Tuyển Tập Truyện Ngắn Hay Nhất Năm 1919 Và Niên Giám Truyện Ngắn Mỹ

Lượt đọc: 119 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trò Đùa Trong Lễ Cưới

❊ ❊ ❊

Tác giả: JAMES BRANCH CABELL

Trích từ Tạp chí The Century

I. Về một vài hiệp ước

Đó là câu chuyện người ta vẫn kể ở Poictesme, kể về việc tình yêu đã chớm nở giữa Florian de Puysange và Adelaide de la Forêt như thế nào. Chuyện cũng kể rằng thời trẻ, Florian từng dăm bảy lần xiêu lòng trước những người phụ nữ khác vì lý do này hay lý do khác; nhưng chàng biết rõ đây chính là tình yêu lớn của đời mình, một thứ tình yêu sẽ trường tồn bất biến cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Và câu chuyện kể rằng Comte de la Forêt vuốt chòm râu điểm bạc và nói:

“Chà, xét cho cùng, Puysange cũng là một lãnh địa tốt—”

“Cứ như thể điều đó quan trọng lắm vậy!” con gái ông phẫn uất kêu lên. “Cha ơi, cha thật là một kẻ trần tục đến đáng ghét.”

“Con yêu,” vị lão ông đáp, “nó quan trọng đấy chứ. Lãnh địa thì trường tồn.”

Thế là ông chấp thuận cuộc hôn nhân, và đôi trẻ tổ chức lễ cưới vào đêm vọng lễ Walburga, ngày cuối cùng của tháng Tư.

Rồi người ta kể lại rằng Florian de Puysange bị dằn vặt bởi một suy nghĩ cứ quanh quẩn trong đầu. Chàng không biết đó là suy nghĩ gì. Chỉ là có điều gì đó chàng đã bỏ sót; có điều gì đó chàng định làm mà chưa làm; và ý thức lo âu về điều này cứ ẩn nấp ở tận góc khuất tâm trí chàng như một đám mây nhỏ không hình thù. Suốt cả ngày, giữa lúc bận rộn với bao chuyện khác, chàng cứ cố gắng lần tìm thứ suy nghĩ hãy còn mơ hồ ấy.

Giờ thì chàng đã nhớ ra: Tiburce.

Chàng thanh niên Vicomte de Puysange đứng ở ngưỡng cửa, ngoái nhìn vào căn sảnh rực rỡ ánh đèn, nơi những người họ Storisende đang dập dìu nhảy múa trong tiệc cưới của chàng. Vợ chàng, người vợ mới cưới tròn nửa tiếng đồng hồ, đang khiêu vũ với chàng Etienne de Nérac khôi ngô. Ánh mắt nàng chạm vào ánh mắt Florian, và Adelaide tặng chàng một nụ cười đặc biệt. Tay nàng chìa ra như muốn chạm lấy chàng, dẫu khoảng cách bề ngang căn sảnh đang chia cắt họ.

Lát sau Florian mới sực nhớ mỉm cười đáp lại nàng. Rồi chàng bước ra khỏi lâu đài vào một đêm không sao tĩnh lặng như một lời đe dọa không thốt thành lời. Một mảnh trăng nhỏ, cứng cáp và sần sùi ngự trị trên màn đêm bí ẩn. Đêm nay, vầng trăng lững lờ trôi giữa hư không xám xịt và lấp lánh, chẳng hiểu sao lại khiến Florian liên tưởng đến một quả táo khổng lồ sáng bóng nhưng chưa chín.

Tán lá quanh chàng chỉ khẽ rung động như nhịp thở của một người đang ngủ khi Florian rảo bước về hướng đông qua những khu vườn có tường bao quanh, rồi cứ thế tiến vào nghĩa trang. Những làn sương trắng đang dâng lên, thứ sương mù mà các phù thủy phái Amneran khét tiếng thường triệu hồi ở vùng này vào mỗi đêm vọng lễ Walburga để đánh đổi lấy những cuộc vui chơi mà sự e thẹn khiến người ta không dám tả lại.

Đã tròn năm năm nay Tiburce d'Arnaye nằm lại nơi đó. Florian nghĩ về người đồng đội quá cố và tình cảm từng gắn kết giữa họ — một thứ tình yêu trọn vẹn, sâu sắc và cao cả hơn mức bình thường giữa những người đàn ông; và trong đầu Florian chợt lóe lên ý nghĩ, rồi bị gạt phắt đi với vẻ hờn dỗi, rằng Adelaide yêu một cách vô minh trong khi Tiburce d'Arnaye yêu với sự thấu hiểu. Phải, chàng thiếu niên quý giá này từng thấu hiểu hầu như mọi thói hư tật xấu của Florian de Puysange, người mà dẫu vậy, vẫn lao thân mình chắn giữa lưỡi kiếm của Black Torrismond và ngực của Florian de Puysange. Và Florian thấy thật bất công khi mọi sự suôn sẻ đều thuộc về mình, còn Tiburce lại nằm đây, bị giam cầm trong lớp đất bùn che lấp đi muôn màu sắc, muôn vẻ phong phú và cả sự tiếu lâm của vạn vật — những thứ từng mang lại biết bao niềm vui cho Tiburce d'Arnaye. Và Florian cảm thấy — bởi đây là một đêm kỳ lạ — như thể Tiburce đang oằn mình giãy giụa vô ích dưới lớp đất kia, thứ đất bùn ngăn trở mọi cử động, bịt chặt lấy miệng Tiburce, không cho phép hắn cất lời, và đang cố gắng thốt lên một khao khát chưa được thỏa mãn và vô vọng.

“Ôi người đồng chí thân thiết,” Florian nói, “anh, người từng say mê sự vui thú, có một bữa tiệc đang diễn ra trong đêm kỳ lạ này, và lòng tôi buồn xiết bao vì không có anh ở đây để chia vui. Nào, nào, Tiburce, anh vốn là một người bạn vô cùng tin cậy của tôi; dù sống hay chết, anh cũng không được phép vắng mặt trong cuộc vui ngày cưới của tôi.”

Chàng đã cất lời như thế. Sương trắng dâng lên, và đó là đêm vọng lễ Walburga.

Rồi một điều kỳ lạ đã xảy ra: lớp đất trên ngôi mộ bắt đầu nhô lên và nứt toác ra, tựa như khi một con chuột chũi đang rẽ đất bò qua. Và sau đó, những điều kỳ lạ khác tiếp tục diễn ra, để rồi chẳng mấy chốc, Tiburce d'Arnaye đã đứng đó, xám ngắt và mờ ảo dưới ánh trăng khi hắn đang đứng phủi lớp đất mốc trên vầng trán, và khi hắn đang đứng chớp chớp đôi mắt sáng rực, hoang dại. Và hắn dường như không thay đổi là bao trong mắt Florian; chỉ có điều trán và mũi của Tiburce không hắt bóng lên khuôn mặt hắn, bàn tay cử động của hắn cũng chẳng để lại chút bóng râm nào, dẫu vầng trăng đang lơ lửng trần trụi ngay trên đầu.

“Anh đã quên lời thề giữa chúng ta,” Tiburce lên tiếng; và giọng hắn không thay đổi mấy, dù có phần nhỏ đi.

“Đúng là vậy. Tôi đã quên. Giờ thì tôi nhớ rồi.” Và Florian khẽ rùng mình, không phải vì sợ hãi, mà vì cảm giác ghê tởm.

“Đàn ông thường thích quên đi những chuyện thế này khi họ kết hôn. Điều đó cũng hoàn toàn tự nhiên thôi. Nhưng chẳng lẽ anh không sợ tôi, người từ chốn kia trở về sao?”

“Sao tôi lại phải sợ anh, Tiburce, người đã hy sinh mạng sống vì tôi chứ?”

“Tôi không nói thế. Nhưng ở dưới đó chúng ta thay đổi rồi.”

“Và tình yêu có thay đổi không, Tiburce? Vì chắc chắn tình yêu là bất tử mà.”

“Dù sống hay chết, tình yêu vẫn đổi thay. Tôi không nói tình yêu lụi tàn trong những kẻ như chúng tôi, những kẻ chẳng còn mong đợi thêm điều gì từ tình yêu nữa. Thế nhưng, nằm đơn độc trong lớp đất tối tăm, chẳng có việc gì làm ngoài việc hoài niệm về cuộc đời khi trước, về ánh dương chan hòa, về những lời ca tiếng hát và chuyện thì thầm nơi góc tối khi chúng ta còn có đôi môi; và về việc cỏ non, nước róc rách và những vì sao cao vời vóc vẫn khơi gợi nên nhữnget dại khờ đẹp đẽ nhường nào cho đến tận bây giờ; rồi nghĩ xem những người thân yêu của chúng ta vẫn xoay xở vui vẻ ra sao ngay cả lúc này cùng những bạn chơi mới. Những suy nghĩ kiểu đó không phải lúc nào cũng vun đắp lòng bác ái cho được.”

“Nói cho tôi biết đi,” bấy giờ Florian cất lời, “rằng chẳng có cách nào để chúng tôi, những kẻ hãy còn sống, có thể giúp anh được hạnh phúc hơn ở chốn đó sao?”

“Ồ, chắc chắn là có chứ,” Tiburce d'Arnaye đáp, và hắn bàn luận về những vấn đề kỳ lạ; trong lúc hắn nói, màn sương quanh nghĩa trang càng thêm dày đặc. “Và thế là,” Tiburce kết luận câu chuyện của mình, “tôi không được phép chung vui trong đám cưới của anh theo cách của những kẻ hãy còn mang da thịt ấm áp. Nhưng giờ khi anh đã nhớ lại hiệp ước xưa của chúng ta, tôi được phép có phần chia sẻ riêng của mình trong niềm vui ấy, và tôi muốn nâng ly cùng anh vì hạnh phúc của cô dâu.”

“Tôi xin nâng ly,” Florian nói khi cầm lấy chiếc cốc được đưa tới, “chúc cho hạnh phúc của Adelaide yêu dấu của tôi, người phụ nữ duy nhất mà tôi thực sự yêu thương, và sẽ mãi mãi yêu thương.”

“Ta thấy rằng,” người kia đáp lại, “anh vẫn chứng nào tật nấy, thích trêu chọc đấy thôi.”

Rồi Florian uống, và sau đó đến lượt Tiburce. Và Florian nói:

“Nhưng đây là một thứ thức uống thật kỳ lạ, hỡi Tiburce, và giờ khi đã nếm nó, anh đã đổi khác rồi.”

“Ít ra thì anh vẫn chưa thay đổi,” Tiburce đáp, và lần đầu tiên hắn mỉm cười, một nụ cười có phần phiền nhiễu bởi sự biến đổi trong con người hắn.

“Hãy nói cho tôi nghe,” Florian bảo, “về cuộc sống của anh dưới đó thế nào đi.”

Thế là Tiburce kể cho chàng nghe về những chuyện còn kỳ lạ hơn thế. Lúc này làn sương mù đang dâng cao đã che khuất toàn bộ thế giới bên ngoài. Florian chỉ có thể nhìn thấy những mảng xám mờ ảo đang cuồn cuộn và một bóng người Tiburce xám xịt, đổi khác đang ngồi đó, với đôi mắt sáng rực, hoang dại, cất giọng nói nhỏ và lạnh lẽo để trò chuyện. Bóng dáng một người phụ nữ xuất hiện, ngồi xuống bên phải hắn. Mụ ta cũng xám ngắt, đúng với dáng vẻ của người đàn bà cao tuổi nhất kể từ thời Eva; và mụ ra hiệu bằng một cử chỉ mà Florian nhớ rõ, khiến chàng không khỏi bận lòng. Tiburce bấy giờ cất tiếng:

“Và giờ đây, chàng Florian trẻ tuổi, người từng rất đỗi thân thiết với tôi, tôi xin nâng ly chúc cho hạnh phúc của anh.”

“Tôi nâng ly chúc cho hạnh phúc của anh, Tiburce.”

Tiburce uống trước; và Florian, sau khi uống xong lượt của mình, liền kêu lên: “Anh đã thay đổi đến mức không thể nhận ra rồi!”

“Anh thì vẫn chưa thay đổi,” Tiburce d'Arnaye đáp lại một lần nữa. “Giờ hãy để tôi kể cho anh nghe về những trò giải trí của chúng tôi dưới đó nhé.”

Nói đoạn, hắn bàn về những chuyện cực kỳ kỳ quái. Và Florian bắt đầu cảm thấy bất mãn, bởi Tiburce không còn là người mà chàng có thể nhận ra nữa, và Tiburce cứ thì thầm những điều khó mà tin nổi; rồi những đôi mắt khác, hoang dại không kém, nhưng lại rực lên ánh lửa đỏ quánh từ sâu bên trong như mắt thú dữ, cứ chớp ẩn chớp hiện trong màn sương bên này bên kia, và những linh hồn bất hạnh đang lướt qua màn sương trong những sứ mệnh thầm kín mà họ phải miễn cưỡng thực hiện. Rồi nữa, bóng dáng một người đàn ông xám xịt giờ đây đang ngồi bên trái của kẻ từng là Tiburce d'Arnaye, và vị khách mới đến này có những dấu hiệu để bất kỳ ai cũng nhận ra hắn là ai; lòng Florian không khỏi bồn chồn khi nhận ra khuôn mặt bị phỉ báng ấy đến nay vẫn vô cùng khôi ngô và đáng ngưỡng mộ nhường nào.

“Nhưng tôi phải đi thôi,” Florian nói, “kẻo ở Storisende họ không thấy tôi rồi Adelaide lại lo lắng.”

“Chắc chắn là chẳng mất nhiều thời gian để cạn chén thứ ba đâu. Thôi nào, người đồng chí từng rất thân thiết, chúng ta hãy cùng nâng ly chúc mừng cuối cùng. Rồi đi đi, nhân danh Sclaug, và tận hưởng hôn lễ của anh. Nhưng trước đó, hãy cùng cạn ly cho sự trường tồn của niềm vui nhân gian ở khắp mọi nơi.”

Florian uống trước. Sau đó đến lượt Tiburce, hắn nhìn Florian trong lúc chầm chậm nâng chén. Khi uống, Tiburce d'Arnaye càng biến đổi nhiều hơn nữa, vóc dáng hắn thay đổi, và cơ thể hắn tan chảy ra như thể được cấu thành từ lớp cát trắng mịn đang tuôn rơi. Cứ thế, Tiburce d'Arnaye trở về chốn của mình. Những bóng hình từng ngồi bên trái và bên phải hắn nay không còn đó để làm phiền Florian bằng những ký ức nữa. Và Florian nhận ra sương mù của đêm vọng lễ Walburga đã tan biến, mặt trời đang mọc lên, và nghĩa trang đã bị cỏ dại cùng những khóm tầm ma cao lút che kín.

Chàng không nhớ nơi này vốn dĩ ra thế này, và chàng có cảm giác đêm qua đã trôi qua với tốc độ nhanh đến bất thường. Nhưng chàng còn bận tâm hơn đến việc mình đã bị lừa phỉnh để rồi phải trải qua đêm tân hôn trong một nghĩa trang với những thành phần khả nghi như vậy, và không biết phải giải thích thế nào với Adelaide.

II. Về những người trẻ tuổi trong tháng Năm

Câu chuyện kể rằng Florian de Puysange bước đi trong ánh bình minh qua những khu vườn đang độ ra hoa, và văng vẳng nghe thấy tiếng cười nói nô đùa của những người trẻ tuổi ở đằng xa đang chuẩn bị cho hội hái hoa tháng Năm. Từng đôi từng cặp, chàng nhìn thấy họ từ xa khi họ cùng nhau đùa giỡn cười vang tiến vào khu rừng già phía sau Storisende để chặt cây nêu về dựng với những nghi thức cổ xưa đầy vẻ mơ hồ. Và khi đi, họ cất tiếng hát, theo lệ thường, khúc ca mà Raimbaut de Vaqueiras từng sáng tác từ thời xa xưa để tôn vinh chiến thắng bất diệt của tháng Năm.

Họ hát rằng:

Tháng Năm rực rỡ nét thần tiên,

Hiện giữa trần gian tặng mọi miền.

Phép màu tháng Năm san phẳng sạch,

Mọi nỗi xưa xưa, chuyện lãng quên.

Cho người được chọn dưới tay trên,

Làm kẻ tình yêu quyết định liền.

Chàng thưa: "Áo tình ta khoác mãi,

Cho đến ngày thần chết gọi tên."

Thế nên muôn người ngợi ca gieo,

Chẳng màng mùa màng gặt được chi,

Khi hạt lép thà không đáng kể,

Gió thu lạnh lùng thổi tứ bề.

Kẻ gặt thu về những thứ kia,

Lời suông, hơi thở luống trôi đi,

Cặn bã, bọt bèo, ơn nghĩa nhạt,

Cho đến ngày thần chết gọi tên.

Biết trước lòng đau tình vụt bay,

Theo cùng tháng Năm thoáng qua ngày,

Ta nhận ơn ban trời đất tặng,

Và vui nuôi dưỡng mộng ảo này.

Tình yêu ban phước để vơi thay,

Nơi người khốn khổ chịu đọa đày,

Với chút lộc ơn gầy đét mãi,

Cho đến ngày thần chết gọi tên.

Và Florian lắc mái đầu đen mượt của mình. “Một bài hát già nua thật ngốc nghếch và bi quan, một bài hát thừa thãi, và là một bài hát hoàn toàn lạc lõng ở chốn đáng yêu nhất trong tất cả những thế giới có thể tươi đẹp này.”

Tuy nhiên Florian chẳng bận tâm ngắm nghía những khu vườn. Chỉ đọng lại trong chàng cảm giác hạnh phúc ngập tràn của sắc xanh và vàng, điểm tô bên trên là sắc trời xanh thẳm; cảm giác của những tán lá lấp lánh, mượt mà, đung đưa và mặt dưới xám bạc của những chiếc lá dài đang vươn mình; cảm giác của tiếng chim ríu rít nghịch ngợm, của chiếc bóng đổ dài hơn thường lệ ngả trước mặt, và cảm giác về tuổi trẻ cùng sự sung túc hiện hữu khắp nơi. Chắc chắn đây không phải là một buổi sáng mà chủ nghĩa bi quan có thể hy vọng đơm hoa kết trái.

Thay vào đó, Florian lại nghĩ đến Adelaide: về người thiếu nữ cao ráo, bốc đồng nhưng cũng đầy e ấp, dịu dàng, người vừa sắc sảo lại vừa ngây thơ ấy, về vẻ đẹp đằm thắm rực rỡ sắc màu của nàng, và về niềm hạnh phúc lớn lao đến mức chàng chẳng tài nào xứng đáng khi đã chiếm được trái tim nàng. Chà, mà thử nghĩ xem, chàng nhăn mặt tự nhủ — nhỡ ra mình đã quá vội vã kết hôn với một ai đó thì sao? Bởi vì trước đó chàng từng dăm bảy lần xiêu lòng trước những người phụ nữ khác vì lý do này hay lý do khác: nhưng chàng biết rõ đây chính là tình yêu lớn của đời mình, một thứ tình yêu sẽ trường tồn bất biến cho đến tận hơi thở cuối cùng.

III. Hậu quả của việc kết hôn hạnh phúc

Câu chuyện kể rằng Florian de Puysange tìm thấy Adelaide đang ở cùng hai người phụ nữ mà chàng không hề quen biết. Một người rất già, người kia là một phu nhân đường bệ ở tuổi trung niên. Cả ba đang ngồi nghỉ mát dưới bóng râm của những cây sồi non; phía xa là một hàng rào cây thủy tùng được cắt tỉa gọn gàng. Hai người phụ nữ lớn tuổi đang chơi cờ, trong khi Adelaide cúi đầu ngoan ngoãn với mái tóc vàng óng để thêu thùa món đồ tinh xảo mà cô gái vô cùng yêu thích. Và bên cạnh họ là một con suối nhỏ ngập tràn ánh nắng, đang róc rách chảy với những tia sáng lấp lánh như bạc. Florian vội vã ghi nhận những điều đó khi vừa cười vừa chạy về phía vợ mình.

“Ánh sáng của đời anh!” chàng gọi lớn. Và chàng ngạc nhiên thấy Adelaide đứng dậy với một tiếng kêu khẽ không thành lời, đang nhìn chàng với vẻ bối rối và có chút hoảng hốt.

“Anh có một chuyến phiêu lưu thế này để kể cho em nghe đây!” Florian bấy giờ mới nói.

“Nhưng này, chàng trai trẻ, anh là ai mà có vẻ quen thân với con gái tôi thế?” người phụ nữ trung niên lên tiếng hỏi, rồi đường hoàng đứng dậy khỏi bàn cờ.

Florian sững sờ, và chàng có thừa lý do để làm thế.

“Con gái bà ư, thưa phu nhân! Nhưng chắc chắn bà không phải là phu nhân Melicent.”

Nghe vậy, cụ già liền ngẩng cái đầu đang gật gù lên.

“Phu nhân Melicent ư? Có phải ngài đang tìm ta không, thưa ngài?”

Lúc này Florian hết nhìn người này đến người khác trong số những người xa lạ khó hiểu ấy với vẻ hoang mang; rồi ánh mắt chàng quay lại nhìn người vợ đáng yêu của mình, và đôi môi chàng hé cười ngập ngừng.

“Đây là trò đùa gì để phạt anh đấy à, em yêu?” Nhưng rồi một nỗi lo lắng mới sâu sắc hơn bùng lên trên khuôn mặt chàng, và đôi mắt chàng nheo lại, bởi vì người vợ của chàng cũng có điểm gì đó lạ lẫm.

“Tôi đã uống phải thứ thức uống cùng những kẻ kỳ quái,” chàng nói. “Chắc là đầu óc tôi vẫn chưa tỉnh táo hẳn. Giờ thì tôi cứ thấy cô chính là Adelaide de la Forêt, mà đồng thời tôi cũng thấy cô không phải là Adelaide.”

Cô gái đáp:

“Ơ hay, thưa ngài; tôi là Sylvie de Nointel.”

“Thôi nào, thôi nào,” vị phu nhân trung niên dứt khoát nói, “chúng ta chấm dứt trò đóng kịch này ở đây đi! Không có ai tên là Adelaide de la Forêt ở vùng này trong khoảng hai mươi lăm năm nay rồi, chẳng ai rõ hơn tôi điều đó đâu. Nào chàng trai trẻ, để tôi ngửi thử xem. Không, rốt cuộc thì anh không hề say xỉn. Chà, tôi mừng vì điều đó. Thế thì hãy làm cho ra ngô ra khoai chuyện này xem nào. Ở nhà người ta gọi anh là gì?”

“Florian de Puysange,” chàng đáp với vẻ vô cùng ngoan ngoãn. Con người to lớn và tháo vát này thực sự khiến chàng thanh niên có phần e dè.

“Chà!” bà thốt lên. Bà nhìn chàng chằm chằm. Bà gật đầu nghiêm nghị hai ba lần khiến chiếc cằm ngấn mỡ chuyển động lên xuống.

“Ừ, và trông anh cũng có nét giống hắn. Anh bao nhiêu tuổi?” Chàng đáp rằng mình hai mươi tư. Bà thốt lên một cách ngẫu hứng: “Thế ra ta đã lầm to. Nào chàng trai trẻ, anh sẽ chẳng bao giờ khôi ngô bằng cha mình đâu, nhưng ta hy vọng bản tính anh thành thật hơn. Dù sao thì chuyện cũ cũng qua rồi. Lão khôn kiếp đó còn sống không, và có phải chính lão là kẻ đã cả gan sai anh đến tìm ta không?”

“Thưa phu nhân, cha tôi đã tử trận tại Trận chiến Marchfeld—”

“Cách đây tầm năm mươi năm! Và anh thì hai mươi tư tuổi. Nào chàng trai trẻ, thân thế của anh có những điểm bất thường đấy, bằng không thì chúng ta đang hiểu lầm nhau rồi. Hãy bắt đầu kể lại từ đầu đi. Anh bảo chúng ta rằng anh tên là Florian de Puysange và anh đã uống nhầm thứ đồ uống với những kẻ kỳ quái. Giờ thì hãy kể đầu đuôi câu chuyện cho ta nghe xem nào.”

Florian kể lại những sự việc xảy ra vào đêm qua, không giấu giếm điều gì ngoài những chi tiết không tiện nhắc trước thính giả nữ.

Nghe xong, cụ già liền bảo:

“Ta nghĩ đây là một câu chuyện có thật, con gái ạ, bởi vì các phù thủy phái Amneran hay tạo ra những chuyện kỳ lạ, nhờ sương mù trợ giúp, cùng sự hậu thuẫn của Lilith và Sclaug. Phải, và số phận này từng giáng xuống những kẻ quá ư thân thiết với người chết trước đây rồi.”

“Đúng là nhảm nhí và vớ vẩn!” vị phu nhân mập mạp nói.

“Nhưng không đâu, con gái ạ. Cứ như thế, bảy người từng ngủ ở Ephesus, từ thời Decius cho đến thời Theodosius—”

“Tuy nhiên, mẹ ơi—”

“Và bằng chứng là họ tên là Constantine, Dionysius, John, Malchus, Marcian, Maximian và Serapion. Họ đã được phong thánh đàng hoàng. Con không thể phủ nhận sự việc này mà không ngầm khẳng định có ít nhất bảy vị thánh đáng kính là những kẻ nói dối vô nguyên tắc, và điều đó sẽ là một loại dị giáo vô cùng khủng khiếp—”

“Nhưng mẹ ơi, mẹ thừa biết rõ cũng như con...”

“Và cứ thế, Epimenides, một vị thánh được ca tụng hết lời khác, đã ngủ ở Athens suốt năm mươi bảy năm trời. Cứ thế, Charlemagne đã ngủ trong núi Untersberg, và sẽ ngủ cho đến khi lũ quạ ở Miramon Lluagor rời khỏi ngọn núi của ông. Cứ thế, Thomas làm thơ ở đồi Eildon, Ogier ở Avalon, Oisin—”

Cụ già có vẻ như sẽ còn tiếp tục miên man với giọng nói lanh lảnh, dịu dàng mà quả quyết của tuổi già, nhưng người kia đã ngắt lời.

“Thôi nào mẹ, đừng có kích động quá làm gì, chỉ tổ làm bệnh hen suyễn của mẹ nặng thêm thôi chứ chẳng ích gì cho ai cả. Mọi chuyện có thể đúng như mẹ nói. Chắc chắn là con chẳng có ý định bất kính nào đâu. Tuy nhiên, những giấc ngủ kéo dài dằng dặc đó, dẫu rất phù hợp với các vị thánh hay hoàng đế, lại hoàn toàn lạc lõng khi xảy ra trong chính gia đình mình. Thế nên, nếu nó không phải là chuyện nhảm nhí vớ vẩn, thì đáng lẽ ra nó nên là như thế. Con vẫn giữ nguyên quan điểm đó.”

“Nhưng chúng ta lại quên mất thằng bé rồi con yêu,” cụ già lên tiếng. “Nào, hãy nghe đây, Florian de Puysange. Tròn ba mươi năm trước, vào đúng đêm hôm qua, tính theo tháng và ngày, chính là lúc anh biến mất khỏi tầm hiểu biết của chúng tôi, để lại con gái tôi làm một cô dâu bị bỏ rơi. Vì ta chính là những gì thời gian đã tạo nên từ phu nhân Melicent, và đây là con gái ta Adelaide, còn đằng kia là con gái của nó, Sylvie de Nointel.”

“Chà! Mẹ ơi,” phu nhân Adelaide lên tiếng, “nhưng mẹ có chắc đó là ngày cuối cùng của tháng Tư không? Con cứ đinh ninh đó là lúc nào đó trong tháng Sáu cơ đấy. Mà con dám cá không thể nào đủ tròn ba mươi năm đâu. Để con nhớ xem nào, Sylvie, em trai Richard của con bao nhiêu tuổi rồi? Hai mươi Tám phải không. Chà, mẹ ạ, con vẫn luôn bảo rằng mẹ có một trí nhớ siêu phàm đối với những chuyện kiểu đó, và con thường hay ghen tị với mẹ đấy. Nhưng quả thực thời gian trôi nhanh thật!”

Và Florian hoảng hốt.

“Vì đây là một chuyện trớ trêu, và Tiburce đã chơi gkhăm tôi một vố quá đỗi bất công. Hắn chưa bao giờ biết khi nào nên dừng trò đùa cợt; nhưng thứ sự bông đùa sau khi chết thế này thì thật không tài nào chịu đựng nổi. Bởi vì, thử nhìn xem, nó đã đẩy tôi vào hoàn cảnh quẫn trí nhường nào! Tôi đã sống lâu hơn cả những người bạn của mình, tôi có thể gặp khó khăn trong việc lấy lại lãnh địa, và chắc chắn tôi đã đánh mất người vợ tuyệt vời nhất mà một người đàn ông từng có. Ồ, chẳng lẽ nào, thưa phu nhân, bà thực sự chính là Adelaide của tôi hay sao!”

“Đúng vậy, từng cân thịt của ta đây, tội nghiệp chàng trai trẻ, và câu nói ấy quả thực rất chính xác.”

“Và rằng bà đã phụ lại lời thề trung thủy vĩnh cửu mà bà từng thề với tôi ngay tại chính con suối này? Ồ, nhưng tôi không thể tin nổi đó lại là chuyện của ba mươi năm trước, vì chẳng có một ngọn cỏ hay hòn sỏi nào thay đổi cả; và tôi vẫn nhớ rõ mồn một tiếng nước vỗ dưới những mảng đá phủ đầy rêu kia, cùng dòng nước gợn lăn tăn liên hồi có hình thù giống như những mũi tên ở đằng kia.”

Adelaide đưa tay gãi mũi.

“Tôi có hứa chung thủy vĩnh cửu không nhỉ? Tôi hầu như chẳng thể nhớ nổi chuyện xa xôi đến thế. Nhưng tôi nhớ mình đã khóc rất nhiều, và cha mẹ thì quả quyết rằng anh hoặc đã chết hoặc là một tên đểu cáng, thế nên nước mắt chẳng thể giúp ích gì được nữa. Rồi Ralph de Nointel xuất hiện, một người đàn ông tốt, và mang lại cho tôi một người chồng tương đối ổn, tính theo chuẩn mực của những ông chồng—”

“Còn về con suối đó,” bấy giờ phu nhân Melicent tiếp lời, “đã bao lần ta nghĩ về nó, khi ngồi đây với lũ cháu chắt nơi ta từng ngồi với những chàng trai trẻ phong lưu mà giờ đây chẳng còn ai nhớ đến ngoài ta nữa. Phải, thật kỳ lạ khi nghĩ rằng ngay lập tức, chỉ trong thời gian thốt lên một lời đơn giản, không một giọt nước nào giữ lại vị trí mà nó từng có trước khi câu nói đó được thốt ra; thế mà dòng suối vẫn không hề thay đổi, vẫn y nguyên như khi ta ngồi đây với những chàng trai trẻ đã khuất bóng ấy. Vâng, đó là một suy nghĩ lạ lùng, và cũng là một suy nghĩ buồn bã đối với những kẻ đã già như chúng ta.”

“Nhưng mẹ ơi, dĩ nhiên là dòng suối vẫn giữ nguyên rồi,” phu nhân Adelaide đồng tình. “Các con suối lúc nào chả thế, trừ những lúc lũ lụt. Ai mà chẳng biết điều đó, và con chẳng thấy có gì đáng ngạc nhiên cả. Còn về phần anh, Florian, nếu anh cứ khăng khăng chuyện tình yêu là một thứ bất diệt,” bà nói thêm với một ánh mắt lém lỉnh đầy vẻ từng trải, “tôi muốn cho anh biết rằng tôi đã góa chồng được ba năm rồi đấy. Cho nên mọi chuyện hoàn toàn có thể sắp xếp được.”

Florian nhìn bà với ánh mắt đượm buồn. Đối với chàng, hoàn cảnh này thật lệch pha với vẻ đưa tình bạo dạn đến gai người của một người phụ nữ mập mạp.

“Nhưng thưa phu nhân, bà đâu còn là con người ngày trước nữa.”

Bà vỗ vỗ vào vai chàng.

“Thôi nào Florian, anh vẫn còn chút khôn ngoan chán. Hãy tự an ủi mình bằng suy nghĩ rằng, nếu anh biết đường nam nhi đại trượng mà chung thủy với vợ thay vì cứ thơ thẩn ngẩn ngơ trong nghĩa trang, thì tôi vẫn sẽ giữ nguyên vẹn như ngày hôm nay, và anh sẽ phải gắn đời mình với tôi đấy. Chắc là bạn anh biết rõ mình đang làm gì khi nâng ly chúc phúc cho chúng ta, vì chúng ta sẽ chẳng bao giờ hợp nhau đâu, tự anh cũng có thể thấy rõ điều đó mà. Nào mẹ, trên đời này có biết bao chuyện xảy ra thật trớ trêu, nhưng khi già đi, chúng ta học được cách chấp nhận những gì diễn ra mà không cần phải hoảng hốt quá mức. Chúng ta phải xử lý thế nào với người tình cũ vừa sống lại từ cõi chết này đây?”

Thật là kinh khủng đối với Florian khi chứng kiến cách những người phụ nữ này thản nhiên đối phó với tai ương kỳ quái của mình. Một phép màu đang diễn ra ngay trước mắt họ, thế mà họ lại đón nhận nó với sự điềm tĩnh đến phát bực như thể đó chỉ là một chuyện chẳng dính dáng gì đến trách nhiệm của họ. Florian bắt đầu ngẫm nghĩ rằng người già lúc nào cũng ít nhiều thiếu đồng cảm và chẳng đáng tin cậy.

“Trước hết,” phu nhân Melicent nói, “ta sẽ cho cậu ấy ăn chút bữa sáng đã. Chắc chắn cậu ấy phải đói lả sau ngần ấy năm trời. Và con có thể sắp xếp cho cậu ấy ở phòng của Adhelmar—”

“Nhưng,” Florian hoảng loạn nói với phu nhân Adelaide, “cô đã phạm tội trùng hôn, và xét cho cùng, cô vẫn là vợ của tôi!”

Bà đáp, bản thân cũng không phải là không lo lắng:

“Ừ, nhưng mà mẹ ơi, cả đầu bếp lẫn quản gia đều đang ở đâu đó trong mấy lùm cây đằng kia, đang làm trò vớ vẩn gì đấy mà tốt nhất là con không nên biết thì hơn. Mẹ biết người làm công ở đây thế nào rồi đấy, nhất là trong những dịp lễ lạt. Dù sao thì con cũng có thể làm nhanh cho anh ta vài quả trứng ốp la ăn kèm thịt xông khói. Và có lẽ nên để anh ta ở phòng Adhelmar thôi, dù con vốn định dọn dẹp lại căn phòng đó. Nhưng còn về chuyện trùng hôn với lại làm vợ anh,” bà kết luận với giọng điệu vui vẻ hơn, “con thấy rằng càng ít nói đến chuyện đó bao nhiêu thì càng êm thấm bấy nhiêu. Chẳng có lợi lộc gì cho ai khi phải bới móc lại những chuyện cũ rích ấy lên, theo như con thấy.”

“Adelaide, cô đang báng bổ tình yêu — thứ vốn thiêng liêng, và cả hôn nhân — thứ vốn là một bí tích thánh thiện.”

“Florian, anh có thực sự yêu Adelaide de Nointel không?” người phụ nữ đáng sợ này hỏi. “Và giờ khi tôi đã tự do lắng nghe những lời cầu hôn của anh, anh có muốn cưới tôi không?”

“Chà, không,” Florian đáp; “bởi vì, như tôi vừa nói đấy, cô đâu còn là con người ngày trước nữa.”

“Thế thì, chính anh đã thấy rõ câu trả lời rồi đấy. Cho nên hãy thôi ngay cái trò nói nhảm về sự bất tử với lại bí tích đi.”

“Nhưng dù sao đi nữa,” Florian kêu lên, “tình yêu vẫn là bất tử. Vâng, tôi xin nhắc lại với cô, y như những gì tôi từng nói với Tiburce, tình yêu là bất tử.”

Bấy giờ phu nhân Melicent lên tiếng, cái đầu già nua nhăn nheo khẽ gật gù:

“Khi ta còn trẻ, được phục vụ bởi những xúc cảm và khao khát nhạy bén hơn, và được dung thân trong lớp da thịt rực rỡ sắc màu, có rất nhiều người đàn ông yêu ta. Các thi ca vẫn còn kể lại về những người đàn ông từng yêu ta, về việc bao nhiêu trang nam nhi tuấn tú đã phải bỏ mạng vì tình yêu dành cho ta, và về việc cuối cùng chính Perion là người đã chiến thắng để chiếm được trái tim ta. Bởi vì người tình cao quý nhất và chung thủy nhất trong số tất cả những người tình của ta chính là Perion xứ Forest, và qua bao năm tháng bão táp, chàng đã tìm kiếm ta với một thứ tình yêu chiến thắng cả thời gian và định mệnh; và thế là chàng đã chinh phục được ta. Sau đó chàng mang lại cho ta một người chồng tương đối ổn, tính theo chuẩn mực của những ông chồng. Nhưng ta không thể giữ mãi hình bóng cô thiếu niên ngày nào mà chàng từng yêu, và chàng cũng chẳng thể duy trì mãi dáng dấp chàng thanh niên mà Melicent từng mơ tưởng — những giấc mơ chuốc say cả quãng thời gian dài đằng đẵng khi Demetrios giam cầm Melicent và tuổi trẻ rời bỏ nàng. Không, Perion và ta không thể làm được điều đó, cũng giống như hai giọt nước kia không thể giữ lại vị trí của chúng trên dòng suối đang chảy vậy. Thế là Perion và ta cứ thế già đi cùng nhau, khá hòa hợp; và các giác quan lẫn khao khát của chúng tôi bắt đầu phục vụ chúng tôi một cách uể oải hơn, đến mức chúng tôi không còn quá bận lòng về việc tuổi trẻ phai tàn, cũng chẳng mải để ý xem những bàn tay nhăn nheo nào đang chuyển động trước mặt chúng tôi để làm những công việc thường nhật; và chúng tôi đã thấy khá mãn nguyện rồi. Nhưng về phần ngọn lửa đam mê cao cả từng kết hôn cho chúng tôi thì chẳng còn lại chút dấu vết nào, và những cuộc cãi vã vụn vặt không đầu không đuôi của con người thì lại xuất hiện rất nhiều. Một phần vì” — và giọng cụ già bỗng thay đổi — “một phần vì, chàng vô cùng khó tính trong chuyện ăn uống, điều đó làm xáo trộn việc quản lý gia đình của ta, và ta chưa bao giờ có đủ sự kiên nhẫn với những trò vô lý kiểu ấy cả.”

“Chà, dẫu sao đi nữa,” Florian nói, “việc bà thừa nhận điều đó nghe không được hay cho lắm.”

Bấy giờ phu nhân Adelaide tiếp lời:

“Lời đó chuẩn xác đấy mẹ ạ. Đàn ông ai rồi cũng trở nên khó tính về chuyện ăn uống, và cứ nghĩ rằng bản thân họ là trung tâm duy nhất phải được quan tâm, và chuyện đó sẽ chẳng bao giờ có hồi kết nếu một khi mẹ bắt đầu chiều chuộng họ. Cho nên bắt buộc phải có một lập trường rõ ràng. Vâng, và thực sự thì người chồng tội nghiệp Ralph của tôi cũng vậy, lúc đầu lúc nào cũng chỉ muốn hôn hít và những lời đường mật, và tôi đã đón nhận những điều đó một cách rất sẵn lòng. Anh biết con gái tụi tôi thế nào rồi đấy. Họ thích được cưng chiều, và điều đó hoàn toàn tự nhiên. Nhưng rồi điều đó sẽ dẫn đến việc có con cái. Và khi lũ trẻ bắt đầu ra đời, tôi chẳng có nhiều thời gian để bận tâm đến anh ấy nữa; còn Ralph thì bận rộn với việc đồng áng và chiến trận của anh ấy. Một người đàn ông có gia đình đang bề bộn con cái không thể cho phép bản thân lơ là chuyện sự nghiệp được. Và chắc chắn, vì không phải là kẻ ngốc, anh ấy bắt đầu nhận thấy các cô gái ở đâu đó có đôi mắt sáng hơn và vòng eo thon gọn hơn tôi. Tôi không biết những sự quan sát kiểu đó có thể dẫn đến đâu khi anh ấy đi vắng tôi; tôi chưa bao giờ dò hỏi chuyện đó cả, bởi vì trong những vấn đề như thế đàn ông ai cũng là ngốc hết. Nhưng tôi tuyệt đối không dung túng cho bất kỳ trò vô lý nào ở nhà, và anh ấy đã mang lại cho tôi một người chồng tương đối ổn, tính theo chuẩn mực của những ông chồng. Tôi xin vui lòng nói thế về anh ấy; và nếu bất kỳ người góa phụ nào nói nhiều hơn thế, hỡi Florian, anh hãy cẩn thận với ả ta, bởi vì đó là một người phụ nữ không đáng tin.”

“Dù thế nào đi nữa,” Florian đáp, “việc ăn nói như thế về người chồng quá cố của mình là không được phải phép cho lắm. Không nghi ngờ gì khi bà đang nói sự thật; chẳng thể biết được loại người nào mà bà đã kết hôn trong cái khoảnh khắc mà tôi vẫn thấy là quá ư vội vã để tìm người thay thế vị trí của tôi; nhưng dẫu vậy, một chút nói giảm nói tránh mang tinh thần bác ái sẽ đáng trân trọng hơn nhiều.”

Chàng nói với vẻ kiên quyết đến mức một sự im lặng bao trùm. Những người phụ nữ dường như cảm thấy thương hại cho chàng. Và trong không gian yên lặng ấy, Florian văng vẳng nghe thấy từ đằng xa tiếng những người trẻ tuổi đang kéo nhau trở về từ khu rừng phía sau Storisende, mang theo cây nêu. Họ vẫn đang cất tiếng hát.

Họ hát rằng:

Biết trước lòng đau tình vụt bay,

Theo cùng tháng Năm thoáng qua ngày,

Ta nhận ơn ban trời đất tặng,

Và vui nuôi dưỡng mộng ảo này...

IV. TUỔI TRẺ GIẢI QUYẾT TẤT CẢ

Câu chuyện kể rằng nàng Sylvie de Nointel trẻ tuổi đã lên tiếng với vẻ nhẹ nhàng, ngọt ngào và đầy trắc ẩn biết bao:

“Ái chà, nhưng chắc chắn rồi, thưa ngài Florian, ngài không tranh luận với những thú vui của tôi một cách nghiêm túc đấy chứ. Người già lúc nào cũng có những suy nghĩ kỳ quặc như thế. Dĩ nhiên tình yêu hoàn toàn phụ thuộc vào việc ngài là loại người như thế nào. Theo như con thấy, mẹ và bà ngoại không phải là những kiểu người có những mối tình thực sự. Dẫu con hết mực tôn sùng cả hai người, con vẫn không thể không nhận ra rằng họ thiếu đi chiều sâu thực sự trong tình cảm. Họ đơn giản là không hiểu những vấn đề như thế. Tội nghiệp thay, họ là những con người thực tế, thẳng thắn và tuyệt vời, và từ trước đến nay vẫn luôn như vậy, bởi vì trong những chuyện kiểu đó người ta chẳng thay đổi bao nhiêu, như con vẫn thường nhận thấy. Và cha, cả ông ngoại nữa, theo như con nhớ, đều là những người nhân hậu, đáng ngưỡng mộ và đại loại thế, nhưng chẳng ai có thể mong đợi ông trở thành một người tình hoàn hảo được cả. Ơ hay, ông trọc đầu như một quả trứng ấy chứ, tội nghiệp ghê cơ!”

Và Sylvie lại khúc khích cười trước những quan niệm vô lý của người già. Nàng liếc nhìn Florian với một nụ cười đặc biệt. Tay nàng chìa ra như muốn chạm vào chàng, bằng một cử chỉ chưa từng bị lãng quên. “Người già chẳng hiểu gì sảng cả,” Sylvie de Nointel cất lời với giọng điệu đưa anh chàng khôi ngô này vào vòng thân mật đến không thể tả.

“Thưa tiểu thư,” Florian nói, với một tiếng thở dài vừa mang cảm giác nhẹ nhõm vừa tràn ngập sự tán đồng, “chính tiểu thư mới là người nói ra sự thật, còn những bậc trưởng bối của tiểu thư đã sa chân vào vũng lầy hoài nghi của một thời đại vật chất thô tục. Tình yêu là bất tử khi đó thực sự là tình yêu và bản thân người đó là đúng mẫu người. Có thứ tình yêu ấy — mà than ôi, có mấy ai thấu hiểu! và là một thứ đam mê mà tôi rất tiếc khi nhận ra mẹ của tiểu thư không có khả năng thấu cảm — một tình yêu trường tồn bất biến cho đến tận cùng cuộc đời.”

“Con rất vui vì ngài nghĩ thế, thưa ngài Florian,” nàng thỏ thẻ đáp.

“Và tiểu thư không nghĩ vậy sao?”

“Làm sao mà em có thể biết được,” nàng hỏi, “khi mà em còn quá trẻ?” Chàng nhận ra nàng sở hữu hàng lông mi dài đến khó tin.

“Hạnh phúc thay cho kẻ nào thuyết phục được tiểu thư!” Florian thốt lên. Và xung quanh họ, những con người đang độ xuân xanh giữa tuổi trẻ của thế giới được hồi sinh, mùa xuân đang chiến thắng với một khúc ca điền viên bất tận, và tiếng chim đang réo gọi bạn tình. Chàng để ý đến đôi môi đỏ mọng ngắn ngủi của nàng và độ mềm mại của chúng.

Trong khi đó những người phụ nữ lớn tuổi đang nhìn nhau.

“Đang là mùa tháng Năm. Chúng thật trẻ trung và chúng đang ở bên nhau. Những đứa trẻ tội nghiệp!” phu nhân Melicent nói. “Tuổi trẻ gọi mời tuổi trẻ vì những món đồ chơi của tuổi trẻ, và thốt lên rằng: ‘Kìa! Ta đang cất tiếng kêu với giọng của một vị thần vĩ đại!’”

“Tuy nhiên,” phu nhân Adelaide nói, “Puysange vẫn là một lãnh địa tốt.”

Nhưng Florian chẳng mảy may chú ý đến ai trong số họ khi chàng đứng đó bên con suối ngập tràn ánh nắng, nơi không một giọt nước nào giữ lại vị trí của nó dù chỉ một khoảnh khắc, thế nhưng diện mạo con suối lại chẳng hề thay đổi chút nào. Chàng phớt lờ những bậc trưởng bối của mình vì một lý do vô cùng chính đáng là Sylvie de Nointel chuẩn bị cất lời, và chàng thích lắng nghe nàng hơn. Bởi vì cô gái này, chàng biết rõ, xinh đẹp hơn bất kỳ ai từng tồn tại kể từ khi Eva lần đầu tiên ngước đôi mắt đầy ngưỡng mộ, ngây thơ và liều lĩnh y hệt vậy lên để ngắm nhìn thứ mà cô hẳn đã cho là kỳ lạ nhất trong số muôn loài động vật, mang tên đàn ông. Thế là Florian nhún vai mớ trí nhớ về việc mình từng dăm bảy lần xiêu lòng trước những người phụ nữ khác vì lý do này hay lý do khác; vì chàng biết rõ đây chính là tình yêu lớn của đời mình, một thứ tình yêu sẽ trường tồn bất biến cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.