"Martha Sloan đang đi theo vết xe đổ của Jim," Deems Lennon nói với vợ.
"Xem kìa," anh ra hiệu qua khung cửa sổ hướng về phía nghĩa trang. "Tôi vừa thấy cô ấy ở trước mộ Jim, quỳ lụp sụp van xin và lầm bầm với hai tay giơ ra. Cô ấy cứ như vậy mấy lần rồi, mỗi khi tôi ra đó dọn dẹp các ngôi mộ."
Bà Lennon, một phụ nữ vạm vỡ với khuôn mặt phúc hậu, nhìn theo hướng chồng chỉ. Hai người cùng dõi theo Martha Sloan—gầy gò, lưng còng và tóc đã điểm bạc—đang lần bước lên con đường mòn dẫn vào nghĩa trang. Bà đi trong vẻ bồn chồn, chốc chốc lại khựng lại ngó quanh.
"Tội nghiệp, bà ấy sợ hãi quá rồi," bà Lennon nói. "Bà ấy không còn là chính mình từ ngày Dorothy qua đời. Mất cả hai đứa con ngay sau Jim đã đánh gục hoàn toàn tâm trí bà ấy."
"Bà ấy sợ cho chính mình đấy," chồng bà đáp. "Nếu mình nghe bà ấy ở gần ngôi mộ đó, mình sẽ tưởng bà ấy đang nói chuyện với một người sống, một kẻ có thể làm hại mình."
"Chà, thế thì ai mà chẳng hóa điên," bà Lennon nói đoạn ngưng lời, tiếp tục dõi theo bóng người trên sườn đồi.
"Nhìn kìa," bà Lennon thốt lên, "nhìn bà ấy kìa. Bà ấy quỳ xuống rồi."
Deems đứng sát cạnh vợ bên cửa sổ.
"Đúng thế," anh kêu lên. "Đấy chính xác là những gì bà ấy cứ làm suốt thời gian qua. Tôi nghe bà ấy nói. Tôi không biết bà ấy hoang tưởng từ đâu nữa. Bà ấy nghĩ Jim đang bám theo—đang với tới—đang cố tóm lấy cô ấy. Tôi đã nghe bà ấy van xin. Không biết rồi chuyện này sẽ đi đến đâu."
Cả hai giật mình khi Martha Sloan, đột ngột y như lúc quỳ xuống, đứng phắt dậy trước tấm bia mộ và vội vã chạy thốc tháo xuống đường mòn.
"Deems, chúng ta phải ra với bà ấy," bà Lennon nói. "Biết đâu mình giúp được gì." Khi cả hai vội vã chạy qua nhà bếp ra ngoài, Martha Sloan đã lao đến hiên nhà, mặt trắng bệch vì hoảng sợ và thở hồng hộc.
"Deems," bà thều thào. "Deems, là Jim. Ổng đang với tới. Ổng đang với tay tóm lấy tôi."
"Martha, bình tĩnh nào," Deems nói, nắm lấy bàn tay đang run rẩy của Martha Sloan. "Không phải vậy đâu. Bà là người tỉnh táo. Đừng nghĩ ngợi nhiều thế. Phải gạt nó đi chứ."
"Đúng rồi đấy, Martha," bà Lennon vừa nói vừa dìu Martha Sloan vào nhà. "Bà đừng nghĩ về Jim nữa, và cũng đừng cứ mãi chạy ra đó làm gì. Ở nhà còn bao nhiêu việc, mà xong việc sao bà không ghé qua chỗ chúng tôi?"
Nhưng Martha Sloan, hoặc không nghe thấy hoặc chẳng màng bận tâm đến lời của vợ chồng Deems, cứ ngồi thụp xuống, lẩm bầm trong nỗi sợ hãi, như nói một mình hơn là với bạn bè. "Là Jim. Tay ổng đang chìa ra với tôi. Ổng đã bắt Dorothy. Ổng bắt Joseph, và giờ ổng đang với tới tôi. Ổng không thể chịu nổi việc tôi còn sống."
Bà bấn loạn và bị gặm nhấm bởi một nỗi sợ còn mạnh hơn cả ý chí. Bà ngồi không yên, mắt láo liên nhìn quanh như thể biết mình đang được an toàn trong nhà bạn, nhưng lại cảm thấy vây quanh mình từng phút từng giây là một thứ gì đó kỳ dị và kinh hãi. Bà ném những cái nhìn đầy hoảng hốt khắp căn phòng, nhìn bà Lennon rồi nhìn Deems. Bà lặng lẽ nhìn họ như thể chẳng biết phải mở lời thế nào, cho đến khi sự bất an dồn nén buộc bà phải cất tiếng bằng một giọng thì thầm gấp gáp: "Đưa tôi về nhà đi. Đưa tôi về nhà, Deems. Tôi muốn rời khỏi đây."
Deems xỏ vội áo khoác, bảo vợ: "Tôi về ngay đây," rồi dìu Martha đứng lên, cùng bà bước ra ngoài.
"Nào, Martha, bà thừa biết chúng tôi là ai mà. Chúng tôi là bạn của bà cơ mà? Và chúng tôi bảo với bà là chẳng có gì phải sợ cả. Do bà tự tưởng tượng ra thôi. Không có ai theo đuổi bà đâu. Chẳng có gì mà phải sợ hết."
"Anh không biết đâu. Chính hắn đã cướp hai đứa con tôi. Hắn đã bắt Dorothy. Khi họ khâm liệm nó ở phòng khách, tôi cứ thấy hắn đứng ngay đầu giường. Lúc sống hắn tàn ác lắm; hắn đánh đập chúng; Dorothy và Joseph căm ghét hắn. Và khi họ khâm liệm Joseph sau cú ngã lúc cây cầu sập, Jim đứng ngay đầu giường con, đôi mắt cười cợt với tôi như muốn bảo: 'Tao đã bắt nó, nhưng giờ đến lượt mày.' Và giờ hắn đang nhắm vào tôi."
Deems thấy nhẹ nhõm vì bà chịu mở lời. Anh hy vọng qua trò chuyện, bà sẽ tìm được phút giây nguôi ngoai khỏi những ý nghĩ ám ảnh.
"Không, Martha," anh nói, "đâu phải Jim bắt Dorothy và Joseph. Bà thừa biết có một đấng tối cao ban phát và thu hồi sinh mạng. Số mệnh chúng đã tận. Bà không hiểu sao, Martha?"
"Chính Jim đã cướp chúng đi. Hắn không chịu nổi cảnh chúng sống. Lúc sinh thời hắn không thể nhìn chúng lớn lên thành những con người độc lập. Hắn cướp chúng giống như cách hắn cướp tôi từ anh vậy. Anh có nhớ không, Deems, cách hắn đến và chẳng mất bao lâu tôi đã thuộc về hắn? Hắn chiếm hữu tôi hoàn toàn."
Deems im lặng. Chẳng thể tranh cãi được. Ngay lúc này, trong tâm trí anh, và anh biết là cả trong tâm trí những người dân làng khác, vẫn hằn sâu ký ức về cái bản năng chiếm hữu ngấm vào máu thịt của Jim Sloan. Anh nhớ lại chuyện William Carrol đã thắt cổ tự tử khi không thể trả nổi món nợ cho Jim Sloan. Sự thật là Jim Sloan coi những đứa con của mình như món tài sản cá nhân. Cả làng đã nhận ra điều đó ngay sau khi lũ trẻ lớn lên. Deems, khi nhớ lại cảm nhận của mình dành cho Martha Sloan trước kia, giờ đây bỗng bàng hoàng và kinh ngạc khôn xiết khi nghĩ đến sự biến đổi hoàn toàn xảy ra ở Martha ngay sau khi cô kết hôn với Jim Sloan.
Cô từng là một thiếu nữ vui tươi, rạng rỡ như trào dâng nhựa sống tự nhiên của vùng quê này. Nụ cười của cô luôn tràn ngập niềm vui. Thế nhưng, tất cả đã thay đổi ngay sau ngày cưới.
Martha từng quen chạy nhảy nhẹ nhàng quanh nhà cha đẻ. Những bước đi của cô bỗng chốc trĩu nặng một vẻ nghiêm nghị chẳng mẻ gì thuộc về bản tính cô. Tiếng cười đùa lịm dần thành một nụ cười kín đáo, rồi cuối cùng nhường chỗ cho vẻ lạnh lùng nghiêm nghị thường trực. Cả làng đều nhận ra và bàn tán về sự thay đổi đó. "Hắn ta lớn tuổi hơn cô ấy," họ bảo nhau, "và đang nhồi nhét vào đầu cô ấy những suy nghĩ của hắn."
Khi họ về đến nhà, Martha lặng câm rời khỏi Deems rồi vội vã bước vào trong. Deems quay đi, ngoái nhìn lại và lắc đầu, miệng lầm bầm: "Chẳng có gì tốt đẹp cả. Chẳng có gì hay ho cho đời Martha đâu."
Anh sững người bất động khi bỗng thấy bóng Martha bên khung cửa sổ. Anh cứ ngỡ tâm trạng cô đã phần nào dịu lại khi rời khỏi anh, bởi tác phong cô có vẻ điềm tĩnh hơn trước. Nhưng giờ thì anh giật mình. Cô rướn người ra ngoài cửa sổ, đôi mắt dán chặt vào tấm bia mộ đằng xa—trắng toát, sừng sững và áp đảo—một khối đá vươn thẳng như ngọn giáo khổng lồ trên đỉnh đồi. Anh quan sát nét mặt và đầu cô, nhận thấy những cử động đầy sợ hãi. Mỗi khi cô ngoảnh đầu—trông như thể cô đang dõi theo một thứ gì mà dù căng mắt nhìn thế nào anh cũng chẳng thấy—những cái giật mình thon thót ấy tố cáo sự cảnh giác và hoảng loạn tột độ của cô.
Từ căn phòng khách tối tăm, ẩm mốc, Martha nhìn ra nghĩa trang. Nơi ấy, nổi bật trong ánh chiều tà, là tấm bia đá trắng bệch—một biểu tượng kinh hoàng giam cầm tâm trí cô. Trong tâm trí đầy lo âu và những ảo ảnh do sợ hãi sinh ra, cô như đọc được những dòng chữ khắc trên đó:
JAMES SLOAN
SINH NGÀY 14 THÁNG 9, 1857
MẤT NGÀY 12 THÁNG 11, 1915
và bên dưới, được khắc rõ mồn một và soi rọi bởi nỗi sợ của cô:
NGƯỜI VỢ TẬN TỤY
MARTHA SLOAN
SINH NGÀY 9 THÁNG 8, 1871. MẤT——
Nghĩ đến từ "Mất", tiếp theo là dấu gạch ngang, cô lùi lại vì ghê sợ. Dấu gạch ngang ấy cứ vươn tới—vươn tới chỗ cô—cuốn phăng vào tâm trí cô toàn bộ sự ích kỷ bấu víu của James, thứ đã vắt kiệt mọi ngọt ngào của cuộc sống; toàn bộ sự lạnh lùng khắc nghiệt từng đánh dấu quyền sở hữu của hắn đối với cô. Phải chăng đó chỉ là tâm trí cô, bị nỗi kinh hoàng thúc đẩy nên tự vẽ ra? Đang kìa, như thể đang tiến đến từ ngọn đồi, từ nghĩa trang, từ chính tấm bia mộ bắt đầu nhòe nhoẹt trong tầm nhìn của cô, cô thấy một bàn tay—bàn tay của hắn! Nó đang đến—đang tiến đến chỗ cô, để bóp nát chút sinh khí còn sót lại trong cô.
Ngay cả trong suy nghĩ của chính mình, việc cô sống sót được sau bản tính cố chấp của Jim cũng là một phép màu. Khi Jim chết, cô bắt đầu bỗng nhiên tìm lại được lối sống ngày trước. Cô bắt đầu hồi sinh. Cứ như thể sau khi trận bão mùa đông qua đi, hơi thở và sự ấm áp của mùa xuân lại có thể ngự trị.
Rồi sau đó là những cơn ác mộng kinh hoàng không tài nào kiểm soát nổi, tiếp nối bằng cái chết vì hỏa hoạn của Dorothy. Điều đó đã quật ngã cô hoàn toàn.
Cô nhớ lại lúc họ cứu Dorothy, cách họ lôi con bé ra khỏi biển lửa với bộ quần áo đã cháy rụi hoàn toàn. Họ đã tìm mọi cách chăm sóc để mong con lại khỏe mạnh, và trong tuần lễ trước khi con gái qua đời, cô đã láng máng hiểu được chuyện gì đã xảy ra vào đêm hỏa hoạn ấy. Trong giấc ngủ, Dorothy nghe có tiếng gọi mình và con bé tưởng đó là giọng của bố. Nó đã vùng dậy khi trông thấy bên cạnh mình bóng dáng người cha y hệt như lúc còn sống.
Nó đã đi theo ông ra chuồng ngựa và bất ngờ ông bảo rằng ông quay lại để đưa nó đi cùng theo đúng lời hứa trước khi chết. Trong cơn hoảng loạn chống cự để trốn chạy, nó đã quăng ngọn đèn dầu. Còn ở phòng khách, họ đã đặt thân xác Dorothy—một bộ khung cháy đen, biến dạng.
Mọi sự quan tâm, yêu thương và chăm sóc, cô dồn hết vào Joseph. Cô thầm nghĩ có lẽ bằng một tình yêu sâu sắc, bao trùm dành cho Joseph, cô sẽ có thể đánh bại lời nguyền đang treo lơ lửng trên cuộc đời mình. Thế rồi, khi tưởng chừng cuộc sống sắp bắt đầu mang một ý nghĩa rõ ràng trở lại—khi Joseph lớn khôn và mang lại lẽ sống cho cô—cô sực nhớ có tiếng gõ cửa rụt rè và một giọng nói hoảng hốt vang lên: "Bà Sloan ơi! Có tai nạn khủng khiếp lắm, sập cầu rồi——?" Cô nhớ lại mình đã thét lên: "Joseph của tôi! Con tôi!" rồi bỗng thấy mình đang ở trong phòng khách, thi thể đứa con nằm bất động trên chiếc ghế dài.
Cô sực nhớ căn phòng khách khi ấy như đang vương vấn sự hiện diện của Jim. Cô ngẩng lên và lờ mờ nhận ra bóng dáng cùng khuôn mặt của người chồng quá cố. Trong đôi mắt có vẻ như đang cười cợt ấy, cô đọc được lời đe dọa: "Tao đã bắt nó, nhưng giờ đến lượt mày."
Khi những ký ức ấy ồ ạt tràn qua tâm trí, một nỗi sợ hãi bấn loạn bủa vây lấy Martha đang đứng bên cửa sổ. Không hiểu sao nỗi sợ đã giữ chân cô lại. Thứ gì đó dường như đã tước đi của cô sức mạnh và quyết tâm để quay lưng khỏi cửa sổ.
Cô có cảm giác như trong phòng đang có ai khác ngoài mình. Cảm giác ấy lớn dần lên một cách kỳ lạ, càng khiến cô thêm e sợ việc quay đầu nhìn lại. Thế nên cô cứ dán mắt ra ngoài cửa sổ, hướng lên ngọn bia mộ sừng sững trên cao. Nhưng rõ mồn một hơn trước, cô cảm nhận được thứ gì đó đang vươn ra từ tấm bia đá để chạm tới mình, đồng thời dâng lên cảm giác rằng sự hiện diện trong căn phòng đang tiến đến gần cô hơn.
Cô chết trân trong nỗi khiếp đảm. Mọi bản năng thần kinh đều giục cô tháo chạy. Tựa như một cú quật roi nện xuống đỉnh đầu, ảo ảnh từ bia mộ cứ thế ùa tới, đến mức trong một cơn hoảng loạn điên cuồng, cô lao bổ đi trong phòng như muốn đâm sầm qua và chạy trốn khỏi khung cửa sổ. Bỗng nhiên, lối đi của cô bị chặn đứng bởi sự hiện diện của Jim. Căn phòng khách mờ tối ngập tràn thứ cảm giác hắn đang ở đó, và trong bóng chiều nhập nhoạng gần bệ lò sưởi cùng phía đầu chiếc ghế dài, hình bóng mờ ảo của người chồng đã quay về đang đứng lù lù ở đó.
"Jim!" cô thốt lên trong tiếng thở dốc đầy kinh hãi, và giơ hai tay ra trước để tự vệ khỏi ý đồ của hắn. Thế nhưng cô nhìn rõ mồn một khuôn mặt mờ ảo cùng đôi mắt đang nói lên một cách không thể chối cãi: "Tao đã đến vì mày rồi đây."
Cô bị xiềng xích bởi nỗi kinh hoàng. Chẳng thể bước tới trước, bởi tiến lên đồng nghĩa với việc áp sát thêm vào sự hiện diện đó, đồng nghĩa với việc tự bước thẳng vào gọng kìm của hắn.
Cô sắp sửa cất tiếng, sắp sửa van nài, cầu xin: "Jim, hãy buông tôi ra."
Trong cơn khiếp đảm và nỗi sợ hãi trước sự tiếp cận của hắn, cô vội vã quay phắt lại khung cửa sổ và lao mình xuống dưới. Cô cuống cuồng bò dậy trong cảnh bầm dập, run rẩy, miệng thét lên khản đặc và đôi khua khoắng trong nỗi sợ vô định như thể đang xua đuổi những bàn tay không muốn chạm vào, rồi thở hồng hộc chạy ngược lên con đường dẫn tới nhà Deems.
Sự tĩnh lặng và bầu không khí yên bình, hạnh phúc tràn ngập trong ngôi nhà của những người bạn dường như đã phủ lên Martha một thứ bùa phép dịu êm. Chăm sóc cô như người trong nhà, Deems và vợ vô cùng phấn khởi trước sự thay đổi dường như đang diễn ra ở người khách của họ.
Trong phòng riêng, sau khi Martha đã chúc họ ngủ ngon, Deems liền hỏi vợ.
"Thế dạo này Martha thế nào rồi em?"
"Anh không thể nhận ra đó là cùng một người đâu. Còn nhớ hôm vợ chồng mình tìm thấy bà ấy ngoài cửa tối hôm đó chứ—lầm bầm và hoảng sợ đến mức chẳng nói nổi câu nào? Thế mà giờ bà ấy điềm tĩnh và vui vẻ hẳn. Điều bà ấy cần chính là được ở cạnh mọi người."
Sự yên bình của môi trường xung quanh đã phát huy tác dụng với Martha. Điều đó thể hiện qua sự tự chủ điềm đạm khi cô đi lại quanh nhà, kiên trì phụ giúp bà Lennon làm việc nhà. Bầu không khí bận rộn hối hả—việc Deems ra vào làng, ra nghĩa trang mang theo bay và cuổng để tu sửa những ngôi mộ và khu đất trên sườn đồi—tất cả dường như đã khơi gợi lại nguồn sinh lực và sự bình tĩnh tiềm ẩn chưa từng thấy bên trong Martha.
Đó là những biểu hiện bề ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế, trong tâm trí Martha đã nảy sinh một kế hoạch—một khao khát được dứt bỏ vĩnh viễn sự chiếm hữu đầy nham hiểm của Jim—và kế hoạch này được nuôi dưỡng từ một nguồn năng lượng thần kinh chuyển hóa từ sự sợ hãi và kinh hoàng thành sự mưu trí cùng tuyệt vọng. Cô đi lại trong nhà không phải với vẻ nhẹ nhõm vì đã hết sợ Jim, mà đầy thận trọng, như thể tận sâu trong tâm trí cô đang có một lối thoát, một lối thoát mà để giành được nó đòi hỏi sự cẩn trọng và canh chừng từng ly từng tí.
Mang tâm thế đó, cô quan sát từng cử động của Deems trong nhà cho đến khi biết rõ anh để chiếc đèn lồng ở đâu, cũng như chiếc hộp cất bay, búa tạ và đục. Giờ đây khi kế hoạch đã định hình rõ ràng trong đầu, cô không còn việc gì khác ngoài việc thực hiện nó. Cô sẽ cắt đứt sợi dây liên kết kinh hoàng trói buộc cô với Jim—sợi dây mà sức mạnh của nó trao cho kẻ đã khuất quyền kiểm soát cô một cách tuyệt đối. Tính toán như vậy, cô trở nên dè chừng với những người bạn đồng hành vì sợ rằng nếu họ lơ mơ đánh hơi thấy, họ sẽ cản trở kế hoạch của cô. Cô thừa nhận mọi hành động của mình đều bị giám sát, bởi cô nhận ra bà Lennon đã tự biến mình thành người giám hộ cho cô. Kể từ khi đến ngôi nhà này, cô chưa từng bước chân ra khỏi sự chở che của nó, ban đầu tìm thấy ở đó sự bầu bạn và trấn an để có thêm dũng khí cùng quyết tâm chống lại Jim cũng như vượt qua nỗi kinh hoàng khi nghĩ về hắn, nhưng cuối cùng lại nhận ra rằng, khi kế hoạch đã thành hình, cô buộc phải che giấu nó với cả Deems lẫn vợ anh. Cô đi đến kết luận đó theo cách này.
Một hôm, trong nhà bếp, cô vô tình chạm mặt một con dao phay mới mài, lưỡi dao mỏng tang không nhìn thấy mép trong khi mặt phẳng rộng của nó lóe lên dưới ánh nắng mặt trời. Bà Lennon đang đứng bên cửa sổ và từ bên ngoài vọng vào tiếng Deems chặt củi.
Tâm trí cô bỗng trở nên vô cùng thông suốt, và vừa vung con dao phay trong không trung, cô vừa nói với bà Lennon:
"Bà biết không—đây là cách tôi có thể thoát khỏi Jim đấy. Khi hắn với tới—với tay bắt tôi, tôi chỉ việc chặt đứt tay hắn đi là xong."
Bà Lennon đứng sững người, giật mình trước những lời nói bất ngờ ấy. Bà cứ ngỡ tâm trí Martha đã sạch bóng mọi nỗi sợ về Jim. Lời nói và cử động bất thình lình này khiến bà khựng lại đầy lo lắng. "Deems," bà gọi lớn, "Deems, ra đây mau."
Deems đã vội vàng giật lấy con dao phay khỏi tay Martha, và tối hôm đó anh dặn vợ rằng phải canh chừng Martha thật kỹ. Anh sợ Martha đang dần phát điên.
Martha nhận ra mình bị giám sát vào một đêm nọ khi cô rời khỏi phòng. Cô nghe thấy tiếng cửa mở và ngay lập tức cảm nhận được bàn tay bà Lennon đặt lên tay mình cùng một giọng nói nhẹ nhàng, dỗ dành khuyên cô quay lại giường ngủ.
Chính vào ngày hôm sau, ở góc hành lang mờ tối, Martha lại một lần nữa cảm nhận được sự hiện diện của Jim. Nếu cuộc sống trong mái ấm bình yên của những người bạn đã mang lại cho cô sự tĩnh lặng bề ngoài, một chiếc áo choàng của sự thư thái và bình yên, thì nó lập tức bị xé nát bởi ảo ảnh hiện hình trước mắt cô ngay giữa chốn hành lang nửa sáng nửa tối. Ngay tức khắc, cô trở lại là Martha của ngày xưa, bị bóp nghẹt trong gọng kìm của nỗi sợ hãi. Khuôn mặt cô co rút lại thành những đường nét trắng bệch căng thẳng, đôi môi biến dạng, và bằng những bàn tay gầy gò run rẩy, cô xua đuổi bóng ma ấy. Những tiếng thét gào "Jim, buông tôi ra, buông tôi ra" của cô đã kéo bà Lennon chạy hộc tốc đến và gọi Deems từ ngoài nhà kho củi chạy vào.
Họ tìm thấy cô ngất lịm trên sàn nhà. Họ đưa cô về phòng và đặt lên giường, bà Lennon vừa trò chuyện, vỗ về vừa cố gắng đưa cô trở lại trạng thái bình tĩnh như trước.
Theo sau đó là mấy ngày mưa tầm tã dường như đã khiến Martha bớt phần bất an và bồn chồn. Deems và vợ, nhìn thấy cô im lặng và có vẻ đang nghỉ ngơi, thầm cảm thấy nỗi kinh hoàng cô phải chịu đựng đang dần được gột rửa. Thái độ của Martha càng củng cố thêm cảm giác đó trong lòng họ. Cô nghỉ ngơi trong im lặng, chăm chú lắng nghe tiếng mưa rơi và tập tành lấy lại sự điềm đạm ngày xưa.
Khi Deems trở về vào lúc chập tối hôm nọ, anh mang theo tin tức những trận mưa dầm dề đã tàn phá nặng nề nghĩa trang. Ướt sũng sau chuyến đi khảo sát, đôi bốt dính đầy bùn đất và đôi tay lấm lem vì phải bấu víu vào những bụi cây lỏng lẻo, anh run lên vì lạnh khi báo cáo những gì mình tận mắt chứng kiến. Mải mê kể chuyện, anh hoàn toàn quên mất sự hiện diện của Martha đang ngồi bên cạnh, lặng thím với khuôn mặt tái mét như sáp.
"Và em phải thấy đấy," anh nói, quay sang vợ, "mưa đã xối lở những ngôi mộ đó thế nào rồi. Em biết đấy, nó làm lung lay tấm bia của Jim Sloan đến mức anh sợ nó sẽ đổ sập ngay trận gió mạnh đầu tiên."
Tiếng kêu "Ồ!" của Martha kéo anh sực nhớ đến sự hiện diện của cô. Anh im bặt một lúc, rồi với hy vọng xóa đi hậu quả từ câu nói vừa rồi, anh bắt đầu kể một câu chuyện rôm rả về số lượng cây cối đổ chắn ngang đường, và việc anh nghe nói ở Rampaco bưu điện đã bị sét đánh trúng.
Anh chẳng thể ngờ rằng Martha hoàn toàn điếc đặc trước những lời báo cáo của mình. Cô bận tâm đến những suy nghĩ của riêng mình. Cô cảm thấy ý chí mình mạnh mẽ một cách kỳ lạ, và trong huyết quản cô đang rần rật một quyết tâm sắt đá phải hành động ngay trong đêm nay. Không phải vô duyên vô cớ mà cô đã trải qua những ngày mưa dầm trong sự im lặng đầy kinh hãi nơi phòng mình. Toàn bộ năng lượng vẫn còn có thể huy động cho quyết tâm ấy, cô đã tôi luyện trong cái lò của ý chí, và co ro trong sợ hãi, cô đã nung nấu quyết định bước ra ngoài khi thời cơ đến để tự cắt đứt thứ sức mạnh ma quái đang gặm nhấm tâm trí và từ từ bóp nghẹt cô. Cô nhớ lại trong cơn ngất xỉu, khi cô nằm mềm nhũn và bất động như một vật thể đáng sợ, cô từng cảm thấy cơ thể mình co quắp lại trước cái chạm của Jim—Jim đang với tay tới cô. Giờ đây cô sẽ tự tay cắt đứt mối liên kết với hắn ngay tại nguồn cội sức mạnh mà hắn dùng để thao túng cô. Cô sẽ đi ngay đêm nay.
Cô liếc nhìn về phía chiếc tủ nơi Deems cất bay và đục. Cô sẽ cần đến chúng, cô biết chắc điều đó. Cô nói "Chúc ngủ ngon" to và quyết liệt hơn dự tính, bởi cô đang cảm thấy rất bồn chồn.
Cô bừng tỉnh bởi một luồng khí lạnh. Khi ngồim dậy, cô thấy cửa đang mở toang. Thứ gì đã lôi kéo ánh mắt cô xuyên qua hành lang hướng ra khoảng không bên ngoài và khiến cô bỗng khựng lại? Một cảm giác ma quái ập đến làm cô giật mình lạnh buốt, và thình lình, tựa như nó đang lao thẳng về phía cô qua khung cửa mở với những ngón tay chĩa thẳng, bàn tay ấy xuất hiện.
Cô vùng dậy khỏi giường ngay lập tức. Bằng một nỗ lực gồng cứng mọi dây thần kinh khiến khuôn mặt trắng bệch không còn giọt máu, cô nghẹn ngào nén chặt tiếng kêu "Jim" chực trào lên cổ họng. Tuy nhiên, cô không thể kìm nén hoàn toàn bản năng đưa tay ra để gạt phắt bàn tay đe dọa kia đi. Ngay lập tức cơn hoảng loạn tột độ bủa vây, và trong sự vội vã đầy sợ hãi, cô tiến đến tủ đồ, quờ quạng trong chốc lát rồi cầm lấy thứ mà cô biết chắc là chiếc đục của Deems.
Mặc cho mọi nỗ lực kìm ném, cô không thể ngăn chặn cơn hoảng loạn đang dâng trào, và khi bắt đầu thở hổn hển vì sức nặng của nỗi kinh hoàng, cô cũng bắt đầu thều thào những lời van xin Jim.
"Đừng mà, Jim. Đừng bắt tôi đi," và như thể không phải do ý chí của bản thân mà theo sự dẫn dắt của một thế lực vô hình nào đó, cô bước ra khỏi ngôi nhà, trông ma quái giữa đêm đen, miệng lầm bầm và run lẩy bẩy.
Cô vẫn đang run rẩy—giờ đây cái lạnh của đất ẩm và không khí đêm đã thấu xương—khi đứng trước tấm bia mộ của Jim Sloan. Nó lấp lánh màu trắng nổi bật giữa nền trời, và lúc này sự run rẩy cùng những lời lầm bầm của Martha biến thành một sự cuồng nhiệt cuồng loạn khi cô giơ chiếc đục lên hướng về phía tấm bia.
—"Jim—ông buông tha cho tôi nhé? Ông để tôi yên đi được không? Tôi vẫn muốn được sống mà." Cô bắt đầu đục khoét điên cuồng vào tấm bia đá, chẳng nhìn thấy gì ngoài nhịp đập của chiếc đục và khối đá trắng đáng sợ sừng sững trên đầu, chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng mài sắc của lưỡi đục—thậm chí chẳng màng nghe cả tiếng sỏi đá lạo xạo trượt xuống từ chân bia mộ.
Deems Lennon và vợ giật mình tỉnh giấc bởi một tiếng rầm lớn. "Gì thế nhỉ?" anh hỏi vợ, rồi vùng dậy khỏi giường chạy thẳng lên phòng Martha. Trống hoác. Cả hai lập tức tỉnh hẳn ngủ.
—"Bà ấy ra mộ của Jim rồi," Deems đoán chừng. "Em còn nhớ cái cách bà ấy thốt lên 'Ồ!' lúc anh kể chuyện mưa làm lung lay tấm bia chứ? Nào, đi ra đó xem sao."
Trong bóng tối, khi đến gần vị trí tấm bia từng đứng, họ nghe thấy tiếng rên rỉ. Lại gần, họ bàng hoàng phát hiện Martha bị đè bẹp dưới tấm bia lớn, cơ thể giập nát, hơi thở cuối cùng thoi thóp và nặng nhọc, thốt lên từng chữ đứt quãng: "Buông tôi ra! Jim, buông tôi ra!"