Vững Tâm Bền Chí Ắt Thành Công

Lượt đọc: 297 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8 - Mục Đích

❊ ❊ ❊

Sở thích là một trong những yếu tố tạo nên đam mê. Mục đích – ý định có ảnh hưởng đến thể trạng của một người – là một đam mê khác. Những đam mê chín muồi của người bền bỉ phụ thuộc vào cả hai yếu tố này.

Đối với một số người, mục đích là cái có trước. Đây là cách tôi hiểu được một người bền bỉ đột phá như Alex Scott. Alex mắc bệnh hiểm nghèo ngay từ khi bắt đầu có ý thức. Cô bé được chẩn đoán mắc bệnh u nguyên bào thần kinh lúc 1 tuổi. Ngay sau ngày sinh nhật lần thứ tư, Alex nói với mẹ: “Khi con ra viện, con muốn có một quầy bán nước chanh.” Và cô bé đã làm như vậy. Cô bé đã bán nước chanh cho đến trước lúc 5 tuổi và gây được 2.000 đô-la tiền quỹ để bác sĩ “giúp đỡ những em bé khác như đã giúp con”. Khi Alex qua đời 4 năm sau đó, cô bé đã tạo cảm hứng cho rất nhiều người trong việc mở các quầy bán nước chanh và thu hút được hơn 1 triệu đô-la tiền quỹ. Gia đình của Alex đã tiếp tục công việc do em khởi xướng, cho đến nay Quỹ Nước chanh Alex đã ủng hộ hơn 500 triệu đô-la cho công tác nghiên cứu bệnh ung thư.

Alex là người vô cùng đặc biệt. Đa số chúng ta gắn bó với những gì mình thích rồi sau đó mới phát hiện ra sở thích của mình còn có thể hữu ích cho người khác. Nói cách khác, chúng ta thường bắt gặp trình tự thông thường như thế này: Một việc bắt đầu từ mối quan tâm của một cá nhân, rồi người đó luyện tập theo nguyên tắc của riêng mình và cuối cùng,

người đó sẽ tích hợp việc luyện tập với một mục đích mà ở đó, trọng tâm là một người khác.

Nhà tâm lý học Benjamin Bloom cũng là một trong những người đầu tiên phát hiện ra quá trình 3 giai đoạn này.

30 năm trước, Bloom chỉ định phỏng vấn các vận động viên thể thao, họa sĩ, nhà toán học và nhà khoa học đẳng cấp thế giới, ông biết mình có thể

học hỏi được điều gì đó về những người đã đạt đỉnh cao trong lĩnh vực họ theo đuổi. Điều ông không đoán trước được là ông đã phát hiện ra mô hình khái quát có thể áp dụng vào mọi lĩnh vực được nghiên cứu. Cho dù có sự khác biệt trong quá trình nuôi dưỡng và luyện tập, tất cả những cá nhân đột phá trong nghiên cứu của Bloom đã tiến bộ qua 3 giai đoạn trong suốt quá trình phát triển. Chúng ta đã thảo luận cái mà Bloom gọi là “những năm đầu” ở Chương 6 và “những năm trung gian” ở Chương 7 trong quá trình luyện tập. Bây giờ, chúng ta sẽ đến với giai đoạn 3, giai đoạn cuối cùng và dài nhất trong mô hình của Bloom – “những năm sau đó” – mà ông cho rằng “mục đích và ý nghĩa lớn hơn của công việc” cuối cùng cũng trở nên rõ ràng.

***

Khi trò chuyện với tôi, những cá nhân bền bỉ đột phá nói những gì họ

theo đuổi đều có mục tiêu, họ đề cập đến cái gì đó sâu sắc hơn chứ không chỉ đơn thuần là ý định. Họ không chỉ chạy theo mục tiêu; bản chất của mục tiêu họ theo đuổi rất đặc biệt.

Khi tôi đề nghị: “Có thể giải thích cho tôi thêm chút nữa không? Ý anh là gì?”, họ lại cảm thấy khó diễn đạt bằng lời những cảm nhận của mình.

Nhưng họ luôn nhắc đến người khác trong những lời tiếp theo. Đôi khi, họ đề cập tới những thứ rất cụ thể (“con tôi”, “thân chủ của tôi”, “học sinh của tôi”) và đôi khi là những thứ rất trừu tượng (“đất nước này”,

“môn thể thao này”, “môn khoa học này”, “xã hội này”). Tuy nhiên, tất cả những gì họ nói đều có chung một thông điệp, đó là: Những ngày dài và đêm trắng làm việc cật lực, sự thất bại, sự thất vọng và vật lộn, sự hy sinh – tất cả đều xứng đáng vì sau cùng, những nỗ lực của họ đều đem lại ích lợi cho người khác.

Xét về bản chất, mục đích là những gì chúng ta gây ảnh hưởng đến người khác chứ không phải đến chúng ta.

Một người theo chủ nghĩa vị tha nhỏ tuổi như Alex Scott là ví dụ minh họa cho chúng ta hiểu thế nào là mục đích lấy người khác làm trung tâm.

Cũng giống với nhà hoạt động nghệ thuật Jane Golden, người bền bỉ đột phá chúng ta đã gặp ở Chương 6. Đam mê nghệ thuật đã dẫn đường chỉ

lối cho Jane trở thành nghệ sĩ vẽ bích họa ở Los Angeles sau khi tốt nghiệp đại học. Khi chưa đầy 30 tuổi, Jane được chẩn đoán mắc bệnh lupus ban đỏ và sẽ không thể sống lâu. Cô nói với tôi: “Tin ấy quả thật là cú sốc. Nó khiến tôi có cách nhìn mới về cuộc sống.” Khi Jane phục hồi sau những triệu chứng cấp tính nhất của căn bệnh, cô nhận ra mình sẽ

vượt qua được những dự đoán ban đầu của bác sĩ nhưng vẫn phải chịu đựng cơn đau mãn tính.

Quay trở lại thành phố quê hương Philadelphia, cô tiếp quản chương trình nhỏ về chống phun sơn graffiti tại văn phòng của thị trưởng thành phố, rồi trong 3 thập kỷ sau đó, cô đã gây dựng nó trở thành một trong những chương trình nghệ thuật công cộng lớn nhất thế giới.

Giờ đây, khi đã gần 60 tuổi, Jane vẫn tiếp tục làm việc từ sáng sớm cho đến tối muộn, trong 6-7 ngàytuần. Một đồng nghiệp so sánh cường độ

làm việc với cô chẳng khác gì quản lý văn phòng phụ trách chiến dịch ngay trước đêm bầu cử – chỉ khác là ngày bầu cử sẽ chẳng bao giờ đến.

Đối với Jane, thời gian trong ngày được tính bằng số tranh bích họa và chương trình hoạt động, điều đó có nghĩa là người dân có cơ hội sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật.

Khi tôi hỏi Jane về căn bệnh lupus ban đỏ, cô nói vẫn thường xuyên phải chịu đựng cơn đau. Đã có lần cô từng nói với một nhà báo: “Có những phút giây tôi bật khóc. Tôi không nghĩ tôi còn có thể đẩy tảng đá lên đồi.

Nhưng cảm giác thương thân thật vô nghĩa, vì vậy, tôi tìm cách lấy lại sức mạnh.” Tại sao? Bởi vì công việc của cô thú vị ư? Đó chỉ là điểm khởi đầu trong động cơ của Jane. Cô nói: “Mọi việc tôi làm đều là dịch vụ. Tôi cảm thấy được khuyến khích để làm việc đó. Đó là mệnh lệnh về khía cạnh đạo đức.” Cô tóm lại: “Nghệ thuật đã cứu rỗi loài người.”

Nhiều người bền bỉ đột phá khác đặt ra mục tiêu cao nhất, theo cách cụ

thể.

Ví dụ, chuyên gia phê bình rượu vang nổi tiếng Antonio Galloni đã nói với tôi: “Việc đánh giá rượu vang là điều tôi rất đam mê để chia sẻ với

người khác. Khi bước chân vào một nhà hàng, tôi muốn thấy trên mỗi chiếc bàn có đặt sẵn một chai rượu vang sang trọng.”

Antonio nói nhiệm vụ của ông là “giúp mọi người hiểu được khẩu vị của chính mình”. Khi điều đó xảy ra, ông nói việc ấy như thể chiếc bóng đèn vừa tắt và ông muốn “làm cho hàng triệu bóng đèn đều tắt”.

Vì vậy, đối với Antonio, sở thích đến trước – cha mẹ ông sở hữu một cửa hàng ăn và bán rượu vang khi ông còn nhỏ, và ông “luôn bị hấp dẫn bởi rượu vang ngay từ khi còn rất nhỏ”– song niềm đam mê của ông cũng được nâng lên nhiều lần bởi ý tưởng giúp đỡ người khác: “Tôi không phải là bác sĩ phẫu thuật thần kinh, tôi không chữa bệnh ung thư. Nhưng theo cách riêng của mình, tôi nghĩ tôi sẽ làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Tôi thức dậy mỗi sáng với một mục tiêu nhất định.”

Vì vậy, xét về khía cạnh “bền bỉ”, mục đích có nghĩa là “ý định góp phần nâng cao niềm hạnh phúc cho người khác”.

***

Sau khi nghe những người bền bỉ đột phá nói nhiều lần rằng họ cảm thấy công việc của mình có liên quan sâu sắc tới người khác như thế nào, tôi quyết định phân tích mối liên quan này kỹ hơn. Chắc chắn, mục đích có thể gây ảnh hưởng, song nó tác động ở mức độ nào, liên quan đến những ưu tiên khác ra sao? Có lẽ, mục tiêu của mục đích cao nhất có thể mang tính ích kỷ chứ không phải là vị tha.

Aristotle là một trong những người đầu tiên cho rằng có ít nhất hai cách để theo đuổi hạnh phúc. Ông gọi cách thứ nhất là “cống hiến” – nó phù hợp với nội tâm tốt đẹp của một người – và cách thứ hai là “hưởng thụ”

– nghĩa là tập trung vào những trải nghiệm tích cực, trước mắt, mang tính cá nhân. Rõ ràng, Aristotle khẳng định sống hưởng thụ là thô sơ và tầm thường; ông đề cao cuộc sống cống hiến vì nó cao quý và thanh khiết.

Trên thực tế, cả hai cách tiếp cận hạnh phúc như vậy đều có những nguồn gốc đổi mới rất sâu sắc.

Một mặt, con người tìm kiếm khoái lạc vì những thứ mang lại sự thỏa mãn là những gì nâng cao cơ hội tồn tại của chính chúng ta. Ví dụ, nếu tổ tiên chúng ta không sốt sắng tìm kiếm cái ăn và khao khát yêu đương, họ hẳn sẽ không thể sống lâu hoặc có nhiều con cháu đến vậy. Ở mức độ

nào đó, tất cả chúng ta, như Freud đã nói, đều bị dẫn dắt bởi “nguyên tắc khoái lạc”.

Nói cách khác, con người đã tiến hóa trong việc tìm kiếm ý nghĩa và mục đích. Nói một cách sâu sắc nhất, chúng ta là những sinh vật xã hội. Vì động cơ liên kết và phục vụ người khác cũng thúc đẩy chúng ta tồn tại.

Thực ra là vì những người tích cực hợp tác thường tồn tại lâu hơn so với những người đơn độc. Xã hội phụ thuộc vào mối quan hệ liên cá nhân ổn định và bằng nhiều cách thức khác nhau, xã hội giúp chúng ta liên tục được ăn, tránh được rủi ro và bảo vệ chúng ta khỏi kẻ thù. Mong ước liên kết là nhu cầu cơ bản của con người, nó giống như nhu cầu tìm kiếm

khoái lạc của chúng ta.

Ở mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều được lập trình để cống hiến và hưởng thụ. Nhưng mức độ tương ứng chúng ta dành cho hai kiểu hạnh phúc này lại rất khác nhau. Một số người quan tâm đến mục đích hơn sự

khoái lạc và ngược lại.

Để tìm hiểu động cơ của những cá nhân đột phá, tôi lựa chọn 16.000

người Mỹ và đề nghị họ làm bài kiểm tra Thang đo tính bền bỉ. Trong bảng hỏi, người tham gia đọc các câu hỏi về mục đích – ví dụ: “Việc tôi làm có ảnh hưởng đến xã hội?”– rồi cho biết mức độ phù hợp với họ. Họ

làm tương tự đối với cả 6 câu hỏi về tầm quan trọng của khoái lạc – ví dụ:

“Đối với tôi, cuộc sống tốt đẹp là cuộc sống có nhiều niềm vui.” Dựa vào câu trả lời, chúng tôi chấm điểm theo thang điểm 1-5 để xác định mức độ

họ theo đuổi mục đích và khoái lạc.

Tiếp theo, tôi vẽ sơ đồ các số liệu từ công trình nghiên cứu với quy mô lớn này. Như bạn thấy, những người bền bỉ không phải là các thầy tu, họ

cũng không theo chủ nghĩa hưởng thụ. Xét về khía cạnh tìm kiếm khoái lạc, họ cũng giống bất kỳ ai; khoái lạc cũng quan trọng cho dù bạn bền bỉ như thế nào. Ngược lại, bạn có thể thấy người bền bỉ có động cơ mạnh mẽ hơn những người khác trong việc tìm kiếm cuộc đời có ý nghĩa và hướng về người khác. Điểm cao hơn ở các câu hỏi về mục đích tương ứng với điểm cao hơn ở Thang đo tính bền bỉ.

Image 17

Ở đây, tôi không nói người bền bỉ đột phá là thánh nhân, song hầu hết những người bền bỉ đều thấy mục đích lớn trong cuộc đời họ có liên quan sâu sắc với thế giới bên ngoài con người họ.

Ý tôi là đối với hầu hết mọi người, mục đích là nguồn gốc lớn lao của động cơ. Có thể tồn tại một vài trường hợp ngoại lệ, song những trường hợp như vậy hoàn toàn có thể chứng minh cho nguyên tắc này.

***

Tôi còn quên gì không nhỉ?

Ồ, có thể nhóm mẫu của tôi chưa đề cập đến những tên khủng bố hoặc kẻ giết người hàng loạt. Đúng là tôi chưa hề phỏng vấn các nhà độc tài chính trị hoặc ông trùm mafia. Tôi đoán bạn có thể tranh luận rằng tôi đã bỏ qua cả một nhóm cá nhân đột phá mà mục đích của họ hoàn toàn mang tính cá nhân hoặc tệ hơn là có thể làm hại người khác.

Ở điểm này, tôi thừa nhận. Một phần thôi. Về lý thuyết, bạn có thể là người bền bỉ chống lại loài người. Ví dụ, Adolf Hitler rõ ràng là một trong những cá nhân bền bỉ nhất. Ông ta cũng chứng minh rằng ý tưởng của mục đích có thể bị bóp méo. Hàng triệu người vô tội đã bị hành quyết dưới bàn tay của kẻ mị dân mà mục đích của hắn vẫn được tuyên truyền là góp phần vào hạnh phúc của người khác?

Nói cách khác, mục đích tích cực, vị tha không nhất thiết đòi hỏi phải kèm theo tính cách bền bỉ. Song, tôi phải thừa nhận có những kẻ thủ ác bền bỉ.

Nói chung, tôi lựa chọn các số liệu điều tra tôi đã thu thập được và những sự thật mà nhiều người bền bỉ đột phá đã nói trực tiếp với tôi. Vì vậy, mặc dù sở thích có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì đam mê trong dài hạn, song mong ước kết nối với người khác, giúp đỡ người khác cũng quan trọng không kém.

Tôi đoán nếu bạn dành một phút để nhớ lại những lần thể hiện tốt nhất trong cuộc đời mình – khi bạn căng người trước thử thách, tìm kiếm sức mạnh để làm nhiệm vụ có vẻ bất khả thi – bạn sẽ nhận ra những mục đích bạn đạt được có liên quan theo cách này hay cách khác tới lợi ích của nhiều người khác.

Nói tóm lại, trên thế giới này có thể có những kẻ thủ ác bền bỉ nhưng nghiên cứu của tôi cho rằng số người anh hùng bền bỉ lớn hơn thế rất nhiều.

***

Quả thực, người may mắn là những người sở hữu mục đích cao nhất có tác động đến thế giới, bất kỳ điều gì họ làm cho dù là nhỏ hay lớn đều gây ảnh hưởng. Hãy xem câu chuyện ngụ ngôn về những người thợ nề

sau đây:

Có 3 người thợ nề được hỏi: “Anh đang làm gì vậy?”

Người thứ nhất trả lời: “Tôi đang xếp gạch.”

Người thứ hai trả lời: “Tôi đang xây nhà thờ.”

Người thứ ba trả lời: “Tôi đang xây ngôi nhà của Chúa.”

Người thợ thứ nhất có công việc. Người thứ hai có nghề nghiệp. Người thứ ba có tiếng gọi.

Nhiều người trong số chúng ta rất có thể là người thợ nề thứ ba, nhưng trên thực tế chúng ta chỉ tự nhận mình là người thứ nhất hoặc thứ hai mà thôi.

Giáo sư của Khoa Quản lý tại Đại học Yale, Amy Wrzesniewski, phát hiện thấy mọi người không hề gặp khó khăn khi nói cho bà biết họ là ai trong số ba người thợ nề. Theo trình tự câu chuyện vừa kể, nhiều người lao động nhận ra họ có:

Một công việc (“Tôi coi công việc của mình là một điều cần thiết trong cuộc đời, cũng như việc thở hoặc ngủ vậy.”)

Một nghề nghiệp (“Tôi xem công việc của mình là bước đệm cho những công việc khác.”)

Một tiếng gọi (“Công việc là một trong những điều quan trọng nhất cuộc đời tôi.”)

Khi sử dụng phép đo này của Amy, tôi cũng phát hiện thấy có rất ít người lao động xem nghề nghiệp của họ là tiếng gọi. Không có gì là ngạc nhiên nếu biết những người có tiếng gọi có thái độ bền bỉ hơn những người lựa chọn “công việc” hay “nghề nghiệp” để mô tả công việc của mình.

Những người may mắn xem công việc là tiếng gọi – ngược lại với công việc và nghề nghiệp – nói rằng “công việc của tôi làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn”. Nói chung, họ cảm thấy hài lòng nhất với công việc và cuộc sống của mình. Trong một nghiên cứu khác, những người cảm thấy công việc của họ là tiếng gọi có số ngày nghỉ ít hơn 1/3 so với những người cảm thấy công việc là một việc làm hoặc một nghề nghiệp.

Tương tự, một nghiên cứu gần đây với 982 nhân viên sở thú – một ngành mà 80% người lao động phải có bằng đại học và hưởng mức lương trung bình 25.000 đô-la – phát hiện thấy những người xem công việc của mình là tiếng gọi (“Làm việc với động vật dường như là tiếng gọi của cuộc sống đối với tôi”) cũng cho biết họ có cảm nhận rõ ràng về mục đích (“Công việc của tôi khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn”). Nhân viên sở thú với tiếng gọi nghề nghiệp cũng sẵn sàng hy sinh thêm thời gian mà không yêu cầu được trả lương sau giờ làm để chăm sóc những con thú bị ốm.

Đồng thời, những nhân viên đó cũng bày tỏ cảm nhận về nghĩa vụ đạo

đức (“Tôi có nghĩa vụ mang đến sự chăm sóc tốt nhất cho các con vật”).

***

Tôi sẽ chỉ cho các bạn một điều hiển nhiên: Chẳng có gì là “sai” nếu bạn không có tham vọng nghề nghiệp nào khác ngoài việc kiếm sống. Nhưng đa số chúng ta muốn nhiều hơn thế. Đây là kết luận của nhà báo Studs Terkel khi phỏng vấn hơn 100 người thuộc nhiều ngành nghề khác nhau vào những năm 1970.

Không ngạc nhiên khi Terkel phát hiện có rất ít người lao động thừa nhận công việc của họ là tiếng gọi. Nhưng không thiếu người muốn tìm được tiếng gọi. Terkel kết luận, tất cả chúng ta, đều đang tìm kiếm “ý nghĩa hàng ngày cũng như miếng cơm hàng ngày… cho giá trị của cuộc đời chứ không phải một tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu đang chết mòn”.

Cảm giác mất hết hy vọng khi phải dành phần lớn thời gian trong ngày làm điều gì đó không có mục đích rõ ràng được thể hiện qua câu chuyện của Nora Watson, một nhà văn 28 tuổi hiện đang làm việc cho một công ty xuất bản về y tế. Cô nói với Terkel: “Đa số chúng ta đang tìm kiếm tiếng gọi chứ không phải việc làm. Chẳng có gì làm tôi vui hơn việc làm có ý nghĩa đối với tôi đến mức tôi còn mang việc về nhà để làm.” Tuy nhiên, cô cho biết cô làm việc thực sự khoảng 2 tiếng mỗi ngày và dành phần thời gian còn lại để giả vờ như làm việc. “Tôi là người duy nhất cố

gắng tránh giao tiếp với mọi người. Tôi hạn chế làm việc nhiều nhất có thể.”

Đến cuối buổi phỏng vấn, Nora nói: “Tôi nghĩ tôi không có tiếng gọi – tại thời điểm này – trừ việc là chính mình. Nhưng chẳng ai trả tiền để bạn là chính mình, vì vậy, tôi đang có mặt ở cơ quan này – tại giây phút này…”

Trong quá trình nghiên cứu, Terkel gặp “một vài người hạnh phúc, họ là những người tìm thấy niềm vui từ công việc hàng ngày”. Từ quan điểm của người ngoài, những người có tiếng gọi không phải lúc nào cũng làm trong những ngành nghề phù hợp với mục đích hơn so với Nora. Một người là thợ xây, một người là thợ đóng sách và Roy Schmidt, một nhân viên môi trường 58 tuổi. Ông nói với Terkel, công việc của ông cực kỳ

nặng nhọc, bẩn thỉu và nguy hiểm. Ông biết đa phần những nghề nghiệp khác, trong đó có cả công việc văn phòng ông từng làm trước đây, được coi là hấp dẫn đối với mọi người. Tuy nhiên, ông nói: “Dù sao tôi cũng không coi thường công việc tôi làm… Đó là công việc có ý nghĩa đối với xã hội.”

Ngược lại lời kết của Nora trong buổi phỏng vấn với Roy: “Tôi được một ông bác sĩ kể cho nghe một câu chuyện. Nhiều năm trước đây ở Pháp…

nếu bạn không ủng hộ nhà vua, họ sẽ bắt bạn làm công việc hèn kém nhất, đó là thu gom rác thải trên đường phố Paris – đường phố hồi ấy quả là bãi chiến trường. Một vị bá tước đã vi phạm luật lệ này, vì vậy, họ

bắt ông phải chấp hành hình phạt quét rác. Tuy nhiên, vị bá tước đã làm việc đó tuyệt vời đến mức ông còn được khen ngợi. Đây là câu chuyện đầu tiên tôi từng được nghe về nghề thu gom rác thải, nó đã chứng minh công việc này thực sự có ý nghĩa.”

***

Còn trong câu chuyện ngụ ngôn về những người thợ nề, họ đều có nghề

nghiệp nhưng kinh nghiệm chủ quan của họ – tức là cách mà họ nhìn nhận công việc của mình – không khác nhau mấy.

Tương tự, nghiên cứu của Amy cho rằng tiếng gọi ít có ảnh hưởng đến các mô tả công việc chính thống. Trong thực tế, cô tin bất kỳ nghề nghiệp nào cũng có thể là việc làm, nghề nghiệp hoặc tiếng gọi. Ví dụ, khi nghiên cứu về nghề thư ký, ban đầu cô nghĩ rất ít người cho rằng công việc của họ là tiếng gọi. Khi thu thập dữ liệu, cô phát hiện thấy số lượng thư ký cho rằng họ có việc làm, nghề nghiệp hoặc tiếng gọi là bằng nhau – một tỷ lệ tương ứng mà cô phát hiện ở các nhóm mẫu khác.

Amy kết luận một số nghề không nhất thiết phải là việc làm, là nghề

nghiệp, hay tiếng gọi. Ngược lại, vấn đề nằm ở chỗ người lao động tin rằng việc đặt viên gạch tiếp theo đường chỉ là điều gì đó cần phải làm, hoặc ngược lại, là cái gì đó dẫn đến sự thành công tiếp theo của cá nhân hoặc cuối cùng là công việc kết nối cá nhân với điều gì đó lớn lao hơn bản thân.

Tôi đồng ý. Cách bạn đánh giá công việc của mình như thế nào quan trọng hơn chức danh nghề nghiệp bạn có.

Điều này có nghĩa là bạn có thể chuyển từ việc làm sang nghề nghiệp rồi tiến tới tiếng gọi mà không cần đổi nghề.

Gần đây tôi hỏi Amy: “Cô nói gì với mọi người khi họ xin cô lời khuyên?”

Cô trả lời: “Nhiều người cho rằng điều họ cần làm là tìm ra tiếng gọi cho mình. Tôi nghĩ cảm giác lo âu xuất phát từ giả thuyết cho rằng tiếng gọi giống như phép màu, nó vẫn luôn tồn tại để bạn phát hiện ra.”

Tôi thấy đó cũng là cách khiến người ta quan niệm chưa đúng về sở thích.

Họ không nhận ra họ cần đóng vai trò tích cực trong việc phát triển và nâng cao sở thích.

Cô nói với những người tìm kiếm lời khuyên: “Tiếng gọi không phải là cái gì đó đã phát triển hoàn thiện mà bạn phát hiện ra. Nó năng động hơn rất nhiều. Bất kỳ điều gì bạn làm – cho dù bạn là quản gia hay CEO

– bạn cũng luôn nhìn vào việc mình làm và hỏi nó có liên quan gì tới người khác, liên quan gì tới tổng thể, nó có thể là cách bày tỏ những giá trị sâu sắc nhất của bạn.”

Nói cách khác, người thợ nề từng nói: “Tôi đang xếp gạch” có thể đến một lúc nào đó sẽ nhận ra “Tôi đang xây ngôi nhà của Chúa”.

***

Theo quan sát của Amy, một người làm cùng một công việc ở những thời điểm khác nhau có thể nghĩ đó là việc làm, nghề nghiệp, hoặc tiếng gọi như Joe Leader chẳng hạn.

Joe hiện là Phó Giám đốc Sở Giao thông thành phố New York. Về cơ bản, anh là kỹ sư trưởng phụ trách hệ thống tàu điện ngầm của thành phố.

Anh đảm nhận khối lượng công việc ngoài sức tưởng tượng của bất kỳ ai.

Hàng năm, có hơn 1,7 triệu chuyến tàu đi lại trong hệ thống tàu điện ngầm của thành phố này, đây là hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất nước Mỹ. Toàn hệ thống có 469 nhà ga. Nằm nối đuôi nhau, các đường ray của hệ thống tàu điện ngầm vươn tới mọi ngả đường của thành phố

Chicago.

Chàng thanh niên Leader không đi tìm tiếng gọi. Anh tìm cách trả nợ

khoản vay từ hồi đi học.

Anh nói: “Khi tốt nghiệp đại học, mối quan tâm lớn nhất của tôi là tìm được việc làm. Bất kỳ công việc nào. Sở Giao thông đến trường tôi để

tuyển kỹ sư và tôi đã trúng tuyển.”

Chàng thực tập sinh Leader được phân công làm việc trên đường ray.

“Tôi quăng người xuống đường ray, kéo thanh giằng, xử lý cáp ở đường ray số 3.”

Không phải ai cũng thấy công việc này thú vị nhưng Joe thì khác: “Tôi thấy vui. Khi tôi mới đi làm còn tất cả các bạn tôi đều làm kinh doanh hoặc IT, chúng tôi thường ra ngoài và chỉ trở về nhà từ quán bar vào buổi tối, họ thường chạy lên rồi chạy xuống sân ga và hỏi: ‘Joe, cái này là gì?

Cái kia là gì?’ Tôi đã trả lời họ: ‘Đó là cái ngắt điện của đường ray số 3, đó là mối ray cách điện.’ Đối với tôi, điều đó thật thú vị.”

Như vậy, sở thích là hạt giống ươm mầm cho đam mê.

Chẳng bao lâu sau, Joe còn làm rất nhiều việc mà anh thấy say mê. Khi niềm vui cùng kinh nghiệm được nâng tầm và khi hiểu rõ bản thân hơn, anh bắt đầu muốn gắn bó lâu dài với nghề kỹ thuật vận tải. “Vào những ngày nghỉ, tôi mang quần áo xuống tiệm giặt là. Cô biết những cái bàn lớn để gấp quần áo chứ? Tất cả những người phụ nữ thường cười vì tôi còn mang theo cả bản vẽ kỹ thuật, trải nó ra bàn rồi làm việc. Tôi thực sự

thích công việc đó.”

Trong vòng một năm, Joe bắt đầu có cái nhìn khác về công việc. Đôi khi, anh ngắm nghía chiếc bu-lông hoặc đinh tán rồi chợt nhận thấy một đồng nghiệp nào đó đã lắp nó vào cách đây tới vài thập kỷ, nó vẫn đang ở đây, ngay chỗ ấy, giúp các toa tàu chạy và giúp mọi người đến nơi họ

cần.

Anh nói: “Tôi bắt đầu cảm thấy hình như mình đang đóng góp cho xã hội. Tôi đã hiểu tôi có trách nhiệm đưa mọi người đi lại mỗi ngày. Rồi khi trở thành người quản lý dự án, tôi không còn làm những công việc lắp đặt lớn như vậy nữa – chị biết đấy, 100 tấm pa-nô hoặc cả bộ liên khóa (nối các biển hiệu) – và tôi biết thành quả công việc của chúng tôi sẽ tồn tại trong 30 năm tới. Đó là khi tôi cảm thấy mình có nghề nghiệp hoặc tôi sẽ nói mình có tiếng gọi.”

Khi nghe Joe Leader kể về công việc của mình, bạn có thể thắc mắc liệu sau một năm, nếu không thấy công việc là tiếng gọi, thì bạn có nên từ bỏ

hy vọng không? Với các học viên MBA, Amy Wrzesniewski thấy nhiều người dành một vài năm cho công việc của mình rồi kết luận đó không

thể là niềm đam mê suốt đời của họ.

Bạn có thể cảm thấy dễ chịu khi biết Michael Baime còn mất nhiều thời gian hơn thế.

Michael là Giáo sư Nội khoa tại Đại học Pennsylvania. Bạn có thể nghĩ

tiếng gọi của ông là trị bệnh và giảng dạy. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng một phần. Michael có một niềm đam mê, đó là đem lại hạnh phúc thông qua thiền. Ông đã dành nhiều năm tích hợp sở thích cá nhân với thiền để giúp đỡ mọi người sống khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn. Chỉ đến khi sở thích và mục đích hòa quyện với nhau, ông mới thực sự cảm thấy mình đã làm đúng sứ mệnh khi sống trên cõi đời này.

Tôi hỏi Michael rằng ông bắt đầu quan tâm tới thiền như thế nào, ông đã kể về tuổi trẻ của mình: “Tôi nhìn lên bầu trời. Điều kỳ lạ nhất đã xảy ra. Tôi cảm thấy mình thực sự lạc giữa bầu trời này. Tôi cảm nhận được sự mở mang, như thể tôi đang trở nên rộng lớn hơn. Đó là trải nghiệm đẹp nhất tôi từng có.”

Sau này, Michael phát hiện ra ông có thể làm được điều đó bằng cách chú ý tới suy nghĩ của mình. Ông nói: “Tôi bị ám ảnh. Tôi không biết gọi nó là gì nhưng tôi sẽ luôn làm điều đó.”

Nhiều năm sau, khi đang lang thang trong cửa hàng sách với mẹ, Michael bất chợt tìm được cuốn sách mô tả chính xác trải nghiệm của mình. Cuốn sách của Alan Watts, một nhà triết học người Anh, viết về

thiền hay tịnh tâm cho độc giả phương Tây từ rất lâu trước khi nó trở

thành một trào lưu.

Nhờ sự động viên của cha mẹ, Michael tham gia các lớp “thiền” trong suốt những năm trung học và đại học. Đến gần thời điểm tốt nghiệp, ông phải đưa ra được định hướng nghề nghiệp. Thiền chuyên nghiệp không phải là một công việc toàn thời gian. Vì vậy, ông quyết định trở thành bác sĩ.

Sau nhiều năm theo học trường y, Michael mới thú nhận với một giáo viên dạy thiền rằng: “Đây không thực sự là điều tôi muốn làm. Đây chưa phải là tôi.” Y học quan trọng nhưng nó không phù hợp với những sở

thích cá nhân sâu thẳm nhất của ông lúc ấy. Thầy giáo nói: “Hãy ở lại đây. Cậu sẽ giúp thêm được nhiều người nếu cậu trở thành bác sĩ.”

Michael đã ở lại.

Sau khi hoàn thành chương trình học, Michael nói: “Tôi không biết mình thực sự muốn làm gì. Đúng như kiểu giậm chân tại chỗ, tôi đăng ký thực tập nội trú trong năm nhất.”

Rồi ông hết sức ngạc nhiên khi thấy mình thích làm bác sĩ. “Đó là một cách hợp lý để giúp ích cho mọi người. Nó không giống như ở trường y, tức là không giúp mọi người như kiểu mổ tử thi và ghi nhớ Chu trình Krebs22”. Rất nhanh chóng, ông chuyển từ vị trí thực tập nội trú thành nghiên cứu sinh quản lý phòng mạch, rồi thành trợ lý Giám đốc Chương trình Thực tập Nội trú và cuối cùng là Giám đốc Bệnh viện Nội khoa.

22 Chu trình Krebs là một chuỗi phản ứng hóa học được sử dụng bởi các sinh vật hiếu khí để giải phóng năng lượng được lưu trữ thông qua oxy hóa khử axetyl-CoA bắt nguồn từ các carbohydrate, chất béo và protein thành adenosine triphosphate (ATP) và carbon dioxide. (BTV) Tuy nhiên, y học vẫn chưa thực sự là điều Michael coi là tiếng gọi.

“Khi làm việc, tôi nhận thấy điều bệnh nhân thực sự cần không phải là kê thêm một đơn thuốc hoặc ghi phiếu chỉ định chụp X-quang mà thực sự là điều tôi muốn làm cho chính mình kể từ khi còn là đứa trẻ. Điều nhiều bệnh nhân cần là dừng lại, hít thở và kết nối đầy đủ với cuộc sống của họ.”

Phát hiện này đã dẫn dắt Michael mở lớp thiền cho các bệnh nhân mắc bệnh nặng vào năm 1992. Sau đó, ông tiếp tục mở rộng chương trình; cũng trong năm này, dạy thiền trở thành nghề chính thức. Cho đến nay, có tới 15.000 bệnh nhân, y tá và bác sĩ được đào tạo về thiền.

Gần đây, tôi đề nghị Michael giảng về thiền cho các giáo viên địa phương.

Trong buổi nói chuyện, ông bước lên bục giảng và nhìn chăm chú vào các học viên. Ông nhìn vào mắt của từng người trong toàn bộ 70 giáo viên tham dự, họ đã dành cả chiều Chủ nhật để lắng nghe những điều ông nói. Ông dừng lại một lúc lâu.

Rồi sau đó, với nụ cười rạng rỡ, tôi chỉ có thể nói như vậy, ông bắt đầu nói: “Tôi có tiếng gọi.”

***

Lần đầu tiên tôi chứng kiến sức mạnh của đam mê có chủ đích là khi tôi 21 tuổi.

Vào mùa xuân năm thứ nhất tại trường đại học, tôi đến trung tâm dịch vụ việc làm để tìm việc làm hè. Lật từng trang cuốn thông tin đóng gáy bằng ba vòng sắt lớn với dòng chữ DỊCH VỤ CỘNG ĐỒNG MÙA HÈ dán bên ngoài, tôi bắt gặp chương trình với tên gọi Nhịp cầu ngày hè. Chương trình này tuyển các sinh viên đại học làm thiết kế để dạy các lớp bổ sung kiến thức trong hè cho học sinh trung học cơ sở có học lực yếu.

Dạy hè cho học sinh có vẻ là ý tưởng hay, tôi nghĩ. Tôi có thể dạy sinh học và sinh thái học. Tôi sẽ chỉ cho các em biết cách làm lò nướng năng lượng mặt trời bằng lá thiếc và bìa các-tông. Chúng tôi sẽ nướng bánh mỳ kẹp xúc xích. Nghe có vẻ rất thú vị.

Tôi đã không nghĩ, trải nghiệm này rồi sẽ thay đổi mọi thứ.

Tôi đã không nghĩ, chắc chắn, bạn chủ đích làm việc đó bây giờ chứ

không phải về lâu dài.

Tôi đã không nghĩ, bạn sẽ phát hiện ra sức mạnh của mục tiêu.

Thú thực tôi không thể kể cho bạn nhiều về mùa hè đó. Quá nhiều chi tiết tôi đã quên. Tôi chỉ nhớ sáng sáng tôi dậy từ trước bình minh kể cả

ngày cuối tuần để chuẩn bị đi dạy. Tôi nhớ tôi đã thức rất khuya để làm việc. Tôi nhớ từng học sinh và những giờ phút dạy học. Tuy nhiên, tôi

không nhận ra điều ấy cho đến tận khi trở về nhà, dành một phút để nhìn lại những gì đã xảy ra. Tôi thoáng nhận ra sự kết nối giữa học sinh với giáo viên có thể là sự thay đổi cuộc đời đối với cả hai.

Khi quay lại trường vào mùa thu, tôi tìm kiếm những sinh viên khác từng dạy trong các chương trình Nhịp cầu ngày hè. Một trong những sinh viên đó là Philip King, sống cùng ký túc xá với tôi. Cũng như tôi, cậu thấy phải bắt đầu chương trình Nhịp cầu ngày hè khác càng nhanh càng tốt. Ý

tưởng này quá hấp dẫn. Chúng tôi không thể không bắt tay làm thử.

Chúng tôi không có tiền, không biết cách bắt đầu chương trình phi lợi nhuận, không có quan hệ và trong trường hợp của tôi, chẳng có gì ngoài sự hoài nghi và lo lắng từ cha mẹ, họ cố thuyết phục tôi rằng đó là một cách cực kỳ dại dột để sử dụng những gì mà Havard đã dạy tôi.

Tuy Philip và tôi chẳng có gì nhưng chúng tôi có mục đích.

Khi ai đó bắt đầu gây dựng một tổ chức từ con số 0, họ có thể chia sẻ với bạn rằng có hàng triệu việc lớn nhỏ phải làm mà lại chẳng có cuốn sổ tay hướng dẫn nào. Nếu Philip và tôi đang làm một việc hoàn toàn chỉ vì nó thú vị thì chúng tôi hẳn không thể tiếp tục được. Nhưng vì chương trình này nằm trong khối óc và trái tim của chúng tôi, vì nó rất quan trọng đối với các học sinh nên nó đã truyền cho chúng tôi lòng dũng cảm và năng lượng mà trước đó chúng tôi chưa từng biết đến.

Philip và tôi gõ cửa từng doanh nghiệp nhỏ và các nhà hàng ở Cambridge để xin tài trợ. Chúng tôi kiên trì chờ đợi dù có khi phải đợi vài tiếng cho

đến khi quản lý các doanh nghiệp này có thời gian tiếp chúng tôi.

Chúng tôi làm mọi thứ phải làm – chúng tôi không làm vì mình mà vì lý do lớn lao hơn.

Hai tuần sau khi Philip và tôi tốt nghiệp, chúng tôi khai mạc chương trình. Mùa hè đó, có 7 học sinh trung học và sinh viên đại học đã biết dạy học là như thế nào. 30 học sinh cả nam và nữ lớp 5 đã biết phải dành kỳ

nghỉ hè để học tập, nghiên cứu, làm việc chăm chỉ là như thế nào và –

mặc dù trước đó việc này là bất khả thi song thực sự các em đã làm được

– tìm thấy niềm vui.

Đó là câu chuyện cách đây hơn 20 năm. Bây giờ, chương trình với tên gọi Breakthrough Greater Boston đã vượt xa những gì Philip và tôi tưởng tượng, là chương trình giáo dục miễn phí, kéo dài quanh năm cho hàng trăm học sinh mỗi năm. Cho đến nay, đã có hơn 1.000 nam nữ thanh niên từng tham gia giảng dạy trong chương trình, nhiều người trong số

họ đã theo đuổi nhiều vị trí nghề nghiệp khác nhau, toàn thời gian trong ngành giáo dục.

Nhịp cầu ngày hè đã dẫn tôi đến với nghề giảng dạy. Giảng dạy đã dẫn dắt tôi đến với mối quan tâm suốt đời trong việc giúp đỡ trẻ em để chúng làm được nhiều điều hơn cho cuộc sống của mình so với những gì các em có thể mơ ước.

Tuy nhiên…

Đối với tôi, dạy học thôi chưa đủ. Điều vẫn còn thiếu là cô gái bé nhỏ

trong tôi, cô bé yêu khoa học, bị cuốn hút bởi khoa học con người, rồi đến khi 16 tuổi và có cơ hội dạy lớp bồi dưỡng kiến thức trong hè đã lựa chọn

– trong số tất cả các môn học có trong chương trình – tâm lý học.

Khi viết cuốn sách này, tôi nhận ra mình còn nghi hoặc về mối quan tâm của bản thân ở tuổi trưởng thành, sau đó xác định được mục đích ở tuổi 20, khi ở tuổi 30 với trải nghiệm cùng kinh nghiệm để nói rằng mục đích cao nhất, mục đích suốt đời đã và sẽ là như vậy cho đến hơi thở cuối cùng là: Sử dụng tâm lý học để giúp trẻ em phát triển.

***

Lý do khiến cha tôi thất vọng về chương trình Nhịp cầu ngày hè là vì ông rất yêu tôi. Ông nghĩ tôi sẽ hy sinh hạnh phúc của mình vì hạnh phúc của những người khác.

Ngoài ra, về mặt nguyên tắc, hai khái niệm bền bỉ và mục đích có thể

xung đột với nhau. Làm thế nào bạn có thể chỉ tập trung vào mục đích cao nhất nhưng vẫn có tầm nhìn rộng để lo lắng cho một ai đó khác? Nếu bền bỉ là tích lũy được thật nhiều mục đích để phục vụ cho một mục tiêu cá nhân riêng lẻ thì những người khác sẽ tham gia vào bức tranh chung này như thế nào?

Đồng nghiệp Adam Grant của tôi, Giáo sư trường Wharton, nói: “Đa số

mọi người đều cho rằng động cơ cá nhân và động cơ vì người khác là hai mặt đối lập của quá trình liên tục. Tuy nhiên, tôi phát hiện thấy hai yếu

tố này hoàn toàn độc lập với nhau. Bạn có thể không có động cơ nào hoặc có thể có cả hai.”

Nghiên cứu của Adam đã chứng minh các lãnh đạo và nhân viên, những người có cả mối quan tâm cá nhân và xã hội làm việc tốt hơn trong dài hạn so với những người chỉ thuần túy có động cơ cá nhân.

Ví dụ, một lần Adam hỏi những người lính cứu hỏa trong thành phố: “Tại sao các anh lại làm công việc này?” Sau đó, ông theo dõi thời gian làm việc ngoài giờ của họ trong hai tháng tiếp theo với hy vọng những người lính có động cơ giúp người khác là người bền bỉ nhất. Nhưng nhiều người trong số họ, những người có động cơ giúp đỡ người khác, có thời gian làm việc ngoài giờ ít hơn. Tại sao?

Họ thiếu động cơ thứ hai: Mối quan tâm xuất phát từ công việc. Chỉ khi họ yêu thích công việc thì mong muốn giúp đỡ người khác mới khiến họ

cố gắng hơn. Trong thực tế, những người lính cứu hỏa có động cơ xã hội (“Bởi vì tôi muốn giúp người khác bằng chính công việc của mình”) và quan tâm thực sự đến công việc của mình (“Bởi vì tôi thích nó”) có thời gian làm việc ngoài giờ mỗi tuần cao hơn khoảng 50% so với các đồng nghiệp.

Adam cũng đặt ra câu hỏi này – Tại sao anhchị lại làm công việc này? –

với 140 người gây quỹ tại một tổng đài ở một trường đại học công lập, ông nhận thấy kết quả cũng gần giống vậy. Chỉ những người gây quỹ

hướng tới xã hội nhiều hơn và chỉ những ai thấy gắn bó với công việc mới thực hiện nhiều cuộc gọi hơn và do vậy, họ kêu gọi được nhiều tiền hơn

cho trường.

Các chuyên gia tâm lý phát triển như David Yeager và Matt Bundick cũng phát hiện thấy kết quả tương tự ở thanh niên. Ví dụ, trong một nghiên cứu, David phỏng vấn khoảng 100 thanh niên, đề nghị họ cho ông biết khi nhiều tuổi hơn, họ muốn trở thành người như thế nào và lý do tại sao.

Một số nói về tương lai của họ với định hướng cá nhân rõ ràng (“Tôi muốn trở thành nhà thiết kế thời trang vì đó là công việc thú vị… Điều quan trọng… là bạn thực sự yêu [nghề]”).

Những người khác chỉ nhắc đến động cơ vì người khác (“Tôi muốn trở

thành bác sĩ. Tôi muốn giúp mọi người…”).

Và cuối cùng, một số thanh niên đề cập đến cả động cơ cá nhân và động cơ vì người khác: “Nếu là nhà sinh học biển, tôi sẽ thúc đẩy để mọi thứ

được sạch sẽ… Tôi sẽ chọn một nơi nào đó để đến giúp đỡ, chẳng hạn như

bể sinh vật cảnh… Tôi luôn thích ngắm những con cá bơi lội trong bể vì chúng trông thật tự do.”

Hai năm sau, những thanh niên đề cập đến cả động cơ cá nhân và động cơ vì người khác đều đánh giá việc học có ý nghĩa cá nhân hơn so với các bạn cùng lớp chỉ nói đến một trong hai loại động cơ.

***

Nhiều cá nhân bền bỉ đột phá mà tôi từng phỏng vấn cho biết họ không

thể đoán định trước con đường sẽ dẫn họ đến với đam mê có chủ đích và hấp dẫn.

Aurora và Franco Fonte là hai doanh nhân người Úc sở hữu công ty cung cấp dịch vụ với 2.500 nhân viên và thu được hơn 130 triệu đô-la doanh thu mỗi năm.

27 năm trước, Aurora và Franco Fonte là đôi vợ chồng mới cưới với hai bàn tay trắng. Họ nảy ra ý tưởng kinh doanh nhà hàng nhưng không có đủ tiền để khai trương. Vì vậy, họ làm nhân viên vệ sinh cho các trung tâm thương mại và tòa nhà văn phòng nhỏ – không phải do tiếng gọi nào mà chỉ để thanh toán các hóa đơn.

Không lâu sau, họ có bước ngoặt về tham vọng nghề nghiệp. Họ có thể

nhìn thấy tương lai tươi sáng từ việc bảo dưỡng chứ không phải dịch vụ

kinh doanh nhà hàng. Cả hai cùng làm việc cật lực, 8 tiếng mỗi ngày trong tuần, đôi khi họ vừa địu con vừa cọ rửa sàn nhà vệ sinh cho khách như thể đấy là nhà mình.

Trải qua nhiều thời điểm thăng trầm – rất nhiều – Franco nói với tôi:

“Chúng tôi luôn kiên trì. Chúng tôi không từ bỏ vì bất kỳ rào cản nào.

Không gì có thể làm chúng tôi thất bại.”

Tôi thú nhận với Aurora và Franco rằng tôi khó có thể hình dung ra được việc cọ rửa nhà vệ sinh – hay thậm chí gây dựng công ty với giá trị nhiều triệu đô-la chuyên về cọ rửa nhà vệ sinh – lại có thể là tiếng gọi.

Aurora giải thích với giọng nói đầy cảm xúc: “Không phải là việc cọ rửa đâu. Đó thực chất là việc gây dựng điều gì đó. Đó là vì khách hàng và chúng tôi giải quyết vấn đề của họ. Trên hết đó là những con người tuyệt vời – họ có những tâm hồn lớn lao nhất, chúng tôi cảm thấy có trách nhiệm lớn đối với họ.”

***

Theo chuyên gia tâm lý học phát triển của trường Standford, Bill Damon, định hướng vượt ra ngoài phạm vi cá nhân như vậy có thể và nên được nuôi dưỡng. Giờ đây, ở thập kỷ thứ 5 trong sự nghiệp đáng ngưỡng mộ

của mình, Bill nghiên cứu việc thanh niên học cách sống như thế nào để

vừa tốt cho cá nhân họ vừa có ích cho cộng đồng. Nghiên cứu về mục đích là tiếng gọi đối với ông.

Theo lời Bill, mục đích là câu trả lời cuối cùng đối với câu hỏi “Tại sao?

Tại sao anhchị đang làm việc này?”

Bill đã rút ra được điều gì về nguồn gốc của mục đích?

Ông chia sẻ: “Xem hết bộ dữ liệu này đến bộ dữ liệu khác, tôi đều thấy có một mô-típ chung. Đó là ai ai cũng có một tia sáng. Và đó chính là sự

khởi đầu của mục đích. Tia sáng là điều gì đó anhchị quan tâm.”

Tiếp theo, bạn hãy quan sát một người có mục đích rõ ràng. Đó có thể là người thân trong gia đình hay một nhà chính trị. Việc họ là ai không quan trọng, thậm chí mục đích có liên quan gì đến việc sau này trẻ sẽ làm

gì thì cũng chẳng thành vấn đề. Bill giải thích: “Cái thực sự có ảnh hưởng là ai đó chứng minh có thể hoàn thành nhiệm vụ thay cho những người khác.”

Trên thực tế, ông không thể nhớ ra trường hợp cụ thể nào mà sự phát triển của mục đích lại không gắn liền với những quan sát về một mẫu người có chủ đích ngay từ khi còn nhỏ. Ông nói: “Tốt nhất, trẻ em nên được biết cuộc sống có mục đích khó khăn như thế nào – tất cả sự ức chế, căng thẳng và rào cản – nhưng nó cũng có thể rất dễ chịu.”

Tiếp theo đó là sự khám phá như Bill nói. Một khi đã phát hiện ra vấn đề

tồn tại, người ta cần phải giải quyết nó. Người ta có thể phát hiện ra theo nhiều cách. Đôi khi là qua sự mất mát cá nhân hoặc nghịch cảnh.

Nhưng thấy một ai đó cần sự giúp đỡ của chúng ta thôi thì chưa đủ, Bill muốn nhiều hơn nữa. Mục đích đòi hỏi sự khám phá lần thứ hai: “Cá nhân tôi có thể tạo nên sự khác biệt.” Ông nói, sự tin tưởng mạnh mẽ và ý định thực hiện hành động đã giải thích lý do tại sao việc quan sát hình mẫu thực hiện mục đích lại quan trọng. “Bạn phải tin những nỗ lực của bạn sẽ không vô ích.”

***

Kat Cole là hình mẫu về con người bền bỉ đột phá được thúc đẩy bởi mục đích theo đuổi.

Tôi gặp Kat khi cô 35 tuổi, lúc đó đang là Chủ tịch của chuỗi nhà hàng

bánh ngọt Cinnabon. Nếu bạn nghe câu chuyện của cô mà không đánh giá lại mình qua câu chuyện ấy, bạn hẳn sẽ cho rằng đó là câu chuyện

“thành công từ đôi bàn tay trắng”, nhưng nếu bạn muốn hiểu và chú ý, bạn sẽ thấy vấn đề hoàn toàn khác, đó là: “từ đói nghèo đến mục tiêu”.

Kat phản ánh chính xác đạo đức nghề nghiệp của mẹ cô và mong ước sâu sắc của cô là được giúp đỡ mọi người.

Trước khi đề cập đến động cơ của Kat, chúng ta hãy xem xét quá trình thăng tiến phi thường ngay trong công ty của cô. Hồ sơ xin việc của Kat bắt đầu rất khiêm tốn với việc bán quần áo tại một trung tâm mua sắm địa phương lúc 15 tuổi. Cô trở thành bồi bàn ở Hooters khi 18 tuổi, chỉ

một năm sau, cô được đề nghị tham gia mở nhà hàng Hooters đầu tiên ở

Úc. Rồi đến Ditto ở thành phố Mexico, Bahamas và Argentina. 22 tuổi, cô quản lý chuỗi 10 nhà hàng. 26 tuổi, cô trở thành Phó Chủ tịch tập đoàn.

Là thành viên của nhóm điều hành, Kat góp phần mở rộng nhượng quyền thương mại Hooters tới hơn 400 địa điểm ở 28 quốc gia. Khi công ty này được một công ty cổ phần tư nhân mua lại, lúc đó Kat 32 tuổi và có chuỗi thành tích ấn tượng đến mức thương hiệu Cinnabon đã mời cô vào vị trí Chủ tịch. Dưới sự điều hành của Kat, lượng bán hàng của Cinnabon tăng nhanh hơn bao giờ hết trong vòng 10 năm qua, và trong 4 năm, doanh thu của công ty đã vượt trên 1 tỷ đô-la.

Bây giờ, chúng ta hãy xem điều gì đã tạo nên dấu ấn của Kat.

Trong những ngày đầu Kat mới làm bồi bàn ở Hooters, những đầu bếp ở

đây thường bỏ về giữa ca. Cô kể với tôi: “Vì vậy, tôi đã quay trở lại cùng

với người quản lý và giúp ông ấy nấu ăn để kịp phục vụ thực khách.”

Tại sao?

“Trên hết, tôi sống được là nhờ tiền boa. Nhờ đó, tôi có tiền thanh toán các hóa đơn của mình. Nếu mọi người không được phục vụ, họ sẽ không thanh toán và chắc chắn sẽ không để lại tiền boa. Thứ hai, tôi tò mò muốn xem liệu tôi có thể làm việc đó được không. Và thứ ba, tôi muốn là người có ích.”

Tiền boa và sự tò mò là những động cơ hết sức cá nhân, nhưng muốn trở

thành người có ích lại là động cơ hướng tới người khác. Đây là ví dụ về

hành động đơn lẻ – đứng sau lò nướng để làm thức ăn cho tất cả các khách hàng đang đợi – đem lại lợi ích cho cá nhân và những người xung quanh cô.

Việc tiếp theo mà Kat biết là công tác đào tạo nhân viên nhà bếp và hỗ

trợ các hoạt động hậu cần. “Rồi một hôm, nhân viên phục vụ quầy cần phải về sớm, rồi điều tương tự lại xảy ra. Một ngày khác, người quản lý xin nghỉ, tôi lại biết quản lý ca trực. Tôi không chỉ làm các công việc đó mà còn trở thành người đào tạo để huấn luyện tất cả các vị trí cho người khác.”

Làm một việc người khác không thể làm hoặc không muốn làm và tỏ ra hết sức hữu ích không phải là động cơ có tính toán để thăng tiến trong công ty. Tuy nhiên, làm công việc vượt quá trách nhiệm đã dẫn tới một lời mời tham gia mở chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới, đưa công ty

tới vị trí dẫn đầu…

Không ngẫu nhiên chút nào, đó là điều mẹ cô, bà Jo, cũng đã làm. Bà nói với tôi: “Đam mê của tôi là giúp đỡ mọi người. Cho dù đi làm hay không, nếu cô cần ai đó tạt qua, xây sửa một cái gì đó hoặc giúp đỡ việc này việc kia, tôi chính là người muốn có mặt để giúp cô. Đối với tôi, bất kỳ thành công nào mà tôi có đều là do tôi thích được chia sẻ. Tôi không đặt ra giới hạn cho mình – tôi sẵn sàng chia sẻ cho bạn hoặc bất kỳ ai khác điều tôi có.”

Kat đã thực hiện triết lý của mình như mẹ cô đã dạy: “Làm việc chăm chỉ

và cho đi”. Và triết lý ấy vẫn dẫn dắt cô đến ngày hôm nay.

“Dần dần, tôi nhận thấy tôi rất giỏi trong việc tham gia vào các môi trường mới và giúp mọi người nhận ra họ có thể làm được nhiều hơn những gì họ biết. Tôi phát hiện ra đây là tôi. Và tôi bắt đầu nhận thức được nếu tôi có thể giúp đỡ mọi người – những cá nhân – làm việc đó –

thì tôi sẽ giúp được cả tập thể. Nếu tôi có thể giúp cả tập thể, tôi sẽ giúp được cả công ty. Nếu tôi có thể giúp các công ty, tôi có thể giúp các nhãn hàng. Nếu tôi giúp được các nhãn hàng, tôi có thể giúp được cộng đồng và nhiều quốc gia.”

Cách đây không lâu, Kat đã đăng một bài viết trên blog của cô với tựa đề:

“Hãy xem bạn có thể làm điều gì và giúp mọi người làm điều đó”. “Khi ở

cạnh mọi người, trái tim và tâm hồn tôi hạnh phúc vì biết tôi đang làm một việc cao cả. Có thể sự cao cả ấy là vô hình, không phát triển song tiềm năng hay sự tồn tại của nó thì ngược lại. Bạn không bao giờ biết ai

sẽ tiếp tục làm điều tốt hoặc thậm chí những việc cao cả hay trở thành người gây ảnh hưởng vĩ đại tiếp theo trên thế giới – vì vậy hãy đối xử với mọi người như thể họ là người như vậy.”

***

Dù bạn bao nhiêu tuổi thì cũng không bao giờ là quá sớm hay quá muộn để bắt đầu nuôi dưỡng mục đích. Tôi có ba lời khuyên, mỗi lời khuyên ấy tôi lại mượn từ một nhà nghiên cứu về mục đích đã được nhắc đến trong chương này.

David Yeager khuyên chúng ta đánh giá bản thân về việc bạn đang làm có thể là sự đóng góp tích cực cho xã hội.

Trong nhiều nghiên cứu dài hạn, David Yeager và đồng nghiệp Dave Paunesku đã hỏi các học sinh trung học: “Chúng ta phải làm thế nào để

thế giới trở nên tốt đẹp hơn?” rồi đề nghị các em phác thảo mối liên kết với điều chúng đang học ở trường. Một học sinh lớp 9 đã trả lời: “Em thích một công việc kiểu như nghiên cứu di truyền. Em sẽ sử dụng công việc này để giúp cho thế giới tốt hơn bằng những mùa màng sử dụng công nghệ với mục đích sản xuất được nhiều thực phẩm hơn…” Một học sinh khác trả lời: “Em nghĩ được học hành sẽ giúp em hiểu thế giới quanh mình… Em sẽ không thể giúp ai nếu việc đầu tiên em không làm là đi học.”

Dù bài tập này đơn giản và chỉ kéo dài chưa đầy nửa tiết học, song nó đã thu hút được sự tham gia của rất nhiều học sinh. So với bài tập đối chứng

giả, làm việc có mục đích khiến học sinh sẵn sàng tăng gấp hai lần thời gian ôn thi, chăm chỉ giải các bài toán khó và tẻ nhạt trong giờ toán và khoa học thay vì xem các chương trình giải trí, và đạt điểm cao hơn.

Amy Wrzesniewski khuyên chúng ta hãy nghĩ về cách thức, dù nhỏ

nhưng có ý nghĩa mà bạn có thể thay đổi công việc hiện tại để nâng cao sự kết nối với các giá trị cốt lõi.

Amy gọi ý tưởng này là “định hình công việc”, đó cũng là hoạt động can thiệp mà cô nghiên cứu cùng với đồng nghiệp – các nhà tâm lý học Jane Dutton, Justin Berg và Adam Grant.

Đây không phải là Pollyanna23, nghĩa là không phải mọi thứ đều có thể

được thực hiện dễ dàng. Đơn giản, đó là quan điểm dù nghề của bạn là gì thì bạn đều có thể ứng xử linh hoạt trong công việc – thêm nữa, bạn cũng có thể ủy quyền và tùy biến để phù hợp với mối quan tâm và giá trị

bạn theo đuổi.

23 Pollyanna là tiểu thuyết bán chạy nhất năm 1913 của Eleanor H. Porter, ngày nay nó được xem là tác phẩm kinh điển của văn học thiếu nhi, tên của nhân vật chính đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong tiếng Anh, để

chỉ người lạc quan quá mức, ngoài ra, sự thiên lệch tiềm thức theo hướng tích cực còn được gọi là nguyên tắc Pollyanna. (BTV) Amy và các cộng sự đã kiểm chứng ý tưởng này trên Google. Nhân viên ở

nhiều vị trí không lập tức nghĩ tới từmục đích trong tâm trí – ví dụ nhân viên bán hàng, tiếp thị, tài chính, vận hành và kế toán – ngẫu nhiên được

cử đi tham dự một hội thảo định hình nghề nghiệp. Họ tự xác định ý tưởng cho riêng mình về việc điều chỉnh thói quen, nề nếp hàng ngày, mỗi nhân viên lại lập một “bản đồ“ cá nhân mô tả các yếu tố có thể làm cho công việc trở nên ý nghĩa và thú vị hơn. Sáu tuần sau, cán bộ quản lý và những nhân viên khác đánh giá những nhân viên tham dự hội thảo này đã tỏ ra vui hơn, hiệu quả hơn nhiều.

Cuối cùng, Bill Damon khuyên chúng ta nên tìm cảm hứng từ một nguyên mẫu có chủ đích. Ông cũng đề nghị bạn trả lời qua thư một số

câu hỏi ông sử dụng trong nghiên cứu phỏng vấn, bao gồm: “Hãy tưởng tượng bạn trong 15 năm tới tính từ thời điểm này. Bạn nghĩ điều gì sẽ trở

nên quan trọng nhất với bạn khi ấy?” và “Bạn có thể nghĩ tới ai mà cuộc đời của họ đã truyền cảm hứng để bạn trở thành người tốt hơn? Tại sao?”

Khi tôi làm thử bài tập của Bill, tôi nhận ra trong cuộc đời mình, người đã chứng minh cho tôi thấy vẻ đẹp của mục đích hướng tới người khác chính là mẹ tôi. Không hề nói quá, bà là người tử tế nhất tôi từng biết.

Khi còn nhỏ, tôi không phải lúc nào cũng khen ngợi tinh thần hào phóng của bà. Tôi không bằng lòng với những người lạ cứ đến ngồi chung bàn với chúng tôi trong các dịp lễ Tạ ơn – không chỉ họ hàng của những người Trung Quốc mới nhập cư mà cả bạn cùng phòng, bạn của bạn cùng phòng của họ nữa. Bất kỳ ai đến nhà tôi vào tháng Mười một đều được chào đón một cách nồng nhiệt, dù thực tế, họ là những người không còn nơi nào để đến.

Một năm, mẹ đã cho đi những món quà sinh nhật mà tôi nhận được một

tháng trước đó, rồi năm khác mẹ đã cho tất cả bộ sưu tập con giống đồ

chơi của em gái tôi. Chúng tôi giận dữ, khóc lóc và kêu la bà không yêu chúng tôi. Bà trả lời: “Nhưng có những đứa trẻ cần những món đồ chơi ấy hơn các con. Các con đã có quá nhiều đồ chơi. Các bạn lại có quá ít.”

Khi tôi nói với cha rằng tôi sẽ không tham dự kỳ thi MCAT để vào trường y mà sẽ dành cuộc đời mình để xây dựng chương trình Nhịp cầu ngày hè, ông đã nổi giận: “Sao con phải quan tâm đến những học sinh nghèo đó làm gì? Chúng không phải là người thân của con! Con thậm chí còn chẳng biết chúng là ai.” Giờ đây, tôi mới thực sự nhận ra tại sao. Cả cuộc đời tôi đã chứng kiến điều mà mẹ tôi có thể làm để giúp đỡ nhiều người khác. Tôi đã chứng kiến sức mạnh của mục đích.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.