không tranh giành gì trên đời, nhưng lại yêu tất cả mọi thứ trên đời, một trái tim thơ ngây trong trắng, không vẩn đục. Tôi không hoàn toàn tán thành chủ trương của ông, nhưng tôi kính trọng cách ăn ở của ông với người khác. Tôi không chỉ yêu thích những bức tranh của ông mà tôi còn yêu chữ viết của ông. Năm 1930, sau khi dịch xong cuốn "Tự truyện" của Kiopothm, (1842-1921) tôi nhờ Sách Phi chuyển xin ông Phong đề chữ bìa giúp. Khỏi cần nói tôi mừng rỡ như thế nào khi nhận được bút tích của ông. Cuốn "tự truyện" với số in rất ít đó là một vật kỉ niệm duy nhất nối liền tôi với nhà nghệ thuật hiền lành chất phác ấy.

Tôi lục lọi trong trí nhớ của mình, có thể nói chẳng tìm được gì. Tôi đã không còn điều kiện để trầm tư mặc tưởng nữa.

Trước chiến tranh, qua Sách Phi, tôi luôn luôn biết được tình hình công việc và những chi tiết trong đời sống của ông Phong. Sau này tôi được đọc những bài văn của ông miêu tả một cách thân thiết cuộc sống sáng tác êm ả của ông ở quê hương. Rồi chiến tranh bùng nổ, quân xâm lược áp sát quê hương, ông cùng người nhà hốt hoảng lánh nạn. Từ đó, ông ở Triết Giang, đi Giang Tây, Hồ Nam, Quảng Tây rồi lại đi Tứ Xuyên. Trong thời gian này, tôi cũng đi rất nhiều nơi. Tôi không, nói được là do nguyên nhân gì, tôi với ông không hề có một mối liên hệ gì, thế nhưng dấu chân ông trước sau vẫn không hề mất đi trước mắt tôi. Những tuỳ bút mà ông đăng ở các nơi, cái nào kiếm được, tôi đều đọc hết. Khi đọc, tôi như gặp được người bạn cũ cảm thấy vui mừng thân thiết. Ông viết hết sức mộc mạc, vô cùng chân thành. Những vui buồn, những điều may hay không may của ông hút chặt lấy tim tôi. Thời gian kháng chiến, tôi có gặp ông ở hiệu sách Khai Minh tại Trùng Khánh, nói vài câu chuyện, sau đó mới nghĩ ra rằng đó là ông Phong. Một lần khác, tôi và một người bạn đến thăm ông tại chỗ ở mới của ông tại Sa Bình Bá. Không nhớ được chúng tôi đã nói những gì, thời gian cũng không dài lắm, nhưng tôi vẫn giữ được một ấn tượng rất tốt. Ông vẫn là con người như thế: một trái tim hiền lành, chất phác, một cuộc sống đơn sơ, giản dị, vẫn trước sau vui vẻ, cần mẫn với công việc của mình. Tháng 7 năm 1942, tại hiệu sách Khai Minh phố Từ Đường ở Thành Đô, tôi đã mua được bức tranh do chính tay ông vẽ tặng cho một người anh em họ của tôi, để khêu gợi tình cảm cao đẹp của họ.

Sau ngày Thượng Hải được giải phóng, tôi mấy lần gặp ông Phong và đồng chí Nhất Ngâm, nghe nói cuốn "Nguyên thị vật ngữ" nổi tiếng của Nhật Bản, ông bắt đầu tự học Nga văn và cho biết phải học xong Nga văn rồi mới đi Bắc Kinh. Tôi tin rằng ông đủ nghị lực để làm tốt hai việc đó. Quả nhiên năm 1959, ông đi Bắc Kinh tham dự cuộc họp của Uỷ ban Chính trị Hiệp thương Toàn quốc: những tác phẩm văn học dịch từ Nga văn của ông cũng lần lượt được xuất bản (trước khi "lũ bốn tên" bị lật đổ, tôi nghe một người bạn cũ nói ông đang đọc toàn bộ bản thảo cuốn "Nguyên thị vật ngữ" do Phong tiên sinh dịch). Ông liên tục làm việc không biết mệt mỏi. Chúng tôi có lúc cùng tham gia học tập, ông rất ít phát biểu. Hôm nay tôi còn nhớ láng máng trong Đại hội Văn nghệ lần thứ Hai ở Thượng Hải năm 1962, ông chỉ phát biểu ngắn gọn. Ông ủng hộ phương châm văn nghệ: "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng". Ông phản đối biện pháp dùng cái kéo to cắt cây xanh mùa đông, ép buộc phải như nhau, ông yêu cầu phải để cho hoa nhỏ, hoa không tên cũng được nởthoải mái. Ba tháng sau, ông lại đăng bài tuỳ bút "A mi". Nhà nghệ thuật lão thành, "người gieo giống chuyên cần" này chẳng qua rất ôn hoà nói mấy câu tâm sự, ông chỉ nói về lạc thú trong cuộc sống, bàn về phương pháp làm việc. Ông nằm mơ cũng chưa từng nghĩ rằng mình sẽ "chống" cái gì, sẽ "tấn công" vào đâu. Thế nhưng không lâu sau, dông bão đã nổi lên, bài nói chuyện của ông, tranh châm biếm của ông (minh hoạ cho "A mi", "bác mèo ngồi lên gáy của quý khách") trong chốc lát đã biến thành cỏ độc "chống Chủ nghĩa Xã hội". Tôi cũng phải cõng trên lưng một cái đệm rất nặng. Trong Hội nghị Đại biểu Văn nghệ lần thứ Hai của Thượng Hải, tôi là người đầu tiên lên phát biểu, nói mạnh mẽ về "dũng khí và tinh thần trách nhiệm của nhà văn", tôi đi đầu "phát huy dân chủ". Căn cứ vào kinh nghiệm trước đây, lúc ấy tôi cũng hơi lo lắng, nhưng không ngờ được rằng gió lại chuyển hướng nhanh đến thế. Một mặt tôi cũng thầm trách mình thiếu bình tĩnh, nói cho sướng miệng, óc tôi cũng chuyển hướng theo với gió, một mặt khác, tôi chưa thông, tôi có ý kiến với cách gọi là "dẫn rắn ra hang". Nghe người ta phê bình "A mi" lúc đầu tôi cũng chẳng thấy làm sao, nhưng nghe nhiều lần rồi, tôi cũng dần dần tiếp thu cách nhìn của người khác, nghi ngờ tác giả có ác cảm với xã hội mới. Dù cho tôi chưa từng viết bài phê bình, cũng chưa công khai tỏ thái độ, nhưng hồi tưởng lại sự biến đổi về tư tưởng của mình trong thời kì ấy, tôi không thể không cảm thấy áy náy vì chưa làm tròn "tinh thần trách nhiệm của nhà văn". Trong khi bàn luận riêng với nhau, tôi chưa từng nói một câu nào công bằng cho "A mi". Kì thực tôi cũng không thể đòi hỏi mình ngặt nghèo, tôi cũng chưa từng nói một lời nào công bằng cho bài nói ấy của tôi. Lúc bấy giờ hình như có một thứ áp lực rất lớn nào đó làm đổ vỡ nốt cả một chút suy nghĩ độc lập còn lại của tôi. Trong mấy năm tiếp theo, tôi mơ hồ, như đang bơi dưới biển, bờ thì còn xa, tôi thì đã cảm thấy không đủ hơi sức nữa, nhưng tôi vẫn cố bơi về phía trước.

Thế là "Đại Cách mạng Văn hoá" bắt đầu. Sau khi tôi tham dự Hội nghị khẩn cấp các nhà văn Á Phi ở Bắc Kinh về đến Thượng Hải, trước khi tiễn khách nước ngoài, tôi đã đến họp ở Phân hội của Hiệp hội các nhà văn. Trong phòng lớn đã treo báo chữ lớn: “xây dựng vô sản, triệt tiêu tư sản", phê phán bài nói chuyện của tôi. Người bị phê phán hôm ấy là một nhà phê bình văn học mà không lâu sau buộc phải nhảy lầu. Tôi được mời ngồi lên "ghế trên", ngước mắt lên là nhìn thấy tờ báo chữ to vạch "tội ác" của tôi treo ở trước mặt. Tôi thừa biết, sau khi tôi tiễn khách đi rồi, tai hoạ sẽ giáng xuống đầu tôi. Tôi còn làm ra vẻ không có chuyện gì xảy ra, kì thực trong lòng rất sợ. Tôi mong chờ xuất hiện một sự lạ: tôi được cứu vớt, cả nhà tôi được cứu vớt. Tự mình cũng thấy đó là hoang tưởng. Tôi bắt đầu thừa nhận rằng mình "có tội", bắt đầu dùng lời lẽ trên báo chữ to thay cho suy nghĩ của mình. Các bạn bè đã vạch ra giới hạn với tôi, kỳ thực một số rất lớn những người quen đã vào "chuồng bò" sớm hơn tôi, không cần thiết để tôi vạch giới hạn ra với họ. Ông Phong là một trong những người đó. Tôi chưa từng đến nhà ông, nhưng tôi biết ông ở trong một căn nhà tây nhỏ kiểu Tây Ban Nha ở đường Thiểm Tây Nam. Khi tôi đi làm, đi họp hay đi học tập ở Phân hội Hiệp hội các nhà văn phải đi qua ngõ phố vào nhà ông. Tôi hỏi thăm người ta, ngay từ hồi tháng 6, ông đã bị định tội là quyền uy "học thuật phản động" bị phê phán và giày vò rồi.

Tôi cũng bị chụp cho cái mũ "quyền uy học thuật phản động", đó chỉ là một trong mấy cái mũ liền, và tôi đã tiếp nhận một cách vô tư. Tôi nghĩ thôi thì đã liệt tôi vào cái hạng "quyền uy" rồi, tôi không là "phản động", lẽ nào lại là "Cách mạng", Tôi lại có thể cho rằng mình "nhận mà không hổ thẹn, mà còn không cảm thấy phẫn uất trước cảnh ngộ của ông Phong. Trong hai năm đầu, thậm chí tôi còn coi đời sống "chuồng bò" và sự giày vò trong "đấu tranh phê phán" là sự thử thách không thể thiếu được của một trí thức. Tôi thực sự tin tưởng rằng nếu ngậm đắng nuốt cay qua được cái đận này chúng ta sẽ có thể bước lên con đường tươi sáng. Tôi bị phê đấu tương đối muộn, nhốt vào "chuồng bò" một năm sau mới lôi ra bãi phê đấu. Tôi luôn luôn lo lắng cho mình có thể qua được cái đận này không. Tôi còn nhớ, có một hôm đến "chuồng bò" để làm việc, xuống xe ở ngã tư đường Hoài Hải và đường Thiểm Tây, thấy trên bức tường cạnh cửa hàng có dán bài báo phê phán Phong Tử Khải, trên đường Thiểm Tây cũng có. Xem những bài báo đó, tôi bỗng thấy run, nghĩ bụng sắp sửa đến lượt mình rồi chăng? Lúc ấy, tư tưởng của tôi hình như rất phức tạp, thực ra lại hết sức đơn giản. Đáng buồn cười nhất là có một thời gian ngắn, tôi đã tập trộm cách cúi đầu khom lưng và tư thế tiếp thu phê phán. Điều đó nói lên rằng tôi tiếp thu phê bình rất tự nguyện, hơn nữa còn muốn có biểu hiện tốt ở chỗ phê đấu nữa. Sau này, tôi đã lên sàn phê đấu thật, chịu hết lần này đến lần khác. Quả thực là tôi đã được "giáo dục". Mọi người đều đang đóng kịch, tôi không phải là diễn viên, thì làm sao có thể diễn tốt được?

Sau khi phê đấu xong, tôi ra đường Thiểm Tây đáp xe điện về nhà. Nhìn thấy những nếp nhà Tây kiểu Tây Ban Nha, tôi lại nhớ đến ông Phong, trong lòng rất buồn. Tôi còn không chịu nổi, một con ngưòi hiền lành, chất phác như ông thì làm thế nào? Một hôm tôi đã nhìn thấy ông. Ông không chống gậy, mà cắp một cái ô ở nách, vội vội vàng vàng đi qua trước mặt tôi, râu cũng không còn nữa. Không giống ông cái lần tôi gặp ông khi học tập ở Uỷ ban Chính trị Hiệp thương thành phố. Vội vàng đi qua, ông hầu như không từng nhìn thấy tôi. Tôi cảm thấy ông có vẻ trẻ ra. Thấy thêm một người tốt nữa còn sống, tôi thấy rất mừng. Tôi những tưởng rằng ông qua được cái đận trước mắt này.

Nhưng sự việc lại không đơn giản thế. Không biết từ đâu lại có một trận cuồng phong thổi tới. Cái gọi là cuộc vận động "phê tranh đen" bắt đầu. "Bí thư Thành ủy" Từ Cảnh Hiền lúc đó đã đọc báo cáo khua gậy lên tuỳ ý chỉ tên. Nhà nghệ thuật từng làm nhiều việc tốt cho dân lại vô duyên vô cớ bị lôi ra làm bia đỡ đạn. Đến cả bức tranh cổ "Mãn sơn hồng diệp nữ lang tiêu" cũng bị coi là cỏ độc "chống lại ba ngọn cờ đỏ". Bóng hoa đào dưới nước của bức tranh "Trong thuyền ngắm cảnh xuân" cũng bị coi là chứng cớ tội ác "công kích công xã nhân dân". Những cuộc phê đấu, vô tình đã không có sức thuyết phục được ai nữa, nó chỉ có khiến tôi thấy ra rằng: ai có quyền, có thế, người ấy có lý. Từ đó trở đi, tôi bắt đầu hiểu được hiệu quả xã hội mà người ta bàn luận là cái gì. Tôi dần dần rõ ra sự phê bình lợi hại như một cây gậy luôn luôn phủ định sự phê bình. Gậy đập xuống càng nhiều càng bộc lộ mình ra. Lúc đầu quả thực tôi tin rằng phê đấu là để cứu vớt tôi. Nhưng sau khi chịu phê đấu nhiều lần rồi, tôi mới được rõ rằng những người lấy phê đấu làm vui là những người đạp lên thây người khác mà nhẹ bước thanh vân thẳng tiến. Tôi đã trở thành một tín đồ thành kính, chợt phát hiện ra tất cả phù chú đều là tuỳ ý phịa ra. Tôi không thể sống bằng những lời nói dối, cần phải tự động não. Mắt dần mở to, cái ba lô trên lưng cũng ngày một nhẹ đi. Tôi thôi không hoảng sợ, thôi không lo lắng, sợ sệt, thôi không còn cảm giác có tội nữa. Đầu óc hoạt động trở lại, ý nghĩ cũng nhiều lên, tôi nghĩ đến đến Nhạc Phi ở Hàng Châu bị phá huỷ cùng với bốn pho tượng sắt quỳ trước Nhạc mộ, tôi mơ hồ nhìn thấy một nguồn sáng mới. Đó chẳng phải là kết cục của những kẻ dùng cái tội danh "không dùng chứng cớ" để hại người đó sao?

Tôi không còn phải lo lắng cho ông Phong nữa. Hình ảnh một nhà nghệ thuật được nhân dân yêu mến không thể bị tổn hại. Tôi thôi không còn tin "lũ bốn tên" có thể hoành hành lâu dài được nữa, nhưng tôi không ngờ rằng chúng lại sụp đổ nhanh đến thế, càng không thể ngờ rằng ông Phong lại không được nhìn thấy sự diệt vong của chúng nó.

Trên thế giới ngày nay, các họa sĩ thường sống lâu, giá như không có những cuộc phê đấu, sỉ nhục và giày vò của bọn người kia, ông Phong nhất định sẽ còn sống đến ngày nay. Thế nhưng nghe nói năm 1975, ông chết trong phòng theo dõi khoa cấp cứu của một bệnh viện. Ở Thượng Hải tổ chức hai lần lễ truy điệu cho ông, tôi đều không tham dự. Lần thứ nhất vào tháng 9-1975, tôi còn chưa được giải phóng, ông cũng còn chịu hàm oan. Lần thứ hai, vào tháng 6 năm 1976, tôi đi họp ởBắc Kinh và cuối cùng cũng được minh oan xá tội. Không được đặt một vòng hoa trước linh cữu của ông, tôi luôn thấy hối tiếc. Nhà nghệ thuật ưu tú nhất định được người ta tưởng nhớ. Nhưng tôi không thể không nghĩ rằng, đối với những người như thế thì tưởng nhớ sau khi người ta chết rồi không bằng trước đó yêu mến họ, Hãy nhớ thật kỹ bài học đau đớn này!

Ngày 31 tháng 5.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.