Vững Tâm Bền Chí Ắt Thành Công

Lượt đọc: 294 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Nỗ Lực Quan Trọng Gấp Đôi

❊ ❊ ❊

Image 3

Chương 3

NỖ LỰC QUAN TRỌNG GẤP ĐÔI

Không ngày nào tôi không đọc hay không nghe nói đến hai từ tài năng.

Trong mọi chuyên mục của tờ báo – từ thể thao đến kinh doanh – từ hồ

sơ của diễn viên, nhạc công trong chương trình giải trí cuối tuần, cho tới những câu chuyện trang nhất về các ngôi sao chính trị đang lên – rất nhiều nội dung đề cập đến tài năng. Có lẽ khi ai đó đạt được thành tích đáng để viết bài, báo chí liền tung hô người ấy có “tài năng” xuất chúng.

Nếu quá coi trọng tài năng, chúng ta sẽ xem nhẹ mọi yếu tố khác. Nói theo cách cực đoan, nó giống như chúng ta đang bỏ qua các yếu tố khác và coi mô hình dưới đây là đúng:

Ví dụ, gần đây, tôi nghe một phát thanh viên bình luận so sánh Hillary và Bill Clinton. Ông cho rằng cả hai là những diễn giả cực kỳ xuất sắc.

Tuy nhiên, trong khi Bill Clinton là nhà chính trị bẩm sinh thì Hillary lại phải cố gắng rất nhiều trong vai trò này. Hillary thực sự là người nỗ lực.

Có một điều không nói ra, song lại là điều hiển nhiên, bà không bao giờ

giỏi bằng chồng mình.

Chính tôi cũng có kiểu nỗ lực như vậy. Khi ai đó thực sự gây ấn tượng với tôi, theo phản xạ, tôi sẽ tự nhủ: “Đúng là thiên tài! Mình cần phải hiểu biết hơn nữa!”

***

Vài năm trước, tôi đã đọc một nghiên cứu về những vận động viên bơi lội với tiêu đề: The Mundanity of Excellence(tạm dịch: Điều tầm thường của sự xuất sắc). Tiêu đề đã tóm tắt kết luận của nghiên cứu: Trong thực tế, thành tích xuất sắc nhất của con người là sự tổng hòa của nhiều yếu tố

cá nhân, tuy nhiên, mỗi yếu tố đó lại rất đỗi bình thường.

Dan Chambliss, nhà xã hội học đã thực hiện nghiên cứu này, cho biết:

“Thành quả vượt trội thực chất là tổng hòa của nhiều kỹ năng hay các hoạt động nhỏ, mỗi người đã học hoặc va vấp với nó, rồi luyện tập chăm chỉ để trở thành thói quen và tích hợp nó trong một tổng thể nhất định.

Không có gì bất thường hay siêu đẳng trong những hành động này, chỉ

là các kỹ năng và những hành động ấy được thực hiện nhất quán và chính xác, điều đó đã tạo nên sự xuất sắc.”

Nhưng sự bình thường lại là vỏ bọc vững vàng. Khi hoàn thiện phân tích của mình, Dan đã thảo luận vài chương với đồng nghiệp. Người đồng nghiệp nói: “Anh nên tô điểm cho những nhân vật này thêm phần thú vị…”

Khi tôi gọi Dan để hỏi về quan điểm của ông, tôi biết ông đang cực kỳ

quan tâm tới tài năng – và ý nghĩa thực sự của nó – vì bản thân ông cũng

từng là vận động viên bơi lội và nhiều năm sau đó, ông còn làm huấn luyên viên bán chuyên. Là một Phó Giáo sư trẻ tuổi, Dan quyết định thực hiện một nghiên cứu định tính, chuyên sâu về các vận động viên bơi lội.

Tổng cộng, Dan đã dành 6 năm để phỏng vấn, theo dõi, đôi khi sống và đi cùng các vận động viên, huấn luyện viên các cấp độ – từ câu lạc bộ bơi lội địa phương đến nhóm bơi lội ưu tú gồm những vận động viên Olympic tương lai.

Ông cho rằng: “Tài năng có lẽ là lời giải thích thỏa đáng nhất đối với thành công trong thể thao.” Tài năng là “cái gì đó” vô hình “thực chất phía sau lớp vỏ thực tế của thành quả, là thứ giúp phân biệt người xuất sắc nhất trong số các vận động viên thể thao”. Những vận động viên tuyệt vời này dường như được ban tặng tài năng đặc biệt, “nó” như ở

trong con người họ, song những người còn lại như chúng ta lại không có

– về thể chất, di truyền, tâm lý hoặc sinh học. Một số có “nó”, một số lại không. Một số là “vận động viên bẩm sinh”, một số thì không.

Tôi nghĩ Dan nói đúng. Đa số chúng ta không thể giải thích tại sao một vận động viên thể thao, một nghệ sĩ hay một ai đó lại có thể làm được những điều vô cùng đáng kinh ngạc, chúng ta có khuynh hướng kết luận:

“Họ có tài! Chẳng ai có thể dạy bạn làm được như vậy!” Nói cách khác, khi không được chứng kiến quá trình rèn luyện và va vấp để trở nên xuất sắc của một người nào đó, chúng ta thường mặc định người ấy thành công nhờ “bẩm sinh”.

Dan cho rằng tiểu sử những vận động viên bơi lội xuất sắc đã tiết lộ rất

nhiều yếu tố góp phần tạo nên thành công của họ. Ví dụ, đa số các vận động viên bơi lội thành công nhất luôn có cha mẹ là những người yêu thích thể thao, kiếm đủ tiền để mời thầy về dạy cho con cái, thường xuyên tham dự các buổi gặp gỡ trao đổi liên quan đến bơi lội và làm điều không kém phần quan trọng: Luôn có mặt ở bể bơi. Họ đã dành hàng nghìn giờ tập luyện trong nhiều năm – tất cả chỉ để “gạn đục khơi trong”

nhiều yếu tố cá nhân, từ đó tạo nên màn trình diễn hoàn mỹ.

Nếu cho rằng tài năng là lời giải thích thỏa đáng cho những màn trình diễn chói sáng thì không đúng, song điều này cũng dễ hiểu. Dan nói: “Họ

giải thích như vậy cũng là điều dễ hiểu, đặc biệt là với những người chỉ

biết tới sự xuất hiện bốn năm một lần của các vận động viên đỉnh cao khi xem Olympic qua tivi, hoặc chỉ xem họ trình diễn chứ chưa hề chứng kiến họ luyện tập hàng ngày.”

Ông nêu ra một điểm nữa, tài năng tối thiểu để thành công trong môn bơi lội thấp hơn mức mà phần lớn chúng ta nghĩ.

Tôi hỏi: “Có phải ý ông là tất cả chúng ta đều có thể trở thành Michael Phelps12?”

12 Michael Fred Phelps là vận động viên bơi lội chuyên nghiệp người Mỹ

và là một trong những vận động viên vĩ đại nhất Olympic, với 28 huy chương Olympic các loại. (BTV)

Dan trả lời: “Không, tất nhiên là không. Bạn cũng phải có một số lợi thế

về thể chất mà không phải cứ luyện tập là có được.”

“Điều đó có nghĩa là, dù có cùng huấn luyện viên và chăm chỉ luyện tập hơn đồng đội thì một số vận động viên bơi lội vẫn không thể đạt được thành tích nổi bật?”

“Đúng, nhưng sự xuất sắc thì có thể đạt được. Sự xuất sắc ấy được tạo nên bởi nhiều yếu tố cá nhân, mỗi yếu tố trong đó lại có thể làm được.”

Quan điểm của Dan là nếu bạn xem một bộ phim sử dụng kỹ thuật tua nhanh thời gian tính theo giờ, ngày, tuần và năm để tạo nên thành công, bạn có thể thấy những điều ông muốn nói: Trên thực tế, một màn trình diễn đỉnh cao chính là sự phát triển của những hành động thông thường.

Nhưng việc lĩnh hội được những yếu tố cá nhân thông thường có lý giải được mọi điều không? Tôi tự hỏi. Tất cả chỉ có vậy thôi sao?

Ông nói: “Tất cả chúng ta đều thích sự bí hiểm và kỳ diệu. Tôi cũng vậy.”

Sau đó, Dan nói với tôi về ngày ông đến xem Rowdy Gaines và Mark Spitz tập bơi. Ông giải thích: “Spitz giành 7 huy chương vàng trong kỳ Olympic 1972 và là tên tuổi lớn trước cả Michael Phelps. Năm 1984, 12 năm sau khi giải nghệ, Spitz tái xuất. Anh ấy đã 35 tuổi. Anh xuống nước cùng Rowdy Gaines, người lúc đó đang giữ kỷ lục thế giới ở đường bơi 100m tự do. Họ bơi thi khoảng 100m – tương đương với hai lần chiều dài bể, họ

đã dốc hết sức như thể đang tham dự một cuộc thi quy mô nhỏ. Ở mỗi chặng, Gaines đều chiếm ưu thế nhưng giữa chừng, cả nhóm đứng trên bể đều tập trung vào Spitz.”

Mọi người trong nhóm đều đã từng luyện tập với Gaines, họ biết anh ấy

giỏi như thế nào. Họ biết anh ấy muốn giành huy chương vàng Olympic.

Nhưng vì khoảng cách tuổi tác, nên chưa có ai từng bơi với Spitz.

Một vận động viên quay sang Dan, vừa nói vừa chỉ tay vào Spitz: “Trời ơi, anh ấy như cá vậy kìa.”

Tôi có thể nhận thấy sự thắc mắc trong giọng nói của Dan. Dường như

ngay cả một học sinh bình thường cũng dễ dàng bị ru ngủ trong những lời giải thích về tài năng. Tôi hối thúc ông. Liệu sự thể hiện tuyệt vời ấy có phải là cái gì đó nhiệm màu không?

Dan khuyên tôi tìm đọc về Nietzsche.

Nietzsche ư? Nhà triết học ấy ư? Vậy một nhà triết học người Đức từ thế

kỷ XIX đã giải thích trường hợp của Mark Spitz như thế nào? Thì ra, ngay cả Nietzsche cũng từng băn khoăn về câu hỏi này rất nhiều.

***

Nietzsche viết: “Khi mọi thứ hoàn hảo, chúng ta không bao giờ hỏi tại sao. Lúc đó, chúng ta chỉ hân hoan với hiện tại như thể có phép lạ nhấc bổng chúng ta lên khỏi mặt đất.”

Khi đọc thông điệp này, tôi nghĩ tới những vận động viên bơi lội trẻ tuổi đang đứng xem Spitz – thần tượng của họ – trình diễn kỹ thuật mà đa phần con người không thể làm được.

Nietzsche viết: “Không ai có thể nhìn thấy người nghệ sĩ dốc sức luyện

tập để hiểu tại sao họ có thể trở nên như vậy. Đó là ưu thế của nghề và ở

đâu cũng vậy, người ta đều thấy việc thành danh là điều tuyệt vời.” Nói cách khác, chúng ta muốn tin Mark Spitz được sinh ra để bơi theo cách chẳng ai trong chúng ta làm được. Chúng ta không muốn ngồi trên thành bể và xem anh ấy luyện tập để thay đổi từ vận động viên bán chuyên thành vận động viên chuyên nghiệp. Chúng ta muốn sự hoàn hảo. Chúng ta thích những điều kỳ diệu hơn sự thật tầm thường.

Nhưng tại sao? Lý do gì khiến chúng ta suy nghĩ thiển cận rằng Mark Spitz không cần rèn luyện mà vẫn trở nên xuất sắc?

Nietzsche nói: “Chính sự phù phiếm, yêu bản thân của chúng ta đã khuyến khích thái độ sùng bái tài năng. Nếu nghĩ tài năng là cái gì đó kỳ

diệu, chúng ta không bắt buộc phải so sánh bản thân và tìm hiểu bản thân thiếu gì…” Nói ai đó “thần kỳ” nghĩa là: “Ở đây không có gì phải so sánh.”

Nói cách khác, việc quá đề cao tài năng bẩm sinh cho phép chúng ta buông cần câu. Nó cho phép chúng ta thư giãn với hiện tại. Điều này thực sự đã xảy ra trong những ngày đầu tôi mới đi dạy khi tôi đã sai lầm đánh đồng tài năng với thành công, làm như vậy, tôi đã bỏ qua nỗ lực của cả

học sinh và chính bản thân tôi.

Vậy đỉnh cao thực sự là gì? Nietzsche cũng kết luận giống Dan Chambliss. Người đạt được đỉnh cao là người “tư duy tích cực theo một hướng, sử dụng mọi thứ làm phương tiện, luôn quan sát kỹ càng đời sống nội tâm của bản thân và của những người khác, nhìn thấy mô hình và

động cơ ở mọi nơi, người không bao giờ ngừng kết hợp những gì sẵn có.”

Thế tài năng thì sao? Nietzsche khuyến khích chúng ta xem xét một số ví dụ về những người thợ thủ công: “Đừng nói về tài năng hay năng khiếu bẩm sinh. Người ta có thể kể tên những cá nhân xuất sắc thuộc đủ lĩnh vực, song đó không phải là tài năng. Họ đã đạt đến trình độ xuất sắc, trở

thành “thiên tài” (theo cách gọi của chúng ta). Tất cả bọn họ đều có sự

nghiêm túc của người làm việc hiệu quả. Họ biết thiết lập những thành tố riêng lẻ một cách phù hợp trước khi biến nó thành tổng thể tuyệt vời.

Họ muốn bắt đầu từ những việc nhỏ bởi họ tìm thấy niềm vui khi làm tốt chúng. Họ cũng không bận tâm nhiều về một tổng thể sáng chói.

***

Trong năm thứ hai của chương trình cao học, hằng tuần, tôi tới gặp giáo viên hướng dẫn, Marty Seligman. Tôi thường hồi hộp trước mỗi buổi gặp. Marty có ảnh hưởng đến người khác, đặc biệt là với sinh viên của ông.

Ở tuổi 60, Marty đã giành được hầu hết giải thưởng trong ngành Tâm lý học. Những nghiên cứu đầu tiên của ông đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về

chứng trầm cảm lâm sàng. Gần đây, với tư cách là Chủ tịch Hội Tâm lý học Mỹ, ông đã thực hiện nghi thức đặt tên cho ngành Tâm lý tích cực (Positive Psychology), ngành tâm lý ứng dụng phương pháp khoa học vào việc giải đáp các câu hỏi về sự thành công của con người.

Marty có lồng ngực hình thùng13 và giọng nam trung. Ông có thể nghiên

cứu về hạnh phúc, nhưng vui vẻ lại không phải từ để tôi mô tả ông.

13 Lồng ngực hình thùng là thuật ngữ y học dùng để chỉ tình trạng lồng ngực của một người căng phồng như đang hít sâu. (BTV) Khi tôi đang trình bày giữa chừng bất kỳ điều gì – có thể là báo cáo về

việc tôi đã thực hiện vào tuần trước, các bước tiếp theo trong nghiên cứu của tôi – Marty đều ngắt lời: “Cô vẫn chưa có ý tưởng rõ ràng trong suốt hai năm qua.”

Tôi nhìn chằm chằm vào ông, há hốc mồm, cố gắng hiểu điều ông vừa nói. Rồi tôi chớp mắt. Hai năm? Tôi mà học ở đây đến hai năm rồi sao?

Im lặng.

Ông khoanh tay, chau mày và nói: “Cô có thể làm mọi phép thống kê thú vị. Bằng cách nào đó, mọi phụ huynh ở trường gửi lại thư chấp thuận cho cô. Cô cũng thực hiện vài quan sát quan trọng, nhưng cô chưa có lý thuyết thực thụ. Cô không có lý thuyết tâm lý thành công.”

Im lặng.

“Lý thuyết gì ạ?” Cuối cùng, tôi cũng thốt lên mà không hề có ý niệm gì về điều ông nói.

Im lặng.

“Đừng đọc nhiều như vậy, hãy suy nghĩ!”

Tôi rời phòng làm việc của ông, trở về chỗ làm và bật khóc. Về đến nhà, bên cạnh chồng, tôi thậm chí còn khóc nhiều hơn. Tôi thầm nguyền rủa Marty, thậm chí tôi còn nói thành lời rằng ông ta là kẻ ngu ngốc. Tại sao ông ta lại bảo những gì tôi đang làm là sai?

Cô chưa có lý thuyết…

Suốt mấy ngày, những từ ngữ ấy cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi. Cuối cùng, tôi lau nước mắt, thôi tự trách mình và ngồi xuống trước máy tính. Tôi mở phần soạn thảo văn bản, nhìn chằm chằm vào kẻ ngốc đang chớp mắt kia, rồi tôi chợt nhận ra tôi chưa vượt ra khỏi những quan sát cơ bản để chứng minh tài năng chưa đủ để tạo ra thành công trong cuộc đời. Tôi vẫn chưa trả lời được chính xác câu hỏi: Tài năng và nỗ lực, kỹ năng và thành công đã hợp nhất với nhau như thế nào?

Lý thuyết chính là lời giải thích. Một lý thuyết đòi hỏi rất nhiều dữ liệu và quan sát, nó giải thích điều gì đang diễn ra bằng những thuật ngữ cơ

bản nhất. Nếu cần, lý thuyết có thể chưa hoàn chỉnh. Nó quá đơn giản.

Nhưng làm được như vậy, nó sẽ giúp chúng ta hiểu được vấn đề.

Nếu tài năng không đủ để giải thích cho thành công, vậy còn thiếu gì nữa?

Sau cuộc trao đổi với Marty, tôi bắt đầu nghiên cứu cơ sở lý thuyết tâm lý của thành công. Tôi thu thập được vài trang biểu đồ, viết đầy vài cuốn sổ. Sau hơn một thập kỷ suy nghĩ về nó, có lúc nghĩ một mình, đôi khi lại trao đổi với đồng nghiệp, cuối cùng tôi đã công bố một bài báo, trong đó

Image 4

tôi giới thiệu hai phương trình giải thích cách chuyển tài năng thành thành công.

Tài năng cho biết bạn cần mất bao lâu để cải thiện kỹ năng khi đầu tư nỗ

lực. Thành công là điều xảy đến khi bạn nắm được kỹ năng và sử dụng nó. Tất nhiên, các cơ hội của bạn – ví dụ, việc bạn có huấn luyện viên hoặc giáo viên giỏi cũng ảnh hưởng đáng kể, thậm chí còn ảnh hưởng nhiều hơn bất kỳ yếu tố nào. Lý thuyết của tôi không giải quyết những vấn đề bên ngoài như vậy, nó cũng không phân tích yếu tố may mắn. Nó chỉ tập trung vào cơ sở tâm lý của thành công, nhưng vì tâm lý không phải là yếu tố duy nhất gây ảnh hưởng nên nó vẫn chưa hoàn chỉnh.

Tuy nhiên, tôi nghĩ lý thuyết này vẫn có ích. Lý thuyết này cho rằng khi bạn xem xét các cá nhân trong những hoàn cảnh giống nhau, mức độ

thành công của mỗi người sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là tài năng và nỗ lực. Tài năng – mức độ chúng ta cải thiện kỹ năng nhanh đến đâu – có ý nghĩa rất lớn. Nhưng nỗ lực lại có ý nghĩa cao gấp đôi, chứ không phải là như nhau. Nỗ lực tạo nên kỹ năng. Đồng thời, nỗ lực làm cho kỹ năng hiệu quả. Hãy để tôi đưa ra cho bạn vài ví dụ.

***

Có một người thợ gốm nổi tiếng tên là Warren MacKenzie, sống ở

Minnesota. Ông 92 tuổi, đã gắn bó với nghề thủ công này gần cả đời và chưa lúc nào rời xa nó. Ban đầu, ông và người vợ quá cố, cũng là nghệ sĩ

đã thử sức trong rất nhiều lĩnh vực: “Cô biết không, khi cô còn trẻ, cô nghĩ cô có thể làm mọi thứ và chúng tôi đã nghĩ mình sẽ làm gốm, mình sẽ vẽ, mình sẽ thiết kế thời trang, mình sẽ thiết kế đồ trang sức, mình sẽ

làm cái này một tí, cái kia một ít. Rồi mình sẽ trở thành những người phục hưng.”

Chẳng bao lâu sau, họ nhận ra tập trung vào thứ gì mà mình ngày càng giỏi hơn có thể đem lại cảm giác hài lòng hơn là “tham lam” làm nhiều thứ, chẳng chuyên tâm vào việc gì: “Dần dần, chúng tôi bỏ vẽ tranh, bỏ

khung cửi, bỏ thiết kế quần áo và chỉ tập trung vào làm gốm vì đó là việc mà chúng tôi thực sự thích.”

MacKenzie nói: “Một thợ gốm giỏi có thể làm 40-50 cái bình mỗi ngày.”

Trong số này, “một số chiếc thì đẹp, vài cái vừa vừa và số còn lại xấu thậm tệ.” Chỉ có vài chiếc là đáng để bán và cũng chỉ có vài chiếc “được giữ lại để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày.”

Tất nhiên, vấn đề không phải là vì số lượng những chiếc bình đạt tiêu chuẩn MacKenzie làm ra đã đưa thế giới nghệ thuật đến cánh cửa nhà ông, mà vẻ đẹp và kiểu dáng mới làm nên điều đó. Ông nói: “Tôi luôn cố

gắng làm ra những sản phẩm hấp dẫn và phù hợp nhất với mọi gia đình.”

Tuy nhiên, nói đơn giản, bạn có thể cho rằng toàn bộ số lượng những chiếc bình đẹp, dùng được mà MacKenzie làm ra sẽ khiến ông trở thành

nghệ sĩ. Thực ra, việc trở thành một trong những thợ gốm tài năng nhất không làm ông hài lòng bằng việc tạo ra được một hoặc hai chiếc bình đẹp nhất trong cuộc đời.

Mỗi ngày, MacKenzie vẫn ném đất sét vào bàn xoay, nhờ cố gắng, kỹ

năng của ông dần cải thiện. Ông nói: “Tôi nhớ tới một số chiếc bình chúng tôi đã làm khi mới bắt đầu, chúng xấu kinh khủng. Hồi ấy, chúng tôi nghĩ như thế là đẹp lắm rồi; chúng đúng là những cái đẹp nhất chúng tôi làm ra được lúc ấy, nhưng suy nghĩ đó cũng thiển cận như chất lượng của những cái bình vậy, do đó, chúng đã không đạt được sự tinh xảo mà tôi mong muốn, cho đến tận hôm nay.”

Ông tâm sự: “Việc làm ra 10.000 cái bình đầu tiên thực sự khó khăn, rồi công việc cũng trở nên dễ dàng hơn.”

Khi công việc dễ dàng hơn và MacKenzie tiến bộ, mỗi ngày, ông dần làm được nhiều chiếc bình đạt tiêu chuẩn hơn.

Tài năng x Nỗ lực = Kỹ năng

Đồng thời, số lượng bình đạt tiêu chuẩn mà ông đóng góp cho thế giới cũng tăng lên:

Kỹ năng x Nỗ lực = Thành công

Bằng sự cố gắng, MacKenzie ngày càng “làm ra những sản phẩm hấp dẫn và phù hợp nhất cho mọi nhà”. Đồng thời, cũng nhờ nỗ lực mà càng đầu tư, ông càng thành công hơn.

***

“Garp có tài kể chuyện bẩm sinh.”

Đây là một câu trong cuốn tiểu thuyết thứ tư của John Irving, The World According to Garp (tạm dịch: Thế giới trong mắt Garp). Cũng giống như

nhân vật hư cấu của cuốn tiểu thuyết, Irving đã kể câu chuyện vô cùng thú vị. Ông được ca ngợi là “người kể chuyện tuyệt vời trong văn học Mỹ

hiện nay”. Cho đến nay, ông đã viết hơn 12 cuốn tiểu thuyết, phần lớn đều là những sách bán chạy nhất, một nửa số tiểu thuyết đó được chuyển thể thành phim. The World According to Garp đã giành Giải thưởng sách của năm và kịch bản phim của Irving với tựa đề The Cider House Rules (tạm dịch: Trở lại chốn xưa) đã giành được Giải thưởng của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Mỹ.

Nhưng không giống Garp, Irving không phải là tài năng bẩm sinh. Trong khi Garp “có thể đẩy cho mọi thứ lên cao trào, đúng hết cái này đến cái khác, mà mọi thứ vẫn ăn khớp” thì Irving phải viết đi viết lại bản thảo vô số lần. Khi mới bắt đầu viết, Irving nói: “Tôi viết lại gần như mọi thứ…

Tôi bắt đầu nghiêm túc xem xét đến việc mình không có tài năng!”

Irving nhắc lại việc đã từng nhận điểm C môn tiếng Anh hồi học phổ

thông. Điểm SAT vấn đáp của ông đạt 475/800, tức là khoảng 2/3 học sinh dự thi SAT làm tốt hơn ông. Ông phải ở lại trường thêm một năm để

học đủ số tín chỉ tốt nghiệp. Irving nhớ rằng các thầy cô giáo của ông thường nghĩ ông vừa “lười” vừa “dốt”.

Irving không lười cũng không dốt. Nhưng ông mắc chứng khó đọc: “Tôi là người bị thiệt thòi… Nếu các bạn cùng lớp đọc bài tập lịch sử trong một giờ, tôi phải cần tới 2-3 giờ. Nếu không đánh vần được, tôi sẽ làm danh sách các từ không thể đánh vần trôi chảy.” Khi con trai ông cũng được chẩn đoán mắc hội chứng khó đọc, Irving đã hiểu ra tại sao bản thân mình là học sinh kém. Con trai của ông đọc chậm hơn rất nhiều so với các bạn cùng lớp, “vừa đọc vừa lấy ngón tay dò theo. Trừ khi viết, còn khi đọc bất cứ thứ gì tôi đều đọc rất chậm và tay phải chỉ vào từng chữ.”

Vì gặp khó khăn với việc đọc và viết, Irving nhận ra “để làm tốt một việc gì đó, bạn phải gồng mình lên… Trong trường hợp của mình, tôi biết tôi phải chú ý gấp đôi. Tôi dần dần chấp nhận việc làm thứ gì đó nhiều lần, thứ gì đó chưa bao giờ là tự nhiên trở thành sự tự nhiên thứ hai. Bạn biết bạn có khả năng làm việc đó, song khả năng đó không đến sau một đêm.”

“Liệu những tài năng sớm bộc lộ có học được bài học này không? Liệu họ

có phát hiện ra khả năng làm việc gì đó nhiều lần, vật lộn với nó, trở nên kiên trì có thể được hình thành nhưng không phải chỉ sau một đêm?”

Một số có thể. Nhưng những người đã vật lộn từ sớm có thể biết rõ hơn điều này. Irving cho biết: “Lý do khiến tôi tin tưởng vào việc viết những cuốn tiểu thuyết này là vì tôi tin tưởng vào sức chịu đựng của mình khi phải làm đi làm lại việc gì đó cho dù nó khó khăn đến đâu.” Sau cuốn tiểu thuyết thứ 10, Irving nhận thấy: “Viết lại là việc tôi làm tốt nhất với tư

cách là một nhà văn. Tôi dành thời gian sửa chữa một cuốn tiểu thuyết hoặc một kịch bản phim nhiều hơn là thời gian viết bản thảo lần thứ

nhất.”

Irving nhìn nhận việc khiếm khuyết về khả năng đọc và đánh vần lưu loát như những người khác của mình như sau: “Đó là lợi thế. Khi viết tiểu thuyết, việc viết chậm chẳng làm ai bị tổn hại. Việc một nhà văn phải viết lại tác phẩm nào đó nhiều lần cũng chẳng gây tổn hại đến ai.”

Nhờ cố gắng mỗi ngày, Irving trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất và có nhiều tác phẩm nhất trong lịch sử. Nhờ sự cố gắng, ông trở thành bậc thầy và cũng nhờ sự cố gắng cùng sự thành thạo, ông đã tạo ra những câu chuyện làm rung động trái tim hàng triệu người, trong đó có cả tôi.

***

Nhạc sĩ giành giải Grammy kiêm nam diễn viên từng được đề cử giải Oscar, Will Smith, đã suy nghĩ rất nhiều về tài năng, sự cố gắng, kỹ năng và thành công. Anh từng nói: “Tôi chưa bao giờ tự coi mình là người có tài năng đặc biệt. Điểm khiến tôi nổi trội chỉ là sự vô lý, đáng thất vọng và lao động cật lực mà thôi.”

Thành công trong mắt Will rất giống với việc đi một quãng đường dài.

Khi được đề nghị giải thích về ảnh hưởng của mình trong giới giải trí, Will đã nói:

Điều khác biệt duy nhất ở tôi là: Tôi không sợ chết trên máy chạy bộ.

Không ai chăm chỉ bằng tôi. Bạn có thể tài năng hơn tôi, bạn có thể thông

minh hơn tôi, bạn có thể hấp dẫn hơn tôi. Bạn có thể giỏi mọi việc. Bạn có thể giỏi hơn tôi cả 9 tiêu chí. Nhưng nếu chúng ta cùng tập trên máy chạy bộ, có hai điều sẽ xảy ra: Bạn sẽ dừng lại hoặc tôi sẽ chết. Điều ấy thật đơn giản phải không?

Năm 1940, các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard đã đưa ra một ý tưởng tương tự. Trong nghiên cứu nhằm tìm hiểu “đặc điểm của các nam thanh niên khỏe mạnh” để từ đó “giúp mọi người sống hạnh phúc hơn, thành công hơn”, 130 sinh viên năm thứ hai được đề nghị chạy trên máy trong 5 phút. Máy chạy bộ có bề mặt dốc cao, quay nhanh đến mức người trung bình chỉ có thể chạy được 4 phút. Một số chỉ chịu được 1,5 phút.

Theo thiết kế, cuộc thi chạy bộ trên máy phải khiến người tham gia kiệt sức, không chỉ về thể chất mà cả tinh thần. Bằng cách đo lường rồi điều chỉnh theo khả năng tập thể dục cơ bản, các nhà nghiên cứu đã thiết kế

cuộc thi này nhằm đo lường “sức chịu đựng và độ bền bỉ”. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu của Harvard biết việc chạy hết sức không chỉ là chứng thực về năng lực và sức mạnh của cơ bắp mà còn là mức độ “một chủ thể

sẵn sàng ép bản thân hoặc có khuynh hướng rút lui trước khi lệnh phạt quá nặng được đưa ra”.

Nhiều thập kỷ sau, chuyên gia tâm thần học George Vaillant tiếp tục theo dõi những nam thanh niên trong Cuộc thi chạy bộ trên máy trước đây. Ở

độ tuổi 60, những người đàn ông này được các nhà nghiên cứu liên hệ

hai năm một lần kể từ khi tốt nghiệp, mỗi người lại có một hồ sơ được lưu giữ tại Harvard với đầy đủ thông tin về bảng hỏi, câu trả lời, phiếu

phỏng vấn chuyên sâu. Ví dụ, các nhà nghiên cứu ghi rõ thông tin về thu nhập, thành công trong nghề nghiệp, số ngày đau ốm, hoạt động xã hội và việc sử dụng các loại thuốc hướng thần như thuốc an thần. Tất cả

những thông tin này được coi là thông tin ước lượng năng lực thích nghi tâm lý nói chung của những thanh niên này ở tuổi trưởng thành.

Người ta đã phát hiện ra thời gian chạy trong thử nghiệm cuộc thi chạy bộ ở độ tuổi 20 là chỉ số đáng tin cậy đến kinh ngạc về năng lực thích ứng tâm lý trong quá trình trưởng thành. George và nhóm nghiên cứu coi thời gian chạy trên máy là số đo về thể trạng của những thanh niên này khi còn trẻ và phát hiện này cho biết sức khỏe thể chất có thể dự đoán sức khỏe tâm lý của họ sau này. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy việc điều chỉnh mức độ tập luyện thể thao “có ảnh hưởng không đáng kể đến mối tương quan giữa thời gian chạy và sức khỏe tâm thần”.

Nói cách khác, Will Smith đã đúng. Khi đề cập đến quãng đường marathon trong cuộc đời mỗi người thì nỗ lực đóng vai trò hết sức quan trọng.

Gần đây, tôi hỏi George: “Nếu là ông, ông sẽ chạy bao lâu trên chiếc máy đó?” Tôi muốn biết vì trong mắt tôi, George là cá nhân đột phá về tính bền bỉ. Khi mới bắt đầu sự nghiệp, không lâu sau thời gian học nội trú về

tâm thần học, George phát hiện ra các số liệu về cuộc thi chạy bộ trên máy cùng những thông tin khác về các nam sinh viên được thu thập đến thời điểm ấy. Giống que gỗ truyền tay trong môn chạy tiếp sức, nghiên

cứu này được bàn giao từ nhóm nghiên cứu này sang nhóm nghiên cứu khác với sự quan tâm, nỗ lực ngày càng ít đi. Cho đến ngày nó tới tay ông.

George đã hồi sinh chương trình nghiên cứu này. Ông liên hệ lại với những sinh viên ngày ấy qua thư, điện thoại và phỏng vấn cá nhân, đi đến mọi ngõ ngách của thế giới để thực hiện việc này. Giờ đây, ở tuổi 80, George sống lâu hơn phần lớn các nam sinh trong nghiên cứu đó. Ông hiện đang viết cuốn sách thứ tư về công trình khoa học liên tục dài nhất nghiên cứu sự phát triển của con người mà chúng ta đã từng tiến hành cho đến nay.

Trả lời câu hỏi của tôi về mức độ kiên trì trên máy chạy bộ, George đáp:

“Ồ, tôi không kiên trì theo kiểu đó. Khi tôi chơi giải ô chữ trên máy bay, tôi sẽ xem đáp án ngay nếu hơi căng thẳng.”

Như vậy, ông không có sự bền bỉ trong trò chơi giải ô chữ.

“Khi trong nhà có cái gì đó hỏng, tôi đưa cho vợ, bà ấy sẽ sửa nó.”

Tôi hỏi: “Vì vậy, ông cho rằng mình không phải là người bền bỉ?”

“Lý do khiến công việc nghiên cứu tại Harvard trôi chảy là do tôi liên tục và kiên trì làm việc. Đó là thứ duy nhất tôi để mắt đến. Vì tôi hoàn toàn bị nó mê hoặc. Không có gì thú vị hơn là nhìn người khác trưởng thành.”

Sau khi dừng lại một lúc, George bắt đầu kể lại về những ngày còn ở

trường dự bị, ông tham gia đội thể thao của trường và thi đấu môn nhảy sào. Để nâng cao thành tích, ông và những vận động viên khác đã luyện

tập, họ đu người lên cao hơn xà rồi thả xuống, cứ thế lặp đi lặp lại.

“Tôi tập bài đu xà này nhiều hơn bất kỳ ai. Lý do không phải vì tôi khỏe

– tôi không khỏe chút nào, là vì tôi tập nhiều thôi. Tôi rèn luyện đấy.”

Khi được hỏi về lời khuyên dành cho các nghệ sĩ trẻ, nhà văn của nhiều cuốn tiểu thuyết đồng thời là đạo diễn nổi tiếng, Woody Allen, đã nói: Tôi quan sát thấy khi một người viết xong một kịch bản hoặc một cuốn tiểu thuyết, người đó sẽ tích cực tìm cách để nó được sản xuất hoặc xuất bản, anh ta khác hoàn toàn với nhiều người đã bảo với tôi rằng họ đam mê viết, nhưng chỉ vạch ra kế hoạch mà không bao giờ viết được một vở

kịch hay cuốn sách nào.

Hoặc theo công thức chua chát hơn của Allen: “Khoảng 80% thành công trong cuộc sống là sự khoe khoang.”

Hồi những năm 1980, cả George H. W. Bush và Mario Cuomo thường xuyên nhắc lại ý kiến này trong nhiều bài phát biểu đến mức nó đã trở

thành điệp văn. Vì vậy, mặc dù hai nhà lãnh đạo của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ này bất đồng với nhau về nhiều điều, song họ lại hoàn toàn thống nhất về tầm quan trọng của việc tiếp nối những công việc mà người đi trước đã khởi xướng.

Tôi đã nói với George Vaillant, nếu cũng là thành viên nhóm nghiên cứu Harvard vào năm 1940, tôi sẽ đưa ra đề xuất. Tôi sẽ cho phép những sinh viên nam ấy trở lại vào ngày hôm sau nếu họ muốn làm lại bài thi. Tôi

ngờ rằng một số sinh viên có thể muốn quay lại xem liệu họ có thể chạy lâu hơn nữa không, còn những người khác sẽ bằng lòng với sự cố gắng của mình trong lần thi đầu tiên. Có lẽ một số sẽ hỏi các nhà nghiên cứu xem liệu họ có cách gì cải thiện thể chất và tinh thần để chạy lâu hơn không. Và có lẽ những sinh viên này sẽ quan tâm đến việc được thi lại lần thứ ba, thứ tư… Nếu vậy, tôi sẽ thiết kế phương pháp chấm điểm độ bền bỉ của các sinh viên tình nguyện dựa trên số lần họ quay trở lại nhằm kiểm tra xem họ có tiến bộ không.

Thời gian trụ trên máy chạy bộ chỉ là vấn đề phụ, tôi nghĩ vấn đề chính là khả năng duy trì cam kết ngay cả khi chúng ta không thoải mái. Theo quan điểm của tôi, việc quay trở lại vào ngày hôm sau, sẵn sàng chạy lại trên máy chạy bộ sẽ phản ánh rõ ràng hơn sự bền bỉ của mỗi cá nhân.

Bạn không quay lại vào ngày hôm sau – khi bạn hoàn toàn quay lưng với cam kết của mình – nỗ lực của bạn sẽ giảm xuống. Do đó, kỹ năng của bạn không được cải thiện, và cho dù bạn có nhiều kỹ năng tới đâu, bạn cũng sẽ ngừng tạo ra sản phẩm.

Trên thực tế, máy chạy bộ là cách ví von phù hợp. Theo số lượng ước tính, khoảng 40% người mua thiết bị tập luyện thể thao cho biết họ sử dụng ít hơn so với kỳ vọng. Tất nhiên, thật khó để ép buộc bản thân phải cố

gắng nếu chúng ta gặp phải khó khăn nào đó, song tôi nghĩ trở ngại lớn hơn khiến chúng ta không tiến bộ là do đôi khi chúng ta chẳng làm gì cả.

Như bất kỳ huấn luyện viên hoặc vận động viên thể thao nào cũng đều nhất quán nói với bạn rằng nỗ lực trong thời gian dài mới quan trọng.

Bao lâu chúng ta lại tập thể dục và rồi sẽ từ bỏ hẳn việc ấy? Có bao nhiêu chiếc máy chạy bộ, xe đạp tập thể dục, bộ tạ tay đang phủ đầy bụi trong các tầng hầm trên khắp cả nước? Có bao nhiêu trẻ em chơi thể thao rồi từ bỏ trước khi hết mùa? Có bao nhiêu người trong số chúng ta muốn đan áo len cho bạn bè nhưng chỉ đan được nửa cái tay áo đã bỏ que đan xuống? Tình trạng đó cũng tương tự như việc trồng rau, ủ phân và ăn kiêng. Có bao nhiêu người trong số chúng ta bắt đầu làm việc gì đó một cách hào hứng, với những dự định tốt đẹp rồi sau đó từ bỏ mãi mãi ngay khi gặp trở ngại đầu tiên?

Nhiều người từ bỏ công việc đang làm khi còn quá sớm và quá thường xuyên? Thậm chí còn sớm hơn và nhiều hơn những nỗ lực mà người bền bỉ bỏ ra trong một ngày, vấn đề ở đây là người bền bỉ sẽ tỉnh giấc vào ngày hôm sau, hôm sau nữa và sẵn sàng bước lên chiếc máy chạy bộ và tiếp tục thử sức.

***

Nếu tính toán của tôi phù hợp, một người thông minh gấp đôi nhưng chăm chỉ bằng nửa người khác sẽ đạt mức độ kỹ năng tương đương, song năng suất lại kém dần theo thời gian. Điều này là do người cố gắng có sự

cải thiện về kỹ năng, rồi họ sử dụng kỹ năng đó để làm bình gốm, viết sách, đạo diễn phim, tổ chức hòa nhạc. Nếu chất lượng và số lượng của những chiếc bình gốm, cuốn sách, bộ phim và buổi hòa nhạc đạt đến một mức nào đó thì người cố gắng sẽ có kỹ năng tương đương với người có tài năng bẩm sinh nhờ chăm chỉ hơn và sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hơn trong

dài hạn.

Will Smith nói: “Sự phân biệt giữa tài năng và kỹ năng thường hay bị

hiểu sai đối với những người cố gắng, người có ước mơ và người thực sự

muốn hành động. Tài năng là thứ bạn tự nhiên có. Kỹ năng chỉ được phát triển qua từng giờ lao động.”

Tôi xin được nói thêm, kỹ năng không giống như thành công. Nếu thiếu sự cố gắng, tài năng của bạn sẽ không hơn gì tiềm năng không được khai thác. Nếu không cố gắng, kỹ năng không hơn gì việc bạn có khả năng nhưng lại không làm gì. Nhờ cố gắng, tài năng trở thành kỹ năng, đồng thời nỗ lực làm cho kỹ năng trở thành năng suất.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.