Vững Tâm Bền Chí Ắt Thành Công

Lượt đọc: 272 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5 - Bồi Đắp Tính Bền Bỉ

❊ ❊ ❊

“Bền bỉ có sẵn trong gen của chúng ta hay không?”

Nhiều người đã hỏi câu này mỗi khi nghe tôi nói về phẩm chất bền bỉ. Tôi cũng hay được hỏi về yếu tố tự nhiên hay cách thức nuôi dưỡng phẩm chất này. Chúng ta luôn có trực giác về những gì liên quan đến mình – ví dụ như chiều cao – được quyết định chủ yếu bởi yếu tố di truyền, trong khi những vấn đề khác – chẳng hạn như khả năng nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp – lại là kết quả của giáo dục và trải nghiệm. “Bạn không thể

luyện tập chiều cao” là câu nói cửa miệng trong công tác huấn luyện bóng chày, nhiều người muốn biết liệu tính bền bỉ giống chiều cao hơn hay giống việc học ngoại ngữ hơn.

Đối với câu hỏi “Bền bỉ có sẵn trong gen của chúng ta hay không?”, tôi có câu trả lời ngắn và câu trả lời dài. Câu trả lời ngắn là: Một phần. Câu trả

lời dài là: Chuyện ấy phức tạp hơn nhiều. Theo quan điểm của tôi, chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến câu trả lời dài. Khoa học đã đạt được những bước tiến lớn trong việc nghiên cứu cách thức yếu tố di truyền, trải nghiệm và sự tác động qua lại của chúng tạo nên con người chúng ta. Theo những gì tôi biết thì thật không may, sự phức tạp vốn có của các dữ liệu khoa học thường gây hiểu lầm.

Để bắt đầu, tôi có thể khẳng định chắc chắn mỗi nét tính cách của con người đều chịu ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố di truyền và trải nghiệm.

Hãy xem xét chiều cao. Chiều cao có tính chất di truyền: Sự khác biệt về

gen là lý do chính giải thích tại sao có người rất cao, có người lại rất thấp và chúng ta sở hữu chiều cao rất khác nhau.

Nhưng sự thật là chiều cao trung bình của nam giới và nữ giới đã tăng lên đáng kể chỉ qua vài thế hệ. Ví dụ, theo số liệu lưu trữ của quân đội Mỹ, 150 năm trước, nam giới Anh cao trung bình 1,65m, nhưng ngày nay chiều cao trung bình của họ là 1,77m. Sự cải thiện chiều cao diễn ra nhanh hơn ở các nước khác; tại Hà Lan, ngày nay, chiều cao trung bình của nam giới là 1,85m – tăng khoảng 0,15m so với 150 năm trước. Tôi lại nhớ đến mỗi khi làm việc với các đồng nghiệp người Hà Lan, chiều cao của họ được cải thiện qua các thế hệ. Dù họ đã cúi gập người xuống nhưng tôi vẫn cảm thấy mình như đang đứng giữa rừng cây tùng bách vậy.

Không phải hệ thống gen đã thay đổi nhanh chóng chỉ qua vài thế hệ.

Yếu tố thúc đẩy chiều cao tăng mạnh mẽ nhất chính là dinh dưỡng, không khí và nguồn nước sạch, các loại thuốc mới. (Thật ngẫu nhiên, vấn đề tăng cân nặng qua các thế hệ còn diễn ra nhanh hơn và có thể cũng là kết quả của việc ăn nhiều, di chuyển ít chứ không phải là do ADN). Ngay cả trong cùng thế hệ, bạn cũng có thể nhận thấy ảnh hưởng của môi trường đến chiều cao. Trẻ em được sử dụng nhiều thực phẩm an toàn sẽ

cao hơn, còn thực phẩm kém dinh dưỡng sẽ làm giảm tốc độ phát triển.

Tương tự, các nét tính cách như trung thực, hào phóng và tất nhiên, cả

bền bỉ, đều chịu ảnh hưởng của gen và trải nghiệm. Điều này cũng tương

tự với chỉ số thông minh, tính hướng ngoại, ưa thích các hoạt động ngoài trời, sở thích ăn ngọt, khả năng nghiện thuốc lá nặng, nguy cơ bị ung thư

da và bất kỳ đặc điểm nào bạn có thể nghĩ tới. Yếu tố tự nhiên cũng có tác động như yếu tố giáo dục vậy.

Tài năng ở nhiều lĩnh vực khác nhau cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền. Một số người sinh ra đã có sẵn gen vượt trội trong việc học nhạc, chơi bóng rổ hoặc giải căn bậc hai. Ngược lại, theo trực giác, tài năng không hoàn toàn là do di truyền: Mức độ chúng ta phát triển kỹ năng nào đó cũng chính là chức năng của kinh nghiệm.

Ví dụ, nhà xã hội học Dan Chambliss từng tham dự nhiều cuộc thi bơi lội hồi còn trung học nhưng rồi ông dừng lại vì thấy rõ mình không thể trở

thành vận động viên bơi lội quốc gia.

Ông giải thích: “Tôi khá nhỏ bé và mắt cá chân của tôi cũng không linh hoạt. Hơn nữa, tôi còn không thể vẫy ngón chân mà chỉ có thể gập các ngón lại. Đó là hạn chế của cơ thể. Điều đó có nghĩa là ở trình độ cao, tôi chỉ có thể bơi ếch.” Sau khi trao đổi với ông, tôi đã tìm hiểu một chút về

phản xạ gập chân. Các bài tập kéo giãn cơ có thể cải thiện vận động nhưng độ dài của một số xương mới tạo nên sự khác biệt về mức độ linh hoạt của bàn chân và mắt cá.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất đối với việc cải thiện khả năng bơi lội lại không phải do giải phẫu mà chính là cách ông được huấn luyện: “Giờ đây nhìn lại, tôi thấy các huấn luyện viên ở những thời điểm quan trọng của tôi lại quá tệ. Một trong những huấn luyện viên ở trường trung học –

người mà tôi đã làm việc cùng suốt 4 năm – đúng là chẳng dạy được tôi điều gì. Không gì cả. Ông ấy dạy tôi cách lộn người đổi hướng trong bơi ếch nhưng cũng dạy sai.”

Điều gì đã xảy ra khi cuối cùng Dan cũng gặp được thầy giỏi?

“Nhiều năm sau khi trở lại bể bơi, tôi có thân hình chuẩn và có thể bơi phối hợp cá nhân 182m nhanh như thời còn đi học.”

Câu chuyện tương tự lại xảy ra. Không chỉ yếu tố tự nhiên, không chỉ yếu tố dưỡng dục. Phải là cả hai.

***

Làm sao các nhà khoa học có thể khẳng định cả yếu tố tự nhiên và nuôi dưỡng có ảnh hưởng quyết định đối với tài năng và tính bền bỉ? Trong những thập kỷ qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu các cặp sinh đôi cùng trứng và sinh đôi khác trứng được nuôi trong cùng gia đình hoặc khác gia đình. Anh em sinh đôi cùng trứng có ADN giống nhau, anh em sinh đôi khác trứng trung bình chỉ có khoảng ½ ADN giống nhau. Thực tế này và toàn bộ các số liệu thống kê phức tạp (à, không đặc biệt đến thế

đâu – song sẽ thật hơn nếu bạn được một giáo viên giỏi giải thích) cho phép các nhà nghiên cứu đi đến kết luận về khả năng kế thừa một đặc điểm hay nét tính cách dựa vào sự giống nhau giữa các cặp sinh đôi.

Gần đây, các nhà nghiên cứu tại London cho tôi biết họ đã sử dụng Thang đo tính bền bỉ để đánh giá hơn 2.000 cặp sinh đôi ở độ tuổi thiếu niên

sống tại Vương quốc Anh. Nghiên cứu này ước tính khả năng di truyền của phẩm chất kiên trì là 37% và đam mê là 20%. Con số này cũng phù hợp với số liệu ước tính về khả năng di truyền của một số nét tính cách khác; nói đơn giản nhất, điều này nghĩa là một số thay đổi về phẩm chất bền bỉ ở nhóm mẫu này có thể do di truyền, còn lại là do trải nghiệm.

Tôi cũng cần bổ sung ngay rằng không thể giải thích được khả năng di truyền của tính bền bỉ ở con người bằngmột loại gen. Ngược lại, nghiên cứu đã chỉ ra phần lớn tính cách của con người là do nhiều gen tạo ra, nghĩa là các nét tính cách ấy chịu ảnh hưởng của nhiều loại gen khác nhau. Thực tế là rất nhiều. Ví dụ, chiều cao chịu ảnh hưởng của ít nhất 697 loại gen. Một số gen tác động đến chiều cao còn ảnh hưởng đồng thời đến các đặc điểm khác. Nói chung, bộ di truyền của con người có khoảng 25.000 loại gen, chúng tương tác với nhau và với những ảnh hưởng của môi trường theo nhiều cách thức phức tạp mà con người chưa thể biết hết.

Tóm lại, chúng ta đã biết gì? Thứ nhất: Tính bền bỉ, tài năng và tất cả

những nét tính cách khác liên quan đến thành công trong cuộc sống chịu sự ảnh hưởng của di truyền và trải nghiệm. Thứ hai: Không chỉ có một loại gen duy nhất tạo nên tính cách bền bỉ hoặc các đặc điểm tâm lý khác ở con người.

***

Tôi đề xuất luận điểm quan trọng thứ ba: Số liệu ước tính về yếu tố di truyền giải thích tại sao có những người khác so với mức trung bình

nhưng lại không cho biết mức trung bình là như thế nào.

Mặc dù gen chiều cao cho biết đôi chút về sự đa dạng, ví dụ tại sao trong một nhóm dân cư, một số người cao còn một số người thấp – nhưng lại không cho biết chiều cao trung bình đã thay đổi như thế nào. Điều này rất quan trọng bởi nó cung cấp minh chứng về việc môi trường chúng ta lớn lên thực sự có ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất nhiều.

Đây là ví dụ rất đáng chú ý và là yếu tố liên quan tới khoa học nghiên cứu về thành công: Hiệu ứng Flynn. Hiệu ứng này được đặt theo tên của Jim Flynn, nhà khoa học xã hội đến từ New Zealand, người đã phát hiện ra nó. Hiệu ứng Flynn phân tích những thành công đáng kinh ngạc về IQ

trong thế kỷ trước. Nhưng những thành công đó lớn đến đâu? Trong số

những trắc nghiệm IQ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay – Thang đo trí tuệ Wechsler trẻ em và Thang đo trí tuệ Wechsler người lớn – thành công trung bình là trên 15 điểm trong 50 năm qua ở hơn 30 nước được nghiên cứu. Nói cách khác, nếu bạn chấm điểm người sống cách đây 100

năm theo tiêu chuẩn hiện đại, họ sẽ chỉ đạt 70 điểm IQ – ranh giới của người chậm phát triển trí tuệ. Nếu bạn chấm điểm con người hiện nay theo chuẩn của 100 năm trước, chúng ta sẽ đạt điểm IQ trung bình là 130

điểm – đủ điểm để được chọn vào học ở các chương trình tài năng.

Lần đầu tiên nghe đến Hiệu ứng Flynn, tôi đã không tin. Làm sao tất cả

chúng ta lại thông minh nhanh đến như vậy?

Tôi đã gọi điện cho Jim để trao đổi về mối nghi ngờ của mình và cũng muốn được tìm hiểu thêm. Là người đi gần khắp thế giới, Jim lập tức bay

đến Philadelphia để gặp gỡ và trò chuyện với tôi về công trình của mình.

Trong lần gặp đầu tiên, Jim trông giống kiểu người mà chúng ta vẫn thường phiếm họa về giới học thuật: Cao, gầy, đeo kính gọng kim loại, tóc xoăn muối tiêu bù xù.

Flynn bắt đầu cuộc nói chuyện với những số liệu cơ bản về quá trình thay đổi điểm IQ. Nghiên cứu sâu về điểm IQ trong nhiều năm liên tục, ông phát hiện thấy sự cải thiện ở một số loại trắc nghiệm cao hơn hẳn những trắc nghiệm khác. Ông bước đến cạnh bảng đen và vẽ một đường cong để minh họa sự sụt giảm điểm ở các trắc nghiệm về khả năng tư duy trừu tượng. Ví dụ, nhiều trẻ em ngày nay có thể trả lời câu hỏi “Chó và thỏ

giống nhau như thế nào?” Chúng có thể nói cho bạn biết cả chó và thỏ

đều là động vật. Trong sổ tay hướng dẫn tính điểm, các câu trả lời này chỉ được ½ điểm. Một số trẻ thậm chí có thể trả lời chó và thỏ đều là động vật có vú và nếu vậy, chúng sẽ đạt điểm tuyệt đối ở câu hỏi này. Ngược lại, trẻ sống cách đây một thế kỷ có thể nhìn bạn đầy thắc mắc rồi nói:

“Chó đuổi theo thỏ”. Chúng chỉ được 0 điểm.

Khả năng tư duy trừu tượng của con người chúng ta ngày càng tốt hơn.

Để giải thích về thành công của một số chứ không phải tất cả các bộ trắc nghiệm IQ, Flynn kể chuyện về bóng rổ và truyền hình. Bóng rổ ở tất cả

các mức độ thi đấu ngày càng cạnh tranh quyết liệt hơn trong suốt thế

kỷ qua. Flynn cũng từng chơi bóng rổ khi còn đi học và nhớ môn thể thao này đã thay đổi chỉ trong vài năm. Điều gì đã xảy ra?

Theo Flynn, đó chính là do tivi. Bóng rổ là môn thể thao tuyệt vời khi

xem trên màn hình nhỏ và việc xem truyền hình đã giúp phổ biến môn thể thao này hơn. Khi tivi trở thành đồ gia dụng, nhiều trẻ bắt đầu chơi bóng rổ, tập layup17 bằng tay trái, thử lừa bóng bằng cách chuyển tay dẫn bóng, móc bóng khéo léo và nhiều kỹ năng khác vẫn thường thấy ở

những cầu thủ ngôi sao. Trong lúc nâng cao kỹ năng, mỗi trẻ sẽ vô tình góp phần cải thiện môi trường rèn luyện cho những trẻ chơi cùng. Điều khiến bạn chơi bóng rổ ngày càng tiến bộ là chơi với những người giỏi hơn mình.

17 Layup: Chạy đến gần rổ, nhảy lên và ném bóng bật bảng. (DG) Flynn gọi chu trình nâng cao kỹ năng này là hiệu ứng số nhân xã hội, ông cũng sử dụng lô-gíc này để giải thích những thay đổi về khả năng tư duy trừu tượng của các thế hệ. Trong suốt thế kỷ qua, ngày càng có nhiều công việc và đời sống thường nhật đòi hỏi tư duy phân tích, lô-gíc. Chúng ta đi học, ở trường, chúng ta phải lý luận nhiều hơn là dựa vào khả năng ghi nhớ.

Những khác biệt nhỏ về môi trường hoặc di truyền có thể tạo ra một vòng tròn phát triển. Ngược lại, những hiệu ứng xã hội sẽ tăng lên theo cấp số

nhân thông qua yếu tố văn hóa vì mỗi chúng ta đều góp phần làm cho môi trường trở nên phong phú hơn.

***

Bên dưới là biểu đồ cho thấy điểm số của Thang đo tính bền bỉ thay đổi theo độ tuổi. Đây là những dữ liệu từ một mẫu lớn công dân Mỹ ở tuổi

Image 15

trưởng thành, bạn có thể thấy trên trục hoành, những người bền bỉ nhất trong nhóm mẫu của tôi ở độ tuổi trên dưới 70; người bền bỉ ít nhất là nhóm 20 tuổi.

Số liệu này là một kiểu “Hiệu ứng Flynn nghịch chiều” về tính bền bỉ. Ví dụ, có lẽ người 70 tuổi bền bỉ hơn vì họ lớn lên trong điều kiện văn hóa khác, có thể ở thời kỳ ấy, các giá trị và chuẩn mực coi trọng đam mê và kiên trì hơn so với gần đây. Nói cách khác, cũng có thể Thế hệ vĩ đại nhất18 bền bỉ hơn Thế hệ 10X vì các lực lượng văn hóa ngày nay khác hơn so với trước đây.

18 The Greatest Generation: Thế hệ vĩ đại nhất là tên cuốn sách và thuật ngữ do nhà báo Tom Brokaw phát triển. (BTV)

Khi nhìn vào biểu đồ này, một đồng nghiệp lớn tuổi hơn ngồi phía sau tôi đã giải thích lý do tại sao bền bỉ và tuổi tác lại luôn song hành. Ông

lắc đầu rồi nói: “Tôi biết điều ấy chứ! Tôi đã giảng dạy cho nhiều lứa sinh viên cùng một môn học tại cùng một trường trong nhiều thập kỷ. Tôi có thể nói ngay với cô rằng sinh viên ngày nay không chăm chỉ như các thế

hệ sinh viên trước.” Cha tôi, người cả đời làm hóa học cho DuPont và được tặng chiếc đồng hồ vàng khi nghỉ hưu cũng sẽ nói điều tương tự về

doanh nhân Wharton, người đã đến gặp tôi sau khi tôi kết thúc bài giảng.

Ngay cả khi phải làm việc cật lực cho dự án khởi nghiệp của mình, cậu ấy vẫn mong muốn theo đuổi việc gì đó hoàn toàn mới trong vài năm.

***

Ngoài ra, tuổi tác trong nhóm mẫu này không liên quan đến những thay đổi mang tính chất thế hệ về tính bền bỉ. Tuy nhiên, nó có thể cho biết con người ta đã trưởng thành như thế nào qua thời gian. Kinh nghiệm cá nhân và câu chuyện về những người bền bỉ đột phá như Jeff Gettleman và Bob Mankoff cho thấy chúng ta bền bỉ hơn khi xác định được triết lý sống, học cách hồi phục sau những lần bị từ chối và thất vọng, cũng như

nhận biết được sự khác nhau giữa mục tiêu thấp nên loại bỏ sớm và mục tiêu cao đòi hỏi phải kiên trì. Câu chuyện về sự trưởng thành ở đây có nghĩa là càng lớn tuổi, chúng ta càng có đam mê lâu dài và kiên trì hơn.

Để phân biệt 2 cách giải thích khác nhau này, chúng ta cần thực hiện nghiên cứu theo kiểu khác. Để có được số liệu như vừa giới thiệu, tôi đã hỏi nhiều người ở các lứa tuổi khác nhau về mức độ bền bỉ của họ ở thời điểm hiện tại. Tôi thu được những ghi chép nhanh về tính bền bỉ ở thanh niên và người lớn tuổi. Lý tưởng nhất là tôi nên theo dõi họ suốt phần

đời còn lại giống như cách George Vaillant tiến hành với sinh viên trường Harvard. Vì Thang đo tính bền bỉ cũng mới ra đời nên tôi không thể chiếu cho bạn xem bộ phim tua nhanh về tính bền bỉ trong cả đời người. Điều tôi muốn là một bộ phim. Còn điều tôi có chỉ là một mẩu thông tin.

Thật may mắn, nhiều khía cạnh nhân cách đã được kiểm tra trong thời gian dài. Rất nhiều nghiên cứu đã theo dõi người tham gia trong nhiều năm hoặc vài thập kỷ và thấy các khuynh hướng rõ ràng. Hầu hết chúng ta có ý thức hơn, tự tin hơn, quan tâm hơn và điềm đạm hơn nhờ trải nghiệm cuộc sống. Nhiều thay đổi đã xảy ra trong khoảng từ 20 đến 40

tuổi, nhưng trên thực tế không có thời điểm nào trong cuộc đời con người mà nhân cách ngừng phát triển. Tóm lại, những số liệu này chứng minh điều các chuyên gia tâm lý nhân cách ngày nay gọi là “nguyên tắc của sự trưởng thành”.

Chúng ta lớn lên. Hoặc ít nhất, hầu hết chúng ta đều lớn lên.

Ở mức độ nào đó, những thay đổi này được lập trình từ trước và mang tính chất sinh học. Ví dụ, tuổi dậy thì và thời kỳ mãn kinh là những điều kiện làm thay đổi tính cách của chúng ta. Nói đúng hơn, thay đổi tính cách là một chức năng của trải nghiệm sống.

Nói chính xác thì trải nghiệm sống làm thay đổi tính cách như thế nào?

Lý do khiến chúng ta thay đổi là vì chúng ta đã biết thêm một điều gì đó mà trước đó chưa từng biết. Ví dụ, chúng ta có thể học thông qua hành động thử và sai, hành động này lặp lại nhiều lần khiến tham vọng nghề

nghiệp thay đổi liên tục và thất bại. Đó chắc chắn là điều đã xảy ra với tôi ở tuổi 20. Sau khi điều hành một tổ chức phi lợi nhuận, theo đuổi nghiên cứu khoa học thần kinh, làm tư vấn quản lý cho tới dạy học, tôi nhận thấy được là một “lính mới đầy hứa hẹn” rất vui nhưng là một chuyên gia thực thụ còn thích hơn nhiều. Tôi cũng nhận ra những năm tháng làm việc vất vả thường không hiệu quả đối với tài năng bẩm sinh, đam mê cũng như kiên trì mới là điều kiện cần thiết để vươn tới đỉnh cao.

Tương tự, như nhà văn John Irving đã nói: “Muốn làm việc gì đó thực sự

tốt, bạn phải vượt quá chính bản thân mình” để tôn vinh sự thật là “khi làm đi làm lại việc gì đó nhiều lần, điều chưa bao giờ là tự nhiên sẽ trở

thành điều tự nhiên” và cuối cùng, khả năng làm việc chăm chỉ, cần cù

“không đến sau một đêm”.

Ngoài sự hiểu biết thêm về con người như vừa nêu, còn điều gì thay đổi theo tuổi tác?

Tôi nghĩ điều làm thay đổi chính là hoàn cảnh. Khi lớn lên, chúng ta gặp những tình huống mới. Chúng ta kiếm được công việc đầu tiên. Chúng ta có thể lập gia đình. Cha mẹ chúng ta già đi và chúng ta trở thành người chăm sóc họ. Thông thường, những hoàn cảnh mới như vậy buộc chúng ta phải hành động khác trước. Không loài nào trên hành tinh này có khả

năng thích ứng tốt hơn con người. Chúng ta trưởng thành lên theo hoàn cảnh.

Nói cách khác, chúng ta thay đổi khi chúng ta cần. Nhu cầu là điều kiện để thích nghi.

Đây là một ví dụ để chứng minh. Vì lý do nào đó, con gái út của tôi, Lucy lên 3 tuổi, vẫn chưa biết dùng bô. Vợ chồng tôi đã cố gắng hết sức để dụ

dỗ con bỏ bỉm. Chúng tôi đã đọc tất cả những gì nên làm và cố gắng để

làm theo tất cả – hoặc ít nhất, chúng tôi đã thử hết sức để làm những việc cần thiết nhưng đều không có tác dụng. Ý chí của Lucy chứng minh con mạnh mẽ hơn chúng tôi.

Không lâu sau sinh nhật lần thứ 3, Lucy chuyển lớp: Từ lớp nhà trẻ mà ở

đó hầu hết trẻ đều dùng bỉm sang lớp “trẻ lớn hơn”, lớp này không có chỗ thay bỉm. Ngày đầu tiên vào lớp mới, con bé mở to mắt nhìn khung cảnh mới – có đôi chút sợ hãi. Tôi nghĩ và cũng không mong cháu có thể

học lâu hơn ở lớp cũ, nơi con bé cảm thấy vô cùng thoải mái.

Tôi sẽ không bao giờ quên buổi chiều hôm ấy, khi đến đón Lucy. Con bé cười với tôi đầy tự hào và nói rằng nó đã bỏ bỉm. Rồi sau đó, bằng rất nhiều từ ngữ, con kể tôi nghe con đã hoàn toàn từ bỏ bỉm như thế nào.

Quả thực vậy. Việc học cách dùng bô chỉ diễn ra trong một phút. Sao lại như vậy được? Bởi khi con bé xếp hàng đi bô cùng với những trẻ khác và biết nếu đến lượt thì mình phải làm được điều ấy. Thế là con bé đã học điều nó cần phải làm.

Bernie Noe, Hiệu trưởng trường Lakeside tại Seattle gần đây đã chia sẻ

câu chuyện về con gái ông. Câu chuyện minh họa nguyên tắc trưởng thành. Gia đình Noe sống trong khuôn viên trường nhưng ở tuổi thiếu niên, con gái ông hầu như đều vào học muộn.

Một mùa hè, con gái ông nhận gấp quần áo thuê cho hãng American

Eagle gần nhà. Trong ngày làm việc đầu tiên, người quản lý cửa hàng nói:

“Đây là lần đầu cháu đi làm muộn, cháu sẽ bị phạt đấy.” Cô bé choáng váng. Không có cơ hội thứ hai sao? Cả đời mình, con bé luôn được hưởng sự kiên trì, thấu hiểu và được cho cơ hội thứ hai.

Điều gì đã xảy ra?

Noe nhớ lại: “Thật ngạc nhiên. Nói hoa mỹ thì đó là sự thay đổi hành vi ngay lập tức mà tôi đã từng thấy ở con.” Đột nhiên, con gái ông đặt hai đồng hồ báo thức để chắc chắn mình đi làm đúng giờ hoặc đi làm sớm vì ở đó, người ta không chấp nhận việc đi làm muộn. Là hiệu trưởng, ông có nhiệm vụ dẫn dắt giới trẻ để chúng trưởng thành, do vậy Noe thấy mình chẳng có chút sức mạnh nào. “Nếu anh là một doanh nhân, anh không quan tâm liệu trẻ nghĩ chúng có đặc biệt không. Điều anh quan tâm là “Côcậu có biết giao hàng không? Nếu côcậu không giao được hàng thì chúng tôi sẽ không thuê côcậu.”

Sách vở không dạy về hệ quả.

Tôi nghĩ nguyên tắc trưởng thành là: Qua thời gian, chúng ta biết bài học cuộc sống là điều chúng ta không quên và thích nghi để phù hợp với đòi hỏi ngày càng cao của hoàn cảnh. Rõ ràng, cách suy nghĩ và hành động mới đã trở thành thói quen. Rồi đến một ngày chúng ta còn không thể

nhớ nổi sự non nớt của chính mình. Chúng ta đã thích nghi, sự thích nghi đã trở nên bền lâu, cuối cùng, nó trở thành đặc điểm nhận dạng của chính chúng ta – quan điểm của chúng ta về các típ người – cũng đã thay đổi. Chúng ta trưởng thành.

Tóm lại, các dữ liệu tôi thu được về đức tính bền bỉ và tuổi của đối tượng nghiên cứu là phù hợp với hai câu chuyện trên. Một câu chuyện cho biết tính bền bỉ của chúng ta thay đổi vì nó là một chức năng của kỷ nguyên văn hóa mà ở đó chúng ta lớn lên. Câu chuyện thứ hai nói rằng chúng ta bền bỉ hơn khi nhiều tuổi hơn. Cả hai câu chuyện đều có thể đúng song tôi lại có chút nghi ngờ chúng chỉ đúng ở mức độ nào đó thôi. Cả hai câu chuyện trên cho biết bền bỉ không phải là phẩm chất cố định hoàn toàn.

Cũng giống như mọi khía cạnh tâm lý khác, bền bỉ linh hoạt hơn bạn nghĩ.

***

Nếu bền bỉ có thể phát triển thì nó diễn ra như thế nào?

Tôi đã nhận được thư, e-mail gần như hàng ngày từ những người muốn rèn luyện và nâng cao tính bền bỉ. Họ cảm thấy họ đã lãng phí tài năng của mình. Họ rất muốn có mục tiêu lâu dài và khao khát theo đuổi mục tiêu đó với niềm đam mê và sự kiên trì.

Nhưng họ không biết bắt đầu từ đâu.

Để bắt đầu, bạn phải biết mình đang ở vị trí nào. Nếu bạn chưa bền bỉ

như bạn muốn, hãy hỏi tại sao.

Câu trả lời hiển nhiên nhất người ta vẫn thường nói là: “Tôi đoán là tôi chỉ lười thôi.”

Một câu trả lời khác là: “Tôi không đáng tin đâu.”

Hoặc: “Tôi vốn tính cả thèm chóng chán.”

Tôi nghĩ tất cả những câu trả lời này đều sai.

Trên thực tế, khi người ta đánh mất điều gì đó thì đều có lý do. Thực tế, họ làm vậy vì nhiều lý do khác nhau. Bất kỳ suy nghĩ nào trong số 4 suy nghĩ sau đây đều có thể lướt qua đầu bạn trước khi bạn từ bỏ việc đang làm:

“Tôi chán.”

“Không đáng để cố gắng.”

“Điều này không quan trọng với tôi.”

“Tôi không thể làm điều này, tôi có thể sẽ từ bỏ.”

Những suy nghĩ như vậy chẳng có gì sai – ít nhất là về mặt đạo đức. Trong chương trước, tôi đã cất công chứng minh những người bền bỉ đột phá cũng từng từ bỏ mục tiêu. Nhưng đặt ra mục tiêu càng cao, họ sẽ càng quyết tâm đạt được. Điều quan trọng nhất là những người đó không đổi chiều la bàn: Mục tiêu quan trọng sẽ định hướng mọi việc họ làm, người bền bỉ sẽ không thốt ra những lời nói kiểu như trên.

***

Qua việc phỏng vấn những người đam mê và kiên trì, tôi đã biết họ trở

nên bền bỉ hơn bằng cách nào. Tôi cũng giới thiệu vắn tắt những cuộc phỏng vấn này trong toàn bộ cuốn sách để bạn hiểu rõ hơn suy nghĩ và

cảm nhận của một người bền bỉ đột phá cũng như xem xét xem liệu có niềm tin, thái độ hay thói quen nào đáng để bạn học hỏi không.

Các câu chuyện về người bền bỉ chỉ là dạng tư liệu, nó bổ sung cho các nghiên cứu hệ thống, định lượng mà tôi đã tiến hành ở những nơi như

Học viện West Point và Cuộc thi Đánh vần Quốc gia. Bằng cách này hay cách khác, việc nghiên cứu cho tôi biết những trụ cột tâm lý chung của người bền bỉ đột phá. Có 4 trụ cột. Họ cũng vượt qua những ảnh hưởng tiêu cực mà tôi đã nêu ở trên và có khuynh hướng phát triển theo trật tự

nào đó trong nhiều năm.

Thứ nhất, đó là sự hứng thú. Đam mê bắt đầu bằng sự yêu thích đối với việc bạn làm. Tất cả những người bền bỉ mà tôi nghiên cứu đều có thể chỉ

ra một số khía cạnh của công việc họ không thích bằng những người khác, đa số họ cũng từng phải làm 1-2 việc mà họ không thích. Tuy nhiên, họ bị thuyết phục bởi sự nỗ lực nói chung và thấy điều đó ý nghĩa. Nhờ

đam mê và tính tò mò của con trẻ, họ thốt lên: “Tôi thích những gì tôi làm.”

Tiếp theo, đó là khả năng rèn luyện. Một cách thể hiện đức tính kiên trì là nguyên tắc cố gắng làm tốt hơn mỗi ngày, hôm nay làm tốt hơn hôm qua. Do đó, sau khi bạn phát hiện và quan tâm hơn tới việc gì đó, bạn phải toàn tâm toàn ý luyện tập đến mức thành thục. Bạn phải loại bỏ mọi điểm yếu của mình, làm đi làm lại nhiều lần, ví dụ nhiều giờ trong ngày, hết tuần này đến tuần khác, tháng này sang tháng khác, năm này qua năm khác. Bền bỉ đánh bại tính tự mãn. “Dù mất bao nhiêu thời gian, tôi

cũng vẫn muốn nâng cao trình độ” là điệp khúc của tất cả những người bền bỉ cho dù sự hứng thú cụ thể của họ là gì, cho dù họ xuất sắc đến mức nào.

Thứ ba là mục đích. Cho dù đam mê có lớn đến đâu thì niềm tin của bạn vẫn là yếu tố quyết định. Đối với hầu hết mọi người, hứng thú mà không có mục đích cũng không thể duy trì lâu dài. Do vậy, bạn cần xác định công việc là sự hứng thú của cá nhân và đặt nó trong mối quan hệ cân bằng với những vấn đề khác. Đối với một số ít người, mục đích được phát hiện sớm nhưng đối với nhiều người, động cơ để phục vụ người khác chỉ

phát triển sau khi họ hình thành sự hứng thú và nhiều năm thực hành có nguyên tắc. Dù sao, người bền bỉ đột phá luôn nói: “Công việc của tôi quan trọng – đối với tôi và những người khác nữa.”

Cuối cùng là hy vọng. Hy vọng là một cách để trở nên kiên trì. Trong cuốn sách này, tôi sẽ phân tích trụ cột thứ tư sau các nội dung về mối quan tâm, rèn luyện và mục đích – nhưng nó lại là thứ quyết định tất cả các giai đoạn. Từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, điều quan trọng là học cách tiến lên ngay cả khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, ngay cả khi chúng ta còn nghi ngờ. Tại nhiều thời điểm, ở nhiều mức độ, chúng ta có thể

gục ngã. Nếu chúng ta từ bỏ, phẩm chất bền bỉ sẽ tan biến. Nếu chúng ta đứng dậy, phẩm chất ấy sẽ được nuôi dưỡng, phát triển.

***

Nếu không bị những ý kiến của nhà tâm lý như tôi xen vào, bạn hẳn đã tự xác định cho mình biết bền bỉ là như thế nào. Bạn có thể đã có sự hứng

thú sâu sắc và vĩnh cửu, một khao khát vượt qua thử thách, một cảm giác ngày càng rõ ràng về mục đích, một niềm tin chắc chắn về khả năng tiến lên phía trước mà không vận rủi nào có thể nhấn chìm bản thân. Nếu vậy, bạn có thể đạt 5/5 điểm của Thang đo tính bền bỉ.

Ngược lại, nếu không bền bỉ như bạn mong muốn, sẽ có chút gì đó trong những chương tiếp theo dành cho bạn. Cũng giống khi học toán và học chơi piano, bạn có thể hiểu hơn bền bỉ là gì với tư cách là một đặc điểm tâm lý nhưng sẽ có rất ít lời khuyên nào có thể phát huy hiệu quả.

Bốn trụ cột tâm lý gồm sự hứng thú, luyện tập, mục đích và hy vọng không phải là thứ bạn có hoặc không có. Bạn có thể học cách phát hiện, phát triển và khắc sâu sự hứng thú. Bạn có thể hình thành thói quen về

nguyên tắc. Bạn có thể nuôi dưỡng cảm giác về mục đích và ý nghĩa. Và bạn có thể dạy mình biết hy vọng.

Bạn có thể trở nên bền bỉ hơn bắt đầu từ trong thâm tâm rồi đến hành vi bên ngoài. Nếu bạn muốn biết cách, hãy đọc tiếp nhé.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.