Vững Tâm Bền Chí Ắt Thành Công

Lượt đọc: 298 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Bền Bỉ – Những Sân Chơi

❊ ❊ ❊

Chương 11

BỀN BỈ – NHỮNG SÂN CHƠI

Một hôm, con gái tôi, Lucy, khi ấy khoảng 4 tuổi đang ngồi bên bàn ăn và cố mở nắp chiếc hộp đựng nho khô. Con bé đói và muốn ăn nho khô, nhưng nắp hộp đã ngăn cản những cố gắng của con, nó vẫn nằm im. Sau vài phút, Lucy đặt cái hộp xuống rồi bỏ đi. Tôi theo dõi con bé từ phòng khác và thực sự ngạc nhiên. Trời ơi, con gái tôi chịu thất bại với cái hộp nho sao? Vậy làm sao con bé có thể rèn luyện để trở thành người bền bỉ?

Tôi bước tới và khuyến khích Lucy thử lại lần nữa. Tôi cố gắng hết sức vừa hỗ trợ vừa yêu cầu. Tuy nhiên, con gái tôi nhất quyết không thử lại.

Không lâu sau, tôi tìm được một lớp dạy ba-lê ở cuối phố và đăng ký cho con học.

Giống như nhiều phụ huynh khác, tôi tin tính bền bỉ có thể được cải thiện thông qua các hoạt động như học ba-lê, piano, đá bóng hoặc các hoạt động được tổ chức bài bản. Những hoạt động này có hai điểm quan trọng khó tìm được ở những hoạt động khác. Thứ nhất, nó có người lớn hướng dẫn – tốt nhất là người ấy vừa đáp ứng vừa đòi hỏi không phải là cha mẹ.

Thứ hai, những hoạt động này được thiết kế để nuôi dưỡng hứng thú, mục đích và hy vọng. Phòng tập ba-lê, phòng thu âm, sân bóng rổ, sân bóng đá đều là những sân chơi có thể nuôi dưỡng đức tính bền bỉ.

***

Tôi không thể khẳng định nghiên cứu riêng lẻ nào cho thấy trẻ được chỉ

định ngẫu nhiên để chơi thể thao hay nhạc cụ nào đó, thi đua theo nhóm, làm việc sau giờ học hay tham gia biên soạn nội dung bản tin của trường.

Nếu nghĩ về điều này một chút, bạn sẽ biết tại sao. Không cha mẹ nào muốn con mình làm hay không làm việc gì đó theo cách ngẫu nhiên và cũng vì lý do đạo đức, không nhà khoa học nào có thể ép buộc trẻ tham gia hay đứng ngoài các hoạt động.

Tuy nhiên, dù là cha mẹ hay nhà khoa học xã hội, ngay khi con trẻ đã đủ

lớn, bạn nên tìm hoạt động gì đó trẻ thích ngoài việc học trên lớp và đăng ký cho trẻ tham gia. Nếu có cây đũa thần, tôi sẽ làm cho mọi trẻ em trên thế giới tham gia vào ít nhất một hoạt động ngoại khóa tùy chọn, đối với tuổi trung học, tôi sẽ yêu cầu học sinh tham gia một hoạt động trong vòng ít nhất từ một năm trở lên.

Bạn có nghĩ mỗi giây phút trong ngày của trẻ đều đã được lên kế hoạch sẵn không? Không. Nhưng tôi nghĩ trẻ sẽ cố gắng khi chúng dành thời gian trong tuần để làm những việc khó mà chúng say mê.

***

Như đã nói, tôi không có đủ bằng chứng để đưa ra lời khuyến nghị như

vậy. Nhưng theo quan điểm của tôi, những công trình nghiên cứu trước lại ủng hộ điều đó. Nói tóm lại, bạn sẽ thấy để con học được tính bền bỉ

dưới sự hướng dẫn của giáo viên ba-lê, huấn luyện viên bóng đá hay giáo viên dạy đàn violon là việc nên làm.

Ở giai đoạn đầu, một số nhà nghiên cứu cho trẻ đeo máy nhắn tin suốt cả ngày để biết trẻ đang làm gì và đang cảm thấy như thế nào. Ở trong lớp, máy ghi nhận cảm giác bị thách thức – đặc biệt là những cảm giác không có động lực. Ngược lại, chơi ở ngoài với bạn không tạo cảm giác bị

thử thách mà cực kỳ vui vẻ. Còn các hoạt động ngoại khóa thì sao? Trong lúc chơi thể thao, đánh đàn hoặc ôn bài, trẻ thấy bị thử thách song rất vui. Đối với thanh niên, những trải nghiệm khác trong cuộc sống không thể làm họ cảm thấy vừa bị thử thách vừa tạo động lực.

Cuối cùng, nghiên cứu này còn cho thấy: Học tập là việc khó nhưng đối với nhiều trẻ, việc này lại không thú vị. Nhắn tin cho bạn bè thì vui nhưng không khó. Còn ba-lê cho bạn cả hai điều này.

***

Trải nghiệm trước mắt là một vấn đề, song lợi ích lâu dài thì sao? Các hoạt động ngoại khóa có mang lại lợi ích cụ thể nào không?

Nhiều nghiên cứu chứng minh những trẻ tham gia hoạt động ngoại khóa thể hiện khả năng tốt hơn ở hầu hết mọi mặt, ví dụ: Trẻ đạt điểm cao hơn, tự tin hơn, ít gặp rắc rối hơn… Nhiều nghiên cứu theo chiều dọc, trong đó các nhà nghiên cứu muốn chờ xem điều gì sẽ xảy đến với trẻ

trong cuộc sống sau này, cũng đưa ra kết luận tương tự: Trẻ càng tham gia vào nhiều hoạt động thì càng thu được nhiều kết quả tốt hơn.

Một nghiên cứu tương tự cũng khẳng định rằng hiếm có trường hợp học sinh tham gia quá nhiều hoạt động ngoại khóa. Hiện nay, học sinh trung

học Mỹ dành hơn 3 tiếng mỗi ngày xem tivi và chơi điện tử. Ngoài ra, các em còn mất thêm nhiều thời gian trao đổi trên mạng xã hội, gửi đường link cho bạn, theo dõi chị em nhà Kardashian để biết mặc gì cho hợp –

điều này khiến việc tham gia câu lạc bộ cờ tướng hay đội kịch của trường cũng như các hoạt động có tổ chức, dạy kỹ năng và có người lớn hướng dẫn trở nên khó thực hiện.

Thế còn bền bỉ thì sao? Nếu phải hoàn thành một việc nào đó mất nhiều năm chứ không phải nhiều tháng thì sao? Nếu coi bền bỉ là theo đuổi mục tiêu trong thời gian dài và các hoạt động ngoại khóa là cách rèn luyện để thành người bền bỉ, chúng ta có thể hiểu được lý do vì sao những hoạt động ấy vô cùng có lợi khi thực hiện trong thời gian ít nhất một năm.

Trên thực tế, việc rút ra bài học kinh nghiệm trong khi không ngừng tiến bộ là điều luôn được nhắc đến trong các buổi phỏng vấn của tôi với những cá nhân bền bỉ đột phá.

Đây là một ví dụ: Sau mùa thi đấu không mấy ấn tượng trong đội bóng của trường trung học hồi lớp 10, ngôi sao tương lai của NFL Hall of Famer, Steve Young, xuống xưởng mộc của trường, làm một quả bóng gỗ

rồi lấy băng dính làm dây. Cậu bắt đinh vít một đầu và dùng nó để buộc quả bóng vào máy tạ trong phòng tập của trường. Sau đó, cậu vừa nắm vừa đẩy quả bóng tới lui với tốc độ vừa phải. Sự kiên trì đã giúp cậu rèn luyện độ dẻo dai của tay và vai. Năm sau, quãng đường cậu ném bóng đã tăng lên gấp hai lần.

Thậm chí những minh chứng thuyết phục hơn về lợi ích của các hoạt động ngoại khóa trong thời gian dài cũng được tìm thấy ở một nghiên cứu do nhà tâm lý học Margo Gardner thực hiện. Margo và các cộng sự

tại Đại học Columbia đã theo dõi 11.000 thiếu niên Mỹ cho đến khi họ 26

tuổi để tìm hiểu ảnh hưởng của việc tham gia các hoạt động ngoại khóa của trường trung học trong suốt hai năm so với ảnh hưởng nếu chỉ tham gia một năm đến sự thành công ở tuổi trưởng thành.

Đây là điều Margo phát hiện: Những trẻ tham gia hơn một năm vào các hoạt động ngoại khóa có khả năng tốt nghiệp đại học cao hơn và khi trưởng thành họ cũng tình nguyện tham gia hoạt động cộng đồng nhiều hơn. Số giờ mỗi tuần trẻ dành cho hoạt động ngoại khóa cũng dự đoán khả năng tìm việc và kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng điều này chỉ xảy ra ở những trẻ tham gia hoạt động trong hai năm.

***

Một trong những nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu tầm quan trọng của việc theo dõi các hoạt động ngoại khóa – ngược lại với sự quan tâm hời hợt – là Warren Willingham.

Năm 1978, Willingham là Giám đốc Dự án Phẩm chất Cá nhân. Ngay cả

đến ngày nay, đây vẫn là công trình nghiên cứu tham vọng nhất nhằm phát hiện các yếu tố quyết định thành công của người trưởng thành.

Dự án này do Viện Khảo thí Giáo dục (ETS) sử dụng cả khuôn viên rộng lớn ở Princeton, New Jersey và thuê 1.000 nhân viên thống kê, chuyên

gia tâm lý và các nhà khoa học – làm việc để xây dựng các bộ trắc nghiệm dự đoán thành công trong học tập và làm việc. Nếu đã từng thi SAT tức là bạn cũng đã từng kiểm tra bằng ETS. Bài thi cùng loại với GRE, TOEFL, Praxis và bất kỳ bài thi nào trong số ba loại bài thi nâng cao này. Về cơ

bản, ETS là trắc nghiệm được chuẩn hóa nổi tiếng nhất, thông dụng nhất, cũng giống Kleenex là loại giấy ăn nổi tiếng và phổ biến nhất. Chắc chắn rồi, có nhiều tổ chức khác cũng xây dựng các bộ trắc nghiệm chuẩn hóa, song hầu hết chúng ta không thể nhớ hết chúng.

Vậy điều gì đã thúc đẩy ETS tìm kiếm nhân tố thành công dựa trên những bài trắc nghiệm chuẩn hóa?

Willingham và các nhà khoa học khác tại ETS biết rõ hơn ai hết, kết quả

học tập thời trung học phổ thông và điểm thi chỉ có thể dự đoán một nửa khả năng thành công trong cuộc sống sau này của một cá nhân. Thông thường, người ta hay gặp trường hợp hai học sinh cùng lớp với hai kết quả thi giống nhau sẽ có những bến đỗ hoàn toàn khác nhau trong cuộc sống sau này. Câu hỏi đơn giản Willingham đặt ra là những phẩm chất cá nhân nào đã ảnh hưởng tới sự khác nhau đó?

Để trả lời, nhóm nghiên cứu của Willingham theo dõi hàng nghìn sinh viên trong 5 năm, bắt đầu từ năm lớp 12 ở trường trung học.

Ở giai đoạn đầu của nghiên cứu, người ta thu thập thông tin từ hồ sơ

tuyển sinh, sử dụng bảng hỏi, bài luận, phỏng vấn và kết quả học tập của từng học sinh. Thông tin này được sử dụng để chấm điểm trên một thang đo dành cho hơn 100 đặc điểm cá nhân khác nhau. Những đặc điểm này

bao gồm cả thông tin về nền tảng gia đình, như nghề nghiệp của cha mẹ, địa vị kinh tế, xã hội cũng như sở thích nghề nghiệp của bản thân, động cơ học đại học, mục tiêu giáo dục…

Sau đó, khi trở thành sinh viên đại học, việc đo lường khách quan được tiến hành thông qua 3 tiêu chí lớn: Thứ nhất, sinh viên có kết quả học tập nổi trội so với bạn bè không? Thứ hai, là một người trẻ tuổi, cá nhân này có thể hiện khả năng lãnh đạo không? Và cuối cùng, những chàng trai và cô gái này có thể đạt đến thành công ở mức độ nào trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, nghệ thuật, thể thao, viết và nói, khởi nghiệp hay dịch vụ cộng đồng?

Một mặt, Dự án Phẩm chất Cá nhân là một cuộc đua ngựa. Mỗi biện pháp trong số hàng trăm biện pháp ở giai đoạn đầu có thể trở thành yếu tố dự

đoán chính xác thành công sau này của một cá nhân. Điều này có thể

thấy rõ ngay khi đọc bản báo cáo thứ nhất, khi nó được hoàn thành vài năm trước khi các số liệu cuối cùng được thu thập. Báo cáo cho biết Willingham có thái độ hoàn toàn khách quan với vấn đề này. Ông mô tả

từng biến số, lý do lựa chọn và cách đo lường…

Đến khi có đủ tất cả các số liệu, Willingham trở nên rõ ràng, dứt khoát với những gì mình đã học được. Con ngựa chiến thắng sau một quãng đường dài là bởi nó đã: Làm đến cùng.

Đây là cách đánh số dữ liệu mà Willingham và nhóm nghiên cứu đã làm:

“Điểm làm đến cùng phải có minh chứng về cam kết mang tính mục đích, liên tục với một số hoạt động (ở trường trung học) so với các nỗ lực

rời rạc khi tham gia nhiều hoạt động khác.”

Sinh viên đạt điểm làm đến cùng cao nhất tham gia vào hai hoạt động ngoại khóa ở trường trung học trong nhiều năm liền với tần suất liên tục (ví dụ: Trở thành biên tập viên của tờ báo, giành Giải MVP27 cho đội bóng chày, giành giải thưởng về nghệ thuật). Chẳng hạn, Willingham kể về

trường hợp một học sinh đã “tham gia làm báo trường trong 3 năm rồi trở thành tổng biên tập, sau đó tiếp tục tham gia nhóm này thêm 3 năm nữa và cuối cùng nhận được phần thưởng là một buổi gặp mặt quan trọng.”

27 MVP (Most Valuable Player) là danh hiệu được trao cho cầu thủ xuất sắc nhất, “có giá trị” nhất. (BTV)

Ngược lại, học sinh không tham gia một hoạt động nào trong nhiều năm liên tục đạt điểm làm đến cùng thấp nhất. Nhiều học sinh lại thay đổi liên tục, các em có thể tham gia sinh hoạt ở câu lạc bộ hay nhóm trong vòng một năm rồi năm sau lại chuyển sang một hoạt động hoàn toàn khác.

Sau khi đối chiếu với điểm học ở trường cấp 3 và điểm SAT, điểm làm đến cùng với các hoạt động ngoại khóa ở trường cấp ba có thể dự đoán khả

năng tốt nghiệp đại học với thành tích học tập xuất sắc rõ ràng hơn bất kỳ tiêu chí nào. Tương tự như vậy, điểm làm đến cùng là chỉ số dự báo tốt nhất về khả năng lãnh đạo do chỉ định hoặc trúng cử ở tuổi trưởng thành. Và cuối cùng, hơn bất kỳ tính cách cá nhân nào trong số 100 tính cách Willingham đã đánh giá, điểm làm đến cùng dự đoán được mức độ

hoàn thành khá ấn tượng đối với một thanh niên ở mọi lĩnh vực từ nghệ

thuật, viết lách đến kinh doanh và phục vụ cộng đồng.

Đặc biệt, sự theo đuổi cụ thể, mà ở đó học sinh dành mọi nỗ lực của mình ở trường cấp 3, không quan trọng – cho dù đó là tennis, quản trị, thi đấu.

Vấn đề then chốt là học sinh đã liên tục đăng ký tham gia hoạt động nào đó và đạt được tiến bộ nhất định.

***

Tôi biết đến Dự án Phẩm chất Cá nhân một năm sau khi bắt đầu nghiên cứu về phẩm chất bền bỉ. Khi cầm báo cáo nghiên cứu nguyên bản trong tay, tôi đã đọc liền một mạch rồi lại đọc lại từ trang đầu.

Đêm đó, tôi không thể ngủ. Tôi thao thức và suy nghĩ: Thật ngạc nhiên!

Điều mà Willingham gọi là “làm đến cùng” chẳng khác gì tính bền bỉ cả!

Ngay lập tức, tôi muốn xem liệu tôi có thể lặp lại những phát hiện của ông không.

Giống như bất kỳ bảng hỏi tự báo cáo nào, Thang đo tính bền bỉ cực kỳ

dễ đánh lừa. Trong các nghiên cứu, người tham gia không có động cơ

thực sự để nói dối nhưng thang đo khó được giám sát chặt chẽ, trên thực tế người tham gia có thể giả vờ “tôi luôn hoàn thành mọi việc đến cùng”.

Định lượng phẩm chất bền bỉ như cách Willingham đã làm là một phép đo lường không dễ mạo hiểm. Ít nhất là không thể nói dối sỗ sàng. Theo cách nói của Willingham: “Tìm kiếm các dấu hiệu hoàn thành hiệu quả

là cách tốt để khai thác hồ sơ của học sinh.”

Nhưng mục đích quan trọng hơn là để xem liệu làm đến cùng có dự đoán được thành công hay thất bại trong việc hình thành đức tính bền bỉ

không.

Để hỗ trợ một nghiên cứu theo thời gian, tôi hướng đến nhà tài trợ nhân ái lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục: Quỹ Bill và Melinda Gates.

Tôi nhanh chóng phát hiện ra tổ chức này đặc biệt quan tâm đến lý do nhiều sinh viên bỏ học giữa chừng. Hiện nay, tỷ lệ sinh viên bỏ học ở các trường hệ 2 năm và 4 năm tại Mỹ nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Học phí ngày càng tăng cùng sự phức tạp của các nguồn hỗ trợ tài chính trong nước là hai yếu tố ảnh hưởng đáng kể. Việc chuẩn bị chưa đầy đủ kiến thức để học đại học cũng là một lý do. Tuy nhiên, nhiều sinh viên có điều kiện tài chính và điểm SAT tốt vẫn bỏ học giữa chừng ở những giai đoạn khác nhau. Dự đoán ai sẽ học hết 2 hay 4 năm để kiếm tấm bằng tốt nghiệp, còn ai không vẫn đang là vấn đề hóc búa đối với ngành khoa học xã hội. Vẫn chưa có ai đưa ra được câu trả lời thỏa đáng.

Trong buổi gặp gỡ với vợ chồng nhà Gates, tôi đã có cơ hội giải thích quan điểm cá nhân trực tiếp với họ. Tôi nói việc học để vượt qua một khó khăn hay thử thách ngay từ trường trung học là sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc sống sau này.

Trong buổi trao đổi ấy, tôi được biết bản thân Bill từ lâu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực chứ không phải là tài năng. Khi trực tiếp

Image 21

tham gia tuyển dụng lập trình viên tại Microsoft, ông dẫn chứng rằng ông đã giao cho các ứng viên một đề bài phải mất rất nhiều thời gian mới có thể hoàn thành. Đây không phải là trắc nghiệm IQ hay bài kiểm tra kỹ

năng lập trình. Thực tế, nó cho biết liệu một cá nhân có thể kiên trì để đi tới đích không. Bill chỉ tuyển dụng những lập trình viên đã hoàn thành đề bài được giao.

Với sự hỗ trợ hào phóng từ Quỹ Bill và Melinda Gates, tôi chọn ra được 1.200 học sinh lớp 12 và cũng giống cách Willingham đã làm, tôi đề nghị

các em hãy kể tên hoạt động ngoại khóa đã tham gia (nếu có), thời gian tham gia và đưa ra nhận xét về việc tham gia của bản thân. Khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đặt tên cho phương pháp thu thập thông tin này là: Phương pháp tinh lọc phẩm chất bền bỉ (Grit Grid).

Hướng dẫn: Hãy liệt kê các hoạt động bạn đã dành nhiều thời gian để

tham gia sau giờ lên lớp. Đó có thể là bất kỳ hoạt động gì như thể thao, hoạt động ngoại khóa, hoạt động tình nguyện, nghiên cứuhọc tập, làm thêm hay sở thích. Nếu bạn không có hoạt động thứ hai hoặc thứ ba, hãy để trống những dòng này:

Cũng giống cách làm của Willingham, chúng tôi chấm điểm Phương pháp tinh lọc phẩm chất bền bỉ dựa trên 2 tiêu chí: Mức độ cam kết và tiến bộ trong nhiều năm liên tục ở 2 hoạt động.

Cụ thể, mỗi hoạt động học sinh đã tham gia trong vòng hai năm hoặc lâu hơn sẽ được chấm 1 điểm; các hoạt động học sinh tham gia trong 1 năm được 0 điểm và không được tính nữa. Các hoạt động học sinh tham gia trong nhiềunăm và có thể chứng minh sự tiến bộ nhất định (ví dụ: Là thành viên của nhóm quản trị sinh viên trong 1 năm rồi trở thành thủ

quỹ vào năm tiếp theo) sẽ được thêm 1 điểm. Cuối cùng, với mức độ tiến bộ “cao” chứ không phải “trung bình” (là chủ tịch hội học sinh, thành viên xuất sắc nhất đội bóng rổ, danh hiệu nhân viên của tháng), chúng tôi sẽ tặng họ thêm 1 điểm.

Nói tóm lại, học sinh có thể đạt từ 0 (nếu họ không tham gia vào hoạt động nào trong nhiều năm) đến 6 điểm (nếu họ tham gia hoạt động trong nhiều năm và chứng minh đã đạt thành tích cao) dựa trên Phương pháp tinh lọc phẩm chất bền bỉ.

Đúng như mong đợi, chúng tôi phát hiện thấy các học sinh đạt điểm Phương pháp tinh lọc phẩm chất bền bỉ cao hơn tự đánh giá mình là người bền bỉ hơn và thầycô giáo cũng nhận xét tương tự về các em.

Sau đó, chúng tôi chờ đợi.

Sau khi tốt nghiệp cấp 3, học sinh trong nhóm mẫu tiếp tục theo học nhiều trường đại học trên khắp nước Mỹ. Sau 2 năm, chỉ 34% trong số

1.200 học sinh tham gia nghiên cứu còn tiếp tục học ở các trường 2 hoặc 4 năm. Đúng như chúng tôi dự đoán, điểm Phương pháp lọc ra phẩm chất bền bỉ dự đoán chính xác tỷ lệ học sinh có khả năng hoàn thành chương trình đại học, trong đó có 69% sinh viên đạt 6/6 điểm vẫn đang học đại học. Ngược lại, chỉ 16% sinh viên đạt 0/6 điểm còn học để lấy bằng đại học.

Trong một nghiên cứu khác, chúng tôi cũng áp dụng hệ thống chấm điểm Phương pháp tinh lọc phẩm chất bền bỉ đối với các hoạt động ngoại khóa của giáo viên mới ra trường. Kết quả cũng tương tự. Những giáo viên ngay từ thời đại học đã chứng minh mức độ cam kết cao ở các hoạt động ngoại khóa thường trụ lại với nghề giảng dạy lâu hơn và giúp học sinh đạt nhiều thành tích học tập hơn. Ngược lại, mức kiên định và hiệu quả trong dạy học không có mối liên quan cụ thể nào với điểm SAT, điểm GPA hay điểm người phỏng vấn đánh giá về tiềm năng lãnh đạo của họ.

***

Xem xét lại, tôi thấy bằng chứng mà tôi đưa ra đến lúc này có thể được hiểu theo hai cách. Tôi cho rằng hoạt động ngoại khóa là cách để thanh niên rèn luyện, từ đó hình thành lòng đam mê và sự kiên trì đối với mục tiêu lâu dài. Nhưng cũng có thể việc hoàn thành các hoạt động ngoại khóa là điều chỉ người bền bỉ mới làm được. Những cách lý giải này không mang tính loại suy: Hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp cả hai yếu tố – nuôi dưỡng và lựa chọn – đều có ảnh hưởng.

Phỏng đoán tốt nhất của tôi là thực hiện đến cùng đối với những cam kết

trong quá trình trưởng thành vừa đòi hỏivừa xây dựng phẩm chất bền bỉ.

Lý do khiến tôi nghĩ như vậy là bởi có những hoàn cảnh khiến mọi người phát triển nét tính cách này. Thuyết phát triển nhân cách khẳng định nguyên lý phản xạ của Brent Roberts khi cho rằng nét tính cách này tạo ra những thay đổi sâu sắc về cách con người suy nghĩ, cảm nhận và hành động trong những tình huống khác nhau.

Trong thời gian Brent Roberts học Thạc sĩ Tâm lý học tại Berkeley, có quan niệm phổ biến cho rằng nhân cách được hình thành ổn định sau thời thơ ấu. Brent và các nhà nghiên cứu về nhân cách đã thu thập dữ

liệu theo thời gian – bằng cách theo dõi hàng nghìn người trong nhiều năm và nhiều thập kỷ – để chứng minh trên thực tế, nhân cách có thay đổi sau tuổi ấu thơ chứ không phải là không.

Brent và các nhà nghiên cứu về nhân cách phát hiện thấy quá trình quan trọng trong sự phát triển nhân cách có liên quan đến các tình huống và nét tính cách, ở đó chúng có tác động qua lại với nhau. Theo nguyên tắc phản ứng, những tính cách dẫn chúng ta đến với một số tình huống nhất định trong cuộc đời chính là những tính cách sẽ được hoàn cảnh thúc đẩy, củng cố và phát triển. Quá trình này có thể dẫn đến những kết quả

tốt và xấu.

Ví dụ, trong một nghiên cứu, Brent và cộng sự đã theo dõi 1.000 người ở

New Zealand khi họ bước vào tuổi trưởng thành và tìm được việc làm.

Qua nhiều năm, những thanh niên có thái độ chống đối chỉ tìm được

những việc làm thu nhập thấp, gặp nhiều khó khăn về tài chính. Những tình huống này đã làm tăng mức độ chống đối, dẫn đến triển vọng nghề

nghiệp của họ bị giảm sút. Ngược lại, những người thiện chí hơn lại bước vào một chu kỳ phát triển tâm lý tốt hơn. Những “đứa trẻ ngoan” tìm được việc làm tốt hơn, có khả năng tài chính cao hơn và trở nên hòa đồng hơn.

Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về tính bền bỉ được thực hiện trên nguyên tắc phản ứng.

Dù vậy, hãy để tôi phân tích. Sau khi thất bại trong việc tự mở hộp nho, thì bé gái nói với bản thân rằng “Việc này khó quá! Mình đầu hàng!” có thể bước vào một chu kỳ xấu có khả năng củng cố hành vi đầu hàng. Bé có thể học cách từ bỏ hết việc này đến việc khác, mỗi lần lại đánh mất một cơ hội bước vào một chu kỳ tốt để rèn luyện, tiến bộ, rồi trở nên tự

tin để làm những việc khó hơn.

Thế còn bé gái được mẹ đưa đi học ba-lê thì sao, việc đó cũng khó lắm chứ? Dù bé chưa thực sự thích mặc bộ váy ba-lê ngay lúc đó vì thấy mệt, dù trong buổi tập tuần trước, cô giáo dạy ba-lê đã chê trách vì bé không để tay đúng tư thế, khiến bé tổn thương. Song điều gì sẽ xảy ra nếu bé được khuyến khích thử đi thử lại nhiều lần, rồi trong một buổi tập, bé đột nhiên hài lòng vì sự tiến bộ của bản thân? Chiến thắng đó có thể

khuyến khích bé chinh phục những khó khăn khác không? Bé có thể học cách đương đầu với thử thách không?

***

Một năm sau khi Warren Willingham công bố Dự án Phẩm chất Cá nhân, Bill Fitzsimmons trở thành Trưởng khoa Tuyển sinh tại Harvard.

Hai năm sau, khi tôi đăng ký vào Harvard, chính Bill đã đọc hồ sơ của tôi.

Tôi biết điều này vì khi học đại học thỉnh thoảng chính tôi cũng tham gia vào một dự án dịch vụ cộng đồng với Bill: “Ồ, hoa khôi của trường!”, ông thốt lên khi chúng tôi làm quen. Rồi ngay lập tức, ông nhắc lại chính xác nhiều hoạt động tôi đã tham gia khi còn học phổ thông.

Gần đây, tôi gặp Bill để hỏi ông đánh giá như thế nào về việc tham gia các hoạt động ngoại khóa. Không ngạc nhiên khi ông biết rất nhiều về

nghiên cứu của Willingham.

“Tôi có một số thông tin ở đâu đó,” ông nói và đưa mắt nhìn lên giá sách.

“Nó ở ngay đây thôi.”

Như vậy là ông đồng ý với những kết luận của Willingham? Phòng Tuyển sinh của Harvard có thực sự quan tâm đến điều gì khác ngoài điểm SAT

và điểm tốt nghiệp phổ thông không?

Tôi muốn biết vì theo quan điểm của Willingham, ở thời điểm ông công bố những phát hiện của mình thì các phòng tuyển sinh đại học không chú trọng đến việc tham gia hoạt động ngoại khóa nhiều như ông đã đề

xuất trong nghiên cứu.

Bill Fitzsimmons giải thích mỗi năm có hàng trăm học sinh trúng tuyển vào Harvard nhờ thành tích học tập xuất sắc. Thành tích xuất sắc trong

học tập cho thấy họ có thể trở thành tinh hoa tri thức của thế giới.

Nhưng Harvard cũng tuyển chừng ấy sinh viên mà theo lời Bill “là những người đã cam kết sẽ theo đuổi điều họ yêu thích, tin tưởng và coi trọng –

và họ đã theo đuổi điều ấy bằng nhiệt huyết, nguyên tắc và sự lao động cần mẫn.”

Không ai ở Phòng Tuyển sinh muốn hoặc cần những sinh viên này theo đuổi các hoạt động như vậy khi vào trường. Bill nói: “Thể thao là một ví dụ. Hãy xem một sinh viên bị chấn thương, quyết định không chơi nữa hoặc không tham gia thi đấu. Điều chúng tôi muốn tìm hiểu là tất cả

năng lượng, sự cam kết mà sinh viên ấy có – và cả sự bền bỉ – đặc điểm đã hình thành và phát triển thông qua hoạt động thể thao có thể sẽ được chuyển đổi thành một cái gì đó khác.”

Bill cho tôi biết trên thực tế, Harvard rất quan tâm đến khả năng làm đến cùng của sinh viên. Sau khi mô tả nghiên cứu gần đây hơn của chúng tôi nhằm khẳng định những phát hiện của Willingham, ông còn cho biết họ

sử dụng một thang đo gần giống của chúng tôi: “Chúng tôi đề nghị cán bộ tuyển sinh làm đúng những việc mà các cô đang làm với Phương pháp tinh lọc phẩm chất bền bỉ.”

Điều này góp phần giải thích tại sao hơn một năm sau khi đọc hồ sơ

tuyển sinh của tôi, ông vẫn nhớ rành rành những hoạt động tôi đã làm sau giờ lên lớp. Chính các hoạt động và thông tin ghi trong hồ sơ giúp ông phát hiện ra cách thức tôi đã chuẩn bị để đối diện với những thách thức thậm chí cả cơ hội tại trường đại học.

Bill kết luận: “Theo cảm nhận của tôi, từ khi tham gia công tác tuyển sinh trong hơn 40 năm nay, hầu hết mọi người khi sinh ra đã có rất nhiều tiềm năng. Câu hỏi là liệu họ có được khuyến khích để làm việc thực sự chăm chỉ và rèn luyện đức tính bền bỉ không, nếu có, chắc chắn họ sẽ là người bền bỉ nhất. Cuối cùng, họ có phải là những người thành công nhất không?”

Tôi phát hiện ra tham gia hoạt động ngoại khóa có thể là dấu hiệu cho biết đó là người bền bỉ chứ không đơn thuần là một điều kiện để phát triển nét tính cách này. Bill đồng ý và khẳng định rằng các hoạt động không đơn thuần là báo cáo. Trực giác của ông mách bảo việc theo đuổi đến cùng những việc khó sẽ mang lại nhiều bài học hữu ích và tạo hiệu quả lâu dài cho thế hệ trẻ. “Bạn học hỏi từ người khác và tìm thấy nhiều điều hơn thông qua trải nghiệm những ưu tiên của mình, đó là lúc bạn phát triển tính cách.”

Bill tiếp tục: “Trong một số trường hợp, sinh viên tham gia các hoạt động do được người khác gợi ý, người ấy có thể là bốmẹ hay nhân viên tham vấn. Nhưng điều thường xảy ra là những trải nghiệm này có thể thay đổi, sinh viên học được điều gì đó thực sự quan trọng và đóng góp vào hoạt động theo cách mà họ, bốmẹ hay nhân viên tham vấn không thể hình dung nổi.”

***

Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất về buổi nói chuyện với Bill là sự lo lắng của ông về những đứa trẻ bị từ chối cơ hội rèn luyện tính bền bỉ trong các

hoạt động ngoại khóa.

Bill nói: “Ngày càng nhiều trường trung học phổ thông loại bỏ các môn nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động khác ra khỏi chương trình. Tôi không thể hình dung nổi sao học sinh chỉ được tham gia ít hoạt động đến vậy.”

Nghiên cứu của nhà khoa học chính trị tại Harvard Robert Putnam, và cộng sự cho biết ở trường phổ thông trung học, trong nhiều thập kỷ qua, học sinh xuất thân từ các gia đình giàu có được tham gia rất nhiều hoạt động ngoại khóa. Ngược lại, hoạt động ngoại khóa của học sinh nghèo ở

lứa tuổi này lại giảm mạnh.

Khoảng cách lớn này đã gây ra một số ảnh hưởng nhất định. Putnam giải thích các hoạt động thể thao mất phí như đội bóng đá lưu động có mục tiêu là tạo ra sự bình đẳng. Ngay cả khi “miễn phí”, không phải phụ

huynh nào cũng có đủ tiền để mua đồng phục cho con, sẵn sàng đưa đón con luyện tập hay thi đấu. Với âm nhạc, chi phí các giờ học cá nhân và dụng cụ cũng có thể là rào cản.

Đúng như Putnam dự đoán, quả thực có sự liên quan đáng lo ngại giữa thu nhập của gia đình với điểm Grit Grid. Nói chung, điểm Grit Grid ở

học sinh lớp 12 trong nhóm mẫu của chúng tôi là những học sinh được hưởng hỗ trợ tiền ăn của chính phủ thấp hơn 1 điểm so với điểm của học sinh có điều kiện.

Cũng như Robert Putnam, Geoffrey Canada là nhà khoa học xã hội từng

học tại Harvard.

Geoffrey cũng là người bền bỉ. Ông đam mê với việc khuyến khích trẻ

sống trong các gia đình nghèo nhận ra được tiềm năng của bản thân.

Trong nhiều thập kỷ qua, ông là giám đốc điều hành một chương trình giáo dục bổ túc tại New York có tên Harlem Children’s Zone. Những học sinh đầu tiên giờ đã vào đại học và phương pháp tiếp cận toàn diện một cách khác thường của chương trình cùng với kết quả thành công bất ngờ

đã thu hút sự chú ý của cả nước Mỹ.

Vài năm trước, Geoffrey đến Penn phát biểu tại lễ tốt nghiệp. Tôi đã tìm mọi cách để có cuộc gặp riêng bất chấp lịch trình dày đặc của ông.

Tôi bắt đầu: “Tôi biết ông được đào tạo về khoa học xã hội. Tôi cũng biết có những điều dù có vô số bằng chứng nhưng vẫn không được triển khai trong hệ thống giáo dục và ngược lại. Nhưng tôi muốn biết qua tất cả

những gì đã thấy và đã làm, ông đánh giá như thế nào về việc giúp trẻ

thoát khỏi cảnh nghèo đói?”

Geoffrey nghiêng người về phía trước và đặt hai tay trước ngực như thể

sắp cầu nguyện: “Tôi sẽ nói thẳng với cô. Tôi có 4 đứa con. Tôi đã chứng kiến nhiều đứa trẻ lớn lên. Có thể, tôi không thực hiện nghiên cứu ngẫu nhiên, kín đáo để chứng minh nhưng tôi có thể nói với cô rằng trẻ em nghèo cần gì. Chúng cần tất cả những thứ cô và tôi cho con của chúng ta.

Chúng cần một tuổi thơ êm đẹp.”

Khoảng một năm sau, Geoffrey thực hiện buổi nói chuyện trên TED Talk,

tôi cực kỳ may mắn cũng nằm trong số khán giả tham dự. Phần lớn những điều Chương trình Harlem Children’s Zone làm như Geoffrey giải thích dựa trên bằng chứng khoa học chắc chắn như giáo dục mầm non, các hoạt động ngoại khóa vào mùa hè. Chương trình của ông đã làm một điều không có bằng chứng khoa học đầy đủ là chứng minh giá trị của các hoạt động ngoại khóa.

Ông hỏi: “Các bạn có biết tại sao không? Vì tôi thực sự yêu trẻ.”

Khán giả đã cười và ông lại nhắc lại: “Tôi thực sự yêu trẻ.”

Ông nói thêm: “Chưa có nghiên cứu nào của MIT cho thấy việc dạy trẻ

học múa sẽ giúp chúng học toán tốt hơn. Nhưng nếu bạn dạy chúng học múa, bạn sẽ ngạc nhiên khi chứng kiến chúng muốn sau này trở thành người dạy múa và điều đó sẽ làm bạn hạnh phúc.”

***

Geoffrey Canada nói đúng. Tất cả những nghiên cứu tôi đề cập đến ở

chương này đều không phải là nghiên cứu thực nghiệm. Tôi không biết liệu sẽ có một ngày nào đó khi các nhà khoa học chứng minh được mối quan hệ biện chứng – ở cả khía cạnh đạo đức – của việc cho trẻ học ba-lê trong nhiều năm, rồi sau đó chờ đợi xem liệu việc ấy sẽ có lợi như thế nào với việc học toán hay không.

Nhưng trong thực tế, các nhà khoa học đã tiến hành những thí nghiệm ngắn hạn kiểm tra liệu làm việc khó có dạy cho một người biết làm những

việc khó khác không.

Nhà tâm lý học Robert Eisenberger tại Đại học Houston là người đi đầu trong nghiên cứu vấn đề này. Ông đã tiến hành nhiều nghiên cứu, trong đó ông chọn ngẫu nhiên những con chuột để làm những việc khó – ví dụ: Ấn một đòn bẩy 20 lần để lấy được một mẩu thức ăn – hay một việc dễ

dàng như ấn đòn bẩy 2 lần để lấy được phần thưởng này. Sau đó, Robert cho tất cả các con chuột trong thí nghiệm làm một việc khó. Sau nhiều lần thí nghiệm, ông đều thu được những kết quả giống nhau: So với những con chuột trong “hoàn cảnh thuận lợi”, những con chuột phải vượt khó để tiếp cận phần thưởng đã chứng minh sức mạnh và sự bền bỉ

khi thực hiện nhiệm vụ lần thứ hai.

Thí nghiệm tôi thích nhất là trong phòng thí nghiệm, chuột được cho ăn bằng một trong hai cách. Một số nhà nghiên cứu dùng một cái khay lưới bằng thép đựng sẵn thức ăn, những con chuột phải gặm mẩu thức ăn thông qua những kẽ hở trên cái phễu. Các nhà nghiên cứu khác chỉ rải thức ăn trên sàn. Robert phát hiện thấy việc tiếp cận được với mẩu thức ăn có thể dạy cho những con chuột biết chúng phải làm việc vất vả hơn khi gặp một công việc khó. Trên thực tế, đó chính xác là điều ông phát hiện ra. Ông bắt đầu thí nghiệm của mình bằng cách luyện cho những con chuột mới lớn chạy trên một tấm ván hẹp để kiếm phần thưởng. Sau đó, ông chia chúng thành hai nhóm. Một nhóm sống trong các lồng có khay đựng thức ăn, nhóm còn lại sống trong những cái lồng khác có thức ăn được rải sẵn ra trên sàn. Sau một tháng rèn luyện cách kiếm thức ăn đựng trong khay, những con chuột đã thể hiện tốt hơn đối với nhiệm vụ

chạy trên tấm ván so với những con chuột chỉ kiếm thức ăn trên sàn khi đói.

Vì vợ ông là giáo viên nên Robert có cơ hội để thực hiện nhanh những thí nghiệm này với học sinh. Ví dụ, trong một nghiên cứu, ông thưởng tiền xu cho các học sinh lớp 2 và lớp 3 trong các nhiệm vụ đếm đồ vật, ghi nhớ

hình ảnh và ghép hình. Đối với một số học sinh, Robert nhanh chóng tăng mức độ khó của các nhiệm vụ này khi thấy trẻ tiến bộ. Những học sinh khác được làm đi làm lại các nhiệm vụ dễ.

Tất cả học sinh tham gia đều được khen thưởng.

Sau đó, học sinh ở cả hai nhóm được yêu cầu làm một công việc khá tẻ

nhạt, khác hoàn toàn so với những nhiệm vụ trước: Chép lại danh mục các từ vào một mẩu giấy. Ông phát hiện ra kết quả giống hệt với thí nghiệm với những con chuột, đó là: Những trẻ đã được rèn luyện các nhiệm vụ khó (hơn là dễ) chép từ chăm chỉ hơn.

Robert kết luận rằng nhờ luyện tập, trẻ có thể học được đức tính chăm chỉ.

Nhằm thể hiện sự tôn trọng công trình nghiên cứu trước đây của Seligman và Maier về tâm lý bất lực do huấn luyện, theo đó chính tình trạng không thể trốn chạy trước sự trừng phạt đã khiến con vật từ bỏ

nhiệm vụ khó thứ hai, Robert đã đặt tên cho hiện tượng này là tâm lý chăm chỉ do huấn luyện. Kết luận chính ông đưa ra đơn giản là: Sự liên quan giữa làm việc chăm chỉ và phần thưởng là điều có thể học được.

Robert sẽ còn nghiên cứu tiếp và nói nếu không trải nghiệm trực tiếp sự

liên hệ giữa nỗ lực phần thưởng và động vật, cho dù là con người hay con chuột cũng đều mặc nhiên trở nên lười biếng. Cuối cùng, nỗ lực đốt cháy ca-lo đã khiến chúng ta có phản ứng lảng tránh khó khăn bất cứ khi nào có thể.

***

Khi lần đầu tiên biết đến công trình nghiên cứu của Robert về tâm lý chăm chỉ do huấn luyện, con gái đầu của tôi, Amanda, chỉ mới biết đi còn con gái thứ hai, Lucy, mới chào đời. Với cả hai con, tôi nhanh chóng phát hiện ra mình không thích hợp trong vai trò Robert tạo ra ở các thí nghiệm của ông. Tôi khó lòng tạo ra được sự ngẫu nhiên cần thiết, hay môi trường để thực hiện quy định Nếu chăm chỉ, bạn sẽ được thưởng.

Nếu không chăm chỉ, bạn sẽ chẳng nhận được gì.

Ngoài ra, tôi cũng rất cố gắng để đưa ra kiểu phản hồi mà tôi biết là bọn trẻ cần. Tôi nhiệt tình khen ngợi chúng bất kể chúng làm gì. Và đây là một trong những lý do khiến cho hoạt động ngoại khóa trở thành sân chơi để rèn luyện tính bền bỉ – huấn luyện viên và giáo viên có nhiệm vụ

nuôi dưỡng tính bền bỉ ở trẻ mà không phải là con cái họ.

Cô giáo dạy ba-lê cho con tôi hàng tuần là người rất tuyệt vời. Niềm đam mê của cô đối với môn ba-lê thực sự có thể truyền cảm hứng. Cô luôn động viên, thẳng thắn và đưa ra yêu cầu khắt khe. Khi một học sinh đến lớp muộn, cô sẽ giảng cho đứa trẻ về tầm quan trọng của việc tôn trọng thời gian của người khác. Nếu một học sinh quên mang quần áo tập hay

giày múa, nó sẽ được yêu cầu ngồi theo dõi các bạn tập luyện cả buổi và không được phép tham gia. Nếu một động tác không được thực hiện đúng, các con sẽ tập lại nhiều lần và được chỉnh cho đến khi đạt yêu cầu của cô. Đôi khi, những bài học này cũng được giảng dạy kèm với lịch sử

ba-lê và trách nhiệm mà mỗi diễn viên phải thực hiện để duy trì truyền thống của ngành.

Và chính ở lớp ba-lê chứ không phải ở nhà, Lucy và Amanda đã có nhiều cơ hội để phát triển sở thích, chăm chỉ luyện tập những động tác mới, hiểu được kết quả từ việc rèn luyện chăm chỉ của mình vì những mục đích không phải cho riêng mình và khi những ngày buồn trở thành ngày vui thì các con đã biết hy vọng để cố gắng.

***

Trong gia đình, chúng tôi áp dụng Quy định làm việc khó. Quy định này có ba yêu cầu. Yêu cầu thứ nhất là mọi người phải làm những việc khó.

Việc khó đòi hỏi phải rèn luyện theo mục tiêu hàng ngày. Tôi đã nói với các con rằng nghiên cứu tâm lý là việc khó của tôi nhưng tôi còn tập cả

yoga nữa. Cha cố gắng trở thành nhà bất động sản giỏi hơn và cha cũng tập chạy. Con gái lớn của tôi, Amanda, đã lựa chọn piano là việc khó của mình. Con cũng học ba-lê trong nhiều năm nhưng sau đó bỏ. Lucy cũng vậy.

Điều này dẫn tôi đến yêu cầu thứ hai của Quy định làm việc khó: Có thể

bỏ. Nhưng các con không thể bỏ học giữa kỳ khi tiền học phí đã đóng hay khi chưa xuất hiện một điều kiện “tự nhiên”. Các con phải hoàn thành

bất kỳ việc gì các con làm ít nhất trong thời gian các con cam kết. Nói cách khác, các con không thể bỏ cuộc vì bị cô giáo mắng, các con cảm thấy tự ái hoặc lỡ buổi ngủ qua đêm ở nhà bạn vì có buổi biểu diễn vào sáng hôm sau. Các con không thể bỏ chỉ vì có một ngày buồn.

Và cuối cùng, cho các con chọn việc các con thấy khó. Không ai chọn việc ấy cho các con nếu đó là việc các con không thực sự thích thú. Ngay cả

quyết định thử học ba-lê cũng chỉ được đưa ra sau buổi thảo luận về

nhiều môn học khác mà các con lẽ ra đã có thể lựa chọn.

Trên thực tế, Lucy đã liệt kê ra cả nửa tá việc khó. Con bé bắt đầu từng việc một cách hăng hái nhưng dần phát hiện ra mình không muốn tiếp tục học ba-lê, tập gym, tập chạy, làm đồ thủ công hay chơi piano. Cuối cùng, con bé chọn đàn viola. Con bé tập trong 3 năm và ngày càng thấy thích thú. Năm ngoái, con gái tôi tham gia dàn nhạc giao hưởng của trường và thành phố. Khi tôi hỏi liệu con bé có muốn chuyển sang một việc khó khác không, nó đã từ chối.

Năm sau, Amanda sẽ vào cấp 3 và sang năm nữa là Lucy. Đến lúc đó, Quy định làm việc khó sẽ thay đổi. Yêu cầu thứ tư sẽ được bổ sung: Mỗi con phải cam kết gắn bó với ít nhất một hoạt động hay một điều gì đó mới trong ít nhất 2 năm.

Tôi không cho là mình quá nghiêm khắc. Các con tôi trở nên bền bỉ hơn khi trưởng thành, và cũng giống như kỹ năng, chúng biết sự bền bỉ đòi hỏi phải rèn luyện mới thành. Chúng biết mình may mắn vì đã có cơ hội để rèn luyện.

Đối với những phụ huynh muốn khuyến khích con mình thành người bền bỉ mà không làm mất khả năng lựa chọn con đường riêng của con trẻ, tôi khuyến khích bạn hãy thử Quy định làm việc khó.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.