Vững Tâm Bền Chí Ắt Thành Công

Lượt đọc: 269 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Iii: Bền Bỉ – Những Yếu Tố Khách Quan

❊ ❊ ❊

Tôi có thể làm gì để giúp những người mà tôi quan tâm trở nên bền bỉ

hơn?

Ngày nào tôi cũng được nghe hỏi câu hỏi này.

Đôi khi người hỏi là một huấn luyện viên, một doanh nhân hay CEO.

Tuần trước là một giáo viên lớp 4, còn tuần trước nữa là Giáo sư Toán học của một trường cao đẳng cộng đồng. Người hỏi tôi có thể là tướng lĩnh quân đội hay đô đốc hải quân, song những người thường hỏi nhiều nhất là các bậc phụ huynh, vì họ lo rằng con cái chưa nhận ra tiềm năng của mình.

Tất nhiên, những người hỏi tôi đều đặt mình vào vị trí của bậc cha mẹ –

ngay cả khi họ không hoặc chưa phải cha mẹ. Từ parenting xuất phát từ

tiếng La-tinh có nghĩa là “sinh đẻ”. Bạn sẽ cư xử như người làm cha mẹ

nếu muốn nuôi dưỡng hứng thú, mục đích và hy vọng ở những người mà bạn quan tâm.

***

Khi lật ngược vấn đề và đề nghị mọi người cho biết suy nghĩ của họ về

cách “nuôi dưỡng phẩm chất bền bỉ”, tôi đã nhận được nhiều câu trả lời khác nhau.

Một số người tin người khác bền bỉ vì đã được rèn luyện trong nhiều hoàn cảnh khó khăn. Số khác lại mượn câu nói của Nietzsche để trả lời:

“Những gì không thể giết tôi lại khiến tôi mạnh mẽ hơn”26. Những câu trả lời như thế khiến chúng ta nghĩ tới hình ảnh các ông bố, bà mẹ đang quắc mắt lên, không ngừng buông ra những lời chỉ trích về ảnh hưởng tiêu cực của các loại trò chơi điện tử chứ không phải là tác dụng của nó, rồi ép con cái ngồi xuống ghế để tập đàn piano hoặc violin hoặc than phiền vì con chỉ đạt điểm A-.

26 Thỉnh thoảng nghe thấy điều đó, tôi sẽ ngắt lời họ bằng việc giới thiệu kết quả nghiên cứu của Steve Maier nhằm khẳng định việc tìm cách thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn.

Theo quan điểm này, giúp đỡ trẻ bằng tình yêu thương và đặt ra cho trẻ

nhiều tiêu chuẩn cao là hai thái độ ứng xử khác biệt. Vì vậy, với khuôn phép gia trưởng, cha mẹ thường đưa ra nhiều quy định, đòi hỏi sự tuân thủ để con trở thành người bền bỉ.

Nếu sống ở thời kỳ đó, tôi sẽ tìm kiếm những quan điểm ra đời cách đây cả thế kỷ của John Watson, người sau này trở thành Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý của Đại học Johns Hopkins.

Trong cuốn sách bán chạy nhất xuất bản năm 1928 về nuôi dạy con với

tựa đề Psychological Care of Infant and Child (tạm dịch: Chăm sóc tâm lý cho trẻ ngay từ khi mới chào đời), Watson nói rất nhiều về cách nuôi dưỡng con cái trở thành người “say mê học tập và vui chơi, nhanh chóng học cách vượt qua những khó khăn nhỏ trong môi trường… rồi vững vàng bước vào tuổi trưởng thành với những thói quen học tập và tình cảm ổn định, không gian nan nào có thể quật ngã chúng.”

Watson khuyên: “Đừng bao giờ ôm hôn con. Đừng bao giờ để con ngồi vào lòng. Nếu phải làm, hãy hôn lên trán chúc con ngủ ngon, bắt tay con mỗi sáng, vuốt nhẹ mái tóc khi con làm được bài tập khó.” Watson còn nói hãy cứ để trẻ tự xoay xở với các vấn đề “ngay từ lúc mới chào đời”, hãy luân phiên thay người chăm sóc để ngăn chặn mối quan hệ gắn bó không lành mạnh với bất kỳ người lớn nào và ngược lại, để tránh những tình cảm ủy mị có thể cản trở trẻ tiến tới “cai trị thế giới”.

Tất nhiên, đôi khi người ta đã làm điều ngược lại.

Những đứa trẻ sẽ được dạy đức tính kiên trì và đặc biệt là đam mê sẽ phát triển bùng nổ nếu chúng được yêu thương và giúp đỡ vô điều kiện.

Những người thành công nhờ kiểu nuôi dưỡng nhẹ nhàng hơn, chu đáo hơn cho rằng trẻ cần được ôm ấp và gắn bó lâu dài, theo họ, về bản chất trẻ em luôn tìm kiếm thử thách, muốn phát triển năng lực; và chỉ có tình yêu thương vô điều kiện của người lớn mới giúp mong ước ấy được thực hiện. Khi không phải thực hiện yêu cầu gia trưởng, trẻ sẽ làm mọi việc theo hứng thú cá nhân, sẽ rèn luyện và trở nên kiên cường để đối phó với trở ngại.

Giữa thái độ đáp ứng và thái độ đòi hỏi, cách tiếp cận “lấy trẻ làm trung tâm” thường được quan sát ở khuôn mẫu cha mẹ uy quyền.

***

Vậy chúng ta nên chọn khuôn mẫu cha mẹ nào? Tính bền bỉ được rèn luyện bởi các tiêu chuẩn cao hay được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương?

Với tư cách là nhà khoa học, tôi xin trả lời rằng chúng ta cần nghiên cứu thêm về vấn đề này. Có nhiều nghiên cứu về khuôn mẫu cha mẹ, cũng có nhiều nghiên cứu về tính bền bỉ nhưng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu cả hai đối tượng này.

Tuy nhiên, là mẹ của hai đứa con gái đang ở tuổi thiếu niên, tôi không có đủ thời gian để chờ đợi. Giống như những phụ huynh đã hỏi tôi câu này, tôi phải đưa ra quyết định ngay hôm nay. Các con tôi đang lớn dần, mỗi ngày, vợ chồng tôi đều dạy con biết điều hay lẽ phải. Ngoài ra, về mặt công việc, tôi thường xuyên tiếp xúc với những người trẻ tuổi – tôi cũng muốn khuyến khích họ bền bỉ hơn.

Vì vậy, tôi đã đưa ra minh chứng cho cả hai quan điểm trên. Một người ủng hộ khuôn mẫu cha mẹ nghiêm khắc khuyên tôi nên trò chuyện với Steve Young, một cá nhân đột phá, đội trưởng với thành tích phá kỷ lục về công việc cậu làm hàng ngày từ khi còn nhỏ, bao gồm cả việc giao báo đến nhà, dự lớp học Kinh thánh trước khi đến trường và tất nhiên không bao giờ chửi thề hay uống rượu bia. Trong khi đó, một người ủng hộ

khuôn mẫu cha mẹ tự do đã giới thiệu tôi đến gặp Francesca Martinez,

diễn viên hài nổi tiếng tới từ nước Anh, có cha là nhà văn và mẹ là nhà hoạt động môi trường, họ cho phép cô bỏ học khi mới 16 tuổi và không hề bất ngờ khi cô xuất bản tự truyện với tựa đề What the**** Is Normal?

(tạm dịch: Cái **** gì thì bình thường?).

Xin hãy bắt đầu với Steve Young, thủ quân huyền thoại của đội tuyển San Francisco 49ers từng hai lần được xướng tên là Cầu thủ xuất sắc nhất tại Giải Bóng bầu dục Quốc gia. Ông cũng được chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất Giải Bóng bầu dục Quốc gia lần thứ 29 với kỷ lục ghi 6 bàn thắng liên tiếp. Ở tuổi nghỉ hưu, ông trở thành thủ quân được đánh giá cao nhất trong lịch sử Giải Bóng bầu dục Quốc gia.

Steve nói: “Cha mẹ là những người đã đặt nền móng cho tôi. Đôi khi, tôi ước ai cũng được nuôi dưỡng tốt như mình.”

Dưới đây là câu chuyện chứng minh quan điểm của ông.

Dù trở thành ngôi sao ngay từ hồi còn học phổ thông và được hầu hết các trường đại học của Mỹ chào đón, song Steve đã chọn Đại học Brigham Young University (BYU) để gia nhập đội tuyển bóng bầu dục của trường.

Vì có tới 7 cầu thủ khác giỏi hơn Steve và vì lý do thời gian thi đấu, huấn luyện viên đã chuyển cậu xuống “nhóm hamburger” – gồm những cầu thủ khiêm tốn nhất – với nhiệm vụ chính là hỗ trợ tuyến phòng thủ của BYU trong các giờ tập luyện.

Steve nhớ lại: “Chúa ơi, tôi muốn về nhà. Tôi đã học cả kỳ đầu tiên với hai vai nặng trĩu vì túi lớn túi bé… Tôi nhớ đã gọi điện cho cha chỉ để nói:

‘Huấn luyện viên không biết tên con. Con chỉ là đứa ngốc che chắn để đội phòng ngự luyện tập. Cha, điều ấy quá tệ. Đó không phải là điều con muốn… con nghĩ là con nên về nhà.’”

Cha của Steve, người mà ông mô tả là “cực kỳ nghiêm khắc“ đã trả lời:

“Con có thể bỏ cuộc… nhưng con không được về nhà vì cha sẽ không bao giờ sống chung với kẻ bỏ cuộc. Con đã biết điều đó từ hồi bé rồi còn gì.

Con sẽ không được quay về đây nữa.” Vậy là Steve phải ở lại trường.

Suốt cả mùa, Steve luôn là người đầu tiên đến và người cuối cùng ra về

trong tất cả các buổi tập. Sau trận đấu cuối cùng của đội, cậu tự tăng thời gian luyện tập cho riêng mình: “Có tấm lưới rất to treo ở cuối phòng thay đồ. Tôi thường ở đó, tưởng tượng mình đang thi đấu và tập các động tác kỹ thuật như chụp bóng, ném rổ. Từ đầu tháng Một cho đến cuối tháng Hai, tôi đã tập ném hơn 10.000 lần. Tay tôi đau nhức nhưng tôi vẫn muốn trở thành thủ quân.”

Đến năm thứ hai, Steve chuyển từ vị trí số 8 lên số 2. Năm thứ ba, cậu trở

thành thủ quân mới của BYU. Đến năm cuối, Steve được trao giải thưởng Davey O’Brien dành cho thủ quân xuất sắc nhất nước Mỹ.

Còn nhiều lần khác trong sự nghiệp khiến lòng tin của Steve bị lung lay.

Mỗi lần như vậy, ông lại muốn từ bỏ, rồi lại cầu cứu cha – người luôn ngăn cản nỗ lực bỏ cuộc của ông.

Thử thách đầu tiên đến khi Steve chơi bóng chày ở trường trung học.

Steve nhớ lại: “Lúc ấy, tôi mới 13 tuổi. Cả năm trời không ghi được bàn

thắng nào khiến tôi ngày càng thấy xấu hổ… Hết trận này đến trận khác, tôi không thể ghi nổi một bàn thắng.” Khi mùa thi đấu giải kết thúc, Steve kể cho cha biết về tình trạng của mình. “Cha đã nhìn thẳng vào mắt tôi và nói: ‘Con không thể bỏ cuộc. Con có khả năng đấy, hãy quay trở lại và tìm cách giải quyết vấn đề đi.’” Vì vậy, Steve đã cùng cha trở lại sân bóng. “Tôi nhớ trời rất lạnh, u ám, mưa, tuyết rơi, cha cứ ném bóng còn tôi đập liên tục.” Đến năm cuối ở trường trung học phổ thông, khi trở thành đội trưởng của đội bóng chày, Steve đã ghi được trung bình 384 điểm.

“Có công mài sắt, có ngày nên kim” là một trong những bài học Steve nhận được trong suốt 4 năm tham gia San Francisco 49ers. Thay vì xin chuyển sang đội khác, Steve đã tìm đến Joe Montana, một thủ quân mới, người đã dẫn dắt đội bóng giành được 4 chiến thắng tại Giải Bóng bầu dục Quốc gia. “Muốn biết mình giỏi đến cỡ nào, tôi cần phải ở lại San Franscisco và học cho dù việc ấy có khó khăn đến đâu đi chăng nữa… Tôi đã nhiều lần muốn bỏ cuộc… Tôi nghe thấy tiếng la ó, phản đối trong những đêm không ngủ, nhưng tôi lại sợ phải gọi cho cha. Tôi biết ông sẽ

nói: ‘Hãy kiên trì đi tới cuối con đường, Steve.’”

***

Đến đây, khi tôi chưa kể hết về con đường còn mơ hồ phía trước của Steve Young, hẳn bạn có thể nghĩ cha mẹ của những người bền bỉ là người gia trưởng. Bạn cũng có thể kết luận họ chỉ tập trung vào những tiêu chuẩn của riêng mình và thờ ơ với nhu cầu đặc biệt của con cái.

Dù vậy, trước khi bạn đưa ra lời nhận định cuối cùng, hãy cùng gặp cha mẹ của Steve, bà Sherry và ông LeGrande Young. LeGrande thích biệt danh của mình vì nó đã mô tả chính xác cách sống của ông, “Grit” (Bền bỉ). Em trai của Steve, Mike, đã nói về cha mình: “Ông ấy là người chăm chỉ, bền bỉ và không bao giờ than thở. Biệt danh ấy thực sự phù hợp với ông.”

Là luật sư của công ty, Grit Young hiếm khi nghỉ việc. Khoảng 25 năm trước, khi Grit đang tập luyện tại Câu lạc bộ Thể hình YMCA gần nhà, một thành viên ở đó đã thách ông thi gập bụng liên tục. Sau một năm, mỗi người có thể gập khoảng 1.000 cái mỗi lần, nhưng đến điểm đó người thách đấu đã nhận thua cuộc. Khi ấy, Grit đã tự đua với chính mình. Ông tiếp tục luyện tập trong nhiều năm cho đến khi có thể gập 10.000 cái mỗi lần.

Khi tôi gọi điện để trò chuyện với cha mẹ Steve về người con trai nổi tiếng của họ và cách họ đã nuôi dạy ông, tôi đã nghĩ họ rất nghiêm nghị và khách sáo. Thật ngạc nhiên, lời đầu tiên bà Sherry nói với tôi là: “Chúng tôi rất vui mừng được trò chuyện với cô! Steve của chúng tôi là người con tuyệt vời.” Ông Grit còn đùa rằng cho dù tôi nghiên cứu gì đi chăng nữa thì ông cũng rất ngạc nghiên là sao tôi phải mất chừng ấy thời gian mới đến gặp họ.

Vai tôi run lên đôi chút, tôi ngồi xuống lắng nghe từng người kể về

chuyện họ đã học cách làm việc chăm chỉ như thế nào từ khi còn nhỏ. Bà Sherry giải thích: “Chúng tôi là thế hệ đầu tiên làm việc ở trang trại. Ai

cũng có rất nhiều kỳ vọng.” Sherry bắt đầu tham gia thu hoạch sơ-ri lúc 10 tuổi. Grit cũng như vậy và để kiếm tiền mua găng tay, quần áo chơi bóng chày, ông đi cắt cỏ thuê, phát báo bằng xe đạp đến tận nhà khách hàng với khoảng cách vài cây số, đồng ý làm bất kỳ công việc nào ở trang trại.

Khi có con, Sherry và Grit cũng thống nhất đưa ra những thử thách như

vậy. Grit nói: “Mục đích của tôi là dạy cho con tính kỷ luật và làm việc chăm chỉ như cách tôi đã học. Bạn phải học những điều này. Nó không tự nhiên mà có. Điều quan trọng tôi dạy các con là một khi đã làm điều gì thì phải làm đến cùng.”

Bằng những lời lẽ rõ ràng, ông bà Young đã khiến các con hiểu rằng họ

phải làm mọi việc đến cùng. “Chúng tôi dạy các con phải luyện tập. Các con không thể nói: ‘Ôi, con mệt rồi.’ Một khi đã cam kết, các con phải bắt mình thực hiện. Sẽ có lúc dù không muốn nhưng các con vẫn phải làm.”

Họ thực sự có vẻ nghiêm khắc đúng không? Nhưng nếu để ý kỹ, bạn sẽ

thấy ông bà Young cũng hết sức ủng hộ con cái.

Steve nhắc lại chuyện bị túm cổ áo khi tham gia chương trình Pop Warner lúc 9 tuổi. Khi ấy, cậu vội chạy đi tìm mẹ thì thấy mẹ vừa đeo chiếc túi xách bên người vừa bước vượt lên phía trước, bà ngăn cậu bé ở

đội đối phương và nói vừa đủ nghe rằng cậu không nên túm cổ Steve sai luật như vậy. Khi Steve và các em lớn hơn, ngôi nhà của họ trở thành điểm đến yêu thích của trẻ con hàng xóm. Bà Sherry nhớ lại: “Các buổi chơi bóng của chúng tôi luôn thu hút rất đông hàng xóm đến tham gia.”

Là luật sư của công ty, ông Grit đi công tác liên tục. “Hầu hết những người mà tôi biết sẽ ở lại dịp cuối tuần tại bất kỳ đâu chúng tôi tới vì không thể hoàn thành hết công việc trong ngày thứ Sáu và sẽ phải bắt đầu lại vào thứ Hai. Nhưng đó không phải là trường hợp của tôi. Tôi luôn luôn giải quyết hết mọi việc để có thể về nhà vào cuối tuần.” Thỉnh thoảng, việc trở về nhà vào ngày cuối tuần là những minh chứng về con người bền bỉ đúng như biệt danh của ông. “Có lần, tôi ở Montana để đàm phán với một nhà máy nhôm. Đến tối thứ Sáu, tôi bắt taxi ra sân bay.

Trời đầy sương mù. Tất cả các chuyến bay đều bị hoãn.”

Tôi đã thử xem xét liệu mình có thể làm gì trong tình huống tương tự, song tự thấy xấu hổ khi nghe phần còn lại của câu chuyện. Grit đã thuê một chiếc ô tô tự lái đến Spokane, đón chuyến bay tới Seattle rồi bắt chuyến bay thứ hai tới San Francisco và cuối cùng là chuyến bay thứ ba khi mắt đã đỏ hoe để về đến sân bay JFK vào buổi sáng hôm sau lúc trời vừa bình minh. Sau đó, ông thuê một chiếc xe khác lái về Greenwich, Connecticut. “Tôi chẳng tự khen mình đâu. Chỉ là vì tôi nghĩ về với con rất quan trọng, tôi cần hỗ trợ chúng dù đó là các hoạt động thể thao hay gì đi chăng nữa,” Grit kể lại.

Bà Sherry và ông Grit cũng thấu hiểu các nhu cầu tình cảm của con cái.

Ví dụ, Steve đặc biệt hay lo lắng. “Chúng tôi phát hiện ra có những việc Steve không bao giờ làm,” ông Grit nói.

“Hồi lớp 2, nó từ chối đến lớp. Lúc 12 tuổi, nó không chịu tham gia trại hè Boy Scout. Nó không bao giờ ngủ qua đêm ở nhà bạn. Thằng bé không

chấp nhận những việc này.”

Thật khó hình dung hình ảnh của Steve Young, thủ quân xuất sắc không bao giờ biết sợ, với hình ảnh cậu bé nhút nhát mà bà Sherry và ông Grit mô tả. Cũng như vậy, cả bà Sherry và ông Grit đều không hề biết nguyên nhân đã gây nên nỗi sợ hãi ở người con trai cả của mình. Một lần, ông Grit nói sẽ đến đón Steve ở trường để đưa cậu đến nhà chú chơi, thế

nhưng Steve cứ không ngừng lo lắng về việc này. Cậu sợ hãi khi phải xa nhà. Ông Grit rất ngạc nhiên. Tôi tò mò xem ông bà đã phản ứng như thế

nào. Họ có bảo con trai phải tỏ ra đàn ông, mạnh mẽ không? Họ có phạt con không?

Không hề. Ông Grit đã kể lại cuộc trò chuyện của mình với con trai khi Steve từ chối đi học, điều ấy cho thấy rõ ràng ông đã đặt câu hỏi và lắng nghe con nhiều hơn là giảng giải và phê bình: “Tôi hỏi: ‘Có ai trêu con à?’

Steve trả lời: ‘Không ạ.’ ‘Con không thích cô giáo à?’ ‘Con yêu cô giáo đấy chứ.’ ‘Vậy tại sao con không thích đi học?’ ‘Con không biết. Con chỉ

không muốn đến trường.’”

Cuối cùng, bà Sherry đã quyết định vào lớp để học cùng với Steve trong nhiều tuần cho đến khi cậu bé cảm thấy yên tâm đi học.

Bà Sherry nói với tôi: “Đó là nỗi lo sợ phải chia cắt. Lúc đó, chúng tôi không biết phải gọi tên điều đó là gì. Song chúng tôi có thể nhận ra Steve quá khép kín, thu mình và chúng tôi biết thằng bé cần vượt qua điều này.”

Sau đó, khi tôi đề nghị Steve kể chi tiết về học kỳ khó khăn của ông tại BYU, tôi nói nếu ai đó chỉ nghe giai thoại ấy mà không biết thêm gì nữa, họ có thể kết luận cha ông là một người áp đặt. Có cha mẹ nào lại từ chối khi con trai bảo muốn về nhà?

Steve nói: “Được thôi. Mọi thứ đều do hoàn cảnh có phải không?”

Tôi lắng nghe.

“Cha hiểu tôi. Ông biết tôi muốn chạy nhanh về nhà, ông cũng biết nếu ông để tôi làm như vậy, tôi sẽ lại chìm trong lo sợ.”

Steve kết luận: “Đó là hành động yêu thương. Nó cứng rắn nhưng chan chứa tình yêu.”

Nhưng đó là ranh giới hợp lý giữa tình yêu cứng rắn và sự đe dọa. Vậy sự

khác biệt ở đây là gì?

Steve nói: “Tôi biết quyết định là ở tôi. Tôi biết cha tôi không muốn tôi là ông ấy. Điều thứ nhất cha mẹ cần là xác định giai đoạn cho con cái chứng minh bản thân. ‘Cha không bắt ép con làm điều cha nói, kiểm soát con, bắt con phải giống cha, bắt con làm điều cha từng làm, yêu cầu con làm điều cha không thể làm.’ Từ khi còn nhỏ, cha đã thể hiện cho tôi thấy đó không phải là con người ông và điều ông cần. Sự thật là: ‘Cha cho con mọi thứ cha có.’”

Steve kết luận: “Tình yêu cứng rắn chứa đựng cả lòng vị tha. Tôi nghĩ

điều ấy rất quan trọng. Nếu tình yêu cứng rắn chỉ là việc cha mẹ cố kiểm

soát con cái thì con cái sẽ nhận ra ngay. Tôi biết điều cha mẹ tôi nói: ‘Cha mẹ muốn thấy con thành công.’”

***

Nếu việc biết ông bà Young giúp bạn hiểu “tình yêu cứng rắn“ không hẳn là điều gì đó mâu thuẫn, thì Francesca Martinez và cha mẹ cô, bà Tina và ông Alex, sẽ khiến bạn hiểu thêm một khía cạnh khác.

Được tạp chí Observer bầu chọn là một trong những danh hài vĩ đại nhất nước Anh, Francesca đã có nhiều buổi trình diễn cháy vé ở khắp nơi trên thế giới. Nếu cứ nhìn thẳng vấn đề theo cách thông thường thì cô quả là đã phá vỡ quy tắc không chửi thề của gia đình Young, còn sau buổi diễn, cô chắc chắn vi phạm quy định cấm uống rượu bia. Cũng giống cha mẹ, Francesca ăn chay, không theo đạo và về chính trị, cô ủng hộ phe bảo thủ.

Francesca được chẩn đoán mắc chứng bại não lúc 2 tuổi. Cô thích gọi hội chứng này là “múa vờn” hơn. Khi được thông báo rằng cô con gái 2 tuổi bị tổn thương não sẽ “không thể sống bình thường”, bà Tina và ông Alex lập tức quyết định chẳng bác sĩ nào có thể đoán trước được tương lai con gái mình. Trở thành ngôi sao hài kịch đòi hỏi sự bền bỉ bất kể bạn là ai, nhưng có lẽ đỉnh cao ấy sẽ là viển vông đối với một người nói không rõ và còn gặp nhiều khó khăn khi bước đi trên sân khấu. Vì vậy, cũng giống như những diễn viên hài yêu nghề khác, Francesca có thể lái xe 4 tiếng (cả một buổi chiều) chỉ để trình diễn trong vòng 10 phút không nhận thù lao và nhiều lần gọi điện cho các nhà sản xuất truyền hình kiêu ngạo, bận

rộn. Tuy nhiên, khác với hầu hết các đồng nghiệp, cô còn phải luyện thở

và luyện giọng trước mỗi buổi diễn.

Cô chia sẻ: “Tôi không tự dưng chăm chỉ và đam mê. Tôi nghĩ tôi được thừa hưởng những phẩm chất này từ gia đình chứa đầy yêu thương và kiên định. Sự hỗ trợ và động viên tích cực của gia đình đã giải thích lý do tôi không bao giờ đặt giới hạn với những tham vọng của mình.”

Cũng không có gì ngạc nhiên khi các chuyên gia tham vấn tại trường tỏ

ra nghi ngờ việc Francesca chọn ngành giải trí vì cô gặp nhiều khó khăn về vận động và ngôn ngữ. Họ thậm chí còn lo lắng cô có thể phải bỏ học giữa chừng nếu theo ngành này. Các chuyên gia thở dài và nói với tôi:

“Ồ, Francesca, hãy nghĩ đến cái gì đó hợp lý hơn đi. Ví dụ như tin học chẳng hạn.” Trong tưởng tượng của Francesca, công việc văn phòng thật kinh khủng. Cô hỏi ý kiến cha mẹ xem mình nên chọn nghề nào.

Ông Alex nói với cô: “Con hãy theo đuổi ước mơ, nếu không thành công, lúc ấy mình sẽ xem xét lại.”

Francesca nhớ lại: “Mẹ cũng động viên tôi như vậy.” Cô mỉm cười nói tiếp: “Về cơ bản thì cha mẹ chấp nhận việc tôi bỏ học từ lúc 16 tuổi để

biểu diễn trên truyền hình. Họ cho phép tôi tụ tập với các chàng trai láu cá, uống cocktail với những tên gọi vô cùng gợi cảm trong các ngày cuối tuần.”

Tôi đã hỏi Alex về lời khuyên “theo đuổi giấc mơ” mà ông nói với con gái.

Trước khi giải thích, ông cho tôi biết em của Francesca, Raoul, cũng được

phép nghỉ học từ cấp 3 để theo học hội họa và cũng trở thành họa sĩ vẽ

chân dung nổi tiếng. “Chúng tôi không bao giờ tạo áp lực để các con phải trở thành bác sĩ, luật sư hay bất kỳ nghề gì. Tôi tin khi bạn làm công việc bạn thực sự muốn thì nó sẽ trở thành một nghề. Francesca và em trai đều làm việc chăm chỉ và đam mê với nghề nghiệp, vì vậy, đối với hai đứa, công việc không có gì nặng nề.”

Tina cũng hoàn toàn đồng ý: “Tôi luôn cho rằng năng lực cá nhân của trẻ

đã được sự sống, thiên nhiên và tiến hóa định sẵn – đó chính là bến đỗ

của chúng. Giống như cái cây, nếu được chăm bón đúng cách, nó sẽ đâm chồi nảy lộc. Vấn đề chính là việc tạo ra môi trường phù hợp – là nơi nuôi dưỡng, lắng nghe và đáp ứng nhu cầu. Trẻ mang trong mình những hạt giống của tương lai. Những sở thích của trẻ sẽ phát triển nếu chúng ta tin tưởng chúng.”

Francesca đã phát huy sự ủng hộ vô điều kiện mà cha mẹ, những người

“thờ ơ đến vô lý” dành cho cô với hy vọng cô có thể giữ được sự kiên trì theo đuổi đam mê ngay cả khi tuyệt vọng: “Kiên định chính là tin rằng bạn có thể làm được mọi thứ. Niềm tin ấy xuất phát từ giá trị của chính nó và từ cách những người khác khiến chúng ta cảm nhận cuộc sống.”

Ông Alex và bà Tina dường như là đại diện của khuôn mẫu cha mẹ lạc quan. Tôi hỏi liệu ông bà có thấy mình như vậy không.

Alex trả lời: “Thực ra, tôi là người dị ứng với những đứa trẻ bị chiều hư.

Trẻ con phải được yêu thương và chấp nhận, chúng sẽ được dạy nhẹ

nhàng rằng: ‘Không, con không thể đánh vào đầu em bằng cái gậy đó.’

‘Đúng, con phải chia sẻ.’ ‘Không, con không thể nhận được mọi thứ con muốn.’ Đấy không phải là cách nuôi dạy vô cảm.”

Ông Alex luôn hối thúc Francesca tập vật lý trị liệu theo đề nghị của bác sĩ. Cô ghét việc này. Trong nhiều năm, hai cha con cãi nhau thường xuyên. Francesca không thể hiểu tại sao mình không được sống với những hạn chế của mình, còn ông Alex thì tin trách nhiệm của ông là phải kiên định. Cô đã viết trong cuốn sách của mình: “Dù hạnh phúc, song những năm tới tôi sẽ bị ảnh hưởng bởi vô số lần đập cửa, bởi nước mắt và bởi việc ném đồ đạc.”

Dù những xung đột như vậy có thể được kiểm soát tốt hơn song Alex tin rằng lẽ ra ông nên giải thích cho con gáitại sao ông lại kiên định đến vậy.

Điều thực sự làm tôi suy nghĩ về tuổi thơ của Francesca là chuyện một ông bố hay bà mẹ yêu con, cho phép con theo đuổi giấc mơ của mình lại cảm thấy bị bắt buộc phải giải thích rõ ràng các vấn đề thuộc về nguyên tắc. Bỗng nhiên, quan điểm một chiều của Alex và Tina với tư cách là các bậc phụ huynh lập dị trở nên không hoàn thiện.

Ví dụ, hãy nghe Alex dạy các con thế nào là đạo đức nghề nghiệp: “Để

hoàn thành công việc, các con phải hết sức nỗ lực. Khi còn trẻ, cha đã gặp nhiều người cũng viết lách. Họ nói với cha: ‘Ồ, tôi cũng là nhà văn nhưng tôi chẳng bao giờ hoàn thành cái gì cả.’ Nếu vậy, con không phải là nhà văn. Con chỉ là ai đó ngồi xuống và viết đôi điều vào mẩu giấy. Nếu con có điều gì để nói, hãy nói ra và phải làm cho xong.”

Bà Tina đồng ý trẻ cần cả tự do và giới hạn. Vừa là giáo viên dạy kèm vừa

là nhà hoạt động môi trường, bà đã thấy nhiều cha mẹ mặc cả với con cái. Bà nói: “Chúng tôi dạy con sống bằng những nguyên tắc rõ ràng và định hướng đạo đức. Chúng tôi giải thích cho con lý do nhưng luôn biết đâu là giới hạn.”

Bà nói thêm: “Tôi cảm thấy tivi là một loại thuốc ngủ, tôi không muốn nó thay thế những tương tác giữa người với người. Vì vậy, chúng tôi không có tivi trong nhà. Nếu con tôi muốn xem cái gì đó đặc biệt, chúng sẽ đi bộ sang nhà ông bà để xem nhờ.”

***

Bạn học được gì qua câu chuyện của Steve Young và Francesca Martinez?

Chúng ta có thể biết được gì về cách các cá nhân đột phá mô tả về cha mẹ

mình?

Trên thực tế, tôi nhận thấy một khuôn mẫu. Nếu ai trong số chúng ta muốn dạy con cái mình thành người bền bỉ thì công thức này là kế hoạch vô cùng hữu ích, đó là lời hướng dẫn để tạo nên nhiều quyết định chúng ta phải đưa ra khi nuôi dạy con.

Trước khi đi vào chi tiết hơn, hãy cho phép tôi nhắc lại, là nhà khoa học, tôi muốn thu thập thật nhiều dữ liệu trước khi đưa ra kết luận chắc chắn.

Trong cả thập kỷ, lẽ ra tôi nên biết nhiều hơn về cách nuôi dạy con cái thành người bền bỉ. Nhưng vì không có cách nào để tạm dừng việc nuôi dưỡng dành cho những người chúng ta quan tâm, nên tôi sẽ cứ tiếp tục và kể cho bạn về những suy nghĩ cảm tính của mình. Đa số là tôi được

khuyến khích để làm vậy vì khuôn mẫu tôi quan sát thấy phù hợp với rất nhiều nghiên cứu nuôi dạy con (nhưng không phải nuôi dạy con thành người bền bỉ). Khuôn mẫu này rất có ý nghĩa xét theo khía cạnh những gì chúng ta đã biết về động cơ của con người kể từ khi John Watson đưa ra lời khuyên Không chiều con. Và cuối cùng, tôi thấy khuôn mẫu phù hợp với việc phỏng vấn các vận động viên, nghệ sĩ, học giả đẳng cấp quốc tế là khuôn mẫu mà Benjamin Bloom và cộng sự đã phát triển cách đây 30 năm. Mặc dù nuôi dạy con không phải là trọng tâm nghiên cứu Bloom hướng đến – lúc đầu, cha mẹ là “những quan sát viên để kiểm tra” thông tin lý lịch của trẻ – song lại trở thành một trong những kết luận chính.

Đây là điều tôi đã thấy.

Điều đầu tiên và quan trọng nhất, bạn không phải chọn giữa thái độ đáp ứng và thái độ đòi hỏi, bạn có thể có cả hai. Người ta thường hiểu nhầm

“tình yêu cứng rắn” có thể cân bằng giữa tình yêu, sự tôn trọng với những kỳ vọng có tính bắt buộc. Trong thực tế, chẳng có lý do gì khiến bạn không thể có cả hai kiểu thái độ này cùng lúc. Rõ ràng, đây đúng là điều cha mẹ của Steve Young và Francesca Martinez đã làm. Gia đình Young là những người cứng rắn song cũng tràn đầy yêu thương. Gia đình Martinez đầy yêu thương nhưng cũng lại rất cứng rắn. Cả hai gia đình đều “lấy trẻ làm trung tâm” theo nghĩa họ luôn đặt sở thích của con lên trên hết. Theo cả hai gia đình, trẻ không thể tốt hơn nếu bị xét nét về

hành động, mức độ chăm chỉ và thời điểm từ bỏ.

Hình dưới đây trình bày cách phân loại khuôn mẫu cha mẹ mà nhiều

Image 20

chuyên gia tâm lý hiện nay sử dụng. Thay vì biểu diễn trên một đường thẳng, khuôn mẫu cha mẹ được phân chia bởi hai đường thẳng cắt nhau.

Ở góc vuông bên phải phía trên là khuôn mẫu cha mẹ vừa đòi hỏi vừa kiểm soát. Thuật ngữ “cha mẹ uy quyền” thường bị nhầm lẫn với “cha mẹ gia trưởng”. Để tránh hiểu lầm, tôi sử dụng thuật ngữ cha mẹ thông thái để chỉ khuôn mẫu cha mẹ uy quyền vì họ là những thẩm phán chính xác về nhu cầu tâm lý của con cái. Họ ủng hộ việc trẻ cần được yêu thương, có giới hạn và không gian để phát triển đầy đủ tiềm năng. Sự uy quyền của họ được xây dựng trên cơ sở hiểu biết, trí tuệ hơn là quyền lực.

Ở ba góc vuông còn lại là các khuôn mẫu cha mẹ phổ biến. Minh họa cho thái độ không đòi hỏi, không kiểm soát là kiểu cha mẹ thờ ơ. Cha mẹ thờ

ơ gây tác động tiêu cực đến cảm xúc, tuy nhiên, tôi không muốn nói nhiều về khuôn mẫu này vì họ không phải là cha mẹ của trẻ bền bỉ.

Cha mẹ gia trưởng là những người đòi hỏi nhưng không quan tâm, đó

chính là cách John Watson ủng hộ để khiến trẻ thành người mạnh mẽ.

Ngược lại, cha mẹ lạc quan luôn có thái độ đáp ứng và không đòi hỏi.

Khi nhà tâm lý học Larry Steinberg đọc bài phát biểu tại lễ nhậm chức Chủ tịch Hội Nghiên cứu Thanh niên năm 2001, ông đề nghị nên dừng việc nghiên cứu về khuôn mẫu cha mẹ vì ông đã thấy có quá nhiều bằng chứng chứng minh lợi ích từ thái độ ủng hộ và đòi hỏi của cha mẹ, do vậy, các nhà khoa học nên nghiên cứu những vấn đề hóc búa hơn. Ngoài ra, hơn 40 năm qua, nhiều công trình nghiên cứu công phu đã phát hiện ra con cái của khuôn mẫu cha mẹ thông thái phát triển tốt hơn nhiều so với con cái của các khuôn mẫu khác.

Ví dụ, trong một nghiên cứu của Larry, 10.000 thiếu niên Mỹ đã tham gia trả lời bảng hỏi về hành vi của cha mẹ mình. Dù thuộc giới tính, tầng lớp xã hội nào, hay tình trạng hôn nhân của cha mẹ ra sao thì những thiếu niên có cha mẹ là người tình cảm, tôn trọng, nghiêm khắc cũng đạt điểm cao hơn, tự tin hơn, mức độ lo lắng và trầm cảm cũng thấp hơn, có ít hành vi phạm tội hơn. Kết quả tương tự cũng được quan sát thấy ở gần như tất cả các quốc gia trong nghiên cứu và nhiều giai đoạn phát triển tâm lý. Nghiên cứu trong thời gian dài cũng chứng minh những lợi ích như vậy kéo dài trong cả thập kỷ hoặc lâu hơn.

***

Một trong những phát hiện chính từ các công trình nghiên cứu về khuôn mẫu cha mẹ là: Việc con cái không tiếp nhận được thông điệp của cha mẹ

còn gây ra nhiều ảnh hưởng hơn thông điệp đưa ra.

Khuôn mẫu có vẻ gia trưởng – ví dụ, quy định không xem tivi, cấm chửi bậy – có thể mang tính bắt buộc, cũng có thể không. Ngược lại, khuôn mẫu dường như dễ dãi – ví dụ cho phép con bỏ học từ cấp 3 – có thể phản ánh sự khác biệt về các quy định cha mẹ cho rằng điều gì mới là quan trọng. Nói cách khác, đừng phản đối việc cha mẹ giáo huấn con cái ở

ngay tại gian hàng ngũ cốc của siêu thị. Trong hầu hết các trường hợp, bạn không có đủ căn cứ để hiểu rõ tại sao trẻ diễn giải sự thay đổi theo cách này hay cách kia, song đến cuối ngày chính trải nghiệm của trẻ mới thực sự quan trọng.

Về khía cạnh tâm lý, bạn có phải là những bậc cha mẹ thông thái không?

Hãy sử dụng bảng đánh giá của Nancy Darling, chuyên gia về tâm lý và nuôi dạy con, để tìm câu trả lời. Con bạn sẽ đồng ý ngay tức khắc với bao nhiêu câu trả lời trong số này?

Có một số câu hỏi được in nghiêng. Đây là các câu hỏi ngược, nghĩa đúng của nó trái với nội dung của câu hỏi.

Đáp ứng: Tình cảm

Tôi nhờ cha mẹ giúp đỡ khi gặp khó khăn.

Cha mẹ dành thời gian để trò chuyện với tôi.

Cha mẹ cùng chơi với tôi.

Cha mẹ không thích khi tôi kể cho họ nghe về những khó khăn của mình.

Cha mẹ hầu như chẳng bao giờ khen khi tôi làm việc tốt.

Đáp ứng: Tôn trọng

Cha mẹ tin tôi có quyền đưa ra quan điểm cá nhân.

Cha mẹ bảo ý kiến của họ đúng và tôi không nên thắc mắc với cha mẹ.

Cha mẹ tôn trọng sự riêng tư của tôi.

Cha mẹ cho tôi quyền tự do.

Cha mẹ đưa ra hầu hết quyết định về những gì tôi có thể làm.

Đáp ứng: Đòi hỏi

Cha mẹ thực sự muốn tôi tuân thủ quy tắc của gia đình.

Cha mẹ để tôi quyết định việc từ bỏ.

Cha mẹ chỉ cách để tôi làm tốt hơn.

Khi tôi làm điều gì đó sai, cha mẹ không phạt tôi.

Cha mẹ mong muốn tôi làm hết khả năng ngay cả khi đó là việc khó.

Cách nuôi dạy đáp ứng tình cảm, tôn trọng và đòi hỏi đem lại nhiều ích lợi, trong đó có lợi ích liên quan đặc biệt đến sự bền bỉ – nói cách khác, khuôn mẫu thông thái khuyến khích trẻ “mô phỏng” cha mẹ của mình.

Tất nhiên, ở một mức độ nhất định, trẻ nào cũng bắt chước cha mẹ mình.

Nếu không có nhiều mô hình để lựa chọn, chúng ta sẽ có lựa chọn nào hơn ngoài bắt chước giọng nói, thói quen và thái độ của những người xung quanh? Chúng ta nói giống họ. Chúng ta ăn giống họ. Chúng ta thích và không thích giống họ.

Bản năng bắt chước của trẻ rất mạnh mẽ. Ví dụ, trong một thí nghiệm tâm lý kinh điển cách đây hơn 50 năm của Đại học Stanford, người ta cho trẻ mẫu giáo quan sát người lớn chơi, sau đó chúng được tạo cơ hội để

tiếp xúc với những món đồ chơi đó. Một nửa số bé trai và bé gái đã theo dõi một người lớn lặng lẽ chơi Tinker, trong lúc chơi, người này tỏ ra không chú ý đến con búp bê bằng phao, cỡ lớn ở ngay trong phòng. Một nửa số trẻ còn lại theo dõi một người khác, ban đầu người này cũng chơi Tinker, tuy nhiên chỉ sau vài phút, lại quay sang đánh con búp bê rất mạnh. Người này dùng tay và búa gỗ để đập con búp bê, thậm chí còn hất nó lên trần nhà và cuối cùng la hét, tấn công con búp bê gay gắt khắp phòng.

Khi đến lượt mình, cũng với những đồ chơi này, các cậu bé và cô bé ở

nhóm thứ nhất lặng lẽ chơi hệt như cách người lớn đầu tiên thể hiện.

Ngược lại, những đứa trẻ quan sát người lớn đánh con búp bê lúc trước đã tỏ ra hung dữ y như vậy, nhiều trẻ bắt chước hành vi bạo lực của người lớn giống đến mức các nhà nghiên cứu gọi đó là những “bản sao” thực thụ.

Tuy nhiên, có nhiều sự khác biệt giữa bắt chước và mô phỏng.

Khi lớn hơn, chúng ta hình thành khả năng đánh giá hành động của

mình cũng như nhận xét điều chúng ta khen và chê. Khi cha mẹ chúng ta thể hiện thái độ yêu thương, tôn trọng và đòi hỏi, chúng ta không chỉ

làm theo mà còn hoan nghênh điều đó. Chúng ta vô cùng phấn khởi, hào hứng theo đuổi đam mê giống họ – ví dụ, bản thân cha của Steve Young là một cầu thủ xuất sắc tại BYU, hay Francesca Martinez cũng sớm phát triển tình yêu với nghề viết lách như cha mình.

Benjamin Bloom và nhóm của mình đã đưa ra nhận xét tương tự khi nghiên cứu về các vận động viên, nghệ sĩ đẳng cấp thế giới. Gần như

không hề có ngoại lệ, cách nuôi dạy ủng hộ và độc đoán trong nghiên cứu của Bloom là “khuôn mẫu về đạo đức nghề nghiệp mà ở đó họ được đánh giá là người lao động chăm chỉ, làm hết sức trong mọi việc, họ tin mình nên làm việc xong rồi hãy chơi và người ta nên làm việc vì những mục tiêu lâu dài”. Ngoài ra, “hầu hết những cha mẹ này đều thấy tự

nhiên trong việc khuyến khích con cái tham gia các hoạt động trẻ yêu thích”. Một trong những kết luận ban đầu của Bloom là: “Bằng cách nào đó sở thích của cha mẹ đã truyền đến con cái của họ… Chúng ta nhiều lần thấy cha mẹ của những nghệ sĩ dương cầm sẽ không cho con đi học tennis mà là học piano. Chúng ta cũng thấy các gia đình có đam mê tennis sẽ không để con đi học piano mà là học tennis.”

Điều đáng chú ý là rất nhiều cá nhân đột phá đã nói với tôi bằng thái độ

đầy tự hào và nể phục rằng cha mẹ là những người mà họ ngưỡng mộ và có ảnh hưởng nhất. Cũng có rất nhiều cá nhân đột phá, bằng cách này hay cách kia đã phát triển sở thích giống cha mẹ mình. Rõ ràng, những cá nhân điển hình này đã lớn lên không chỉ bằng cách bắt chước mà còn

mô phỏng lại chính cha mẹ họ.

Lô-gíc này dẫn đến kết luận suy đoán: Không phải tất cả trẻ có cha mẹ là người thông thái đều sẽ trở thành người bền bỉ, vì không phải tất cả cha mẹ thông thái đều là hình mẫu về con người bền bỉ. Dù có thể vừa đáp ứng và đòi hỏi, song cha mẹ thông thái có thể thể hiện đam mê và sự bền bỉ đối với các mục tiêu lâu dài hoặc không.

Nếu bạn muốn nuôi dưỡng đức tính bền bỉ ở con mình, hãy tự hỏi xem bạn đã dành bao nhiêu đam mê và bền bỉ cho các mục đích sống của mình và cách nuôi dạy có thể khuyến khích con mô phỏng bạn như thế

nào. Nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là “rất nhiều” và câu trả lời cho câu hỏi thứ hai là “rất có thể”, tức là bạn đang nuôi dưỡng tính bền bỉ ở

con rồi đấy.

***

Cha mẹ không phải là người duy nhất nuôi dạy đức tính bền bỉ ở trẻ.

Bên cạnh gia đình hạt nhân còn có rất nhiều người lớn khác trong hệ sinh thái của trẻ. Tất cả chúng ta đều là “cha mẹ” đối với những đứa trẻ khác ngoài con cái của chính chúng ta xét về khía cạnh chịu trách nhiệm “nuôi dưỡng” thế hệ tiếp theo. Ở vai trò là người hỗ trợ chứ không phải đòi hỏi, chúng ta có thể tạo ảnh hưởng vô cùng lớn đối với con cái của người khác.

Doanh nhân công nghệ, Tobi Lutke, cũng có một “người cha” như vậy trong cuộc đời mình. Tobi thôi học từ hồi cấp 3, lúc 16 tuổi, mà không hề

có thành tích học tập đáng kể nào. Là nhân viên mới tại một công ty kỹ

thuật ở địa phương, cậu đã gặp Jurgen, chuyên gia lập trình, làm việc trong một căn phòng nhỏ ở tầng hầm. Tobi mô tả một cách trìu mến về

Jurgen như sau: “Một rocker khoảng 50 tuổi, tóc dài muối tiêu trông rất giống thành viên của câu lạc bộ xe ba bánh Hells Angles.” Dưới sự dẫn dắt của ông, Tobi đã phát hiện ra chứng khó học mà cậu được chẩn đoán khi còn đi học không hề cản trở cậu tiến bộ và trở thành lập trình viên.

“Jurgen là thầy giáo vĩ đại”, Tobi nói. “Ông ấy đã tạo ra môi trường để

phát triển sự nghiệp thuận lợi trong vòng 10 năm”.

Mỗi sáng, Tobi đến chỗ làm và thấy một tờ giấy in các mã cậu viết ngày hôm trước, trên đó ghi đầy những nhận xét, gợi ý, sửa sai bằng bút đỏ.

Jurgen rất nghiêm khắc chỉ bảo cách thức cải thiện chất lượng sản phẩm của Tobi. Tobi nói: “Điều này giúp tôi không bị rối lên vì những gì tôi viết.

Bao giờ cũng có cách để cải thiện những sản phẩm do mình tạo ra và nhận được phản hồi như thế này là một món quà.”

Một hôm, Jurgen đề nghị Tobi phụ trách một hợp đồng viết phầm mềm cho General Motors. Công ty đã trả thêm tiền cho Tobi mua bộ comple đầu tiên để đi báo cáo và chuyển giao sản phẩm. Tobi nghĩ Jurgen sẽ là người báo cáo nhưng chỉ một ngày trước đó, Jurgen đột nhiên quay sang Tobi và thông báo ông bận đến địa điểm khác. Tobi sẽ đến General Motors một mình. Dù rất hồi hộp nhưng Tobi vẫn phải đi. Việc chuyển giao thành công.

Tobi nhớ lại: “Kiểu làm việc như vậy cứ lặp đi lặp lại. Jurgen dường như

biết được năng lực của tôi và yêu cầu công việc cứ tăng dần mỗi ngày. Tôi vượt qua những thời điểm ấy bằng vô số lần thử và sai, bằng cách làm việc… tôi đã thành công.”

Tobi đã thành lập Shopify, công ty phần mềm với hơn 10.000 cửa hàng trực tuyến và đạt doanh thu hơn 100 triệu đô-la.

***

Trên thực tế, tích hợp nghiên cứu vào giảng dạy nhận được sự hỗ trợ tích cực từ việc nuôi dạy. Dường như các giáo viên tâm lý có thể tạo nên sự

khác biệt lớn trong cuộc đời học sinh.

Ron Ferguson là nhà kinh tế học tại Harvard, ông đã thu thập nhiều dữ

liệu để so sánh giữa giáo viên hiệu quả và giáo viên chưa hiệu quả nhiều hơn bất kỳ ai mà tôi biết. Trong một nghiên cứu gần đây, Ron hợp tác với Gates Foundation để nghiên cứu học sinh và giáo viên của 1.892 lớp. Ông phát hiện thấy giáo viên đòi hỏi – được học sinh nhận xét rằng: “Giáo viên của em không chấp nhận gì khác ngoài những nỗ lực cao nhất chúng em phải thể hiện” và “Học sinh ở lớp này xử sự theo cách giáo viên muốn” – đạt kết quả học tập hàng năm ở mức trung bình. Trong khi đó, giáo viên đáp ứng và tôn trọng – được học sinh nhận xét rằng: “Giáo viên của em dường như biết được điều gì làm em thấy chán nản” và “Giáo viên của em muốn em chia sẻ suy nghĩ của mình.”

Ron phát hiện thấy giáo viên có thể trở nên tâm lý hoặc dễ dãi, gia trưởng hay thờ ơ. Giáo viên tâm lý có thể phát triển năng lực của học sinh, mang

lại tâm trạng tốt và hy vọng về tương lai.

Gần đây, hai nhà tâm lý học David Yeager và Geoff Cohen, đã thực hiện thí nghiệm tìm hiểu điều gì ảnh hưởng đến thông điệp về những kỳ vọng cao cùng với sự nỗ lực không mệt mỏi đối với học sinh. Họ đề nghị các giáo viên dạy lớp 7 cung cấp các ý kiến nhận xét bằng văn bản về bài luận của học sinh, trong đó ghi rõ gợi ý về cách sửa chữa và lời khen ngợi, động viên mà họ thường sử dụng. Theo thói quen, các giáo viên viết nhận xét luôn vào bài luận của học sinh.

Tiếp theo, các giáo viên gửi tất cả bài luận được chấm cho hai nhà nghiên cứu. Họ sẽ ngẫu nhiên phân loại thành hai nhóm. Một nửa số bài luận được xếp vào nhóm: Thầycô đưa ra những nhận xét này để em có được phản hồi về bài luận của mình. Đây được gọi là nhóm đối chứng.

Nửa còn lại được xếp vào nhóm: Thầycô đưa ra những nhận xét này vì thầycô rất kỳ vọng vào em, thầy cô biết em có thể đạt được kỳ vọng của thầycô. Đây được gọi là nhóm thực chứng, nhóm nhận được phản hồi thông thái.

Như vậy, giáo viên và học sinh sẽ không biết bài nào được phân vào nhóm nào, sau đó các nhà nghiên cứu xếp từng bài vào túi để giáo viên gửi lại cho học sinh trong giờ học.

Học sinh được phép sửa lại bài luận của mình trong tuần tiếp theo.

Khi thu lại các bài luận, David phát hiện thấy khoảng 40% học sinh nhận

được phản hồi ở nhóm đối chứng đã sửa lại bài luận so với khoảng 80%

ở nhóm thực chứng, tức là chỉ bằng một nửa số học sinh nhận được phản hồi thông thái.

Trong một nghiên cứu tương tự nhưng với nhóm mẫu khác, số học sinh nhận được phản hồi thông thái – “Thầycô đưa ra những nhận xét này vì thầycô có kỳ vọng cao ở em và thầycô biết rằng em có thể đạt được” –

sửa lại bài luận của mình nhiều gấp đôi so với các học sinh ở nhóm đối chứng.

Thực tế giấy ghi chú không thể thay thế cho những cử chỉ, nhận xét và hành động hàng ngày để truyền tải sự quan tâm, tôn trọng và kỳ vọng cao. Tuy nhiên, những thí nghiệm này đã chứng minh tác động lớn mà một thông điệp đơn giản có thể tạo ra.

***

Không phải cá nhân đột phá nào cũng có cha mẹ thông thái nhưng bất kỳ cá nhân nào tôi từng phỏng vấn đều có thể kể tên ai đó trong cuộc đời họ là người mà tại đúng thời điểm, bằng đúng cách đã khuyến khích họ

trở nên tự tin và mang tới sự hỗ trợ vô cùng cần thiết.

Hãy xem xét trường hợp của Cody Coleman.

Cách đây vài năm, Cody gửi cho tôi một e-mail. Anh đã xem buổi nói chuyện TED Talk của tôi về tính bền bỉ và muốn trò chuyện với tôi. Anh nghĩ có lẽ câu chuyện cá nhân của anh có thể hữu ích. Anh học chuyên

ngành cơ khí điện và khoa học máy tính tại MIT và tốt nghiệp với điểm GPA gần như hoàn hảo. Theo quan điểm cá nhân, anh cho rằng tài năng và cơ hội không ảnh hưởng nhiều đến thành công của mình. Ngược lại, thành công của anh hoàn toàn xuất phát từ niềm đam mê và sự kiên trì trong nhiều năm liên tục.

Tôi đã đồng ý trò chuyện cùng Cody.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.