Của MAXWELL STRUTHERS BURT
Trích từ Tạp chí Scribner's
Đó có lẽ là một buổi tối tháng Hai, khoảng năm giờ, và cụ ông Vandusen, sau khi đã để lại chiếc mũ và áo khoác ngoài ở phòng giữ đồ, thong thả bước dọc theo sảnh chính của Câu lạc bộ St. Dunstan để đến ô cửa rộng dẫn vào phòng đọc sách ở tầng một. Vào giờ này trong ngày, cụ thường tìm đến thư viện; ở đó thường có một nhóm nhỏ những người đàn ông mà cụ quen biết cả, họ là những người thân thiện, không mấy khi tranh cãi, mang lại cảm giác tĩnh tâm. Giờ đây, cụ dừng lại giữa tấm màn nặng được kéo lệch sang một bên, khẽ nhìn vào bên trong căn phòng. Ánh sáng từ sảnh phía sau tạo thành một vũng sáng mờ dưới chân cụ, nhưng xa hơn thế chỉ là một màn đêm nâu thẫm, vương phảng phất mùi sách bọc da, nơi bóng dáng vài người đàn ông đang ngả người trên những chiếc ghế lớn cạnh cửa sổ hiện lên mờ ảo. Bản thân khung cửa sổ, một ô vuông sương mù nhợt nhạt và nhòe nhoẹt, dường như chỉ làm tăng thêm vẻ u ám. Cụ Vandusen, một cái bóng nhỏ nhắn, tròn trịa giữa những chiếc bóng xung quanh, tìm một chiếc ghế trống và lặng lẽ ngồi xuống.
"Và vấn đề là ở chỗ đó," Maury đột nói phá lên, cứ như thể anh đang tiếp nối mạch của một cuộc trò chuyện vừa bị bỏ dở cách đó chỉ một phút; "và đó chính là điểm mấu chốt" — và giọng nói vốn dĩ ôn hòa của anh bỗng nặng nề một cách đầy triết lý, khác hẳn ngày thường — "điều ảnh hưởng sâu sắc nhất đến một kẻ có tâm tính và thế hệ như tôi. Nữ thần Báo oán — định mệnh — hay bất cứ thứ gì anh muốn gọi tên nó. Nỗi sợ rằng có lẽ nó hoàn toàn không tồn tại. Rằng không có thứ đó; hoặc tệ hơn nữa, rằng bằng một cách kỳ lạ, quái gở nào đó, con người đã tự biến mình thành chúa tể của nó — không còn phải sợ nó nữa. Và con người thì chưa thích hợp để hoàn toàn làm chủ bất cứ thứ gì; anh ta vẫn còn mang nửa phần quỷ dữ, nửa phần vượn hoang. Có một cảm giác nghẹt thở chết tiệt rằng thế giới đang trôi dạt vô định. Tôi không biết phải diễn tả thế nào — nghĩa là, cứ như thể chúng ta, với tất cả những kiến thức mới ma quái mà chúng ta thu nhận được trong năm mươi năm qua, những cỗ máy mới ma quái mà chúng ta phát minh ra, bỗng trở nên mạnh mẽ hơn cả Thượng đế; đã tước đoạt quyền lực tối cao từ tay đấng tối cao, bất kể đó là ai, thứ mà chúng ta từng trông chờ sẽ đưa ra phán xét và cân bằng vào phút cuối, mặc cho bao đớn đau có thể nằm giữa chừng. Có lẽ mọi thứ vẫn ổn thôi — tôi không biết. Nhưng đó là một kết luận đầy xáo trộn khi đòi hỏi một kẻ thuộc thế hệ tôi phải thản nhiên chấp nhận. Tôi được nuôi dưỡng — tất cả chúng ta đều vậy — để tin vào một trật tự triết lý dẫu mơ hồ nhưng có quy củ, rằng cái ác tất yếu sẽ chịu hình phạt của chính nó, thế mà giờ đây —!"
"Nhưng —" Tomlinson bắt đầu nói.
Maury ngắt lời anh. "Phải, phải," anh nói, "tôi biết tất cả những điều đó; tôi biết anh định nói gì. Tôi hoàn toàn ý thức được một thực tế rằng con đường của Nữ thần Báo oán được cho là những con đường chậm chạp — cực kỳ chậm chạp. Tôi ý thức được thực tế rằng trong học thuyết Cơ Đốc giáo, tiến trình đó thường chỉ hoàn tất sau khi chết, nhưng ngày nay mọi thứ đã khác. Làm sao, khi mọi thứ khác đều chuyển động quá nhanh chóng, một vị Thượng đế công bình lại có thể đủ kiên nhẫn nữa cơ chứ? Thời gian đã bị xóa nhòa trong bốn năm qua; không gian và các thế kỷ bị thu gọn lại; những đau khổ của một thế kỷ bị nén lại thành vài chu kỳ tháng. Không, có gì đó sai quấy, một sự đứt gãy trong nhịp điệu của vũ trụ, bằng không thì những con quái vật gớm ghiếc đã khơi mào cho toàn bộ chuyện này, những kẻ đao phủ máu lạnh, đầy đặn, suốt bốn mươi năm qua chỉ ngồi ngả lưng lên kế hoạch cho tương lai của những người đàn ông và đàn bà như thể chúng đang xếp nhữngquân bài trong ván bài skat đầy cười cợt của chúng, đã phải thức dậy dưới một vương quốc mặt trời nhỏ máu rồi." Anh dừng lại một lát. "Còn về gã tật nguyền tâm thần, kẻ phát ngôn của chúng," anh kết luận một cách u ám, "gã què quặt đang trầm ngâm trên những bãi chiến trường ấy, hắn sẽ tìm thấy một nỗi kinh hoàng đang bò ngoằn ngoèo trong bộ não mình như cái chết được hiện hình."
"Và anh nghĩ hắn sẽ không làm thế sao?"....
Trong bóng tối, cụ Vandusen đột ngột ngồi thẳng người dậy và cố dùng mắt xuyên thủng màn đêm bên phải mình.
Lại tiếng ghế kêu có cót két.
"Và anh nghĩ hắn sẽ không làm thế sao?" giọng nói lại vang lên.
Những từ ngữ rơi từng tiếng một vào không gian tĩnh lặng, giống như những viên đá bị thả xuống một vũng nước bởi một bàn tay chuẩn xác. Khi những gợn sóng âm thanh do chúng tạo ra lụi tàn trong bóng chiều nâu thẫm, căn phòng dường như trong khoảnh khắc mang một sự chờ đợi lặng thỉnh, biến sự yên tĩnh bình thường thành những chuyển động và âm thanh. Từ con phố buồn tẻ bên ngoài, tiếng rao của một cậu bé bán báo, chói tai và nài nỉ, càng làm khoảnh khắc sắc bén thêm phần căng thẳng. "Báo đặc biệt đây!" cậu ta thét lên. "Báo đặc biệt! Thêm một trận tập kích lớn nữa ở mặt trận phía tây!"
Chính Torrance là người đã đặt câu hỏi. "Cái gì —" anh ta nói. "Nhưng, nhưng — tại sao —!" Và rồi tiếng thở khò khè đầy ngọng nghịu của anh ta bật ra như một chiếc ống bễ bị trật khớp.
Cụ Vandusen, rướn người về phía trước ghế, lúc ấy không nhận ra sự phi lý của ngọn lửa bực bội sắc bén đang bùng cháy trong lòng vì sự gián đoạn đó. Quả thực, mãi về sau cụ mới nhận ra những tình huống kỳ lạ khác: chẳng hạn như sự kinh ngạc đứt quãng của Torrance; sự im lặng của Maury, của Wheeler, và trên hết là của Tomlinson. Ngay lúc đó, cụ chẳng nhận thức được điều gì, ngoài một sự tò mò mãnh liệt muốn nghe xem kẻ vừa ngồi xuống bên cạnh mình có gì để nói. "Một giọng nói phi thường! Hoàn toàn phi thường! Tựa như tiếng chuông, nghĩa là, nếu một chuông mà bằng cách nào đó có thể mang lại cảm giác ẩn chứa một sự hài hước sâu xa." Thế mà, ngay cả khi cân nhắc tất cả những điều ấy, khi người ta đã già và đã nghe qua biết bao nhiêu giọng nói — Nhưng lúc này cụ vẫn ngồi cứng đờ trong bóng tối. "Xin hãy trật tự!" cụ thì thầm sắc lạnh. "Chúng ta không thể yên lặng được sao!"
"Cảm ơn!" giọng nói đó cất lên, với ngữ điệu điềm tĩnh, chắc nịch. "Chẳng có gì gọi là phi thường lắm đâu. Bộ óc con người vốn không khác nhau là mấy. Chỉ là — tôi có thể tiếp tục chứ?"
Và trước khi sự đồng thuận vội vã của cụ Vandusen kịp thốt ra, giọng điệu điềm tĩnh ấy đã chuyển sang giọng kể chuyện. "Tốt," chúng nói. "Rất tốt, vậy nhé. Nhưng trước tiên tôi phải nhờ anh huy động trí tưởng tượng thật lớn. Chẳng hạn, tôi phải nhờ anh tưởng tượng ra một khung cảnh hoàn toàn khác biệt với đêm tháng Hai này, đến mức đôi mắt anh sẽ phải nhắm nghiền lại hoàn toàn trước hiện tại và chỉ mở ra trước lời lẽ của tôi. Tôi phải nhờ anh tưởng tượng ra một khu rừng sồi vào đầu tháng Mười Một; một khu rừng sồi đang mơ màng dưới thứ ma thuật tĩnh lặng của những ngày ấm áp, mờ sương; những ngày xuất hiện trước cái lạnh cắt da cắt thịt đầu tiên của mùa đông. Anh có tưởng tượng ra điều đó không?"
"Có!" cụ Vandusen thì thầm; và cụ nhận thấy những người đàn ông khác hoàn toàn không trả lời.
"Ánh nắng dịu dàng," giọng nói tiếp tục, "lọc qua những cành cây trụi lá và chạm vào những thân cây bạc mịn cùng lớp rêu dưới gốc chúng bằng một thứ vàng mờ ảo óng ánh như cánh chuồn chuồn. Và xa tận tầm mắt về mọi hướng là những thân cây bạc này, phủ đầy bụi nắng; xếp thành hàng thẳng, thành những cột chéo, cho đến khi tầm mắt lạc vào những cái bóng màu bạc của khoảng không xa xăm.
"Ở những nơi hoang vắng khuất lấp, nơi cỏ vẫn còn xanh tận rễ, những con lợn rừng từ trong rừng bước ra và trừng trừng nhìn bằng đôi mắt đỏ nhỏ xíu; nhưng ngoại trừ tiếng cành cây khô gãy dưới chân chúng thì vô cùng yên tĩnh. Kỳ lạ thay. Yên tĩnh với sự tĩnh mịch tận cùng của mùa hè. Chỉ thỉnh thoảng một cơn gió lay động những quân đoàn lá xám chất đống, và đôi khi, nhưng rất hiếm khi, người ta nghe thấy tiếng ríu rít của một chú sóc từ xa vọng lại. Cứ thế! — đó là khu rừng của tôi.
"Xuyên qua nó là một con đường phẳng phiu, được gìn giữ cẩn thận giống như dải lụa màu tía. Và bản thân nó cũng góp phần tạo nên ấn tượng tĩnh mịch, như những công trình hoang vắng bàn tay con người vẫn thế. Trên bề mặt được lu lèn, ẩm ướt là dấu chân chẻ đôi của loài lợn rừng.
"Giờ đây có tiếng cành cây khô gãy, tiếng lá xào xạc, và một con lợn đực khổng lồ — kẻ đầu đàn hoa râm — nặng nề bước qua những lối đi loang lổ ánh nắng để ra đến mép đường. Trong chốc lát, nó đứng đó, an toàn và bình thản, rồi đột ngột ngẩng đầu lên, đôi mắt nhỏ trố lên kinh hãi, và quay ngoắt lại, lao xéo về nơi bầy đàn của nó đang gặm cỏ. Có tiếng chạy trốn hộc tốc của những thân hình khổng lồ; rồi lại hoàn toàn tĩnh lặng, ngoại trừ một nhánh cây gãy ở đằng xa. Nhưng con đường chỉ vắng bóng trong chốc lát. Dường như cái bóng của con lợn đực khổng lồ vẫn còn vương vấn trên đó khi, vượt qua khúc cua, tiếng tù và, ngọt ngào như tù và săn bắn, vang lên một tiếng, hai tiếng, kết thúc bằng một bản hòa tấu những nốt cao, và một chiếc ô tô xám dài phóng vụt vào tầm mắt, cắt ngang ánh nắng và vũng bóng râm bằng chiếc mũi xe lấp lánh của nó. Phía sau nó là chiếc khác, và chiếc khác nữa, rồi chiếc khác nữa, cho đến khi tổng cộng sáu chiếc hiện ra; và khi chúng phóng vút qua, người ta thoáng thấy, trên ghế của những chiếc xe mui kín, một số người đàn ông khoác áo choàng dài và đội mũ bảo hiểm; người to người nhỏ; người béo người sắc sảo; người già người trẻ, và đặc biệt là một người, ở chiếc xe thứ hai từ trên xuống, đang nhìn thẳng về phía trước và không hề quan tâm đến chuyện trò của những kẻ đồng hành. Ông ta là một con người nghiêm khắc, có phần đáng sợ, và khuôn mặt mang một vẻ xanh xao kỳ lạ. Trên đỉnh một sườn đồi nhiều cây cối, cách đó một phần tư dặm, con lợn rừng khổng lồ ngửi thấy mùi xăng và tinh tế nhăn mũi lại."
"Và thế này," giọng nói cất lên, "đoàn xe ô tô này, những tiếng tù và này, vui tươi gần như những tiếng tù và săn bắn thời xưa, đúng như các anh đã đoán, chính là Kẻ Tật Nguyền — như cách các anh chọn gọi hắn — quay trở lại một căn nhà săn để nghỉ ngơi, để trút bỏ khỏi vai trong chốc lát, nếu có thể, chiếc áo choàng ẩm ướt mà hắn đã mặc suốt ba năm và mấy tháng qua.
"Trời đã tối khi họ đến căn nhà săn, một tòa nhà dài hai tầng bằng thạch cao trắng và khung gỗ phía trên. Mặt trời đã lặn một lúc sau những ngọn đồi thấp phía Tây, và ở khoảng trống nơi ngôi nhà tọa lạc, chỉ còn vương lại chút bụi đỏ của ánh hoàng hôn trong bầu không khí trong vắt. Tại đây, những hàng sồi nhường chỗ cho những hàng thông và tùng dày đặc, và sự ngọt ngào của buổi chiều tối ngập tràn các giác quan như dòng nước mát chạm vào đôi mắt mỏi mệt. Đèn pha của những chiếc ô tô cắt những cung sáng lóa rộng lớn trong màn đêm đang buông xuống. Từng chiếc một, những ô tô dừng lại trước lối vào với tiếng động cơ gầm rú và trút xuống những hành khách của chúng. Cầu thang ngắn trong vài phút trở thành một bức tranh sống động đung đưa những chiếc áo choàng xám. Có tiếng cựa ngựa khẽ ngân vang. Ánh đèn từ trong cửa ra vào chạm vào chóp những chiếc mũ bảo hiểm khiến chúng lấp lánh như những vì sao nhỏ.
"Kẻ Tật Nguyền chậm rãi bước xuống và đi qua giữa đoàn tùy tùng đang đợi sẵn. Hương thơm của hàng thông đã khuấy động tâm hồn hắn bằng những ký ức. Hắn đang nghĩ về lần cuối cùng hắn ở đây, nhiều năm trước — à, thực ra không phải nhiều năm lắm, chỉ bốn năm, thế mà nó cứ như ký ức thời thơ ấu. Hắn dừng lại ngay bên trong ngưỡng cửa để cởi áo choàng. Một bàn tay, với sự thiếu hụt kỳ lạ không có đôi xứng, vươn về phía trước. Kẻ Tật Nguyền đột ngột quay người lại và nhìn thấy một người hầu chỉ có một tay đang cúi chào hắn. Hắn khựng lại trong giây lát, rồi:
"'Anh bị thương à?' hắn hỏi, và dù không có gì xa với mong muốn của hắn hơn thế, giọng hắn vẫn mang một âm thanh rít nhỏ; có vẻ là sự giận dữ, dù rất có thể đó là nỗi sợ."
"Người đàn ông đỏ bừng mặt. Anh chưa bao giờ có thể rũ bỏ được cảm giác rằng việc bị tàn tật bằng cách nào đó là một điều đáng xấu hổ. Anh từng rất khỏe mạnh trước đây.
"'Thưa Bệ hạ, tại Liège,' anh thì thầm. 'Vào năm đầu tiên.'"
"'Lúc nào cũng là tay trái,' Kẻ Tật Nguyền nói. 'Lúc nào cũng là bên trái. Dường như lúc nào cũng vậy.' Nhưng giờ hắn đang nổi giận. Hắn quay sang một thành viên tùy tùng. 'Chẳng lẽ ta không thể trốn tránh những chuyện thế này ngay cả ở đây sao?' hắn hỏi. Hắn đi thẳng lên phòng mình mà không nói thêm lời nào. Từ phòng làm việc của hắn, một cánh cửa kính dài mở ra ban lô. Hắn nhớ rõ ban công ấy. Hắn mở cửa và bước ra ngoài. Hoàng hôn giờ đã tan biến. Đêm rất tĩnh lặng và vương một chút se lạnh. Những vì sao bắt đầu xuất hiện. Những rặng thông đen vươn tận mép bãi đất trống trông như một đội quân lớn đang ẩn mình."
Có một khoảng lặng nhỏ.
"Và vì thế," giọng nói vang lên, "giờ đây tôi có thể đi thẳng vào sự việc đầu tiên trong hai sự việc mà tôi muốn kể cho các anh nghe. Tôi chỉ chọn hai vì không cần nhiều hơn. Hai là đủ. Và tôi sẽ gọi câu chuyện thứ nhất là 'Câu chuyện về những chiếc lá biết hành quân'.
"Những ngày ấm áp vẫn kéo dài, và tại căn nhà săn có rất nhiều kế hoạch để giữ cho mọi thứ chuyển động, mọi người đều bận rộn và thỏa mãn. Nhưng là những kế hoạch bí mật, các anh hiểu đấy. Kẻ Tật Nguyền không phải là một kẻ dễ bị áp đặt kế hoạch trừ khi hắn nghĩ rằng chính mình có quyền quyết định cuối cùng. Có những chuyến cưỡi ngựa, đi xe và dã ngoại và, vào các buổi chiều, thường là một chuyến đi bộ dài, trong đó những thành viên lớn tuổi và mập mạp hơn trong đoàn tùy tùng hoặc là ở nhà hoặc là lê bước đầy đau đớn tụt lại phía sau những người bạn đồng hành năng nổ hơn của họ. Kẻ Tật Nguyền là một kẻ khó mà theo kịp; hắn đi bộ rất nhanh băng qua đồng ruộng, vung vẩy gậy, dường như chọn những con đường gập ghềnh nhất. Cứ như thể hắn muốn rũ bỏ những kẻ khác; và hắn vô cùng kiêu hãnh về sự năng nổ của chính mình. Thật là một cảnh tượng kỳ lạ khi thấy đoàn tùy tùng tản mác của hắn, rải rác khắp những khung cảnh bạc của rừng sồi, giống như những con yêu tinh nghiêm túc, ai nấy theo cách này hay cách khác đều hướng đến một mục đích chung. Và tôi cho rằng chính vì cái thói quen này của Kẻ Tật Nguyền mà một buổi chiều nọ, khi gần chập tối, hắn thấy mình hoàn toàn đơn độc, ngoại trừ tôi, người bằng cách nào đó vẫn bước theo kịp nhịp, và một thợ săn mặc đồ xám thầm lặng bước đi phía trước với dáng đi tĩnh lặng, cảnh giác như một con thú hoang.
"Trời rất tĩnh lặng. Hoàn toàn không có gió. Không một tiếng động ngoại trừ tiếng lá khô dưới chân chúng ta; và Kẻ Tật Nguyền không hề nói chuyện như thường lệ. Quả thực, hắn có vẻ rất đăm chiêu, thậm chí ủ rũ. Thỉnh thoảng hắn lại dùng gậy quất vào một bụi cây hay một đám dương xỉ ngả vàng khi đi ngang qua. Chẳng mấy chốc những thân cây mở ra một khoảng trống nhỏ ngập tràn ánh nắng. Và rồi có một con suối phải băng qua, và bên kia là một sườn dốc thoai thoải trước khi những rặng cây xuất hiện trở lại. Ánh nắng ấm áp một cách dễ chịu sau cái lạnh của khu rừng, và sườn dốc với lớp cỏ khô mềm mại trông có vẻ là một nơi mời gọi để nghỉ ngơi. Kẻ Tật Nguyền đi tiếp cho đến khi đến vành đai cây cối phía bên kia, rồi hắn quay người lại đối mặt với mặt trời đang lặn, lúc này đã biến thành một vầng hào quang mờ ảo ở đường chân trời. Khu rừng trải dài thành những làn sóng dịu dàng ngút tầm mắt.
"'Chúng ta sẽ dừng lại ở đây,' Kẻ Tật Nguyền nói, 'cho đến khi bọn họ đuổi kịp. Lũ lười biếng! Nếu chúng phải làm một nửa khối lượng công việc mà kẻ nghèo hèn nhất của ta ở phía nam phải chịu đựng, chúng đã chẳng dễ gì đánh mất cẳng chân của mình đến thế.' Rồi hắn ngồi xuống và châm một điếu thuốc. Tôi ngồi bên cạnh hắn. Lên cao hơn trên sườn dốc, trong bóng râm của những rặng cây, gã thợ săn ngồi đó. Chúng tôi chờ đợi. Mặt trời đốt cháy vầng hào quang đang run rẩy của nó và bắt đầu lặn xuống đỏ rực dưới những ngọn đồi. Những chiếc bóng dài buông xuống, lẩn khuất những đốm sáng nhảy múa của chập tối.
"'Chúng đến kìa!' Kẻ Tật Nguyền thốt lên. 'Ta thấy bóng xám đang chuyển động. Kìa — ở dưới đó, giữa những tán cây!' Hắn chỉ bằng gậy. Mận sâu trong những lối đi bí mật của khu rừng bên kia con suối quả thực có vẻ có sự chuyển động. Kẻ Tật Nguyền nửa đứng dậy. 'Ta sẽ làm cho chúng phải xấu hổ, lũ lười biếng này,' hắn nói, rồi lại ngồi xuống, với một cái quỵ người kỳ lạ, mềm nhũn.
"Bởi vì, các anh thấy đấy, trời rất tĩnh lặng, như tôi đã nói. Không một chút gió. Khu rừng dường như đang chìm trong giấc ngủ. Thế mà từ trong đó, và băng qua khoảng trống, và lên sườn dốc, sao cho nó chạm vào mái tóc và làm lạnh đôi má, một thứ gì đó không phải là gió nhưng lại giống gió đã xuất hiện. Một luồng hơi ẩm ướt nhè nhẹ. Thế đấy! Và rồi biến mất. Và ngay sát gót nó là những chiếc lá. Vâng, hàng triệu chiếc. Nhưng không phải bị thổi bay; không phải vội vã. Rất ngập ngừng; cứ như thể do chính ý chí của chúng. Người ta có thể nói rằng chúng rỉ máu tuôn ra với một tốc độ chậm chạp quái gở từ giữa những thân cây lờ mờ chập tối và băng qua khoảng trống hướng về con suối. Những chiếc lá xám, lê bước tiến lên với một vẻ uể oải ngoan cố kỳ lạ. Và khi chúng đến con suối, chúng khựng lại ở bờ bên kia và dừng lại, và những chiếc lá phía sau dồn đẩy tiến lên phía trước. Và nhìn xuống chúng, chúng trông có giống như lưng của những người lính mặc áo xám bị thương, đang lê lết trên đầu gối để bò ra suối không...
"Tôi không biết khoảnh khắc ấy kéo dài bao lâu — có lẽ là vài phút; có lẽ không lâu hơn một nhịp hít vào rồi thở ra. Nó bị phá vỡ bởi hình bóng của một người đàn ông — lần này là một người đứng thẳng — bước ra từ khu rừng đối diện và, dừng lại một lát trên mép bãi đất trống, ngước nhìn lên nơi Kẻ Tật Nguyền đang ngồi. Sau đó hắn ra hiệu cho ai đó phía sau, và chẳng mấy chốc từng bóng dáng của đoàn tùy tùng tụt hậu lần lượt xuất hiện. Họ tập hợp thành một nhóm nhỏ và với sự chuẩn xác nào đó hành quân băng qua khoảng trống. Khi họ giẫm đạp lên những chiếc lá tơi tả bên bờ suối, ánh mắt trân trân trong đôi mắt Kẻ Tật Nguyền nhạt dần, và hắn dõi theo họ với sự tập trung cứng nhắc. Chẳng mấy chốc họ đã đến nơi hắn đang đứng dậy. Một người đàn ông lớn tuổi, to lớn với khuôn mặt đỏ bừng dẫn đầu họ. "
"'Nhưng thưa Bệ hạ,' ông ta phản đối, 'điều đó không ổn chút nào. Ngài không nên rời bỏ chúng tôi theo cách này. Ngay cả ở đây, liệu có hoàn toàn an toàn không?'"
"Kẻ Tật Nguyền không trả lời. Lén lút và với một vẻ hổ thẹn đầy ranh mãnh, không giống với tính cách thường ngày, hắn đang cố đọc biểu cảm trên khuôn mặt gã thợ săn. Nhưng đôi mắt của tên trung thành đó vẫn điềm tĩnh. Không có dấu hiệu nào cho thấy hắn đã thấy bất cứ điều gì bất thường...
"Không cần phải chần chừ," giọng nói vang lên. "Từ chuyện này sang sự việc thứ hai mà tôi muốn miêu tả cho các anh nghe chỉ là một bước. Tôi sẽ không đi vào chi tiết. Vì những điều đó tôi có thể hoàn toàn tin tưởng vào trí tưởng tượng của các anh. Và tuy nhiên, tất nhiên tôi không muốn các anh suy diễn rằng những gì tôi vừa kể cho các anh là không có căn nguyên — xuất hiện từ trời quang mây tạnh. Đương nhiên là không; đó là sự tích tụ, là đỉnh điểm. Những thứ như vậy không xảy ra hoàn toàn đột ngột. Có sự gặm nhấm dần các bờ sông, một con lạch nhỏ ở đây và ở kia, rồi tất cả cùng lúc, một dòng thác giống như dòng sông bị săn đuổi dưới ánh trăng. Tôi gọi đỉnh điểm đầu tiên là 'Câu chuyện về những chiếc lá biết hành quân'; tôi sẽ gọi đỉnh điểm thứ hai là 'Làn sương xuất hiện bất thình lình'.
"Hai tuần đã trôi qua; những ngày yên bình, những tuần chậm chạp, yên bình và chậm rãi như ánh nắng xuyên qua tán lá. Hai vị bác sĩ tại căn nhà săn, những kẻ tròn vo, sắc sảo với cặp kính cận dày cộp, xoa tay vào nhau và gật đầu chắc nịch khi họ tiến hành các cuộc hội chẩn hàng ngày. 'Hắn đang hồi phục nhanh chóng,' họ nói. 'Những nếp nhăn trên mặt hắn đang biến mất. Tập thể dục thêm chút nữa, giải trí thêm chút nữa — cứ thế!' Họ tưởng tượng ra những tấm huân chương trên ngực mình.
"Các anh đã bao giờ chứng kiến sương mù trong một đêm trăng trong rừng chưa? Không phải một khu rừng thưa, không phải một vùng đất mở rải rác cây cối, mà là một khu rừng thực thụ; vô tận đến mức, ép sát đến mức, người ta có cùng cảm giác nhân cách bị thu nhỏ lại và đồng thời cùng cảm giác mọi vật cản đã được dọn sạch giữa bản thân mình với sự cô độc của vũ trụ giống như ở ngoài khơi. Cứ như thể, nghĩa là, các anh thấy mình, chỉ là một cái bóng trong bóng tối, đang quỳ gối ngay trước một bệ thờ đang bùng cháy, đến nỗi các anh không thể ngẩng đầu lên hoàn toàn, sự tráng lệ của một vì sao. Nhưng sương mù trong một khu rừng dưới ánh trăng thậm chí còn làm mất đi hình hài nhiều hơn sương mù trên biển đêm trăng. Có những khối cây tối màu, hiện ra thỉnh thoảng phía trên những bóng ma trắng đang biến đổi, và những đỉnh của những ngọn đồi ẩn hiện, để tạo ra ấn tượng về một đường chân trời gần gũi nhưng dường như không thể vươn tới.
"Họ đã ăn tối xong ở căn phòng trần bằng gỗ sồi lớn ở tầng dưới, nơi ngọn lửa bùng cháy trong hốc đá, và ánh sáng dịu nhẹ của những ngọn nến trong chân nến bằng bạc càng làm cho bóng tối phía trên thêm phần u ám. Kẻ Tật Nguyền ngả người ra sau ghế và nheo mắt nhìn qua làn khói xì gà về phía chiếc bàn dài kéo dài ra xa hắn. Trong chốc lát hắn cảm thấy được trấn an; một chút của sự tự tin cũ kỹ từng là một trong những món quà vĩ đại nhất của hắn. Đó một phần là cảm giác thể xác, đang cuộn trào trong huyết quản giống như dòng máu mát lành theo sau sự tỉnh giấc từ một giấc ngủ lành mạnh. Cảnh tượng tất cả những người bạn này của hắn, những kẻ đi theo hắn này, với những khuôn mặt sắc sảo, sạm nắng, hay những khuôn mặt nhăn nheo và uyên bác của họ —! Chắc chắn hắn đang chiếm giữ một vị trí gần như bất khả xâm phạm; gần như bất khả xâm phạm như vị Thượng đế của Sức mạnh mà mục đích của ngài dạo gần đây đôi khi làm hắn bối rối theo một cách mới mẻ và phiền toái —. Thật nhảm nhí! Hắn nắm giữ quyền lực chắc chắn như hắn có thể nắm chặt thanh kiếm của mình nếu muốn. Sức mạnh nào trên thiên đàng hay dưới trần gian có thể bẻ gãy ý chí của một con người, miễn là ý chí đó đã được rèn luyện đầy đủ? Hắn cảm thấy mệt mỏi một cách dễ chịu sau chuyến đi bộ buổi chiều; hắn nghĩ rằng mình sẽ lên phòng một lúc, có lẽ viết một bức thư cá nhân nào đó, sau đó lại xuống chơi một ván bài. Hắn đứng dậy; hai hàng người dài dằng dặc bên bàn đứng lên cùng hắn, như một khối thống nhất, đứng nghiêm. Kẻ Tật Nguyền nhìn họ trong một giây đồng hồ kéo dài, trái tim dâng trào niềm kiêu hãnh; rồi hắn quay người bước đi.
"Ở phòng làm việc phía trên của hắn, hai thư ký đang viết lách bên chiếc bàn dưới ánh đèn có chụp màu xanh lá cây. Họ bật dậy khi hắn bước vào, nhưng hắn xua tay ra hiệu cho họ sang một bên."
"'Ta sẽ quay lại ngay,' hắn nói. 'Trước tiên ta muốn hút xong điếu xì gà của mình.'"
"Hắn mở cửa kính bước ra ban công, nhưng vì trời lạnh, hắn bước lại và đòi chiếc áo choàng quân đội của mình. Khi đã mặc xong, hắn một lần nữa bước ra ánh trăng... Và rồi, đột nhiên, hoàn toàn không còn ánh trăng nào nữa, hoặc chỉ là một thứ ánh sáng mờ nhạt nhất, giống như ánh sáng nhìn qua làn nước đục như sữa. Thay vào đó, hắn đã bước vào một làn hơi nước cuồn cuộn trong chốc lát khiến hắn hoàn toàn mất hút khỏi cánh cửa vừa bước ra; một xoáy nước sương mù, bóp nghẹt hắn, làm hắn lòa mắt một nửa, quấn lấy hắn như những sợi thừng ướt át, cuộn tròn, và trong một khoảnh khắc kinh hoàng, hắn thấy rằng xuyên qua làn sương mù là những cánh tay gầy guộc như đói kém vươn về phía mình, những ngón tay duỗi ra sờ sờ vào cổ hắn, bị làn sương mù xóa nhòa, rồi lại quờ quạng một lần nữa với một sự tập trung dò dẫm.
"'Chúa ơi!' Kẻ Tật Nguyền nói. 'Chúa ơi!' — và quằn quại trong cơn say đứ đừ để tìm bức tường phía sau. Tay hắn chẳng chạm vào đâu. Hắn thậm chí không biết bức tường nằm ở hướng nào. Hắn sợ phải di chuyển, vì có vẻ như không còn chiếc lan can nào để cứu hắn khỏi ngã nữa. Không có gì là vững chắc ở bất cứ đâu. Thế giới đã biến thành một thứ trôi nổi ghê tởm, bất ổn như khi nó mới được tạo ra. Những ngón tay lạnh giá, vươn xa hơn những ngón khác, chạm vào gáy hắn. Hắn phát ra một tiếng kêu khàn khàn, nghẹn ngào và lảo đảo lao về phía trước, ngã nhào qua chiếc lan can từ trong sương mù nhô lên đón hắn. Và chậm rãi làn sương rút lui; xuống khỏi ban công và băng qua bãi trống bên dưới. Một dải cỏ hẹp bừng sáng vì sương xuất hiện và rộng dần ra. Những ngọn cây bắt đầu lộ diện. Nhưng Kẻ Tật Nguyền không thể rời mắt khỏi làn sương, bởi vì hắn có cảm giác rằng khoảng trống ngập tràn những cánh tay tuyệt vọng của phụ nữ và trẻ em, và rằng xuyên qua lớp màu trắng đang dịch chuyển là ánh trắng của những khuôn mặt xếp hàng san sát của họ. Phía sau hắn là ánh sáng ấm áp của căn phòng, chiếu xuyên qua những cánh cửa kính. Nhưng hắn chưa dám bước vào; trước tiên cần phải kìm chế những bọt bọt mép nhỏ dù hắn vẫn cố gắng nhưng chúng vẫn làm ướt đôi môi hắn. Bởi vì các anh thấy đấy," giọng nói cất lên, và trong bóng tối, giọng điệu của nó mang một vẻ ảm đạm chậm rãi, nhịp nhàng, giống như tiếng vạt áo chém trong căn phòng đóng kín, "điều này còn tồi tệ hơn những chiếc lá rất nhiều. Vì rốt cuộc, người chết cũng chỉ là người chết, nhưng với người sống thì không có hồi kết."
Ít nhất một phút — hoàn toàn một phút — hẳn đã trôi qua, một phút mà trong đó những cái bóng màu nâu của thư viện, bị kìm hãm suốt thời gian dài bởi thứ ma thuật dệt nên từ giọng nói, lại bước lên chiếm lấy vị trí của chúng một lần nữa, trong khi cụ Vandusen chờ đợi giọng nói tiếp tục. Rồi câu thần chú vỡ tan như một quả cầu bị đập vụn, và với sự nhận thức đột ngột về nhiều điều, cụ rướn người về phía trước và sờ vào chiếc ghế bên phải mình. Không có ai ở đó cả. Cụ khựng lại với bàn tay vẫn đặt trên mặt ghế da. "Các anh có phiền nói cho tôi biết không," cụ hỏi, và nhận ra mình đang nói với chút cố gắng và vô cùng chuẩn xác, "liệu có ai trong số các anh quen vị quý ông vừa mới rời đi không?"
"Rời đi?" Tomlinson hỏi gay gắt.
"Đúng vậy — rời đi."
Giọng Tomlinson đầy vẻ hoài nghi. "Nhưng anh ta không thể nào đi được," anh ta quả quyết. "Từ chỗ tôi ngồi tôi đã nhìn thấy anh ta khi anh ta ra đến cửa. Dù rằng, nếu anh ta thực sự đã đi, tôi có thể nói, tạ ơn Chúa, rằng tôi nghĩ anh ta là một kẻ lừa bịp."
Với những bước chân lặng lẽ, chàng thanh niên Wheeler đã đi ra sảnh. Giờ đây cậu ta quay trở lại.
"Có lẽ các anh sẽ hứng thú khi biết rằng," cậu ta nói, "tôi vừa mới hỏi chuyện người gác cửa và cậu bé trực ở bậc thềm dẫn ra phía sau, và cả hai đều nói không có ai đi vào hay đi ra trong nửa giờ qua."
Đột nhiên giọng điệu cẩn trọng của cậu ta vút cao lên. "Quỷ tha ma bắt thế này là thế nào —!" cậu ta làu bàu. Cậu ta sải bước đến chỗ công tắc điện. "Làm ơn ơn, cho chúng ta ít ánh sáng đi," cậu ta nói. "Sao lúc nào chúng ta cũng cứ khăng khăng đòi ngồi trong cái bóng tối khốn kiếp này thế nhỉ?"