Tuyển Tập Truyện Ngắn Hay Nhất Năm 1920 Và Niên Giám Truyện Ngắn Mỹ

Lượt đọc: 596 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
By John T. Wheelwright

❊ ❊ ❊

Ralph Tuckerman vừa đặt chân đến Liverpool vào ngày hôm ấy sau một chuyến hải trình mùa đông đầy sóng gió, lần đầu tiên cậu vượt Đại Tây Dương. Con tàu từ từ tiến vào cửa sông Mersey trong màn sương mù dày đặc, rồi chuyến tàu tốc hành đặc biệt đã lao vun vút qua bầu không khí mịt mùng ấy để đến với thành phố của sương mù và bồ hóng – London. Suốt dọc hành trình về khách sạn, chàng thanh niên người Mỹ chẳng thấy gì ở quê cha đất tổ ngoài những cột điện báo lướt nhanh qua khoảng không mờ mịt bên đường tàu, còn khi đến London thì chỉ thấy lờ mờ hình bóng những tòa nhà và ánh đèn đỏ nhợt nhạt xuyên qua màn sương.

Dù chẳng quen biết ai giữa hàng triệu cư dân nơi thành phố này, cậu vẫn không hề cảm thấy cô đơn trong phòng giải khát ấm cúng của khách sạn, nơi ngọn lửa bập bùng cháy trên đống than cannel. Bầu không khí trong phòng sực nức mùi khói than nồng hắc đã phủ đen cả tường lẫn trần nhà, biến sắc đỏ rực rỡ một thời của tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ thành màu nâu xỉn. Thế nhưng, dù có trong tay cây đũa thần của phù thủy, chàng thanh niên người Mỹ cũng chẳng đời nào muốn bầu không khí ấy bớt đi mùi hương đặc trưng của London, hay tấm thảm và bức tường bớt đi vẻ phong trần ấy.

Khái niệm về một khách sạn tại thành phố Chicago quê nhà của cậu vốn là một tòa nhà chọc trời bằng thép, được trang hoàng và thắp sáng rực rỡ, có hệ thống thang máy chạy nhanh như chớp xuyên qua những sảnh lát cẩm thạch nhẵn bóng chìm đắm trong bầu không khí nhiệt đới tỏa ra từ những chiếc lò sưởi bọc bạc. Thế nên, chẳng có gì lạ khi chàng thanh niên lại cảm thấy gần gũi, thân thuộc ở cái quán trọ tại chốn London cổ kính này hơn bất kỳ tòa lữ quán hoành tráng nào trên đất Mỹ.

Gã bồi bàn tồi tàn phục vụ bữa tối cho cậu trông giống hệt như hiện thân của người hầu từng ngấu nghiến những miếng sườn của David Copperfield, rồi cạn sạch nửa pint rượu vang Port của cậu bé khi cậu lên đường đến trường. Có lẽ tuổi tác của Tuckerman đã giúp cậu tránh khỏi cảnh thực phẩm của mình bị "xâm chiếm" như vậy, nhưng công bằng mà nói, có vẻ như gã bồi bàn thà tự chặt đứt tay phải còn hơn là tỏ ra bất kính với một vị khách dùng bữa.

Sau khi dọn khăn bàn đi, Tuckerman gọi một bình vang Port nửa pint để tưởng nhớ nhà văn Dickens. Vừa nhâm nhi từng ngụm, cậu vừa ngắm nhìn căn phòng với vẻ thán phục ngập tràn qua những bức ốp gỗ tối màu cổ kính. Dù đang cảm thấy vô cùng thoải mái sau bữa tối, cậu vẫn không khỏi tiếc nuối vì đã không có bên mình những người bạn cũ như vợ chồng ông Micawber và Traddles để cùng chia sẻ niềm vui ấy – chính là những vị khách từng được Copperfield tiếp đón nồng hậu khi họ đến phòng trọ của David: "Ông Micawber với chiếc cổ áo sơ mi cao hơn bình thường và chiếc ruy băng mới trên gọng kính, bà Micawber mang theo chiếc mũ bọc trong gói giấy màu nâu vàng, còn Traddles vừa vác gói đồ vừa đỡ bà Micawber trên cánh tay". Cậu ước gì mình có thể nhìn thấy "gương mặt ông Micawber bừng sáng qua làn khói mỏng manh dịu nhẹ của ly rượu punch", để rồi vào cuối buổi tối, vợ chồng ông Micawber sẽ cảm thấy rằng họ "không thể tận hưởng một bữa tiệc nào tuyệt vời hơn thế, kể cả khi có phải bán cả chiếc giường đi để trả tiền".

Những tâm hồn vui tươi ấy dường như đã quay trở lại với cậu từ cõi thiên đường tươi đẹp nơi họ đang sống để làm say lòng thế giới muôn đời, và cậu tưởng chừng như mình nghe rõ mồn một giọng ông Micawber đang cất lên: "Chúng mình từng dạo bước miền đồi, Và cùng hái đóa cúc dại xinh", rồi ông vừa ngâm thơ vừa chú thích: "Tôi không rõ hoa cúc dại chính xác là loài hoa nào, nhưng tôi chắc chắn rằng Copperfield và tôi hẳn đã thường xuyên ghé thăm chúng nếu có thể."

Chút rượu Port khiêm tốn của cậu chắc hẳn sẽ chẳng thấm vào đâu đối với một người bạn tri kỷ tri âm như Micawber nếu đem ra so sánh với ly rượu punch.

Cuối cùng cậu cũng lên lầu đi ngủ, vô cùng thích thú khi được trao cho một ngọn nến đặt trong chân đèn bằng đồng, và khi bước vào phòng, cậu mừng rỡ nhận ra thợ sửa ống nước chưa từng đặt chân đến chốn linh thiêng này. Một chiếc bồn tắm đặt trên tấm vải cao su đang chờ sẵn bình nước nóng sẽ được khuân đến cho cậu vào sáng hôm chiếc giường bốn cột với những lớp rèm damask nặng nề, chiếc ghế bành có đệm dành cho ông cụ cạnh lò sưởi mở, chiếc tủ quần áo bằng gỗ gụ khổng lồ cùng đồ đạc nặng nề – tất cả đều mang đậm phong cách của thập niên 1830. Chính vào một căn phòng như thế này, ông Pickwick từng cố gắng tìm đường quay về vào đêm đáng nhớ khi ông vô tình làm phiền vị bà cụ có căn phòng mà ông lầm tưởng là của mình.

Chàng thanh niên người Mỹ ấn tượng sâu sắc với việc được đưa về quá khứ đến nỗi chiếc đồng hồ lên dây cót bằng núm vặn bỗng trở thành một vật lạc lõng khi cậu đem ra lên dây trước khi đi ngủ.

Cậu ngồi thụp xuống chiếc ghế bành lớn cạnh lò sưởi, lấy từ trong vali ra ba cuốn sách đã chọn làm bạn đồng hành cho chuyến đi: "Baedeker's London Guide", "The Pickwick Papers" và "David Copperfield". Cuốn sau cùng là một bản in giá rẻ của Mỹ mà cậu đã mua bằng tiền tiết kiệm thời gian đi học; một cuốn sách rách rưới mà cậu đã thuộc làu làu. Khi cầm lên, sách tự động mở ra đoạn trong "Lịch sử và Trải nghiệm Cá nhân" của David, nơi người dì thông báo cho cậu về những tổn thất tài chính, nơi cậu mơ những giấc mơ về nghèo đói dưới đủ mọi hình thái. Và khi đọc, đoạn văn này đập ngay vào mắt cậu:

"Vào thời đó, ở cuối một con phố rẽ ra từ đường Strand có một nhà tắm kiểu La Mã cũ – có lẽ nó vẫn còn ở đó – nơi tôi từng có nhiều lần ngâm mình trong nước lạnh. Thay đồ thật nhanh hết mức có thể, rồi giao Peggotty ở lại trông nom Dì tôi, tôi cắm cổ lao đầu xuống làn nước ấy, sau đó đi bộ một chuyến đến Hampstead. Tôi ôm hy vọng rằng liệu pháp sảng khoái này có thể giúp đầu óc mình minh mẫn hơn đôi chút."

Giấc ngủ của Ralph trên chiếc giường cũ không được yên ả. Cậu bị cuốn ngược về nước Anh thời kỳ xe ngựa chạy tuyến cố định ngày xưa, thấy mình đang ngồi trên ghế đánh xe của chuyến xe đi Ipswich, bên cạnh một lão đánh xe già mập mạp, mặt đỏ phừng phừng, cổ và ngực quấn đầy khăn choàng dày cộp. Lão quay sang bảo cậu:

"Nếu có khi nào chú bị bệnh gút tấn công, cứ việc cưới ngay một mụ góa chồng có cái giọng thật oang oang và biết cách sử dụng nó cho ra ngô ra khoai, đảm bảo chú sẽ chẳng bao giờ bị gút hành hạ nữa!" Rồi bất chợt, khung cảnh chiếc xe ngựa lịch lãm với hành khách ngồi cả bên trong lẫn bên ngoài phai mờ đi, và Ralph thấy mình đang ngồi uống rượu mạnh pha nước nóng cùng ông Pickwick trong một căn phòng có vẻ rất đỗi bình dị, dường như nằm dưới sự bảo trợ đặc biệt của ông Weller cùng những tay đánh xe ngựa khác, bởi vì vị đánh xe kia đang ngồi đó hút thuốc với vẻ đầy nhiệt tình. Cảnh tượng ấy chợt lóe lên rồi chìm vào bóng tối.

Rồi một giấc ngủ sâu lúc sáng sớm ập đến, cho đến khi tiếng gõ cửa sắc bén đánh thức cậu dậy, và một người phục vụ phòng bước vào mang theo bình nước nóng cùng một tách trà, cất lời: "Xin lỗi ngài, đã tám giờ rồi ạ, cảm ơn ngài."

Phản xạ đầu tiên của Ralph là đáp "Cảm ơn", nhưng cậu kịp kiềm chế lại để không làm lung lay nền tảng của đời sống xã hội Anh quốc, thay vào đó cậu hỏi:

"Thời tiết sáng nay thế nào?"

"Ồ thưa ngài, cảm ơn ngài, nếu tôi nói rằng đây là một buổi sáng tồi tệ, thì quả thật tôi đang nói sự thật đấy ạ, trời vừa sương mù lại vừa mưa, thưa ngài, cảm ơn ngài."

Trong suốt lúc đó, anh ta vẫn lặng lẽ thu dọn quần áo của Ralph đang vứt bừa bộn như vừa trải qua những trận co giật khắp phòng.

"Tôi có nên dọn vali giúp ngài không ạ?" người phục vụ hỏi.

Ralph ngừng nhấp ngụm trà để gật đầu đồng ý, và anh ta tiếp tục công việc dọn dẹp bằng đôi bàn tay đã đạt đến độ hoàn hảo nhờ quen tay quen việc.

"Đây là buổi sáng đầu tiên của tôi ở London," Ralph bâng quơ nhận xét. Người phục vụ giả vờ như không nghe thấy, bởi anh ta chẳng muốn dính lüu vào bất kỳ câu chuyện nào có nguy cơ kéo mình ra khỏi địa vị xã hội mà số phận đã định sẵn cho anh ta.

"Tên anh là gì vậy?" cuối cùng chàng thanh niên người Mỹ lên tiếng hỏi.

"Thưa ngài, tên tôi là Postlethwaite, nhưng mọi người thường gọi tôi là 'Enery."

"Này 'Enery, anh đã bao giờ nghe nói về một nhà tắm kiểu La Mã nằm ở con phố nhỏ ngay cạnh đường Strand chưa?"

"Nhà tắm kiểu La Mã, thưa ngài, ở một con phố nhỏ gần đường Strand ạ? Không thưa ngài, cảm ơn ngài, chao ôi thưa ngài, người Ý thì làm sao mà tắm táp bao giờ, thưa ngài."

"Họ từng tắm đấy, 'Enery, và sách hướng dẫn du lịch của tôi nói rằng hiện vẫn còn một nhà tắm như thế ở ngõ Strand Lane cho đến tận ngày nay."

Người phục vụ giữ im lặng khi tiếp tục công việc dọn dẹp và sắp xếp quần áo cho Tuckerman. Cậu cảm thấy có chút gượng gạo trong suốt quá trình đó, bởi cậu thừa biết bộ đồ mình đang mặc chẳng tương xứng chút nào, không chỉ trong mắt một người hầu Anh quốc mà ngay cả trong chính mắt cậu. Cậu đã cố tình đi du lịch với hành lý "nhẹ nhàng", dự định sẽ sắm sửa lại tủ quần áo ngay tại London. Thế nhưng, người đầy tờ được huấn luyện bài bản ấy vẫn dành cho những bộâu phục đã sờn cùng những chiếc áo sơ mi rách mép sự tôn trọng tuyệt đối bề ngoài khi anh ta cất chúng vào tủ đựng quần áo.

Một giờ sau, ở tầng trên cùng của một chiếc xe buýt, Ralph ngồi ngắm nhìn dòng xe cộ tấp nập, chuyển động phức tạp trên các đường phố London dưới sự điều tiết của những viên cảnh sát đội mũ sắt. Đó là thời kỳ chưa có ô tô, một dòng xe buýt, xe tải ngựa, xe ngựa hai bánh mui trần và xe bốn bánh không dứt, ngay cả vào lúc sáng sớm tinh mơ ấy, vẫn đang tuôn chảy qua mạch máu lớn nơi trái tim thế giới. Chuyến đi đầu tiên trên chiếc xe buýt London cùng những cảnh tượng giao thông đường phố thật đầy cảm hứng, nhưng lại vô cùng quen thuộc đối với tâm trí của chàng thanh niên người Mỹ. Sông Thames nhộn nhịp tàu bè và thuyền máy, những tòa nhà bám đầy khói bụi, những đoàn người làm công nối đuôi nhau, những người qua đường và quét dọn, những viên cảnh sát bảnh bao, những gã đánh xe ngựa chở hàng... tất cả những thứ đó cậu đều đã biết qua các bức vẽ của Leech. Và điều kỳ diệu là cậu đang trên đường đến với công trình cổ xưa nhất của con người tại thành phố này, nơi dòng nước vẫn đang chảy mãi đúng như dòng chảy của nó kể từ thời London còn mang tên Londineum.

Cậu xuống xe buýt ở ngõ Strand Lane và tìm thấy tòa nhà mình đang kiếm ở ngay đoạn đầu phố. Đó chỉ là một công trình gạch bình thường, bên ngoài chẳng hề hé lộ chút manh mối nào về những gì nằm bên trong. Một thông báo được dán trên cánh cửa ra vào màu đen, ghi rõ giờ mở cửa đón khách tham quan. Ralph nhận ra mình còn phải đợi mười lăm phút nữa mới được cắm cổ lao đầu xuống hồ bơi. Cậu hơi mất kiên nhẫn đi qua đi lại trên phố, cảm thấy việc chờ đợi này thật khó chịu, bởi dù trời không mưa lớn nhưng sương mù lại lạnh lẽo và ẩm ướt khó ưa. Sau vài vòng đi lại, cậu tiến đến gần cánh cửa một lần nữa và trông thấy một thanh niên trẻ tuổi đang mặc chiếc áo khoác dài kiểu surtout đọc bản thông báo. Người lạ mặt quay người lại khi Ralph bước tới; gương mặt anh ta nhẵn nhụi không râu ria, đôi mắt to và đượm buồn, khó nhếch lên nụ cười nghịch ngợm mà nhạy cảm trên đôi môi, mái tóc hạt dẻ bồng bềnh dài hơn mốt thời bấy giờ, chiếc mũ phớt mềm sụp xuống trán như để chắn bớt sương mù. Tay phải anh ta đang vung vẩy một chiếc gậy mây Malacca có phần chỏm bằng vàng được chạm trổ tinh xảo.

Anh ta lịch sự cúi đầu chào Ralph và cất lời nhận xét:

"Thế ra anh cũng đang chờ để được ngâm mình xuống dòng nước Holywell đấy à?"

"Anh nói đúng đấy; tôi đoán là nhà tắm La Mã này sẽ lạnh buốt vào sáng nay cho mà xem."

"Anh là người Mỹ, phải không nào?"

"Đúng vậy, và vì thế, thưa anh, tôi là một kẻ đi tìm kiếm những điều kỳ lạ và cổ xưa của thành phố này; đây là buổi sáng đầu tiên của tôi ở London."

"Tôi mạo muội hỏi làm sao anh lại biết đến nhà tắm cổ kính này thế? Nơi này vốn ít người biết đến lắm, ngay cả với những người sống lâu năm ở London. Tôi thường đến đây ngâm mình, nhưng hiếm khi thấy vị khách nào khác."

"À thưa anh, tôi tình cờ đọc được một chi tiết nhắc đến nó trong cuốn 'David Copperfield' ngay trước khi đi ngủ tối qua, và tôi đã tra cứu địa điểm trong cuốn sách hướng dẫn du lịch của mình."

"'David Copperfield'!" chàng thanh niên thốt lên kèm theo một tiếng huýt gió khẽ, rồi anh ta bắt đầu đi qua đi lại như để giữ ấm cơ thể trong lúc chờ đợi.

Chỉ một lát sau, cánh cửa đen nặng nề của nhà tắm được mở ra, và nhân viên trực nhà tắm bước ra ngưỡng cửa, nhìn ngó ra khoảng không gian đẫm mưa. Đó là một người đàn ông tóc đen, vóc người đậm, nét mặt thô kệch, miệng mím chặt vẻ tàn nhẫn; nếu không mặc bộ quần áo lao động thô ráp hiện đại, hẳn anh ta trông chẳng khác nào một kẻ sót lại từ thời kỳ La Mã đô hộ.

"Tiền vé vào cửa là hai shilling," nhân viên thông báo khi dẫn vị khách người Mỹ vào phòng thay đồ. Trong lúc Ralph đang trả tiền, cậu thoáng thấy vị khách kia lướt nhanh vào phòng thay đồ ngay cạnh bên.

Nhà tắm nhỏ, tối tăm và mang lại cảm giác hụt hẫng cho vị khách đến từ bên kia đại dương – người vốn liên tưởng cụm từ "nhà tắm La Mã" với những căn phòng mái vòm rộng lớn và các hồ bơi lát cẩm thạch. Bản thân bồn tắm đủ dài để nhào lộn nhảyỏm xuống nhưng lại quá nhỏ để bơi lội, và một kẻ lặn vội vàng sẽ có nguy cơ đập đầu xuống đáy. Những viên gạch hai bên được lát dựng cạnh, còn sàn nhà tắm làm bằng gạch trát xi măng. Ngay tại điểm nước từ nguồn Holywell chảy vào, Ralph có thể nhìn thấy lớp nền gạch La Mã cổ xưa. Nước trong hồ tắm rất trong, nhưng trông tối tăm và lạnh lẽo.

Khi Ralph đứng bên mép hồ, còn đang chần chừ chưa dám nhảy xuống, cậu thấy chàng thanh niên người Anh lao vút ra từ phòng thay đồ uyển chuyển như một linh tinh xinh đẹp và thực hiện một cú lặn tuyệt mỹ xuống làn nước. Cơ thể mảnh mai của anh ta không hề tạo ra một gợn nước tung tóe nào mà lướt vào dòng nước như một tia sáng, khúc xạ ánh sáng khi anh ta thực hiện một nhịp bơi ngầm dưới nước.

Chỉ trong chớp mắt, khuôn mặt anh ta đã nhô lên khỏi mặt nước mà không làm xáo trộn hay gợn sóng dòng nước chút nào.

"Tôi thấy khỏe hơn nhiều rồi đấy," anh ta gọi lớn. "Tôi vừa trải qua một đêm tồi tệ kinh khủng, suýt soát tồi tệ chẳng kém gì anh chàng tội nghiệp Clarence. Mới tối qua khi ngả lưng xuống giường tôi thảm hại làm sao! Tôi không cần phải kể chi tiết đâu. Nào là mất mát tài sản; nào là bất hạnh bất ngờ đổ ập xuống phá nát mọi hy vọng về sự nghiệp lẫn hạnh phúc của tôi."

"Thật khó mà tin được rằng một đêm dài đằng đẵng đối với tôi lại có thể trôi qua ngắn ngủi đối với bất kỳ ai khác. Suy nghĩ ấy khiến tôi miên man suy ngẫm, và rồi nghĩ đến một bữa tiệc tưởng tượng nơi mọi người nhảy múa quên cả thời gian cho đến khi ngay cả điều đó cũng biến thành một giấc mơ, để rồi tôi nghe văng vẳng tiếng nhạc cứ chơi hoài một điệu, và nhìn thấy Dora cứ nhảy hoài một điệu múa mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi lấy một lần."

"Tôi cũng mơ suốt cả đêm qua," Ralph thầm nghĩ. "Và phải chăng giờ đây tôi vẫn đang mơ?"

"Tôi mơ về cảnh nghèo đói dưới đủ mọi hình thái. Tôi có cảm giác mình mơ mà chẳng cần trải qua cái nghi thức chìm vào giấc ngủ trước đó. Lúc thì tôi rách rưới, lúc thì tôi chạy thốc tháo khỏi văn phòng trong bộ đồ ngủ và giày bốt, lúc thì tôi đói cất nhặt từng mẩu vụn bánh mì ít ỏi của một kẻ nghèo khổ. Và dù vẫn còn ý thức được đôi chút về căn phòng của mình, tôi cứ trằn trọc lăn lộn chẳng khác nào một con tàu đang lâm nạn giữa biển chăn ga gối đệm. Nào, bạn của tôi, hãy nhảy xuống đi, bởi vì nếu anh cũng trải qua một đêm tồi tệ như tôi, dòng nước lạnh trong lành của suối Holywell sẽ có những đặc tính chữa lành kỳ diệu, nó sẽ làm cho đầu óc anh minh mẫn trở lại trước bất cứ thử thách nào mà ngày mới sắp mang đến để anh phải bận tâm suy nghĩ."

Vừa nói, anh ta vừa vươn người lên ở bờ bên kia hồ bơi và dõi theo Ralph khi cậu thực hiện một cú cắm đầu vụng về, toàn thân đập mạnh xuống mặt nước và bắn tung những bọt nước lớn khắp phòng. Khi Ralph vừa hoàn hồn sau cú chào hỏi thô bạo với làn nước và ngẩng lên tìm kiếm người bơi cùng, thì anh ta đã biến mất. Nước lạnh chẳng khích lệ việc ngâm mình lâu, thế nên Ralph vội vã lồm cồm bò lên, dùng chiếc khăn khô ráp chà xát qua loa rồi mặc lại quần áo. Lúc đó cậu để ý thấy cửa phòng thay đồ của người lạ đang mở; cậu ngó vào để chào từ biệt người quen tình cờ, nhưng căn phòng trống không, và ở góc phòng, cậu nhìn thấy chiếc gậy mây Malacca có chỏm vàng. Cậu nhặt nó lên và cẩn thận quan sát; phần chỏm bằng vàng có hình một khuôn mặt với đôi mắt mở lớn, chiếc kính được đẩy lên trán.

"Ôi chao thánh thần ơi!" Ralph thốt lên, "Lão Marley!"

Nhân viên nhà tắm vừa lúc đó xuất hiện, Ralph liền đưa chiếc gậy cho anh ta và nói: "Tôi tìm thấy chiếc gậy này trong phòng thay đồ của vị khách lúc nãy." Nhân viên trừng mắt nhìn cậu rồi cộc lốc đáp:

"Đừng có mà đùa cợt kiểu đó, thưa ngài; làm gì có vị khách nào khác đâu, và đây cũng chẳng phải gậy gộc gì sất; đây là cây chổi lau dọn mà tôi dùng để thọc vào gầm ghế đấy chứ."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.