Theo đuổi đam mê của chính mình là câu nói quen thuộc trong nhiều bài phát biểu tốt nghiệp. Tôi đã từng nghe rất nhiều bài phát biểu tốt nghiệp cả với tư cách là sinh viên và sau này là giáo sư. Tôi cũng chắc chắn ít nhất có hơn một nửa số diễn giả chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của việc theo đuổi đam mê.
Ví dụ, Will Shortz, biên tập viên lâu năm của chuyên mục đố chữ trên tờ
New York Times đã nói với các sinh viên Đại học Indiana: “Lời khuyên của tôi là bạn hãy xác định xem bạn thích làm gì nhất trong đời, sau đó cố gắng làm việc đó toàn thời gian. Cuộc sống ngắn ngủi lắm. Hãy theo đuổi đam mê của mình.”
Trò chuyện với học viên Chương trình Thạc sĩ tại Đại học Princeton, Jeff Bezos nói ông bỏ công việc tài chính lương cao, chức vụ quan trọng tại Manhattan để gây dựng Amazon: “Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi quyết định chọn con đường không hề an toàn để theo đuổi đam mê.” Ông cũng nói: “Bất kỳ điều gì bạn làm trong cuộc đời, nếu không thực sự đam mê, bạn sẽ không thể gắn bó với nó.”
Chúng ta không chỉ nhận được lời khuyên này vào tháng 6 nóng rực người khi khoác lên bộ trang phục tốt nghiệp. Tôi cũng đã nghe thấy điều tương tự – nhiều lần, gần như truyền miệng – từ những người bền bỉ đột phá mà tôi đã phỏng vấn.
Hester Lacey cũng nói như vậy.
Hester là nhà báo người Anh, bà từng phỏng vấn những người thành công như Shortz và Bezos – mỗi người một tuần – từ năm 2011. Bài viết của bà xuất hiện hàng tuần trên tờ Financial Times. Cho dù họ là nhà thiết kế thời trang (Nicole Farhi), nhà văn (Salman Rushdie), nhạc sĩ
(Lang Lang), diễn viên hài (Michael Palin), nghệ nhân làm bánh sô-cô-la (Chantal Coady), hay nhân viên pha chế rượu (Colin Field), Hester đều đặt cho họ hai câu hỏi: “Điều gì đã thúc đẩy anhchị làm việc đó?” và
“Nếu anhchị mất mọi thứ vào ngày mai, anhchị sẽ làm gì?”
Trong lúc trò chuyện, tôi hỏi Hester đã biết được gì sau các cuộc phỏng vấn hơn 200 người “cực kỳ thành công”.
“Có một điều được họ nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: ‘Tôi rất thích việc mình làm’. Họ nói câu đó theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, họ
chỉ nói: ‘Tôi thích làm việc đó’. Nhưng họ cũng có thể nói: ‘Tôi thực sự
may mắn, tôi thức dậy vào mỗi sáng và mong muốn được làm việc, tôi nóng lòng muốn bước vào studio, bắt tay vào dự án tiếp theo.’ Những người này làm việc không phải vì bị bắt buộc hay vì lợi nhuận…”
***
Hãy theo đuổi đam mê của mình không phải là lời khuyên tôi được nghe từ khi còn nhỏ.
Ngược lại, tôi được dạy rằng thực tế của việc sinh tồn “trong thế giới thực” quan trọng hơn nhiều so với bất kỳ điều gì một thanh niên đang sống “cuộc đời êm đẹp” có thể tưởng tượng ra, chẳng hạn như chính tôi đây. Tôi được cảnh báo những giấc mơ lý tưởng để “phát hiện điều mình yêu thích” có thể là lối mòn dẫn tới đói nghèo và thất vọng. Tôi được răn dạy những nghề như bác sĩ vừa có thu nhập cao vừa được tôn trọng; quả
thật, những lời nói đó thực sự đã ảnh hưởng đến tôi trong suốt thời gian dài.
Bạn có thể đoán được người đưa ra lời khuyên này chính là cha tôi.
Một lần, tôi hỏi: “Vậy tại sao cha lại làm kỹ sư hóa?”
Ông trả lời không chút do dự: “Vì ông nội muốn cha theo nghề này. Khi còn nhỏ, cha thích lịch sử.” Ông giải thích thêm, ông cũng thích toán và khoa học nhưng không có lựa chọn thực sự nào khi vào đại học. Gia đình kinh doanh nghề dệt may, ông nội đã cho các con trai học các ngành kinh doanh có liên quan đến khâu này hay khâu khác trong quy trình dệt may.
“Việc kinh doanh của gia đình cần một kỹ sư hóa chứ không phải một nhà nghiên cứu lịch sử.”
Rồi mọi thứ thay đổi, cuộc cách mạng ở Trung Quốc khiến công việc kinh doanh dệt may của gia đình phải chấm dứt. Không lâu sau khi nhập cư
đến Mỹ, cha tôi làm việc cho Công ty DuPont. Sau 35 năm, ông nghỉ hưu
khi đã trở thành nhà khoa học hàng đầu của công ty.
Dù tâm huyết với công việc đến thế nào – cha tôi vẫn hay mơ màng về
các vấn đề khoa học hoặc quản lý – và dù ông thành công đến mức nào trong công việc, tôi nghĩ mình cũng cần chọn thực tế chứ không chỉ nên theo đuổi đam mê.
Thật buồn cười làm sao khi cứ khuyên giới trẻ đi ra ngoài và làm những gì chúng thích. Trong khoảng 10 năm, các nhà khoa học nghiên cứu về
sở thích đã tìm ra câu trả lời rất rõ ràng.
Thứ nhất, nghiên cứu chứng minh rằng con người thấy hài lòng với công việc nếu nó phù hợp với sở thích cá nhân. Đây là kết luận từ một nghiên cứu lớn dựa trên các số liệu từ gần 100 công trình nghiên cứu về người lao động trong các ngành nghề khác nhau. Ví dụ, những người thích tư
duy trừu tượng sẽ không vui khi phải quản lý các dự án phức tạp về mặt lô-gíc; họ sẽ hài lòng hơn khi được giải các bài toán. Những người thực sự thích giao tiếp sẽ không vui khi suốt ngày phải làm việc trên máy tính; họ sẽ phát huy khả năng tốt hơn với các công việc như bán hàng hoặc dạy học. Những người có công việc phù hợp với sở thích cá nhân nói chung thường cảm thấy hạnh phúc hơn trong suốt cuộc đời.
Thứ hai, người ta làm việc tốt hơn nếu công việc thu hút được sở thích của họ. Đây là kết luận từ một phân tích khác dựa trên 60 nghiên cứu được thực hiện trong vòng 6 năm. Người lao động có sở thích cá nhân phù hợp với nghề nghiệp sẽ làm việc hiệu quả hơn, hữu ích hơn đối với đồng nghiệp và ít “nhảy việc” hơn. Sinh viên đại học có sở thích cá nhân
phù hợp với ngành học thường đạt điểm cao và ít bỏ học hơn.
Rõ ràng, bạn không thể có được công việc thực thụ nếu chỉ làm bất kỳ
điều gì mình thích. Cho dù có giỏi đến đâu đi chăng nữa thì bạn cũng khó mà kiếm sống được bằng nghề chơi Dò mìn. Trên thế giới này, có nhiều người do hoàn cảnh nên không thể lựa chọn nghề nghiệp. Dù thích hay không, mỗi lựa chọn nghề nghiệp mà chúng ta đưa ra bao giờ cũng chứa đựng những hạn chế nhất định.
Tuy nhiên, William James đã tiên đoán cách đây một thế kỷ rằng những phát hiện khoa học mới này đã củng cố triết lý của các bài phát biểu tốt nghiệp: Muốn “chọn” nghề gì đi chăng nữa thì “mong ước và đam mê, cùng sức mạnh của sở thích… là vô cùng cần thiết”.
***
Trong một cuộc thăm dò ý kiến tại Mỹ của hãng Gallup năm 2014, hơn 2/3 người trả lời cho biết họ không tích cực với công việc, đây quả thực là tỷ lệ lớn về tình trạng “không gắn bó tích cực” ở người lao động.
Bức tranh này thậm chí còn ảm đạm hơn ở nhiều nước khác. Trong một cuộc khảo sát tại 141 nước, Gallup phát hiện thấy ở tất cả các nước, trừ
Canada, số lượng người lao động “không gắn bó” và “không tích cực gắn bó” với công việc thậm chí còn cao hơn ở Mỹ. Trên thế giới, chỉ 13% người lao động cảm thấy “gắn bó” với công việc.
Do vậy, dường như rất ít người thích công việc kiếm sống của họ.
Thật khó để dung hòa được những ý kiến thẳng thắn trong các bài phát biểu truyền cảm hứng với mức độ lan tỏa nhanh chóng của thái độ thờ ơ
đối với công việc. Khi đề cập đến việc đánh giá nghề nghiệp theo tiêu chí sở thích, tại sao nhiều người trong số chúng ta lại mất điểm? Sự thành công của cha tôi có đối lập với những tranh luận về đam mê không?
Chúng ta hiểu gì về thực tế rằng kể từ lúc tôi chào đời, công việc ấy không phải là đam mê của ông? Đừng khuyến khích mọi người theo đuổi đam mê, ngược lại, hãy khuyên họ theo đuổi mệnh lệnh của mình?
Tôi không nghĩ vậy.
Với tôi, Will Shortz và Jeff Bezos là những nguồn cảm hứng tuyệt vời về
hiệu quả hay tác dụng của công việc. Mặc dù không nên nghĩ bất kỳ ai trong số chúng ta đều có thể trân trọng từng giây phút làm việc, song tôi tin có hàng nghìn thời điểm trong các cuộc phân tích tổng hợp nhằm khẳng định về trực giác đều cho rằng sở thích thực sự có ảnh hưởng.
Không ai quan tâm hết được mọi thứ, thực tế, mọi người chỉ quan tâm đến một thứ gì đó cụ thể. Do vậy, gắn kết công việc bằng cách thu hút sự
chú ý và trí tưởng tượng là ý tưởng hay. Dù điều này không đảm bảo bạn sẽ hạnh phúc và thành công, nhưng nó chắc chắn có thể góp phần nâng cao cơ hội để bạn đạt được hạnh phúc và thành công.
Tôi nghĩ hầu hết thanh niên không cần phải được khuyến khích mới theo đuổi đam mê. Đa số họ sẽ làm chính xác như vậy – ngay lập tức – nếu đam mê nằm ở vị trí số một đối với họ. Nếu được mời phát biểu trong lễ
tốt nghiệp, tôi sẽ mở đầu với lời khuyên hãy theo đuổi đam mê. Sau đó,
tôi dành thời gian còn lại để cố gắng thay đổi những tâm hồn non trẻ về
những gì thực sự sẽ xảy ra.
***
Khi mới phỏng vấn những người bền bỉ đột phá, tôi nghĩ tất cả bọn họ
đều có thể kể về giây phút bỗng nhiên phát hiện đam mê Chúa đã ban tặng. Trong mắt tôi, giây phút ấy có thể được làm thành phim lồng ghép với các điều kiện ánh sáng và âm nhạc của một dàn hợp xướng để xứng đáng với ý nghĩa lớn lao, tưởng như có thể thay đổi cả cuộc đời.
Trong phần mở đầu của bộ phim Julie & Julia, cô gái trẻ Julia Child đang ăn tối trong nhà hàng sang trọng kiểu Pháp cùng với chồng cô, Paul. Julia tận hưởng miếng cá bơn chiên bơ – được rán vừa tới và rút xương hoàn hảo do nhân viên phục vụ mang lên trước đó vài phút, cô chấm miếng cá với nước sốt làm từ bơ Normandy, chanh và rau mùi tây. Cô xúc động.
Cô chưa từng trải nghiệm bất kỳ điều gì như thế trước đây. Cô lúc nào cũng thích ăn nhưng chưa bao giờ biết thức ăn lại có thể ngon đến vậy.
Nhiều năm sau, Julia kể lại: “Toàn bộ trải nghiệm là sự khai phóng về
tâm hồn và tinh thần đối với tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào những món ăn ngon và luôn cảm thấy như vậy cho đến hết cuộc đời.”
Thước phim này chính là điều tôi mong đợi từ những cá nhân bền bỉ đột phá mà tôi từng phỏng vấn. Tôi cũng nghĩ đây là điều các sinh viên tốt nghiệp – khi đang xúng xính trong bộ mũ áo tốt nghiệp – hình dung về
thời điểm sẽ phát hiện ra đam mê cuộc sống. Có lúc, bạn không biết phải
làm gì với thời gian của bạn. Rồi sau đó, mọi việc trở nên dễ dàng – bạn biết chính xác bạn muốn trở thành người như thế nào.
Nhưng trên thực tế, hầu hết những người mà tôi từng phỏng vấn đều nói họ phải mất nhiều năm để tìm hiểu nhiều sở thích khác nhau; rồi cuối cùng, một sở thích xuất hiện đã choán hết tâm trí họ khi đang thức (và đôi khi cả trong giấc ngủ) lại không phải là định mệnh đã chọn ban đầu.
Ví dụ, vận động viên bơi lội giành huy chương vàng Olympic, Rowdy Gaines, nói với tôi: “Khi còn nhỏ, tôi rất thích thể thao. Lên trung học, tôi chơi bóng đá, bóng chày, bóng rổ, golf và cả tennis trước khi tôi đến với bơi lội. Tôi cứ thử. Tôi nhận ra tôi cứ chuyển hết từ môn thể thao này sang môn thể thao khác cho đến khi tôi phát hiện thấy môn thực sự yêu thích. Tôi dừng lại ở bơi lội, tuy nhiên đó không hoàn toàn là môn thể
thao tôi thích ngay lúc ban đầu. Trước ngày thi vào đội tuyển bơi lội, tôi đến thư viện trường để tìm hiểu đôi chút về điền kinh vì tôi có cảm giác mình không hợp với bơi lội. Tôi nghĩ điền kinh mới là môn thể thao tôi muốn tiếp tục thử sức.”
Khi còn ở tuổi thiếu niên, quán quân Giải Jame Beard19 là đầu bếp Marc Vetri rất thích nghe nhạc trong lúc đang nấu ăn. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông chuyển đến Los Angeles. “Tôi học nhạc trong 3 năm, buổi đêm, tôi làm thuê cho các nhà hàng để kiếm tiền. Sau đó, khi tham gia ban nhạc, tôi làm việc vào ban ngày ở nhà hàng để có thể chơi nhạc vào ban đêm. Rồi đến lúc: ‘Ôi, mình cứ kiếm tiền ở nhà hàng mãi, chắc mình thích nó thật rồi, mình chẳng làm gì với âm nhạc nữa.’ Rồi tôi có cơ hội đến
Italy và mọi chuyện như vậy đấy.” Tôi rất bất ngờ khi thấy người đầu bếp yêu thích của tôi lại thích chơi ghi-ta thay vì làm mì ống, nhưng khi tôi hỏi ông nghĩ gì về con đường đã không chọn, ông trả lời: “Ồ, âm nhạc và nấu ăn – cả hai đều là những công việc sáng tạo. Tôi vui vì đã chọn con đường này nhưng tôi nghĩ mình cũng có thể trở thành nghệ sĩ.”
19 Giải được sáng lập vào năm 1990 bởi Quỹ James Beard, với tên thường gọi là “Giải Oscar cho Ẩm thực”. Được tổ chức vào tuần lễ đầu tiên của tháng 5, Giải James Beard vinh danh những đầu bếp giỏi nhất, các chuyên gia về rượu, các nhà báo, tác giả sách nấu ăn, những nhà thiết kế
nhà hàng và các chuyên gia ẩm thực trên toàn nước Mỹ. (BTV) Còn với Julia Child, miếng cá chiên bơ thanh tao ấy rõ ràng là sự bật mí.
Tuy nhiên, cô hiểu ẩm thực Pháp truyền thống mới là điều tuyệt diệu, chứ không phải việc cô sẽ trở thành đầu bếp, tác giả viết sách ẩm thực hay là người dạy người Mỹ cách mấu món gà hầm rượu vang đỏ trong gia đình. Hơn nữa, hồi ký của Julia cho biết thêm món ăn gây thương nhớ
này còn được nối tiếp bởi nhiều trải nghiệm đã kích thích sở thích của cô. Dù chưa đầy đủ nhưng những trải nghiệm ấy bao gồm vô số món ăn xuất hiện trong các hộp đêm ở Paris; những câu chuyện và tình bạn với người bán cá, người bán thịt, nhiều quán hàng rong tại các khu chợ trời của thành phố; hai cuốn bách khoa về ẩm thực Pháp – cuốn sách đầu tiên do thầy giáo người Pháp tặng và cuốn thứ hai là món quà của người chồng luôn ủng hộ cô; nhiều giờ tham dự các lớp học nấu ăn tại trường Le Cordon Bleu dưới sự dẫn dắt của người đầu bếp nhiệt tình nhưng cũng rất nghiêm khắc, Bugnard; và mối quen biết với hai người phụ nữ Paris,
chính họ đã đề xuất với cô ý tưởng viết sách dạy nấu ăn cho người Mỹ.
Điều gì có thể xảy ra nếu Julia – người từng mơ ước trở thành nhà văn và khi còn nhỏ “chẳng để tâm gì đến lò nướng” – đã quay về nhà ở California sau khi thưởng thức món cá hoàn hảo có tính định mệnh ấy? Chúng ta không thể biết chắc chắn nhưng rõ ràng trong tình yêu lãng mạn của Julia với ẩm thực Pháp, miếng cắn đầu tiên ấy cũng tựa như nụ hôn đầu.
Sau này, cô kể lại với chị dâu: “Thực sự, càng nấu em lại càng thích làm việc này. Em nghĩ em đã mất 40 năm để tìm ra đam mê thực thụ của mình (ngoại trừ con mèo cưng và chồng em).”
Vì vậy, trong khi chúng ta có thể ghen tị với những người yêu thích công việc họ chọn để kiếm sống, chúng ta không nên quy chụp họ có xuất phát điểm khác với phần đông. Ngay cả với cơ hội, họ cũng mất khá nhiều thời gian để xác định chính xác xem họ muốn làm gì với cuộc sống. Những diễn giả tại các lễ tốt nghiệp có thể nói về công việc của họ như thế này:
“Tôi không tưởng tượng nổi mình có thể làm công việc khác” nhưng trên thực tế, họ có thể làm vậy tại thời điểm sớm hơn họ nghĩ.
***
Cách đây vài tháng, tôi có đọc một bài viết trên Reddit: Hãy thử mọi việc.
Bạn không cần định hướng nghề nghiệp.
Tôi đã ngoài 30 tuổi và không biết mình sẽ làm gì với bản thân, theo đuổi công việc gì. Cả đời tôi là những lời khen ngợi từ người khác nói tôi thông minh và nhiều tiềm năng như thế nào. Tôi thích nhiều thứ tới mức kiệt
sức vì đã thử quá nhiều. Dường như mọi công việc đều đòi hỏi phải có giấy chứng nhận chuyên môn mà phải mất nhiều thời gian cũng như tiền bạc mới có được – trước khi bạn có thể bắt tay vào làm việc, điều này lại không cần thiết.
Tôi rất đồng cảm với tác giả của bài viết. Là giáo sư đại học, tôi cũng cảm thông với những bạn trẻ ở độ tuổi 20 đã tìm đến tôi để được tư vấn nghề
nghiệp.
Tôi có một đồng nghiệp, chuyên gia tham vấn về sự sợ hãi ở thanh niên, người có nhiều năm kinh nghiệm hơn tôi, Barry Schwartz. Ông đã giảng dạy tâm lý học tại Đại học Swarthmore trong 45 năm.
Theo Barry, trở ngại khiến một thanh niên không có sở thích nghề
nghiệp nghiêm túc chính là những kỳ vọng không thực tế. Ông nói: “Đó thực sự là vấn đề vì nhiều thanh niên luôn cố gắng tìm kiếm tình yêu lãng mạn. Họ muốn một ai đó thực sự hấp dẫn, thông minh, tốt bụng, cảm thông, chu đáo và hài hước. Hãy thử nói với một thanh niên 21 tuổi rằng bạn không thể tìm thấy một người hoàn hảo ở mọi khía cạnh. Họ không nghe đâu. Họ muốn tìm ai đó hoàn hảo.”
Tôi hỏi: “Thế còn Myrna, người vợ tuyệt vời của ông thì sao?”
“Ôi, cô ấy thật tuyệt vời. Chắc chắn là tuyệt vời hơn cả tôi. Nhưng cô ấy có hoàn hảo không? Cô ấy có thể là người duy nhất cùng tôi tạo dựng cuộc sống hạnh phúc không? Tôi có phải là người đàn ông duy nhất trên đời cô ấy có thể cưới để có cuộc hôn nhân tuyệt vời không? Tôi không
nghĩ thế đâu.”
Barry đề cập đến một quan điểm sai lầm cho rằng tình yêu công việc thường đến bất ngờ và mau lẹ: “Có nhiều thứ đòi hỏi sự tỉ mỉ và niềm vui trong thời gian nhất định rồi mới trở nên say mê được. Nhiều thứ ban đầu dường như chẳng có gì thú vị và hời hợt cho đến khi bạn bắt tay vào làm; sau một thời gian, bạn nhận thấy có nhiều khía cạnh mình đã không nhận ra ngay từ đầu và mình không bao giờ có thể giải quyết trọn vẹn vấn đề, hoặc bạn không hiểu đầy đủ về vấn đề ấy, hoặc không biết mình là ai. Việc đó đòi hỏi bạn phải gắn bó với nó.”
Ngừng một lát, Barry nói tiếp: “Thực ra, tìm bạn đời cũng giống như vậy.
Gặp được một người tiềm năng – không phải là một nửa duy nhất hoàn hảo mà là một nửa đầy hứa hẹn – cũng mới chỉ là sự khởi đầu.”
***
Chúng ta biết quá ít về khía cạnh tâm lý của sở thích. Tôi ước chúng ta có thể biết những điều như tại sao một số người trong chúng ta (có cả
tôi) coi nấu ăn là chủ đề thú vị, trong khi những người khác lại không quan tâm. Tại sao Marc Vetri bị hấp dẫn bởi những công việc sáng tạo, tại sao Rowdy Gaines thích thể thao? Ngoài lời giải thích khá mơ hồ rằng sở thích giống như nhiều điều khác về con người, có một phần xuất phát từ di truyền và một phần từ chức năng của trải nghiệm sống, thì tôi đã chẳng thể nói gì hơn với bạn. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học về sự tiến hóa của sở thích cho chúng ta biết những phát hiện quan trọng. Rất đáng tiếc, theo cảm nhận của tôi, những thông tin cơ bản này không được hiểu
đúng.
Hầu hết chúng ta đều nghĩ đam mê đến rất bất ngờ – là sự phát hiện đột ngột – cũng giống miếng cá bơn chiên bơ đầu tiên đã khiến bạn chắc chắn phải bước chân vào bếp trong nhiều năm… hòa mình vào làn nước trong lần bơi đầu tiên rồi nhận ra bạn sẽ trở thành nhà vô địch Olympic một ngày nào đó… đọc đến tận trang cuối cuốn tiểu thuyết The Catcher in the Rye (Bắt trẻ đồng xanh) và nhận ra bạn sẽ trở thành nhà văn.
Nhưng lần tiếp xúc đầu tiên với thứ có thể sau cùng sẽ đưa bạn tới niềm đam mê trọn đời mới chỉ là phần mở đầu của bài ký thuật dài nhưng ít kịch tích hơn mà thôi.
Về “sở thích với mọi thứ” và “không có định hướng nghề nghiệp” ở
những người ngoài 30 tuổi như trên Reddit đã đề cập, đây là điều khoa học phải lên tiếng: Đam mê với công việc chỉ là sự phát hiện nhỏ, tiếp theo đó là sự phát triển rồi mới đến dấn thân trọn đời vào đam mê.
Hãy để tôi giải thích.
Thứ nhất, trẻ con còn rất lâu mới biết lớn lên chúng sẽ làm gì. Các nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm liên tục với hàng nghìn người đã chứng minh hầu hết mọi người chỉ mới bắt đầu quan tâm về nghề này hơn nghề
khác một chút ở tuổi trung học. Đây rõ ràng là mô típ tôi đã gặp trong nghiên cứu phỏng vấn của mình, nó cũng là điều nhà báo Hester Lacey đã phát hiện khi phỏng vấn những người “cực kỳ thành công”. Tuy nhiên, một học sinh lớp 7 – thậm chí sẽ trở thành người cực kỳ bền bỉ
trong tương lai – cũng chưa thể có đam mê hoàn chỉnh ở tuổi này. Học
sinh lớp 7 chỉ bắt đầu xác định được mình thích gì và không thích gì.
Thứ hai, người ta không phát hiện ra sở thích bằng cách mặc tưởng.
Ngược lại, sở thích được kích thích thông qua sự tương tác với thế giới bên ngoài. Quá trình phát hiện sở thích có thể hỗn độn, tình cờ và vô hiệu. Sở dĩ như vậy là vì bạn không thể đoán chắc cái gì sẽ thu hút sở
thích của bạn và cái gì không. Bạn cũng không thể đơn thuần để bản thân thích cái gì đó. Như Jeff Bezos quan sát: “Một trong những sai lầm lớn nhất người ta hay mắc phải là cứ cố gắng bắt mình thích cái gì đó.” Nếu không có sự trải nghiệm, bạn không thể biết mình thích gì và không thích gì.
Thật là nghịch lý, phát hiện ban đầu về sở thích thường không được nhận ra bởi chính người phát hiện. Nói cách khác, khi bạn vừa bắt đầu quan tâm đến cái gì đó, bạn thậm chí không thể nhận ra điều gì đang diễn ra.
Cảm xúc chán nản luôn mang tính cá nhân – bạn biết nó khi bạn cảm nhận được nó – nhưng khi sự chú ý của bạn chuyển sang hoạt động hay trải nghiệm mới, bạn có thể hầu như không hoan nghênh những gì đang xảy ra với mình. Điều này nghĩa là lúc mới quan tâm đến điều gì đó thì cứ vài hôm bạn lại tự hỏi liệu mình đã tìm thấy đam mê chưa hay còn quá sớm.
Thứ ba, sau khi đã phát hiện ra sở thích, bạn sẽ đến giai đoạn phát triển nó dài hơn và tích cực hơn. Điều quan trọng là sự khởi đầu của sở thích mới phải được nối tiếp bởi trải nghiệm với khởi đầu ấy thêm nhiều lần nữa – lặp lại vô số lần.
Ví dụ, nhà du hành vũ trụ NASA, Mike Hopkins, nói với tôi về việc được xem các lần phóng tàu vũ trụ trên tivi từ hồi còn trung học đã tạo cảm hứng cho sở thích trọn đời về du hành vũ trụ của ông. Nhưng không chỉ
một lần phóng tàu vũ trụ có thể tạo nên cảm hứng đó. Thực ra, đó phải là những lần phóng thành công đã được chiếu trên tivi trong nhiều năm liền. Sau đó, ông bắt đầu tìm kiếm thông tin về NASA và “từ mẩu thông tin này đã dẫn ông đến mẩu thông tin khác, rồi mẩu thông tin khác nữa”.
Đối với thợ làm gốm Warren MacKenzie, các lớp học về gốm sứ ở trường đại học – môn học duy nhất ông chọn hồi mới nhập học vì tất cả các lớp vẽ đều đã đủ sinh viên đăng ký – được nối tiếp nhờ phát hiện A Potter’s Book (tạm dịch: Cuốn sách của thợ gốm) của tác giả Bernard Leach và sau đó là một năm làm việc cùng Leach.
Cuối cùng, sở thích xuất hiện khi được nhiều người ủng hộ như cha mẹ, thầy cô giáo, huấn luyện viên và bạn bè. Tại sao những người khác lại quan trọng đến vậy? Một mặt, họ đem đến những lời động viên và thông tin thường xuyên rất quan trọng để chúng ta ngày càng thích cái gì đó hơn. Đồng thời, một điều hiển nhiên nữa là sự phản hồi tích cực khiến chúng ta cảm thấy phấn khích, thấy mình có khả năng và yên tâm.
Đơn cử như trường hợp của Marc Vetri. Có vài điều khiến tôi rất thích đọc những cuốn sách nấu ăn và bài viết của ông về ẩm thực, tuy nhiên, ông chỉ là sinh viên loại C suốt thời đi học. Ông nói với tôi: “Tôi chưa bao giờ học tập chăm chỉ. Tôi lúc nào cũng vậy. Hình như tôi thấy việc đi học thật tẻ nhạt.” Ngược lại, Marc dành các buổi chiều Chủ nhật thú vị tại
nhà bà ngoại người Sicilia của mình ở South Philly. “Bà nấu thịt viên, mỳ
nướng kiểu Ý và những món tương tự, tôi luôn muốn đến sớm giúp bà.
Lúc ấy, tôi khoảng 11 tuổi, tôi cũng bắt đầu muốn tự nấu những món như
vậy tại nhà.”
Đến tuổi thiếu niên, Marc nhận chân rửa bát bán thời gian cho một nhà hàng địa phương. “Tôi rất thích việc đó. Tôi đã làm việc chăm chỉ.” Tại sao ư? Kiếm tiền là động lực nhưng động lực khác chính là tình bạn thân thiết với căn bếp. “Lúc đó, tôi khá đơn độc. Tôi cũng là người vụng về.
Tôi bị tật nói lắp. Mọi người ở trường nghĩ tôi là kẻ lập dị. Tôi là kiểu người: ‘Ồ, ở đây tôi có thể rửa bát, tôi có thể ngắm người ta xếp hàng để
nấu ăn trong khi đang rửa bát và tôi còn được ăn nữa. Mọi người rất thân thiện, họ yêu mến tôi.’”
Nếu đọc những cuốn sách dạy nấu ăn của Marc, bạn sẽ ngạc nhiên với số
lượng bạn bè và giáo viên hướng dẫn mà ông đã đào tạo trong thế giới ẩm thực. Hãy đọc lời cảm ơn trong cuốn Il Viaggio Di Vetri (tạm dịch: Hành trình ẩm thực). Cuốn sách có tới hai trang ghi tên những người đã tạo nên hành trình của ông, trong đó có đoạn: “Cha và mẹ luôn cho phép con tìm ra con đường của riêng mình và giúp con vượt qua nó. Cha mẹ
sẽ không biết con biết ơn cha mẹ đến nhường nào đâu. Con luôn cần cha mẹ ở bên!”
Điều gì sẽ xảy ra nếu đam mê không đến với tất cả chúng ta ngay lập tức như phép màu, hay nó sẽ không xuất hiện nếu không được kích thích?
Thực ra, sự hứng thú ban đầu của chúng ta rất mong manh, không rõ
ràng và nó cần được nuôi dưỡng, chọn lọc tích cực và lâu dài.
***
Trong khi trò chuyện với các bậc phụ huynh, tôi có ấn tượng họ đã hiểu sai điều tôi muốn truyền tải về tính bền bỉ. Tôi nói với họ một nửa sự bền bỉ là kiên trì – ngay lập tức, tôi nhận được những cái gật đầu hoan nghênh – nhưng tôi cũng nói với họ rằng chẳng có ai lại dồn tâm trí cho công việc họ không thực sự thấy thú vị. Đến đây, không ai còn gật đầu nữa, ngược lại, họ lắc đầu.
Mẹ Amy Chua nói: “Không phải bạn cứ thích cái gì là giỏi cái đó. Bạn không thể giỏi nếu không thực hành. Hầu hết mọi người không giỏi làm những gì họ thích.” Tôi hoàn toàn đồng ý. Trong quá trình phát triển sở
thích của mình, vẫn có nhiều việc phải làm – đó là thực hành, nghiên cứu, tìm hiểu. Tuy nhiên, ý tôi là hầu hết chúng ta đều kém hơn ở những việc chúng ta không thích.
Vì vậy, tôi có một thông điệp gửi đến những người đã, đang và sẽ trở
thành cha mẹ ở tất cả các lứa tuổi: Thứ nhất,bạn phải chăm chỉ. Trước khi ai đó chọn được đam mê thì họ đã phải dành nhiều giờ mỗi ngày rèn luyện kỹ năng, họ cũng phải giỏi việc tạo và tái tạo sở thích. Tất nhiên, phát triển một sở thích đòi hỏi thời gian và công sức, bao gồm cả những nguyên tắc và sự hy sinh nữa. Nhưng ở giai đoạn đầu, người ta không bị
ám ảnh bởi việc phải giỏi hơn. Họ không phải nghĩ ngợi về tương lai trong nhiều năm. Họ không biết trình độ đỉnh cao là gì, mục tiêu cuộc sống sẽ như thế nào. Hơn bất kỳ điều gì khác, họ có niềm vui.
Nói cách khác, ngay cả những chuyên gia thành công nhất ban đầu cũng là những người không nghiêm túc.
Đây cũng là kết luận mà Benjamin Bloom, chuyên gia tâm lý học, đã đưa ra sau khi phỏng vấn 120 người đẳng cấp thế giới ở các lĩnh vực thể thao, nghệ thuật hoặc khoa học – họ đều nhắc đến cha mẹ, huấn luyện viên và giáo viên. Trong số những phát hiện quan trọng của Bloom, ông nhắc đến sự phát triển kỹ năng thông qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài trong nhiều năm. Sở thích được phát hiện và phát triển trong cái mà Bloom gọi là “những năm đầu”.
Sự khuyến khích trong những năm tháng đầu tiên rất quan trọng vì người mới bắt đầu còn đang phân vân liệu có nên gắn bó hay từ bỏ sở
thích. Do đó, Bloom và nhóm nghiên cứu phát hiện thấy những người dạy kèm giỏi nhất ở giai đoạn này là những người cực kỳ nhiệt tình, tốt bụng: “Có lẽ, đặc điểm chính của những giáo viên này là họ đã khiến việc học trở nên dễ chịu và đáng làm. Phần lớn việc làm quen này giống như
hoạt động giải trí, việc học lúc đầu chỉ như dạo chơi mà thôi.”
Mức độ tự chủ trong những năm đầu cũng rất quan trọng. Những nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm ở học sinh khẳng định nếu cha mẹ và giáo viên quan tâm thái quá đến trẻ sẽ khiến chúng bị xói mòn động lực bên trong. Những trẻ được cha mẹ cho phép lựa chọn về sở thích có thể phát triển sở thích ấy thành đam mê sau này. Vì vậy, khi còn ở Thượng Hải những năm 1950, cha tôi đã không hề nghĩ gì đến việc bị ông nội định hướng nghề nghiệp, còn hầu hết thanh niên ngày nay lại thấy khó “sở
hữu” sở thích của mình đầy đủ nếu thiếu sự định hướng từ cha mẹ.
Chuyên gia tâm lý thể thao Jean Côté cho rằng việc rút ngắn giai đoạn quan tâm, khám phá và phát triển theo cách hứng thú, nhẹ nhàng sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Trong nghiên cứu, ông thấy các vận động viên chuyên nghiệp như Rowdy Gaines sẽ đạt nhiều thành công hơn trong dài hạn nếu khi còn nhỏ đã được thử nhiều môn thể thao khác nhau trước khi gắn bó với môn thể thao cụ thể. Việc trải nghiệm đa dạng giúp cho vận động viên trẻ biết môn thể thao nào phù hợp với mình. Việc trải nghiệm cũng tạo ra cơ hội để họ chơi nhiều môn thể thao nhằm rèn luyện cơ bắp và kỹ năng tiến tới chuẩn bị cho việc luyện tập trọng tâm hơn.
Trong khi đó, Côté phát hiện thấy những vận động viên bỏ qua giai đoạn này có xu hướng thích sớm được trải nghiệm cảm giác mạo hiểm của việc thi đấu với các đối thủ kém chuyên nghiệp hơn, họ dễ bị chấn thương và chóng kiệt sức hơn.
Chúng ta sẽ thảo luận về cái mà Bloom gọi là “những năm trung gian”
đối với việc luyện tập ở chương tiếp theo. Cuối cùng, chúng ta sẽ nói về
“những năm sau đó” ở Chương 8 khi bàn về mục đích.
Còn bây giờ, tôi có thể nói với bạn rằng chuyên gia và những người mới bắt đầu có động lực hoàn toàn khác nhau. Lúc mới bắt đầu một công việc, chúng ta cần sự động viên và tự do để biết mình thích gì. Chúng ta cần những thành công nho nhỏ. Chúng ta cần được khen. Vâng, chúng ta có thể chịu sự chỉ trích và góp ý. Vâng, chúng ta cần rèn luyện, song đừng quá nhiều và đừng quá nhanh. Khi hối thúc người mới, bạn sẽ gây ảnh
hưởng đến sở thích mới chớm nở của họ. Nếu bạn làm như vậy, việc khắc phục hậu quả sẽ vô cùng khó khăn.
***
Hãy quay trở lại với những diễn giả của lễ tốt nghiệp chúng ta đã nói đến từ trước. Họ là những trường hợp được nghiên cứu về đam mê, vì vậy, chúng ta có thể học hỏi đôi điều từ họ.
Biên tập viên mục Câu đố của New York Times, Will Shortz, đã nói với tôi rằng mẹ ông là “một nhà văn và là người yêu chữ nghĩa”, rồi bà ngoại của ông cũng từng là người yêu thích trò chơi này. Do vậy, Shortz có thể
đã tích lũy kha khá thiên hướng về ngôn ngữ trong gen của mình.
Nhưng con đường ông đi không chỉ có yếu tố di truyền. Không lâu sau khi bắt đầu học đọc và học viết, Shortz đã làm quen với sách đố chữ. Ông nhớ lại: “Tôi như bước vào trang sách. Tôi chỉ muốn giải những câu đố
của riêng mình.”
Cũng có thể đoán được cuốn sách đố chữ đầu tiên của ông – yếu tố kích thích tính tò mò của ông – được nối tiếp bởi nhiều cuốn khác nữa. “Đố
chữ, đố toán, gọi tên nó…” Không lâu sau, Shortz nhớ được tên của tất cả
những người sáng tác câu đố nổi tiếng, sưu tầm bộ sách của Dover về
người anh hùng Sam Loyd, cũng như các cuốn sách của 6 người sáng tác câu đố khác mà tên tuổi của họ khá quen thuộc với Shortz, dù họ là người nước ngoài.
Ai đã mua tất cả những cuốn sách đó?
Mẹ ông.
Bà còn làm gì nữa?
“Tôi nhớ khi tôi còn rất bé, mẹ tôi có câu lạc bộ chơi bài brit20, để giữ tôi trật tự trong cả buổi chiều, bà lấy mẩu giấy, kẻ nó thành nhiều hình vuông và chỉ cho tôi cách giải các từ dài theo chiều ngang, chiều dọc. Tôi vui suốt cả chiều vì được tự làm ra những câu đố của mình. Khi câu lạc bộ hết giờ, mẹ tôi quay lại và đánh số ô rồi hướng dẫn tôi cách giải. Đó là cách tôi đã làm quen với trò đố chữ.”
20 Brit: Cầu hợp đồng, hoặc cầu nối, là trò chơi bài đánh lừa bằng cách sử
dụng một cỗ bài 52 lá tiêu chuẩn. Trong định dạng cơ bản, trò chơi này gồm có bốn người chơi trong hai quan hệ đối tác – cạnh tranh, với các đối tác ngồi đối diện nhau xung quanh một bảng. (BTV) Sau đó, mẹ của Shortz đã làm điều mà một số bà mẹ khác – trong đó có cả tôi – vẫn làm, là sáng kiến hoặc bí quyết. Cụ thể: “Bà khuyến khích tôi bán những câu đố của mình khi thấy tôi sáng tác được nhiều câu đố, vì là nhà văn, bà cũng thường gửi bài cho các tạp chí và báo để đăng. Khi thấy tôi có sở thích này, bà chỉ cho tôi cách gửi bài.”
“Tôi đã bán được câu đố đầu tiên lúc 14 tuổi và đóng góp thường xuyên cho các tạp chí đố chữ của Dell lúc 16 tuổi.”
Mẹ của Shortz nhận thấy rõ điều gì có thể thu hút sở thích của con trai.
Ông nói: “Mẹ tôi đã làm nhiều điều tuyệt vời. Ví dụ, tôi rất thích nghe đài, nhạc pop và nhạc rock từ khi còn nhỏ. Khi thấy tôi có sở thích này, bà đã xin chiếc đàn ghi-ta từ người hàng xóm, treo nó trên giường của tôi. Vì vậy, nếu muốn, tôi chỉ cần với tay là có đàn để chơi.”
Nhưng mong ước chơi nhạc không là gì nếu so sánh với mong ước sáng tác câu đố. “Sau 9 tháng, khi tôi còn chưa kịp chạm tay vào chiếc đàn ghi-ta, bà đã thu lại nó. Tôi đoán tôi thích nghe nhạc nhưng lại không quan tâm tới việc học nhạc.”
Khi Shortz đăng ký vào Đại học Indiana, chính mẹ ông là người đã tìm chương trình giáo dục cá nhân rồi khuyến khích Shortz phát hiện ra sở
trường. Cho đến hôm nay, Shortz vẫn là người duy nhất trên thế giới có bằng đại học về khoa học câu đố.
***
Jeff Bezos thì sao?
Khi còn nhỏ, Jeff được thỏa sức theo đuổi đam mê theo nhiều cách khác thường. Quá trình này cũng có nhiều điểm liên quan tới người mẹ đặc biệt tò mò của ông, bà Jackie.
Jeff được sinh ra chỉ hai tuần sau sinh nhật lần thứ 17 của bà Jackie. Bà nói với ông: “Vì thế, mẹ chẳng biết trước mình nên làm gì.”
Bà nhớ đã quá bận bịu vì Jeff, rồi em trai và em gái sau Jeff: “Mẹ vô cùng tò mò về những sinh linh bé nhỏ này và muốn biết chúng là ai, chúng
làm gì. Mẹ chú ý đến bất kỳ điều gì mỗi người trong số các con thể hiện
– mỗi con lại rất khác nhau – và làm theo sự chỉ huy của các con. Mẹ cảm thấy mẹ có trách nhiệm phải để các con được đắm chìm vào những điều các con thích thú.”
Ví dụ, khi mới 3 tuổi, Jeff nhiều lần xin mẹ được ngủ trên “cái giường lớn”. Bà Jackie đã giải thích rằng rồi con sẽ được ngủ trên chiếc giường lớn nhưng chưa phải bây giờ. Hôm sau, bà bước vào phòng của Jeff và thấy cậu đang cầm tuốc-nơ-vít, cố gắng tháo cũi. Bà Jackie không mắng con. Ngược lại, bà ngồi xuống sàn và giúp con trai. Tối đó, Jeff được ngủ
trên “chiếc giường lớn”.
Đến cấp hai, ông sáng chế tất cả các hiện tượng cơ học đối lập, ví dụ như
chiếc đồng hồ báo thức treo trên cửa phòng ngủ sẽ kêu ngay khi em trai hay em gái xâm phạm “lãnh thổ” của ông. Bà Jackie vừa nói vừa cười:
“Chúng tôi đã cùng nhau đến cửa hàng RadioShack nhiều lần. Đôi khi, chúng tôi quay trở lại đó tận bốn lần trong ngày vì cần nhiều thứ khác nhau.”
“Một lần, Jeff lấy dây và buộc tất cả tay nắm của tủ bếp lại, sau đó, khi ai đó mở một tay nắm, tất cả sẽ cùng mở theo.”
Tôi cố gắng mường tượng bản thân mình trong những tình huống này.
Tôi cố gắng hình dung mình sẽ không thất vọng. Tôi cố gắng tưởng tượng đang làm điều bà Jackie đã làm, đó là tự nhắc nhở con trai lớn của bà rồi sẽ trở thành người giải quyết vấn đề đẳng cấp thế giới và cũng là để nuôi dưỡng sự hứng thú đó.
Bà Jackie nói với tôi: “Ở nhà, con trai tôi có biệt hiệu là ‘Thủ lĩnh rắc rối’.
Gọi tên như vậy là vì bất kỳ điều gì con muốn làm đều có thể được chấp nhận ở mức độ nào đó.”
Bà Jackie nhớ khi Jeff quyết định xây khối vô cực, đặc biệt là bộ gương có gắn động cơ phản chiếu hình ảnh vô tận trước và sau của một người, lúc ấy, bà đang ngồi trên lối đi bộ với một người bạn: “Jeff đến chỗ chúng tôi và nói về tất cả các vấn đề khoa học liên quan đến việc đó, tôi nghe, gật đầu và hỏi một câu hỏi nhiều lần. Sau khi con đi khỏi, người bạn hỏi liệu tôi có hiểu những điều cậu bé nói không. Tôi trả lời: ‘Việc tôi có hiểu mọi điều hay không không quan trọng. Điều quan trọng là tôi đã lắng nghe.’”
Đến cấp ba, Jeff biến ga-ra của gia đình thành phòng thí nghiệm để phục vụ hoạt động phát minh và thí nghiệm. Một hôm, bà Jackie nhận được cuộc gọi từ trường của Jeff nói cậu bỏ học sau giờ ăn trưa. Khi về nhà, bà hỏi con đã đi đâu vào buổi chiều. Jeff nói cậu tìm thấy một giáo sư ở địa phương, ông cho phép cậu làm thí nghiệm với cánh máy bay, ma sát và cân giảm tốc độ. Bà Jackie nói: “Được. Mẹ đã nghe rõ. Bây giờ hãy xem chúng ta có thể đàm phán hợp pháp như thế nào để làm việc đó.”
Ở trường đại học, Jeff học chuyên ngành Khoa học máy tính và Kỹ thuật điện, rồi sau khi tốt nghiệp, ông ứng dụng những kỹ năng lập trình vào quản lý các quỹ đầu tư. Nhiều năm sau, Jeff xây dựng kho sách trực tuyến đặt theo tên dòng sông dài nhất trên thế giới: Amazoncom. (Ông cũng đăng ký tên miền URL wwwrelentlesscom; hãy gõ thử vào máy tính của bạn và xem nó sẽ đưa bạn đến đâu…).
***
Will Shortz nói: “Tôi luôn học hỏi. Tôi luôn ép mình nghĩ theo cách mới, cố gắng tìm kiếm gợi ý về từ mới hay chủ đề mới. Tôi đã từng nghe một nhà văn nói nếu anh chán viết lách có nghĩa là anh cũng chán cuộc sống.
Tôi nghĩ điều này cũng đúng với việc sáng tác câu đố. Nếu anh chán câu đố, anh cũng chán cuộc sống bởi những câu đố rất đa dạng.”
Hầu hết người bền bỉ đột phá mà tôi từng trò chuyện, trong đó có cả cha tôi cũng nói như vậy. Khi làm hết nghiên cứu lớn này sang nghiên cứu lớn khác, tôi thấy một người càng bền bỉ càng ít muốn thay đổi công việc.
Ngược lại, tất cả chúng ta đều biết có những người lăn xả vào dự án mới, tạo dựng sở thích sâu sắc rồi chuyển sang việc gì đó hoàn toàn khác chỉ
sau 3, 4 hoặc 5 năm. Theo đuổi nhiều sở thích khác nhau dường như vô hại nhưng không ngừng tìm kiếm sở thích mới và không ổn định với một sở thích là vấn đề nghiêm trọng.
Jane Golden nói: “Tôi gọi đó là những người ngắn hạn.”
Hơn 30 năm qua, Jane đã thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật công cộng tại thành phố quê hương tôi ở Philadelphia với tư cách là Giám đốc Chương trình Nghệ thuật bích họa và rất được nể trọng. Cụ thể, cô đã góp phần vào hoạt động vẽ bích họa của hơn 3.600 tòa nhà, đây là chương trình nghệ thuật công cộng lớn nhất tại Mỹ. Hầu hết những ai biết cô cũng sẽ nói đến sự gắn bó “không ngừng” của cô với nghệ thuật bích họa và chính cô cũng sẽ đồng ý với nhận xét ấy.
“Những người ngắn hạn thường đến đây làm việc một thời gian rồi chuyển đi, họ lại đến một nơi khác, rồi một nơi khác nữa, cứ như vậy. Tôi luôn nhìn họ như thể họ đến từ hành tinh khác vì tôi cứ thắc mắc: ‘Sao lại có thể như vậy? Sao họ không gắn bó với một cái gì đó nhỉ?’”
Tất nhiên, sự hứng thú bền vững của Jane mới cần được giải thích chứ
không phải khả năng chú ý hạn chế của những người cứ đến rồi đi. Về cơ
bản, cảm giác chán nản sau một thời gian làm việc gì đó rất tự nhiên.
Ngay từ lúc mới sinh, con người đã có phản xạ ngoảnh mặt đi không nhìn những thứ họ đã thấy, ngược lại, họ nhìn chăm chú vào những cái mới và đáng kinh ngạc. Trên thực tế, từ interest (sự hứng thú) xuất phát từ
từ interese trong tiếng La-tinh, nghĩa là “làm khác đi”. Về ngữ nghĩa, interesting (thú vị) còn được hiểu là different (khác biệt). Về bản chất, con người luôn thích những điều mới mẻ.
Cảm giác mệt mỏi với một số việc sau một thời gian cũng là điều bình thường, nó chắc chắn sẽ xảy ra. Nếu nhìn lại Thang đo tính bền bỉ, bạn sẽ thấy có tới gần một nửa số câu hỏi đề cập đến sự hứng thú trong thời gian dài. Điều này nhắc lại thực tế người bền bỉ đột phá không chỉ phát hiện ra điều họ thích và phát triển nó thành sự hứng thú – họ còn học cách khắc sâu nó.
Khi còn trẻ, Jane nghĩ cô sẽ trở thành họa sĩ. Giờ đây, cô là người đấu tranh chống lại các vấn đề quan liêu, cô gây quỹ, tham gia vào các vấn đề
chính trị ở địa phương. Tôi tự hỏi liệu cô có dám hy sinh cuộc sống vì sự
nghiệp cô cảm thấy ý nghĩa song kém phần thú vị này không. Tôi tự hỏi
liệu cô đã từ bỏ việc tìm kiếm những điều mới chưa.
Jane kể: “Khi quyết định gác bút vẽ, tôi thấy điều đó thật khó khăn. Tôi nhận ra phát triển Chương trình Nghệ thuật bích họa có thể là công việc sáng tạo. Nó thật tuyệt vì tôi là người rất tò mò.”
“Bên ngoài, bạn có thể nghĩ tôi có cuộc sống đơn điệu. Bạn có thể nói:
‘Jane, cô đang quản lý Chương trình Nghệ thuật bích họa và sẽ làm việc đó mãi à?’ Tôi sẽ trả lời: ‘Không, nghe này, hôm nay tôi đã đến thăm một nhà tù có an ninh tốt nhất. Tôi đã đến North Philly. Tôi đã đi nhà thờ. Tôi đã đến phòng họp. Tôi đã gặp phó ủy viên. Tôi đã gặp người ở Hội đồng Thành phố. Tôi đã làm việc cho một chương trình nhà ở cho họa sĩ. Tôi đã gặp gỡ học sinh tốt nghiệp.’”
Rồi Jane dẫn lời ví von của một họa sĩ: “Tôi giống như một nghệ sĩ nhìn lên bầu trời mỗi sáng và thấy nhiều màu sắc sặc sỡ, trong khi ấy, những người khác chỉ nhìn thấy màu xanh hoặc màu xám. Trong nhiều ngày liên tiếp, tôi vẫn nhìn thấy sự đa dạng này. Tôi thấy cái gì đó đổi mới và phong phú.”
***
Để giúp bạn hiểu rõ hơn về sở thích sâu sắc của các chuyên gia, tôi xin nói về chuyên gia tâm lý Paul Silvia.
Paul là nhà nghiên cứu hàng đầu về các khía cạnh cảm xúc của hứng thú.
Ngay khi vào chuyện, ông nói với tôi lúc mới chào đời trẻ chưa biết gì.
Không giống những loài động vật khác có bản năng mạnh mẽ để hành động theo cách này hay cách kia, trẻ sơ sinh phải học gần như tất cả mọi thứ bằng cách trải nghiệm. Nếu trẻ không có động lực mạnh mẽ để tìm kiếm cái mới, chúng sẽ không học được nhiều, từ đó bị hạn chế về khả
năng tồn tại. “Vì vậy, sự hứng thú – hay chính là mong muốn học hỏi điều mới, khám phá thế giới, tìm kiếm cái mới, chúng sẽ tìm kiếm sự thay đổi và đa dạng – là động cơ chính.”
Vậy chúng ta giải thích như thế nào về sự hứng thú kéo dài của những người bền bỉ đột phá?
Cũng như tôi, Paul nhận thấy các chuyên gia thường nhắc đến điều này:
“Càng biết nhiều, càng hiểu ít.” Ví dụ, John Templeton, người đầu tiên đưa ra ý tưởng về quỹ tương hỗ đã đưa ra khẩu hiệu cho tổ chức từ thiện của mình: “Càng biết ít, càng muốn học.”
Paul giải thích vấn đề nằm ở chỗ sự mới lạ đối với người mới bắt đầu là một dạng còn với chuyên gia lại là dạng khác. Đối với người mới bắt đầu, sự mới lạ là bất kỳ điều gì chưa từng trải qua trước đó. Còn đối với chuyên gia, sự mới lạ là sắc thái.
Paul nói: “Hãy nói về nghệ thuật hiện đại. Nhiều chi tiết có thể trông quen thuộc với người mới vào nghề song lại rất khác đối với một chuyên gia. Người mới học nghề không có kiến thức nền tảng cần thiết. Họ chỉ
nhìn thấy màu sắc và hình dạng. Họ không chắc chắn những cái đó có nghĩa gì.” Tuy vậy, một chuyên gia nghệ thuật lại có hiểu biết vô cùng sâu sắc. Họ đã phát triển khả năng nhạy cảm đối với những chi tiết mà
phần lớn chúng ta không hề nhìn thấy.
Đây là ví dụ khác. Bạn đã từng theo dõi Thế vận hội rồi chứ? Bạn đã từng nghe các bình luận viên nói, ví dụ như: “Ồ, cú xoay mình 3 vòng trên không ấy hơi đột ngột!” “Động tác dừng ấy cực kỳ kịp thời!” Bạn ngồi đó và tự hỏi làm sao những bình luận viên này có thể nhận thấy sự khác biệt vô cùng tinh tế trong phần trình diễn của vận động viên này với vận động viên khác mà không cần xem lại video quay chậm. Bản thân tôi cần có video quay chậm. Tôi không nhạy cảm với những sắc thái như vậy.
Nhưng chuyên gia là người có kiến thức và kỹ năng được tích lũy để thấy điều người mới bắt đầu như tôi không nhìn thấy.
***
Nếu bạn muốn theo đuổi điều gì đó nhưng chưa nuôi dưỡng được đam mê nào, hãy khám phá.
Hãy tự hỏi bản thân một vài câu cực kỳ đơn giản: Mình thích nghĩ về điều gì? Tâm trí mình đang ở đâu? Mình thực sự quan tâm đến cái gì? Điều gì có ý nghĩa nhất đối với mình? Mình muốn dành thời gian làm việc gì? Và ngược lại, có điều gì mình không thể chịu được? Nếu bạn thấy khó trả lời những câu hỏi này, hãy nhớ lại tuổi thiếu niên, giai đoạn mà những sở
thích về nghề nghiệp bắt đầu chớm nở.
Ngay khi có định hướng chung chung, bạn phải kích hoạt sự hứng thú mới mẻ này. Hãy làm như vậy bằng cách bước chân ra thế giới và làm một điều gì đó. Đối với những sinh viên mới tốt nghiệp, tôi sẽ nói: Hãy
thử! Hãy cố gắng! Bạn sẽ học được nhiều hơn nếu không làm gì cả!
Ở giai đoạn đầu của quá trình khám phá này, hãy làm theo một số quy tắc được giới thiệu trong cuốn sách của Will Shortz với tựa đề: Làm thế
nào để giải được câu đố trên tờ New York Times:
Hãy bắt đầu bằng câu trả lời mà bạn chắc chắn nhất và xây dựng từ đây.
Nếu sở thích còn chưa rõ ràng, có vài việc bạn không thích làm để kiếm sống và có vài việc có vẻ hứa hẹn hơn. Hãy bắt đầu từ đây.
Không ngại đoán. Dù bạn thích hay không, phải có nhiều lần thử và sai xảy ra để khám phá sở thích. Không giống câu trả lời với trò đố chữ, bạn không chỉ làm một việc để phát triển thành đam mê mà phải làm nhiều việc. Bạn không phải tìm “đúng” việc hay việc tốt nhất mà là phương hướng bạn cảm thấy ổn nhất. Bạn cũng có thể cảm thấy khó khăn nếu biết có những việc cần phải thử trong một thời gian dài mới biết có hợp hay không.
Đừng sợ bỏ đi một câu trả lời không chính xác. Ở một thời điểm nào đó, bạn có thể viết ra mục tiêu quan trọng nhất bằng bút mực, nhưng khi còn chưa chắc chắn, hãy viết bằng bút chì.
Nói cách khác, khi đã nhận ra bản thân thích làm việc gì, đó chính là lúc bạn nên phát triển sự hứng thú của mình.
Hãy nhớ sự hứng thú phải được kích hoạt nhiều lần. Hãy tìm cách để nó xảy ra nhiều lần. Và kiên trì. Việc phát triển sự hứng thú cũng đòi hỏi
nhiều thời gian. Hãy liên tục đặt câu hỏi và để câu trả lời dẫn bạn đến những câu hỏi khác. Tiếp tục đào sâu. Tìm những người khác có chung hứng thú. Tìm đến những người hướng dẫn nhiệt tình. Cho dù ở tuổi nào, theo thời gian, vai trò người học sẽ trở nên tích cực và rõ ràng hơn. Sau vài năm, kiến thức và kinh nghiệm của bạn sẽ phát triển và cùng với nó, sự tự tin cũng như tò mò của bạn cũng lớn lên để bạn biết nhiều hơn.
Cuối cùng, nếu bạn đang làm điều gì mình thích trong nhiều năm liền nhưng vẫn chưa thể gọi nó là đam mê, hãy xem xét liệu bạn có thể khắc sâu hứng thú của mình không. Vì não bộ luôn tìm kiếm những điều mới lạ, nên bạn sẽ được kích thích để tìm kiếm cái gì đó mới mẻ và có thể là điều có ý nghĩa nhất. Tuy nhiên, nếu bạn muốn gắn bó hơn với công việc nào đó trong vài năm, bạn sẽ cần tìm cách để tận hưởng những sắc thái chỉ những người cuồng nhiệt thực thụ mới làm được. William James nói:
“Cái cũ trong cái mới luôn thu hút sự chú ý. Cái cũ với một chút ít mới mẻ cũng có thể làm điều tương tự.”
Tóm lại, theo đuổi đam mê không phải là lời khuyên tồi, nhưng quan trọng là phải biết cách nuôi dưỡng đam mê.