Trước khi trở thành chuyên gia tâm lý, tôi là một giáo viên. Chính trong các lớp học ngày đó – nhiều năm trước khi tôi nghe nói về Chương trình Huấn luyện Beast, tôi dần nhận ra tài năng không phải là tất cả để thành công.
Đến tận năm 27 tuổi, tôi mới bắt đầu giảng dạy toàn thời gian. Tháng trước, tôi xin nghỉ việc tại McKinsey, công ty tư vấn quản lý toàn cầu có văn phòng đại diện nằm trên mấy tầng lầu của tòa nhà chọc trời phủ
kính màu xanh dương ngay giữa trung tâm thành phố New York. Các đồng nghiệp có phần bất ngờ với quyết định của tôi. Tại sao tôi lại từ bỏ
công ty mà hầu hết bạn bè đều mơ ước – một công ty liên tục được đánh giá là doanh nghiệp xuất sắc và có tầm ảnh hưởng bậc nhất thế giới?
Theo những gì tôi biết thì tôi đang đổi tuần làm việc 8 tiếng sang cuộc sống dễ chịu hơn, song bất kỳ ai từng làm giáo viên đều biết trên đời chẳng có công việc nào vất vả hơn nghề dạy học. Tại sao tôi vẫn xin nghỉ
việc? Ở khía cạnh nào đó, tư vấn, chứ không giảng dạy, mới là đi đường vòng. Trong suốt thời sinh viên, tôi đã làm gia sư và dạy kèm học sinh của các trường công lập ở địa phương. Sau khi tốt nghiệp, tôi mở chương trình dạy học miễn phí và giảng dạy trong suốt 2 năm. Tiếp đó, tôi đến Oxford và lấy bằng Khoa học thần kinh, nghiên cứu cơ chế thần kinh của hội chứng khó đọc8. Do vậy, khi bắt đầu dạy học, tôi có cảm giác mình
đang được quay lại con đường trước đây.
8 Chứng khó đọc (tiếng Anh: Dyslexia) đặc trưng cho vấn đề gặp rắc rối về đọc hiểu và đánh vần dù trí tuệ bình thường. Các vấn đề có thể bao gồm khó khăn trong việc đánh vần các từ, đọc nhanh, viết chữ, “phát âm” các từ trong đầu, phát âm từ khi đọc to và nghe hiểu người khác đọc.
Thông thường những khó khăn này được nhận thấy đầu tiên khi đi học ở trường. Khi một người mất khả năng đọc trước đây của bản thân, nó được gọi là alexia. (DG)
Mặc dù vậy, bước chuyển đổi này vẫn rất đột ngột. Chỉ trong vòng một tuần, mức lương của tôi chuyển từ trạng thái Thật sao? Thật là tôi được trả cao đến vậy sao? sang Trời ơi! Làm sao giáo viên ở thành phố này có thể giải quyết được các nhu cầu cơ bản đây? Bữa tối bây giờ chỉ là chiếc sandwich ăn vội trong lúc chấm bài, không phải món sushi được gọi theo yêu cầu của khách hàng. Tôi vẫn đi làm cùng một tuyến tàu điện ngầm nhưng phải đi thêm chuyến tàu hỏa chạy qua trung tâm thành phố nữa rồi mới xuống điểm dừng xa hơn 6 ga: Khu Lower East Side. Thay vì đi giày thấp, đeo vòng ngọc trai và diện bộ vest may theo số đo, tôi chọn giày mềm để có thể đứng cả ngày, mặc váy để không phải lo bụi phấn bám vào.
Học sinh của tôi vào khoảng 12-13 tuổi, phần lớn sống theo từng cụm dân cư nằm giữa đại lộ A và D, thuộc dự án trợ cấp nhà ở. Trước kia, địa điểm này từng là khu dân cư với vô số quán cà phê mọc lên ở mọi góc phố. Tôi bắt đầu đến dạy học ở đây vào mùa thu, trường tôi được chọn để quay bộ
phim phản ánh ngôi trường yếu kém, lộn xộn nằm trong khu đô thị
nghèo nàn. Tôi dạy về phân số, số thập phân, những khái niệm cơ bản về
đại số và hình học cho học sinh lớp 7.
Ngay tuần đầu tiên, tôi thấy có một số học sinh tiếp thu khái niệm toán dễ dàng hơn hẳn những học sinh khác cùng lớp. Dạy những học sinh giỏi nhất lớp thực sự rất thú vị. Nói một cách văn vẻ thì các em học rất nhanh.
Không cần được giúp đỡ nhiều, song các em vẫn phát hiện ra công thức trong bài, còn các học sinh kém hơn mãi mới nhận ra được. Chỉ cần nhìn bài giải một lần trên bảng, các em nói ngay: “Em hiểu rồi!” và sau đó tự
giải những bài tiếp theo.
Tuy nhiên, vào cuối thời gian chấm điểm lần thứ nhất, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận thấy một số học sinh khá giỏi lại không đạt được kết quả
như tôi mong đợi. Tất nhiên, vẫn có những em làm rất tốt. Nhưng một số ít học sinh tài năng nhất lại chỉ đạt điểm trung bình, thậm chí là kém.
Ngược lại, một số học sinh ban đầu gặp nhiều khó khăn lại đạt được kết quả tốt hơn tôi nghĩ. Những “học sinh có kết quả tốt hơn kỳ vọng” này hang ngày đến lớp với đầy đủ đồ dùng học tập. Thay vì dạo chơi loanh quanh hay lơ đễnh nhìn ra cửa sổ, các em tập trung ghi chép và đặt câu hỏi. Khi chưa hiểu bài, các em sẽ làm đi làm lại, đôi khi các em tìm kiếm sự giúp đỡ trong giờ ăn trưa hoặc giờ tự chọn buổi chiều. Sự cố gắng của các em đã được chứng minh bằng điểm số.
Rõ ràng tài năng không đảm bảo thành công. Có năng khiếu toán học khác với học giỏi toán.
Điều này thực sự bất ngờ. Môn toán luôn được mặc định là một môn học mà học sinh có năng khiếu thường học giỏi hơn nhiều so với học sinh không có năng khiếu. Nói thực, tôi cũng có suy nghĩ này ở năm đầu tiên đi dạy. Quan niệm này giống sự cá cược chắc chắn những gì một số học sinh dễ dàng làm được sẽ giúp các em vượt xa bạn bè cùng lớp. Thực ra, tôi từng nghĩ khoảng cách về thành tích học tập giữa học sinh có năng khiếu với các học sinh còn lại trong lớp sẽ ngày càng lớn.
Các em bị mất tập trung vì năng khiếu.
Dần dần, tôi đặt ra những câu hỏi khó cho mình. Với bài học và khái niệm khó, liệu học sinh kém có cần thêm thời gian không? Tôi có cần tìm cách giảng bài khác không? Trước khi đi đến kết luận về tài năng thiên phú, tôi có nên tìm hiểu ý nghĩa của sự cố gắng? Với tư cách là một giáo viên, tôi phải tìm ra cách duy trì sự cố gắng – cố gắng của học sinh và của chính tôi – lâu hơn một chút.
Cũng trong thời gian này, tôi bắt đầu để ý tới trí tuệ của những học sinh kém nhất bằng việc nghe các em nói chuyện về những điều các em thực sự quan tâm. Đây là những vấn đề chúng thường đề cập, song tôi thấy rất khó hiểu: Kết quả các trận đấu bóng rổ, lời bài hát yêu thích, những nhận định phức tạp về việc ai không còn nói chuyện với ai và tại sao. Khi đã hiểu rõ hơn về các em, tôi phát hiện ra chúng biết rất nhiều thứ liên quan tới cuộc sống hàng ngày vốn vô cùng rắc rối. Vì vậy, tôi tự hỏi khái niệm x trong phương trình đại số có thực sự khó không, trong khi các em lại hiểu rất rõ những điều còn phức tạp hơn thế?
***
Đến cuối năm học, tôi lập gia đình. Sau khi rời McKinsey, vì sự nghiệp của chồng, chúng tôi gói ghém hành lý và chuyển từ New York tới San Francisco. Tôi tìm được công việc mới là dạy toán ở trường Trung học Lowell.
So với lớp tôi dạy ở Lower East Side, Lowell khác hoàn toàn.
Nằm khuất ở góc vịnh mờ sương gần Thái Bình Dương, Lowell là trường trung học công lập duy nhất ở San Francisco xét tuyển dựa trên kết quả
học tập. Không chỉ là nguồn cung cấp sinh viên lớn nhất cho hệ thống Đại học California, Lowell còn đào tạo nhiều học sinh cho các trường đại học danh tiếng trên cả nước.
Cũng như tôi, nếu bạn lớn lên ở miền Đông Duyên hải Hoa Kỳ, bạn có thể
sẽ nghĩ Lowell là trường Stuyvesant9 của San Francisco. Điều này sẽ
khiến bạn liên tưởng tới những đứa trẻ vô cùng thông minh, giỏi hơn nhiều so với những học sinh không được tuyển vào Lowell.
9 Trường Stuyvesant: Trường chuyên toán và khoa học công lập ở thành phố New York. Đây được coi là trường công có tỷ lệ cạnh tranh cao nhất Hoa Kỳ, nơi có nhiều học sinh được nhận vào các trường đại học danh giá nhất cả nước. (BTV)
Tôi đã phát hiện ra học sinh ở Lowell được phân loại chủ yếu qua ý thức hơn là trí tuệ. Tôi đã hỏi các em về thời gian học. Bạn biết câu trả lời phổ
biến mà tôi nhận được là gì không? Nhiều giờ đồng hồ. Không phải trong tuần mà là trong ngày.
Tuy nhiên, cũng như bất kỳ ngôi trường nào khác, ở đây cũng có sự khác biệt lớn giữa mức độ chăm học và thành tích các em đạt được.
Cũng như phát hiện của tôi ở New York, một số học sinh mà tôi kỳ vọng học tốt môn toán vì nó quá dễ với các em lại đạt kết quả thấp hơn các bạn học khác trong lớp. Mặt khác, một số em chăm chỉ nhất thường đạt điểm cao nhất.
Một trong những học sinh rất chăm chỉ đó là David Luong.
Tôi dạy David môn đại số lớp 9. Có hai kiểu lớp đại số ở Lowell: Lớp đại số thứ nhất dành cho những học sinh sẽ học toán nâng cao vào năm lớp 12 và lớp đại số thứ hai là lớp thường, học sinh lớp này sẽ không học toán nâng cao. Tôi dạy lớp thường. Các học sinh trong lớp tôi đã trượt môn toán nên không được xếp vào lớp nâng cao của Lowell.
Thời gian đầu, David không phải là học sinh giỏi. Cậu bé kiệm lời và thường ngồi cuối lớp. Cậu cũng chẳng mấy khi giơ tay và hiếm khi xung phong giải bài.
Tuy nhiên, tôi nhanh chóng nhận ra qua mỗi lần chấm bài, David đều đạt kết quả cao. Cậu trả lời được tất cả các câu hỏi trong bài kiểm tra. Khi tôi chấm câu trả lời nào đó của cậu sai thì lỗi là do tôi, không phải do cậu.
Đặc biệt, cậu rất ham học. Trong lớp, cậu chăm chú nghe giảng. Sau giờ
học, cậu ở lại và xin được làm thêm những bài tập khó.
Tôi bắt đầu thắc mắc không biết cậu bé này làm gì trong lớp của mình.
Khi đã hiểu sự việc, tôi đề nghị David đến gặp chủ nhiệm khoa. Cũng chẳng mất nhiều thời gian để giải thích điều gì đang xảy ra, bởi chủ
nhiệm khoa là giáo viên thông minh và tuyệt vời, bà coi trọng giá trị của học sinh hơn các vấn đề hành chính. Ngay lập tức, bà làm thủ tục để
chuyển David từ lớp tôi sang lớp nâng cao.
Sự “mất mát” của tôi thực chất là thành công của người giáo viên tiếp theo. Tất nhiên, cũng có lúc này lúc kia, không phải tất cả các điểm toán của David đều là điểm A. Sau này, David kể lại với tôi: “Sau khi chuyển sang lớp nâng cao, em bị tụt lùi một chút. Rồi trong năm tiếp theo, em vẫn gặp khó khăn với môn toán, cụ thể là môn hình. Em không được điểm A mà chỉ được điểm B.” Trong năm sau nữa, cậu chỉ đạt điểm D
môn toán.
Tôi hỏi: “Em đã làm gì?”
“Em cảm thấy rất tồi tệ nhưng em không kêu ca. Em biết dù gì thì chuyện đó cũng xảy ra rồi. Em biết em phải tập trung vào những việc sắp tới. Vì vậy, em đến gặp cô giáo và đề nghị được giúp đỡ. Cô biết không, em đang cố gắng tìm hiểu xem em đã làm gì sai. Em cần làm gì đó khác đi.”
Đến năm lớp 12, David học hai lớp toán danh dự với trình độ cao hơn của Lowell. Mùa xuân năm đó, cậu đạt điểm 5/5 môn toán cao cấp.
Sau khi tốt nghiệp Lowell, David theo học Cao đẳng Swarthmore rồi tốt nghiệp với tấm bằng kép về kỹ thuật và kinh tế. Tôi cũng dự lễ tốt nghiệp cùng với cha mẹ cậu. Chúng tôi đã nhắc lại chuyện cậu bé kiệm lời ngồi cuối lớp học năm nào, cậu đã chứng minh các bài thi tuyển học sinh năng khiếu có thể có nhiều sai lầm.
Hai năm sau, David nhận bằng Tiến sĩ Kỹ thuật cơ khí của Đại học California tại Los Angeles (UCLA). Luận án của cậu nghiên cứu về các thuật toán hiệu suất tối ưu cho quy trình nhiệt động học ở động cơ xe tải.
Nói một cách đơn giản, David đã sử dụng thuật toán để cải thiện hiệu quả hoạt động của động cơ xe tải. Hiện nay, David là kỹ sư tại Tập đoàn Aerospace. Cậu bé ngày nào dường như “không sẵn sàng” cho các lớp toán khó hơn, nhanh hơn giờ đã trở thành “nhà khoa học tên lửa”.
Trong nhiều năm giảng dạy tiếp theo, tôi ngày càng hoài nghi về quan điểm tài năng là do trời phú, tôi tin đó là kết quả của sự nỗ lực. Với ý định tìm hiểu sâu hơn về bí mật này, tôi quyết định từ bỏ công việc giảng dạy để trở thành chuyên gia tâm lý.
***
Khi bắt đầu học Thạc sĩ, tôi biết các chuyên gia tâm lý từ lâu đã muốn tìm hiểu tại sao một số người thành công còn số khác lại thất bại. Trong số các chuyên gia đầu tiên nghiên cứu vấn đề này có Francis Galton, ông đã tham gia nghiên cứu cùng người anh họ, Charles Darwin.
Galton là thần đồng. Bốn tuổi, ông biết đọc và biết viết. Sáu tuổi, ông biết
tiếng Latin, làm các phép chia dài, có thể đọc thuộc lòng nhiều trích đoạn trong các tác phẩm của Shakespeare. Việc học quả là quá dễ với ông.
Năm 1869, Galton công bố công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về
nguồn gốc thành công. Sau khi tập hợp danh sách những nhân vật nổi tiếng thuộc các lĩnh vực khoa học, thể thao, âm nhạc, thơ văn và luật –
trong số nhiều lĩnh vực khác, ông đã thu thập mọi thông tin tiểu sử có thể tìm thấy. Galton kết luận người xuất chúng đáng chú ý ở 3 khía cạnh: Họ chứng minh “khả năng” khác thường cùng nhiệt huyết và sự chăm chỉ.
Sau khi đọc 50 trang đầu tiên trong cuốn sách của Galton, Darwin đã gửi thư cho em họ, bày tỏ sự ngạc nhiên khi thấy chính tài năng đã khiến các phẩm chất đặc biệt ít được phát huy. Darwin viết: “Ở khía cạnh nào đó, em đã khiến anh thay đổi quan niệm trước đây của mình. Anh luôn cho rằng ngoại trừ một số ít người ngốc nghếch thì con người ta không khác nhau nhiều về trí tuệ, nhưng về nhiệt huyết và chăm chỉ thì có, vì vậy, theo anh đây quả thực là khác biệt quan trọng.”
Tất nhiên, bản thân Darwin cũng là người xuất chúng mà Galton muốn tìm hiểu. Darwin là nhà khoa học có nhiều ảnh hưởng nhất trong lịch sử, là người đầu tiên giải thích sự đa dạng của các loài thực vật và động vật là do hệ quả của quá trình chọn lọc tự nhiên. Darwin không chỉ quan sát tỉ mỉ cây cối, động vật mà cả con người nữa. Xét ở góc độ nào đó, nghề
của ông là quan sát những khác biệt nhỏ song lại dẫn tới sự tồn tại.
Do vậy, chúng ta nên xem xét quan điểm của Darwin về yếu tố quyết
định của sự thành công – đó là niềm tin của ông – nhiệt huyết và sự chăm chỉ quan trọng hơn nhiều so với trí tuệ.
Nhìn chung, những người viết tiểu sử Darwin đều cho rằng ông không có trí tuệ siêu phàm. Ông thông minh nhưng sự thông minh ấy không đến với ông chỉ trong chớp mắt. Ở góc độ nào đó, ông là thiên tài. Tự
truyện của chính Darwin đã chứng minh nhận định này, ông thừa nhận:
“Tôi tiếp thu không nhanh như một số người thông minh. Khả năng duy trì sự tập trung đối với những suy nghĩ dài và trừu tượng cũng rất hạn chế.” Ông nghĩ ông không thể trở thành nhà toán học hay triết gia giỏi, bởi trí nhớ của ông không tốt: “Một hạn chế lớn nữa là trí nhớ kém, tôi không thể nhớ câu thơ nào trong vài ngày.”
Có thể Darwin quá khiêm tốn. Nhưng ông hoàn toàn thoải mái khi tán dương khả năng quan sát và tính cần cù của mình, đây chính là những tố chất ông đã sử dụng để tìm hiểu quy luật tự nhiên: “Tôi nghĩ tôi hơn người khác về khả năng nhận biết và quan sát tỉ mỉ những điều hay bị
nhiều người bỏ qua. Tôi đã quan sát và thu thập dữ liệu bằng hết khả
năng. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là tình yêu của tôi đối với khoa học tự nhiên luôn vững vàng và mãnh liệt.”
Một người viết tiểu sử đã mô tả Darwin là người không bao giờ ngừng suy nghĩ về một câu hỏi nào đó, thậm chí ông còn suy nghĩ rất lâu sau khi những người khác đã chuyển sang nghiên cứu vấn đề khác.
Khi bị thách thức làm việc gì đó, thông thường một người sẽ phản ứng bằng cách trả lời: “Tôi sẽ nghĩ về việc đó sau” rồi quên bẵng nó đi. Với
Darwin, ai cũng thấy ông không bao giờ cho phép mình chủ động quên.
Ông nhớ mọi câu hỏi và sẵn sàng truy lại ngay khi có được chút ít dữ liệu liên quan.
***
Bốn mươi năm sau, ở bên kia bờ Đại Tây Dương, chuyên gia tâm lý William James cũng nghiên cứu câu hỏi: Liệu người ta khác nhau như
thế nào khi theo đuổi mục tiêu? Đến cuối sự nghiệp lâu dài và xuất sắc của mình, James đã viết một bài cho tạp chí Science10 có tựa đề: The Energies of Men (tạm dịch: Năng lượng của con người).
10 Tạp chí khoa học hàng đầu, không chỉ về tâm lý học mà đối với tất cả
các ngành khoa học tự nhiên và xã hội. (BTV)
Nghiên cứu thành công cùng thất bại của những người bạn thân và đồng nghiệp, nỗ lực của họ trong những ngày tốt và ngày chưa tốt, James nhận thấy:
Xét về tiềm năng, chúng ta mới chỉ dùng một nửa những gì chúng ta có.
Giống như ngọn lửa trong lò bị thiếu ô-xy, giống như việc bản thảo phải sửa lại vô số lần. Chúng ta mới chỉ dùng một phần nhỏ nguồn lực trí tuệ
và thể chất mà thôi.
James cho rằng có khoảng cách giữa tiềm năng và hành động. Không thể
phủ nhận tài năng của chúng ta rất khác nhau – người này có thể có năng khiếu âm nhạc hơn thể thao hoặc có thiên hướng kinh doanh hơn nghệ
thuật – song James khẳng định chắc chắn “con người thường không sống hết với giới hạn của mình; con người sở hữu nhiều loại sức mạnh nhưng không sử dụng hết. Về năng lượng, con người hoạt động thấp hơn nhiều so với mức tối đa cho phép; về hành động, con người cũng không thể hiện hết khả năng của mình.”
James thừa nhận: “Tất nhiên có nhiều giới hạn. Cây không mọc ở giữa trời.” Tuy nhiên, ranh giới của sự tiến bộ lại chẳng có gì liên quan tới phần lớn chúng ta: “Có một thực tế khá đơn giản vẫn tồn tại, đó là con người sở hữu quá nhiều nguồn lực, song mới chỉ có vài cá nhân đột phá sử dụng nó ở mức tối đa.”
Nhận định này ra đời năm 1907 và vẫn đúng cho đến nay. Như vậy, tại sao chúng ta lại đề cao tài năng? Tại sao chúng ta phải giới hạn những gì có thể làm trong khi hầu hết chúng ta mới chỉ ở đoạn đầu của cuộc hành trình và còn rất xa mới chạm tới giới hạn? Tại sao chúng ta cho rằng chính tài năng chứ không phải nỗ lực sẽ quyết định mình dừng lại ở đâu trên đường đua còn rất dài này?
***
Trong nhiều năm, một số cuộc khảo sát cấp quốc gia đã đưa ra câu hỏi:
“Điều kiện gì quan trọng nhất để thành công – tài năng hay nỗ lực?” Có tới 2/3 người Mỹ chọn nỗ lực. Điều này cũng đúng nếu bạn hỏi người Mỹ
về năng khiếu thể thao. Còn khi hỏi: “Nếu tuyển nhân viên mới, bạn nghĩ
phẩm chất nào sau đây là quan trọng nhất?” Tại Mỹ, số người chọn
“chăm chỉ” thường cao gấp 5 lần so với số người chọn “trí tuệ”.
Kết quả của những cuộc khảo sát này cũng đồng nhất với các bảng hỏi mà nhà tâm lý học Chia-Jung Tsay đã dùng để phỏng vấn các chuyên gia âm nhạc, họ nhấn mạnh nỗ lực trong rèn luyện quan trọng hơn tài năng bẩm sinh. Nhưng khi Chia trao đổi trực tiếp hơn, cô phát hiện có rào cản đã tạo nên quan niệm hoàn toàn trái ngược, đó là: Chúng ta thích những gì tự nhiên.
Trong thực nghiệm của Chia, các nhạc sĩ chuyên nghiệp được đề nghị
tìm hiểu hai nghệ sĩ piano có tiểu sử và thành tựu tương tự nhau trong quá khứ. Họ nghe bản nhạc do hai nghệ sĩ cùng chơi trên đàn piano; đây là bản nhạc không phổ biến, thực ra, từng nghệ sĩ chơi các đoạn khác nhau trong bản nhạc. Điều khác biệt là một nghệ sĩ được mô tả “bẩm sinh” với những bằng chứng ban đầu về tài năng thiên phú. Nghệ sĩ kia được xem là “nỗ lực” với minh chứng ban đầu cho biết đây là người có nhiều động lực và rất kiên trì. Ngược lại với suy nghĩ trước đây về tầm quan trọng của nỗ lực so với tài năng, các nghệ sĩ cho rằng năng khiếu bẩm sinh dễ đem lại thành công hơn và dễ kiếm tiền hơn.
Trong nghiên cứu tiếp theo, Chia muốn kiểm tra xem sự bất đồng này có được thể hiện rõ ràng hơn ở lĩnh vực khác hay không, lĩnh vực đòi hỏi phải chăm chỉ và cố gắng, đó là kinh doanh. Cô huy động vài trăm người có kinh nghiệm kinh doanh ở nhiều mức độ khác nhau và ngẫu nhiên chia họ vào hai nhóm. Một nửa đối tượng nghiên cứu phải đọc hồ sơ về
một doanh nhân “nỗ lực hơn”, doanh nhân này được cho là đã thành công nhờ chăm chỉ, cố gắng và kinh nghiệm. Nhóm đối tượng còn lại sẽ
đọc hồ sơ về một doanh nhân “bẩm sinh”, người này được mô tả thành
công nhờ khả năng thiên phú. Tất cả những người tham gia nghiên cứu đều được nghe đoạn băng ghi âm về một đề xuất kinh doanh và được biết trước các đoạn băng này do hai doanh nhân mà họ vừa xem tiểu sử thực hiện.
Trong nghiên cứu về các nghệ sĩ, Chia phát hiện yếu tố bẩm sinh được xem trọng hơn nếu muốn thành công và kiếm được tiền, còn các đề xuất kinh doanh lại được đánh giá cao về chất lượng. Trong nghiên cứu liên quan, Chia nhận thấy nếu phải chọn giữa việc ủng hộ một trong hai doanh nhân thành công – một người nhờ cố gắng, người kia do bẩm sinh
– đa số đối tượng nghiên cứu ủng hộ người có năng khiếu bẩm sinh. Thực tế, điểm phiếm định giữa doanh nhân nỗ lực và doanh nhân bẩm sinh chỉ được phát hiện khi doanh nhân thứ nhất có hơn 4 năm kinh nghiệm lãnh đạo và hơn 40.000 đô-la vốn khởi nghiệp.
Nghiên cứu của Chia đã vén bức màn mâu thuẫn trong quan điểm về tài năng và nỗ lực. Những điều chúng ta nói là quan tâm có thể không đúng với những gì – sâu thẳm – chúng ta thực sự tin là có giá trị hơn. Cũng như
cách nói chúng ta không quan tâm chút nào về sự hấp dẫn thể chất của bạn tình, nhưng khi phải lựa chọn, chúng ta thường chọn người có hình thức ưa nhìn hơn.
“Rào cản tự nhiên” thực chất là định kiến ngầm chống lại những người nỗ lực phấn đấu để đạt được những gì họ đang có, đồng thời cũng là sự
thiên vị ngầm với những người mà chúng ta nghĩ họ đạt được vị trí trong cuộc sống bởi họ có tài bẩm sinh. Chúng ta có thể không chấp nhận
người khác bởi rào cản này, chúng ta có thể cũng khước từ nó khi tự đánh giá bản thân. Nhưng rào cản này rõ ràng tồn tại trong những lựa chọn chúng ta đưa ra.
***
Cuộc sống riêng của Chia là ví dụ thú vị về yếu tố tự nhiên hay nỗ lực.
Hiện nay, cô là Giáo sư tại Đại học London và đã công bố nghiên cứu của mình trên các tạp chí khoa học danh tiếng nhất. Khi còn nhỏ, cô học tại Juilliard, chương trình dự bị đại học khuyến khích sinh viên “có tài năng, tiềm năng, thành tích theo đuổi sự nghiệp âm nhạc” trải nghiệm “bầu không khí mà ở đó, các tài năng nghệ thuật và kỹ năng kỹ thuật có thể
tỏa sáng”.
Chia theo học nhiều chương trình tại Đại học Harvard. Cô nhận tấm bằng thứ nhất – Cử nhân Tâm lý học loại xuất sắc. Cô học hai bằng Thạc sĩ: một về Lịch sử khoa học và một về Tâm lý xã hội. Cuối cùng, khi đang học Tiến sĩ Tâm lý học và Hành vi tổ chức tại Harvard, cô còn học thêm bằng Tiến sĩ thứ hai về âm nhạc.
Rất ấn tượng phải không? Nếu không, hãy cho tôi kể thêm, Chia đã lấy được bằng tốt nghiệp của Nhạc viện Peabody về trình diễn piano và sư
phạm – vâng, cô cũng từng trình diễn tại Carnegie Hall, Lincoln Center, Kennedy Center và trong Lễ chào mừng Chủ tịch thường trực Hội đồng Liên minh châu Âu.
Nếu chỉ nhìn vào các bằng khen của cô ấy, bạn có thể kết luận ngay rằng
Chia sinh ra đã tài năng hơn người và thốt lên: “Chúa ơi! Một phụ nữ trẻ
có tài năng phi thường làm sao!” Nếu nghiên cứu của Chia là đúng, lời giải thích đó sẽ chỉ tô điểm thêm cho những thành công của cô, khiến nó ly kỳ và đáng phục hơn, lúc này bạn có thể sẽ nói: “Chúa ơi! Thật là một phụ nữ trẻ nhiệt huyết, chăm chỉ một cách phi thường!”
Điều gì sẽ xảy ra? Có nhiều nghiên cứu về những gì xảy ra khi chúng ta tin học sinh nào đó đặc biệt thông minh. Chúng ta bắt đầu quan tâm thái quá và đặt những kỳ vọng cao hơn đối với đứa trẻ. Chúng ta hy vọng nó phát triển vượt trội, rồi mặc định đó là lời tiên tri tự ứng nghiệm.
Tôi từng hỏi Chia điều gì đã làm nên sự thành công trong âm nhạc của cô, cô trả lời: “Tôi cho rằng mình có thể cũng có chút năng khiếu. Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng hơn cả là tôi yêu âm nhạc nhiều đến mức tôi đã tập luyện 4-6 tiếng mỗi ngày suốt cả tuổi thơ.” Rồi ở trường đại học, bất chấp lịch học và hoạt động dày đặc, cô vẫn dành nhiều thời gian nhất có thể cho âm nhạc. Vì vậy, vâng, cô có chút tài năng – nhưng cô cũng rất cố gắng.
Tại sao Chia lại luyện tập nhiều đến vậy? Tôi tự hỏi. Cô ấy buộc phải làm như vậy ư? Cô ấy có sự lựa chọn nào ở đây không?
“Ồ, đó là do tôi. Đó là điều tôi muốn. Tôi muốn mình giỏi hơn nữa. Khi tập đàn piano, tôi tưởng tượng mình đang đứng trên sân khấu trước đông đảo khán giả. Tôi hình dung ra họ đang vỗ tay tán thưởng.”
***
Năm tôi rời McKinsey để chuyển về dạy học, có ba đối tác của công ty đã công bố một bản báo cáo với tựa: The War for Talent (tạm dịch: Cuộc chiến Tài năng). Báo cáo này được đón nhận rộng rãi và thậm chí còn trở
thành cuốn sách bán chạy nhất lúc bấy giờ. Luận điểm chính mà báo cáo đó đưa ra là: Trong nền kinh tế hiện đại, sự sống còn của các công ty đều phụ thuộc vào khả năng thu hút và giữ chân “những cầu thủ hạng A”.
“Vậy tài năng là gì?” Các tác giả của McKinsey đã đặt câu hỏi trong những trang sách đầu tiên. Họ tự đưa ra câu trả lời: “Nói chung, tài năng là những khả năng của người nào đó – là năng khiếu thực sự, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, trí thông minh, khả năng xét đoán, thái độ, tính cách và động lực của người ấy. Nó đồng thời là khả năng học tập và phát triển.” Đó là khái niệm dài, cho thấy cuộc đấu tranh mà hầu hết chúng ta gặp phải khi cố gắng định nghĩa chính xác về tài năng. Nhưng tôi không ngạc nhiên khi thấy “năng khiếu thực sự” là yếu tố được nhắc đến đầu tiên.
Tạp chí Fortune từng đưa hình McKinsey lên trang bìa cùng bài xã luận:
“Khi có một nhân viên McKinsey chân ướt chân ráo xuất hiện tại McKinsey, anh ta có thể tạo nên ấn tượng khác biệt bằng cách uống một hay hai ly cocktail rồi ngả người ra bàn và đưa ra những ý tưởng ngớ ngẩn như việc so sánh điểm SAT”. Nhà báo này cho rằng không thể đề cao vấn đề “tiền thưởng trong văn hóa của McKinsey” đối với khả năng phân tích hoặc về sự “thông minh” như cách dùng từ của nhân viên tại công ty.
McKinsey nổi tiếng về việc tuyển dụng và trao thưởng cho những người
xuất sắc – đó là những người đã nhận được bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh từ các trường như Harvard hoặc Stanford và những người có thư
giới thiệu khẳng định họ là người có đầu óc, như tôi.
Những cuộc phỏng vấn của McKinsey dành cho tôi cũng như hầu hết các nhân viên được bắt đầu với hàng loạt câu hỏi hóc búa được thiết kế để
kiểm tra khả năng phân tích. Một người phỏng vấn mời tôi ngồi, tự giới thiệu mình rồi hỏi: “Mỗi năm ở Mỹ có bao nhiêu quả bóng tennis được sản xuất?”
Tôi trả lời: “Tôi đoán có hai cách để trả lời câu hỏi này. Cách thứ nhất là tìm đúng người hoặc đúng tổ chức thương mại để trả lời.” Người phỏng vấn gật đầu, nhưng ném cho tôi cái nhìn ngụ ý rằng anh ta muốn câu trả
lời kiểu khác.
“Hoặc bạn có thể đưa ra một số giả thiết cơ bản nào đó và làm vài phép tính nhân để biết được số lượng.”
Người phỏng vấn cười lớn. Vì vậy, tôi đã trả lời điều anh ta muốn.
“Được, Mỹ có dân số 250 triệu người. Những người chơi tennis tích cực nhất đều ở độ tuổi 10-13. Tức là khoảng 1/4 dân số. Tôi đoán có khoảng hơn 60 triệu người chơi tennis.”
Lúc này, người phỏng vấn thực sự hào hứng. Tôi tiếp tục trò chơi lô-gíc, nhân, chia những con số ước lượng rõ ràng là chính xác về số người chơi tennis, tỷ lệ số trận mà họ chơi trung bình, số bóng được dùng trong một
trận và bao lâu họ cần thay bóng vì bị hỏng hoặc bị mất.
Tôi cũng đưa ra một con số, nó chẳng đúng gì cả vì ở mỗi bước tính, tôi đều đặt ra giả thiết không chính xác. Cuối cùng, tôi nói: “Tính toán ở câu trả lời này không khó với tôi. Thời gian này, tôi đang dạy phân số cho một học sinh nữ, chúng tôi cùng nhau làm rất nhiều phép tính nhẩm.
Nhưng trong trường hợp anh muốn biết tôi thực sự sẽ làm gì nếu muốn biết câu trả lời thì tôi sẽ nói với anh: Tôi chỉ cần gọi điện cho ai đó mà thôi.”
Anh ta lại cười và chắc chắn anh ta đã biết tất cả những gì mình cần từ
cuộc trao đổi giữa chúng tôi. Cũng thông qua hồ sơ xin việc của tôi –
trong đó có điểm SAT, điều kiện tiên quyết mà McKinsey dựa vào để
phân loại ứng viên. Nói cách khác, nếu lời khuyên cho các công ty Mỹ là xây dựng văn hóa coi trọng tài năng thì McKinsey đang làm chính điều này.
***
Sau khi nhận lời làm việc cho văn phòng ở thành phố New York, tôi được thông báo sẽ có tháng làm việc đầu tiên ở khách sạn sang trọng tại Clearwater, Florida. Ở đó, tôi sẽ gặp nhiều nhân viên mới, những người chưa hề được đào tạo về kinh doanh như tôi. Tuy nhiên, mỗi người trong số chúng tôi đều đã giành được những danh hiệu học thuật xuất sắc. Ví dụ, tôi ngồi cạnh một thanh niên đã có bằng Tiến sĩ Vật lý. Phía kế nữa bên tôi là bác sĩ phẫu thuật, phía sau tôi là 2 luật sư.
Chẳng ai trong chúng tôi biết về quản trị nói chung hoặc về bất kỳ ngành kinh doanh cụ thể nào. Nhưng đó là điều cần phải thay đổi: Trong một tháng, chúng tôi phải hoàn thành khóa học cấp tốc có tên “MBA mini”.
Vì tất cả chúng tôi được mặc định là những người tiếp thu siêu nhanh nên việc chúng tôi phải lĩnh hội một lượng thông tin khổng lồ chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn được cho là điều đương nhiên.
Vừa mới được trang bị chút kiến thức cơ bản về dòng tiền, sự khác biệt giữa doanh thu và lợi nhuận, thêm một vài số liệu thô sơ về cái mà bây giờ tôi biết nó được gọi là “khu vực tư nhân”, chúng tôi được đưa ngay tới các văn phòng ở khắp nơi trên thế giới, tại đó, chúng tôi sẽ tham gia cùng các nhóm tư vấn khác và phối hợp với khách hàng của công ty để
giải quyết bất kỳ vấn đề gì họ muốn.
Tôi sớm nhận ra đề xuất kinh doanh cơ bản của McKinsey rất thẳng thắn.
Với khoản tiền lớn mỗi tháng, các công ty có thể thuê một nhóm chuyên gia của McKinsey giải quyết những vấn đề hóc búa mà nhân viên của họ
không thực hiện được. Khi kết thúc một cam kết như vậy, chúng tôi được công ty kỳ vọng sẽ xây dựng một báo cáo sâu sắc hơn nhiều so với những gì đã được làm trước đó.
Khi đang làm slide trình bày tóm tắt những khuyến nghị chung về một sản phẩm y tế trị giá nhiều tỷ đô-la, tôi chợt nhận ra tôi không hiểu những điều mình đang nói. Có những chuyên gia tư vấn cấp cao ở trong nhóm, họ hiểu biết hơn, song cũng có những chuyên gia tư vấn chỉ vừa tốt nghiệp đại học và chắc chắn hiểu biết ít hơn.
Tại sao họ lại thuê chúng tôi với chi phí cao ngất ngưởng như vậy? Một mặt, chúng tôi có thế mạnh từ quan điểm của người ngoài mà không bị
chi phối bởi các yếu tố chính trị nội bộ. Chúng tôi cũng có phương pháp giải quyết các vấn đề kinh doanh căn cứ vào giả thuyết và dữ liệu. Còn có rất nhiều lý do phù hợp để các CEO lựa chọn tư vấn từ McKinsey. Nhưng trong số họ, tôi nghĩ chúng tôi được đánh giá là sắc sảo hơn những người đã từng làm công việc này. Thuê tư vấn từ McKinsey có nghĩa là thuê những người “xuất sắc nhất và tinh nhuệ nhất” – đồng nghĩa chúng tôi là những người giỏi nhất.
***
Theo Cuộc chiến Tài năng, các công ty giỏi là các công ty quyết liệt ủng hộ những nhân viên tài năng nhất, đồng thời cũng lựa chọn ngặt nghèo nhất đối với những nhân viên kém tài năng. Tại những công ty này, sự
chênh lệch rất lớn về lương thưởng không chỉ được chứng minh là đúng mà còn là điều được mong muốn. Tại sao? Vì một môi trường cạnh tranh, ưu đãi cho người chiến thắng sẽ khuyến khích người tài nhất ở lại và người kém tài nhất ra đi tìm công việc mới.
Tính đến thời điểm này, Duff McDonald, nhà báo đã nghiên cứu chuyên sâu về McKinsey, cho rằng triết lý kinh doanh này nên được gọi khéo léo hơn là Cuộc chiến về lương tri. Theo McDonald, những doanh nghiệp được nhắc đến trong báo cáo ban đầu của McKinsey là những minh chứng về thực tế cho việc chiến lược của họ đã không thực sự hiệu quả
trong nhiều năm.
Nhà báo Malcolm Gladwell cũng bình luận về Cuộc chiến Tài năng. Ông cho biết Enron là sự khái quát về cách tiếp cận trí tuệ do tài năng trong quản lý mà McKinsey chủ trương. Như tất cả chúng ta đều biết, câu chuyện về Enron không có kết thúc tốt đẹp. Là một trong những công ty kinh doanh năng lượng lớn nhất thế giới, Enron từng được tạp chí Fortune vinh danh là Công ty đổi mới nhất của Mỹ trong 6 năm liên tục.
Tuy nhiên, đến cuối năm 2001, khi công ty nộp đơn xin phá sản, nó cho thấy rõ ràng lợi nhuận đáng kinh ngạc của công ty là do gian lận kế toán ở quy mô lớn và mang tính hệ thống. Khi Enron sụp đổ, hàng nghìn nhân viên của công ty – những người chẳng dính dáng gì đến việc làm sai trái này, đã mất việc, mất bảo hiểm y tế và tổn hại về tiết kiệm hưu trí. Đến nay, đó vẫn là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Bạn không thể nói sự thất bại của Enron là do họ quá thừa IQ. Bạn cũng không thể trách công ty vì đã không bền bỉ. Nhưng Gladwell đã đưa ra bình luận thuyết phục rằng việc những nhân viên Enron đòi hỏi cao, muốn thể hiện họ thông minh hơn bất kỳ ai khác đã góp phần tạo nên lối văn hóa đề cao bản thân, trong đó có quá nhiều nhân viên vừa tự mãn lại vừa hay thể hiện do cảm giác bất an sâu sắc thúc đẩy. Đó là thứ văn hóa cổ súy cho sự thể hiện trước mắt nhưng lại không khuyến khích học tập và phát triển lâu dài.
Quan điểm này cũng được đề cập trong bộ phim tài liệu mô tả khá đầy đủ về Enron với tên gọi The smartest guys in the room (tạm dịch: Những kẻ thông minh nhất trong phòng). Trong thời kỳ đỉnh cao, CEO của Enron vốn là chuyên gia tư vấn khá nóng tính song cực kỳ xuất sắc của
McKinsey là Jeff Skilling. Skilling đã phát triển hệ thống đánh giá kết quả
làm việc cho nhân viên Enron, hệ thống này chấm điểm hàng năm và đại khái là sẽ phạt 15% nhân viên kém nhất. Nói cách khác, cho dù năng lực tuyệt đối của bạn ở mức nào, nếu bạn kém hơn người khác, bạn sẽ bị
phạt. Tại Enron, việc áp dụng cách đánh giá này được gọi là “xếp hạng dựa vào hiệu suất lao động cá nhân”. Skilling xem đây là một trong những chiến lược quan trọng nhất của công ty. Nhưng rõ ràng nó đã góp phần tạo nên môi trường làm việc mà ở đó sự dối trá được trao thưởng, còn sự chính trực bị coi thường.
Tài năng có xấu không? Tất cả chúng ta có tài năng như nhau không?
Không và không. Khả năng nhanh chóng nắm bắt được kỹ năng nào đó tất nhiên là điều rất tốt và dù chúng ta có thích hay không, một số người trong chúng ta sẽ giỏi hơn những người khác.
Như vậy, tại sao việc ưu ái “tự nhiên” hơn “nỗ lực” lại xấu? Mặt trái của các chương trình truyền hình như American’s Got Talent, The X Factor, và Child Genius là gì? Tại sao chúng ta không phân loại trẻ từ 7-8 tuổi thành hai nhóm: Nhóm gồm những trẻ “có tài và có khiếu” và nhóm không tài năng? Tác hại của chương trình tài năng là gì khi nó được gọi là “trình diễn tài năng”?
Theo quan điểm của tôi, lý do lớn nhất về thiên kiến đối với tài năng có thể gây nguy hại đơn giản là: Bằng cách đưa tài năng ra ánh sáng, chúng ta có nguy cơ bỏ lại mọi yếu tố khác trong bóng tối. Chúng ta vô tình gửi đi thông điệp rằng những nỗ lực khác – trong đó có sự bền bỉ – không
phải là vấn đề to tát.
Ví dụ, hãy xem câu chuyện của Scott Barry Kaufman. Phòng làm việc của Scott chỉ cách phòng tôi 2 cánh cửa, ông cũng rất giống với những nhà tâm lý học thuật khác mà tôi biết, đó là dành phần lớn thời gian không ngủ để đọc, suy nghĩ, thu thập dữ liệu, phân tích và viết lách. Ông công bố nghiên cứu trên các tạp chí khoa học. Ông biết rất nhiều từ đa âm tiết.
Ông đã nhận bằng từ Đại học Carnegie Mellon, Đại học Cambridge và Đại học Yale. Ông còn chơi đàn cello cho vui.
Nhưng khi còn nhỏ, Scott từng bị đánh giá là học sinh tiếp thu kém –
điều này cũng đúng. Scott giải thích: “Hồi nhỏ tôi thường bị viêm tai. Căn bệnh này gây khó khăn cho việc xử lý thông tin dưới dạng âm thanh. Tôi luôn chậm hơn 1-2 bước so với các bạn cùng lớp.” Trong học tập, ông tiếp thu chậm đến mức bị chuyển vào lớp giáo dục đặc biệt. Ông phải học lại lớp 3. Cũng trong khoảng thời gian này, ông đã gặp chuyên gia tâm lý trường học để đánh giá chỉ số thông minh. Trong buổi đánh giá đầy lo âu mà ông mô tả là rất “đau lòng”, ông thể hiện kém đến mức bị chuyển sang trường chuyên biệt cho học sinh có khó khăn về nhận thức.
Đến tận lúc 14 tuổi, một giáo viên giáo dục đặc biệt tinh tường đã đưa Scott ra ngoài và hỏi tại sao cậu không học những lớp khó hơn. Đến lúc ấy, Scott chưa bao giờ tự hỏi về năng lực trí tuệ của bản thân. Ngược lại, cậu cho rằng việc không có tài năng đã khiến cậu đặt giới hạn rất thấp đối với những gì có thể làm trong cuộc sống.
Gặp được một giáo viên tin tưởng vào tiềm năng của mình là bước ngoặt
quan trọng: Trục được xoay từ Đây là tất cả những gì em làm được sang Ai biết em có thể làm được những gì? Lúc đó, lần đầu tiên Scott bắt đầu tự hỏi: Tôi là ai? Tôi là học sinh khuyết tật không có tương lai ư? Hay là ai khác?
Sau đó, để tìm câu trả lời, Scott đăng ký tham gia bất kỳ thử thách nào nhà trường đưa ra. Lớp học tiếng Latin. Lớp âm nhạc. Lớp hợp xướng.
Cậu không cần giỏi mọi thứ nhưng cậu học mọi thứ. Điều mà Scott biết được là cậu không vô dụng.
Scott phát hiện mình học đàn cello khá dễ dàng. Ông của cậu cũng từng là nhạc công cello trong Dàn nhạc Philadelphia suốt gần 50 năm, Scott có ý nghĩ ông có thể dạy cậu chơi đàn. Mùa hè năm Scott học những bài đầu tiên về đàn cello, cậu luyện tập 8-9 tiếng mỗi ngày. Cậu quyết tâm nâng cao trình độ không chỉ bởi cậu thích đàn cello: “Tôi có động lực muốn thể hiện tôi có đủ năng lực trí tuệ về bất kỳ việc gì. Lúc đó, tôi thậm chí còn không quan tâm đó là việc gì.”
Cậu thực sự tiến bộ, đến mùa thu, cậu đã giành được một ghế trong dàn nhạc của nhà trường. Nếu câu chuyện kết thúc ở đây thì nó chưa nói lên được điều gì về sự bền bỉ. Nhưng đây là điều đã xảy ra tiếp theo. Scott liên tục luyện tập, thậm chí còn tập nhiều hơn. Cậu bỏ cả bữa trưa để tập.
Đôi khi, cậu bỏ giờ học để tập đàn. Đến năm trung học, cậu đứng thứ hai, là người chơi giỏi thứ hai trong dàn nhạc – cậu cũng tham gia dàn hợp xướng và dành tất cả các giải thưởng từ khoa nhạc.
Trên lớp, cậu cũng bắt đầu học tốt hơn, cậu tham gia nhiều lớp nâng cao.
Hầu hết bạn bè đều học chương trình dành cho học sinh tài năng, Scott cũng muốn được tham gia với họ. Cậu muốn trò chuyện về Plato, giải câu đố và học thêm nhiều hơn những gì cậu đang học. Tất nhiên, với điểm IQ
hồi nhỏ sẽ chẳng có cơ hội như thế này. Cậu nhớ chuyên gia tâm lý đã vẽ
hình cái chuông vào sau tờ giấy ăn và chỉ vào đỉnh của nó – “Đây là mức trung bình” – rồi chỉ sang bên phải – “Đây là điểm em phải đạt được để
vào các lớp năng khiếu” – rồi chỉ sang bên trái – “Đây là vị trí hiện tại của em.”
Scott hỏi: “Tại điểm nào thì thành tích sẽ thắng tiềm năng?”
Chuyên gia tâm lý lắc đầu, ông chỉ cho Scott ra phía cửa.
Mùa thu năm đó, Scott quyết định nghiên cứu cái được gọi là “trí thông minh” và đưa ra kết luận của riêng mình. Cậu đăng ký theo học chương trình khoa học nhận thức tại Đại học Carnegie Mellon. Cậu bị từ chối.
Thư không nêu rõ lý do tại sao cậu bị từ chối dù điểm số và các thành tích hoạt động ngoại khóa của cậu rất xuất sắc, Scott đoán nguyên nhân có thể vì điểm SAT của cậu quá thấp.
Scott nhớ lại: “Tôi vẫn luôn bền bỉ. Tôi đã nói: ‘Tôi sẽ làm việc này. Tôi không quan tâm. Tôi sẽ tìm ra cách để học điều tôi muốn.’” Sau đó, Scott đi thử giọng ở chương trình opera của Đại học Carnegie Mellon. Tại sao?
Vì chương trình này không đòi hỏi điểm SAT phải cao mà chỉ chú trọng tới năng khiếu âm nhạc và khả năng thể hiện. Trong năm đầu tiên, Scott đăng ký môn học tự chọn là tâm lý. Không lâu sau, cậu chọn tâm lý là môn phụ để học thêm. Rồi chẳng mấy chốc, cậu chuyển từ chuyên ngành
Opera sang chuyên ngành Tâm lý học. Cậu tốt nghiệp Phi Beta Kappa11.
11 Hiệp hội Phi Beta Kappa là tổ chức danh dự lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Phi Beta Kappa nhằm mục đích thúc đẩy và ủng hộ sự xuất sắc trong nghệ
thuật tự do và khoa học, đồng thời giới thiệu những sinh viên xuất sắc nhất về nghệ thuật và khoa học tại các trường đại học và cao đẳng Mỹ.
(BTV)
Cũng giống như Scott, tôi từng kiểm tra IQ từ hồi đi học và được cho biết không đủ thông minh để học các lớp năng khiếu, tài năng. Vì bất kỳ lý do gì – có thể giáo viên đề nghị tôi nên được đánh giá lại – tôi cũng được đánh giá lại trong năm sau, tôi đã làm nên sự thay đổi. Tôi đoán bạn có thể nói tôi ở mấp mé ranh giới của tài năng.
Nhưng còn một kết luận khác là sự chú trọng vào tài năng khiến chúng ta lơ là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng, đó là nỗ lực. Trong chương tiếp theo, tôi sẽ trình bày vấn đề: Nếu tài năng quan trọng thì nỗ
lực còn quan trọng gấp đôi.