Người Nhật có câu châm ngôn: “7 lần ngã, 8 lần đứng dậy.” Nếu đi xăm, tôi sẽ xăm những chữ này cho mình.
Hy vọng là gì?
Người ta thường hy vọng ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay. Trời sẽ hửng nắng hoặc con đường phía trước sẽ bằng phẳng hơn. Đó là hy vọng về
điều sẽ đến mà chẳng đòi hỏi trách nhiệm làm cho mọi thứ trên cuộc đời này tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, bền bỉ lại phụ thuộc vào kiểu hy vọng mong ước cải thiện tương lai. Suy nghĩ tôi cảm thấy tương lai sẽ tốt hơn hoàn toàn khác với suy nghĩ tôi quyết tâm để ngày mai tốt hơn. Hy vọng của người bền bỉ
không liên quan gì đến sự may rủi và việc phải đứng lên lần nữa.
***
Vào học kỳ mùa xuân của năm thứ nhất tại trường đại học, tôi đăng ký theo học môn sinh lý học hệ thần kinh.
Tôi thường đi học sớm và ngồi ngay bàn đầu, ở vị trí này tôi có thể ghi chép mọi phương trình và biểu đồ. Ngoài giờ học, tôi đọc tất cả các sách liên quan và làm mọi bài tập được giao. Ở bài thi đầu tiên, tôi không nắm chắc một số nội dung kiến thức – đó là môn học khó và kiến thức sinh
học ở trường cấp ba của tôi quá ít – nhưng nhìn chung tôi vẫn cảm thấy khá tự tin.
Bài thi mở đầu với những câu hỏi tương đối dễ và các câu hỏi tiếp theo thì ngày càng khó. Tôi bắt đầu cuống và nghĩ trong đầu: Mình sẽ không thể hoàn thành bài thi này! Mình chẳng biết mình đang làm gì! Mình sẽ
thi trượt! Tất nhiên, đây là lời dự đoán của riêng tôi. Trong đầu càng xuất hiện những suy nghĩ như vậy, tôi lại càng không thể tập trung được. Thời gian làm bài vụt trôi trước khi tôi kịp đọc câu hỏi cuối cùng.
Vài ngày sau, giáo sư trả bài. Tôi thất vọng tràn trề vì điểm thi quá tệ, ngay sau đó, tôi lê bước tới phòng giáo viên hỗ trợ. Thầy nói: “Em nên cân nhắc việc dừng học môn này. Em mới chỉ là sinh viên năm thứ nhất.
Em còn tới ba năm nữa. Lúc nào em cũng có thể đăng ký học lại.”
Tôi trả lời: “Em đã học sinh học nâng cao hồi cấp 3.”
“Kết quả thế nào?”
“Em đạt điểm A, nhưng giáo viên của em không dạy gì nhiều cho chúng em, đó là lý do tại sao em đã không thực sự thi AP24.” Lời nói này càng khẳng định cảm nhận của giáo sư rằng tôi nên dừng môn học này.
24 AP – viết tắt của Advanced Placement – là Chương trình xếp lớp nâng cao - kỳ thi dành cho học sinh phổ thông có kế hoạch vào đại học, được tổ chức bởi College Board – đơn vị tổ chức thi SAT và TOEFL. Việc dạy và học AP rất phổ biến trong các trường phổ thông tại Mỹ. (BTV)
Hoàn cảnh tương tự cũng lặp lại vào giữa học kỳ dù tôi đã học hành chăm chỉ nhưng sau đó vẫn phải đến phòng giáo viên hỗ trợ thêm lần nữa. Lần này, giọng thầy nghiêm túc hơn: “Em không muốn trượt môn này chứ?
Vẫn chưa muộn để rút tên khỏi danh sách học đâu. Nếu rút tên, em sẽ
không bị ghi vào bảng điểm GPA25.”
25 GPA là tiêu chí quan trọng để săn học bổng của các trường đại học trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ, điểm GPA quyết định chất lượng học bổng mà du học sinh nhận được. (BTV)
Tôi cảm ơn thầy vì đã dành thời gian cho tôi rồi đóng cửa lại. Trên hành lang, tôi cũng ngạc nhiên thấy mình không hề khóc. Ngược lại, tôi nhìn nhận lại tình huống này: Hai sự thất bại và chỉ còn một bài thi nữa – bài thi cuối cùng – trước khi kết thúc học kỳ. Lẽ ra tôi nên đăng ký môn học dễ hơn, còn bây giờ khi đã quá nửa học kỳ trôi qua, việc học hành chăm chỉ của tôi vẫn chưa đạt hiệu quả. Nếu tiếp tục, tôi có nguy cơ nhận điểm F trong bảng điểm. Nếu dừng lại, tôi sẽ loại bỏ được thất bại.
Tôi nắm chặt tay, mím chặt môi và bước thẳng tới phòng đăng ký. Lúc đó, tôi quyết tâm hoàn thành môn học này và thậm chí còn chọn chuyên ngành sinh lý học thần kinh.
Nhớ lại ngày trọng đại đó, tôi thấy mình gần như gục ngã – hay chính xác hơn tôi đã chủ động rơi vào tình huống ấy. Dù sao, đó cũng là giây phút tôi có thể thay đổi nếu muốn. Tôi đã có thể tự nói với bản thân: Mình đúng là kém cỏi! Mình chẳng làm được việc gì! Và tôi có lẽ đã có thể dừng môn học.
Ngược lại, chính lời tự nhủ đã mang lại hy vọng cho tôi: Tôi sẽ không buông bỏ! Tôi có thể giải quyết được vấn đề này!
Trong toàn bộ thời gian còn lại của học kỳ, tôi không chỉ cố gắng hơn mà còn thử làm nhiều bài tập chưa từng làm trước đó. Tôi không bỏ lỡ giờ
học nào tại phòng giáo viên dạy kèm. Tôi đề nghị được giao thêm bài. Tôi luyện những bài khó nhất với sức ép về thời gian – giống như điều kiện cần để thực hiện màn trình diễn hoàn hảo. Tôi biết tâm lý sẽ là vấn đề
trong giờ thi, vì vậy, tôi quyết tâm học vững đến mức không gì có thể
khiến tôi ngạc nhiên. Rồi bài thi cuối kỳ cũng đến, tôi cảm thấy như thể
mình đã nhắm mắt mà viết vậy.
Tôi vượt qua bài thi cuối cùng. Ở môn này, tôi đạt điểm B – số điểm thấp nhất tôi từng nhận trong 4 năm đại học, nhưng chắc chắn nó là điểm số
khiến tôi tự hào nhất.
***
Tôi không hề biết khoảng thời gian vật lộn với môn sinh lý học thần kinh cũng là lúc tôi tái hiện lại các điều kiện của một thí nghiệm tâm lý nổi tiếng.
Hãy để tôi quay ngược đồng hồ trở lại năm 1964. Khi ấy, Marty Seligman và Steve Maier mới chỉ là nghiên cứu sinh năm thứ hai ngành tâm lý. Họ
có mặt tại một phòng thí nghiệm không có cửa sổ và theo dõi thử nghiệm trên chó. Các xung điện được truyền ngẫu nhiên và không báo trước vào chân sau của một con chó ở trong chuồng. Nếu con chó không có phản
ứng gì, các xung điện sẽ kéo dài vài giây, nhưng nếu con chó đẩy mũi vào tấm ván treo phía trước, các xung điện sẽ lập tức bị ngắt. Ở một chuồng khác, một con chó khác cũng nhận được xung điện tương tự nhưng không có tấm biển treo phía trước. Nói cách khác, hai con chó cũng nhận được số lần xung điện giống nhau nhưng chỉ có con chó thứ nhất kiểm soát được thời gian của mỗi lần sốc điện. Sau 64 lần xung điện, hai con được thả về chuồng, những con khác được đưa vào để lặp lại thí nghiệm này.
Ngày hôm sau, lần lượt từng con chó được đưa vào một chiếc thùng khác gọi là mê cung. Chiếc mê cung này được ngăn đôi bằng một tấm chắn vừa đủ để con chó có thể nhảy qua. Người ta bật một âm thanh cao tần, thực chất nó là cứu cánh cho con chó khi bị giật điện, nguồn điện được phát ra từ dưới mặt sàn chỗ con chó đứng. Gần như tất cả những con chó vượt qua được cú xung điện ngày hôm qua đều nhảy qua tấm chắn. Chỉ
cần nghe thấy âm thanh là chúng lập tức nhảy qua để được an toàn.
Ngược lại, 2/3 số chó không kiểm soát được cú xung điện hôm trước chỉ
nằm xuống rên rỉ, thụ động chờ cho đến khi kích thích kết thúc.
Thí nghiệm có tác động sâu xa này lần đầu tiên chứng minh rằng khả
năng chịu đựng không dẫn đến sự bất lực. Sự chịu đựng khiến bạn nghĩ
rằng mình không thể kiểm soát được tình huống.
Nhiều năm sau khi quyết định theo học chuyên ngành mình từng suýt thi trượt, tôi đến phòng dành cho học viên cao học chỉ cách nơi làm việc của Marty vài cánh cửa để đọc các tài liệu liên quan tới thí nghiệm về sự
bất lực do huấn luyện. Tôi nhanh chóng nhận ra những điểm tương tự
với trải nghiệm trước đây của mình. Bài kiểm tra sinh lý học thần kinh đầu tiên đã mang tới nỗi đau ngoài mong đợi. Tôi vật lộn để vượt qua tình trạng của mình nhưng rồi đến giữa học kỳ tôi lại bị sốc lần nữa.
Chiếc thùng thí nghiệm chính là nửa học kỳ sau. Liệu tôi có thể đúc kết từ trải nghiệm trước đó rằng tôi không thể thay đổi được tình trạng không? Sau tất cả, trải nghiệm cuối đã cho tôi thấy hai kết quả thảm hại sẽ được nối tiếp bởi kết quả thảm hại thứ ba.
Hoặc tôi sẽ giống mấy con chó trong thí nghiệm trên – bất chấp nỗi đau ngoài khả năng kiểm soát và nhanh chóng chuyển sang hy vọng? Liệu tôi có nên xem sự chịu đựng trước đây là hệ quả của những sai lầm nào đó không? Liệu tôi có thể bỏ qua quá khứ dù không quên rằng nhiều lần tôi đã vượt qua thất bại, thậm chí còn chiến thắng?
Sau này, tôi đã hành động giống như 1/3 số chó kiên cường trong nghiên cứu của Marty và Steve. Tôi đã đứng dậy và tiếp tục chiến đấu.
***
Sau thí nghiệm năm 1964, trong suốt cả thập kỷ, nhiều thí nghiệm khác đã chứng minh rõ ràng sự chịu đựng không có kiểm soát sẽ dẫn đến những dấu hiệu trầm cảm lâm sàng, ví dụ như thay đổi về ăn uống và hoạt động thể chất, rối loạn giấc ngủ, kém tập trung…
Khi Marty và Steve công bố phát hiện động vật và con người có thể rơi vào trạng thái bi quan do huấn luyện, họ lập tức vấp phải sự phản đối từ
các nhà nghiên cứu khác. Thời đó, không ai xem xét nghiêm túc khả năng những suy nghĩ của chó trước đó có thể ảnh hưởng đến hành vi sau này của chúng. Trong thực tế, rất ít nhà tâm lý học đồng tình với lý luận cho rằng con người có thể có những suy nghĩ ảnh hưởng đến hành vi của họ.
Ngược lại, họ cho rằng động vật chỉ phản ứng cơ học với những kích thích dễ chịu và khó chịu.
Sau khi thu thập rất nhiều dữ liệu, loại bỏ nhiều cách giải thích, cộng đồng khoa học cuối cùng cũng chấp nhận luận điểm trên.
Sau khi nghiên cứu kỹ những hệ quả nặng nề do căng thẳng ngoài khả
năng kiểm soát ở phòng thí nghiệm, Marty bắt tay vào nghiên cứu cách khắc phục vấn đề này. Ông quyết định bồi dưỡng một nhà tâm lý học lâm sàng. Ông làm việc này dưới sự bảo trợ của Aoron Beck, chuyên gia tâm thần học, người tiên phong trong nghiên cứu nguyên nhân và thuốc điều trị bệnh trầm cảm.
Tiếp theo, Marty nghiên cứu rất sâu về khía cạnh đối lập của bi quan do huấn luyện mà sau này ông gọi là lạc quan do huấn luyện. Điểm mấu chốt tạo nên công trình nghiên cứu mới của Marty thực ra xuất phát từ
nghiên cứu trước đây: Mặc dù có đến 2/3 số chó bị kích thích không có khả năng kiểm soát và từ bỏ việc tự cứu mình, song khoảng 1/3 số còn lại vẫn không từ bỏ. Bất chấp những sang chấn ban đầu, chúng liên tiếp lặp lại hành động có thể giúp chúng thoát khỏi nỗi đau.
Chính những con chó kiên cường ấy đã dẫn dắt Marty tới việc nghiên cứu phản ứng tương tự tôi không từ bỏ khi gặp khó khăn ở con người. Marty
sớm phát hiện thấy người lạc quan cũng như người bi quan hoàn toàn có khả năng đối diện với khó khăn. Khi ấy, họ bị phân chia bởi nhiều cách lý giải: Người lạc quan thường tìm kiếm những nguyên nhân tạm thời và cụ thể cho sự chịu đựng, trong khi người bi quan lặp lại những nguyên nhân giả định tồn tại từ lâu để phàn nàn.
Đây là ví dụ từ thí nghiệm mà Marty và sinh viên đã xây dựng để phân biệt người lạc quan với người bi quan:Hãy tưởng tượng: Bạn không thể
thực hiện mọi công việc người khác kỳ vọng về mình. Bây giờ, hãy hình dung nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề này. Điều gì đã xuất hiện trong suy nghĩ của bạn? Sau khi đọc giả thuyết vừa rồi, hãy ghi lại những phản ứng của mình, rồi sau khi được giới thiệu thêm những giả thuyết khác, phản ứng của bạn sẽ được đánh giá theo mức độ tạm thời (so với mức lâu dài) và cụ thể (so với mức chung).
Nếu là người bi quan, bạn có thể nói tôi chẳng làm gì được hoặc tôi là kẻ
thất bại. Những cách giải thích này cũ rồi; bạn chẳng làm được gì nhiều.
Nó cũng rất chung chung; nó có thể ảnh hưởng nhiều đến các tình huống trong cuộc sống, không chỉ riêng với kết quả làm việc. Những lời giải thích nhàm chán và chung chung đối với khó khăn đã biến những phức tạp nhỏ thành tai họa. Nó khiến việc từ bỏ trở nên hợp lý. Ngược lại, nếu là người lạc quan, bạn có thể nói tôi quản lý thời gian chưa đúng hay tôi làm việc kém hiệu quả vì tôi mất tập trung. Những lời giải thích này mang tính chất tạm thời và cụ thể; “tính linh hoạt” của nó sẽ thúc giục bạn loại bỏ vấn đề.
Khi sử dụng thí nghiệm này, Marty khẳng định so với người lạc quan, người bi quan có thể bị trầm cảm và lo âu nhiều hơn. Hơn nữa, người lạc quan cũng làm tốt hơn ở những khía cạnh không liên quan trực tiếp đến sức khỏe tâm thần. Ví dụ, những sinh viên lạc quan thường đạt điểm cao hơn và ít bỏ học giữa chừng. Thanh niên lạc quan cũng khỏe mạnh hơn cho đến tận tuổi trung niên và họ sống lâu hơn người bi quan. Người lạc quan thường cảm thấy hài lòng hơn với hôn nhân. Một công trình nghiên cứu kéo dài một năm của hãng bảo hiểm MetLife cho thấy số
người lạc quan duy trì vị trí công việc cao hơn gấp 2 lần, họ đạt doanh thu bán hàng cao hơn khoảng 25% so với các đồng nghiệp bi quan.
Tương tự, nghiên cứu về nhân viên bán hàng trong ngành bưu chính viễn thông, bất động sản, thiết bị văn phòng, ô tô, ngân hàng và những ngành nghề khác đã chứng minh người lạc quan đạt doanh số bán hàng cao hơn 20-40 lần so với người bi quan.
Trong một nghiên cứu khác, những vận động viên bơi lội xuất sắc, trong đó có nhiều người từng được đào tạo để tham dự Olympic tại Mỹ đã thực hiện bài kiểm tra về tinh thần lạc quan của Marty. Tiếp theo, huấn luyện viên đề nghị các vận động viên hãy bơi hết sức rồi nhận xét từng người đã bơi chậm hơn một chút so với yêu cầu. Khi được cho cơ hội thử lại, những người lạc quan đã làm được ít nhất là bằng so với lần thử đầu tiên, trong khi người bi quan lại đạt kết quả tồi hơn rất nhiều.
Những người bền bỉ đột phá đánh giá như thế nào về các rào cản? Nhìn chung, tôi phát hiện thấy họ giải thích vấn đề theo chiều hướng lạc quan.
Nhà báo Hester Lacey cũng khám phá ra điều tương tự khi phỏng vấn
những người cực kỳ sáng tạo. Cô đặt câu hỏi sau với từng người: “Điều gì khiến anhchị thất vọng nhất?” Cho dù họ là họa sĩ, doanh nhân hay người hoạt động cộng đồng, câu trả lời của họ đều giống nhau. “Ồ, tôi không thực sự nghĩ về sự thất vọng. Tôi thường tâm niệm rằng mọi thứ
xảy ra đều mang lại cho tôi bài học. Tôi thường nghĩ: ‘Tuy việc này không suôn sẻ nhưng mình sẽ không từ bỏ.’”
***
Cũng trong khoảng thời gian đó, Marty Seligman nhìn lại thời điểm gián đoạn 2 năm kể từ sau nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của mình, giáo viên hướng dẫn mới của ông là Aaron Beck cũng đang băn khoăn về việc học môn phân tâm học của chính mình. Cũng giống hầu hết các nhà tâm lý ở thời điểm đó, Beck được dạy rằng tất cả tình trạng bất ổn về tâm lý đều xuất phát từ những xung đột vô thức ngày thơ bé.
Beck không đồng tình với ý kiến đó. Ông cho rằng chuyên gia tâm lý nên trò chuyện trực tiếp với bệnh nhân về những vấn đề khiến họ cảm thấy buồn phiền và những suy nghĩ của bệnh nhân – cuộc đối thoại bên trong họ – nên được xem là trung tâm của hoạt động trị liệu. Mấu chốt quan trọng trong cách tiếp cận mới của Beck là cùng một vấn đề khách quan –
ví dụ như mất việc, tranh cãi với đồng nghiệp… – có thể dẫn đến nhiều giải thích chủ quan rất khác biệt. Và chính những diễn giải này – chứ
không phải vấn đề khách quan – có thể thúc đẩy cảm xúc và hành vi của chúng ta.
Trị liệu hành vi – nhận thức, phương pháp trị liệu tập trung vào điều trị
trầm cảm và các bệnh tâm lý khác bằng cách giúp đỡ bệnh nhân suy nghĩ
lạc quan hơn và ứng xử lành mạnh hơn, đã chứng minh với bất kỳ nỗi đau nào từng trải qua từ khi còn nhỏ, chúng ta đều có thể học cách nhận biết cuộc “đối thoại tiêu cực bên trong” chính mình và thay đổi hành vi kém thích nghi. Như với những kỹ năng khác, chúng ta có thể rèn luyện khả năng giải thích điều đã xảy ra và phản ứng như người lạc quan. Trị
liệu hành vi – nhận thức ngày nay đã trở thành phương pháp điều trị tâm lý phổ biến đối với chứng trầm cảm, nó đã chứng minh được hiệu quả
lâu dài hơn so với việc điều trị bằng thuốc.
***
Vài năm sau, tôi có một bước đệm trong quá trình nghiên cứu về phẩm chất bền bỉ khi Wendy Kopp, người sáng lập kiêm CEO của Teach for America (TFA), đến thăm Marty.
Sau đó, vẫn là sinh viên của ông, tôi háo hức tham gia buổi họp của họ vì hai lý do. Thứ nhất, TFA gửi hàng trăm học viên cao học đến các trường chất lượng thấp trên khắp nước Mỹ. Từ trải nghiệm cá nhân, tôi biết dạy học là nghề đòi hỏi sự kiên trì, không nơi nào đòi hỏi phẩm chất ấy nhiều hơn các lớp học ở cả thành thị và nông thôn mà các giáo viên TFA được cử đến làm việc. Thứ hai, bản thân Wendy cũng là cá nhân đột phá. Cô đã thai nghén ý tưởng thành lập TFA trong suốt năm học đầu tiên tại Princeton, và không giống như nhiều người hay lý tưởng hóa rồi lại từ bỏ
giấc mơ của mình, cô theo đuổi nó, bắt tay xây dựng từ con số 0 rồi tạo ra một trong những tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất và có ảnh hưởng nhất
nước Mỹ. “Theo đuổi quyết liệt” vừa là giá trị cốt lõi của TFA vừa là cách mà bạn bè và đồng nghiệp dùng để nói về phong cách lãnh đạo của Wendy.
Trong buổi họp, ba chúng tôi đưa ra giả thuyết sau: Giáo viên có cách giải thích lạc quan về những khó khăn thường bền bỉ hơn đồng nghiệp bi quan và ngược lại, sự bền bỉ dự đoán năng lực giảng dạy tốt hơn. Ví dụ, một giáo viên lạc quan có thể liên tục tìm kiếm cách thức giúp đỡ học sinh kém hợp tác, trong khi đó, một giáo viên bi quan có thể đặt ra giả
thuyết chẳng có gì để làm nữa. Để kiểm tra liệu điều đó có đúng không, chúng tôi quyết định đo lường mức độ lạc quan và bền bỉ của giáo viên trước khi họ bước chân vào lớp và một năm sau, chúng tôi đánh giá mức độ hiệu quả giáo viên đã góp phần cải thiện tiến bộ học tập của học sinh.
Tháng 8 năm đó, 400 giáo viên TFA đã hoàn thành thang đo Grit Scale, ngoài ra, bảng hỏi của Marty cũng được sử dụng để đánh giá mức độ lạc quan của họ. Đối với các vấn đề khó khăn, giáo viên nghĩ tới các nguyên nhân tạm thời và cụ thể, còn với những sự kiện tích cực, họ nghĩ tới những nguyên nhân đã có từ lâu và chung chung thì chúng tôi ghi mã phản ứng của họ là lạc quan. Nếu ngược lại, chúng tôi ghi mã phản ứng của họ là bi quan.
Cũng trong cuộc khảo sát này, chúng tôi còn đo lường một yếu tố nữa, đó là “hạnh phúc”. Tại sao? Một mặt, ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy hạnh phúc không chỉ là kết quả của việc thể hiện tốt trong công việc mà còn có thể là nguyên nhân chủ chốt. Ngoài ra, chúng
tôi cũng tò mò muốn biết xem mức độ hạnh phúc của những giáo viên bền bỉ nhất là gì. Niềm đam mê duy nhất và sự kiên trì có ý nghĩa như thế
nào? Liệu bạn có thể vừa bền bỉ vừa hạnh phúc cùng lúc?
Một năm sau khi TFA đã phân loại điểm hiệu quả cho từng giáo viên dựa trên thành tích học tập của học sinh, chúng tôi cũng tiến hành phân tích dữ liệu của mình. Đúng như phán đoán của chúng tôi, giáo viên lạc quan là những người bền bỉ hơn, hạnh phúc hơn; ở chiều ngược lại, bền bỉ và hạnh phúc giải thích được vì sao giáo viên lạc quan có thể giúp nhiều học sinh cải thiện kết quả học tập hơn trong suốt năm học.
Sau khi xem xét kỹ những kết quả này trong một thời gian, tôi bắt đầu nhớ lại kinh nghiệm của bản thân khi còn đi dạy. Tôi nhớ có nhiều buổi chiều tôi về nhà với trạng thái đầy bực bội và kiệt sức. Tôi từng nhiều lần tự vấn về trách nhiệm và kinh nghiệm còn yếu kém của bản thân – “Trời ơi, mình kém cỏi quá!”, “Học sinh ấy lại làm sai à? Cô bé sẽ chẳng thể học được cái này đâu!” Tôi nhớ nhiều buổi sáng thức dậy rồi quyết định thử
thêm lần nữa: Nếu mình mang thanh sô-cô-la Hershey đến rồi chia thành nhiều phần thì học sinh có thể hiểu phân số là gì. Hay nếu mình yêu cầu các học sinh dọn dẹp ngăn bàn vào mỗi thứ Hai thì các em sẽ có thói quen giữ ngăn bàn sạch sẽ.
Số liệu từ nghiên cứu về các giáo viên trẻ, những hiểu biết trực giác của Wendy Kopp cùng kết quả phỏng vấn cá nhân đột phá và nửa thế kỷ
nghiên cứu tâm lý đều đưa ra kết luận chung: Nếu bạn liên tục tìm cách thay đổi tình hình, bạn sẽ có cơ hội tìm ra cách thức. Nếu ngừng tìm kiếm
vì bất lực, thì bạn đã khẳng định đúng là không thể thay đổi được.
Như Henry Ford thường nói: “Dù làm được hay không thì bạn cũng luôn đúng.”
***
Trong thời gian Marty Seligman và Steve Maier nghiên cứu về vấn đề
chịu đựng do thiếu khả năng kiểm soát có nhận thức, học viên chuyên ngành tâm lý tên Carol Dweck cũng đang dần trưởng thành ở đại học.
Carol luôn thắc mắc tại sao một số người quyết không từ bỏ mục tiêu còn một số khác khi rơi vào hoàn cảnh tương tự lại từ bỏ. Sau khi tốt nghiệp, cô đăng ký chương trình Tiến sĩ Tâm lý và đi tìm câu trả lời.
Công trình nghiên cứu của Marty và Steve có ảnh hưởng sâu sắc tới Carol. Cô tin vào những phát hiện của họ nhưng chưa thấy thỏa mãn.
Chắc chắn việc đổ lỗi cho tình trạng khó khăn, tồi tệ của bản thân là vì nhiều lý do không thể kiểm soát khiến bạn trở nên yếu đuối nhưng sự đổ
lỗi này xuất phát từ đâu? Cô đặt câu hỏi: Tại sao có người lớn lên trở nên lạc quan còn người khác lại bị bi quan hóa?
Trong một nghiên cứu của Carol, cô làm việc với học sinh trung học nhằm phát hiện những học sinh nam và học sinh nữ đặc biệt “bi quan”
khi đối diện với thất bại dưới sự đồng thuận của giáo viên, hiệu trưởng và nhân viên tâm lý học đường. Cô cảm nhận được những học sinh này cho rằng vì chúng thiếu năng lực trí tuệ nên mới vấp phải sai lầm chứ
không phải do thiếu nỗ lực. Nói cách khác, cô cho rằng không chỉ thất
bại mới khiến những học sinh này trở nên bi quan, mà ngay cả những niềm tin cốt lõi của các em về thành công và học tập cũng có ảnh hưởng rất lớn.
Để kiểm tra quan điểm của mình, Carol chia học sinh thành hai nhóm.
Một nửa số học sinh được xếp vào chương trình thành công. Trong nhiều tuần liền, các em làm toán và đến cuối mỗi giờ học không kể làm được bao nhiêu bài, các em đều được khen vì đã làm tốt. Số học sinh còn lại được xếp vào chương trình cần phụ đạo. Những học sinh này cũng làm toán nhưng thỉnh thoảng cô giáo sẽ nói các em vẫn chưa làm đủ bài tập trong một số tiết học và quan trọng hơn là các em “lẽ ra phải cố gắng hơn thế”.
Sau đó, tất cả học sinh được giao phiếu bài tập gồm có cả bài dễ và bài khó.
Carol lập luận nếu sự thất bại trước đây là do bi quan thì chương trình thành công sẽ thúc đẩy động cơ cho học sinh. Mặt khác, nếu vấn đề thực sự là do suy nghĩ của học sinh về sự thất bại của mình thì chương trình cần phụ đạo sẽ hiệu quả hơn.
Carol phát hiện thấy học sinh trong chương trình thành công sớm đầu hàng khi gặp các bài toán khó như đã từng làm trước khi tham gia nghiên cứu. Ngược lại, học sinh trong chương trình cần phụ đạo cố gắng nhiều hơn khi gặp bài khó. Dường như các em đều hiểu được rằng thất bại là chỉ báo để cố gắng hơn nữa chứ không phải là lời khẳng định các em thiếu khả năng thành công.
***
Carol đã nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này trong 4 thập kỷ tiếp theo.
Cô nhanh chóng phát hiện ra mọi người thuộc nhiều lứa tuổi có quan niệm riêng về thế giới. Những quan niệm này được xác định là có ý thức nếu Carol hỏi bạn vài câu hỏi và bạn đã có sẵn câu trả lời. Nhưng những suy nghĩ mà bạn có khi gặp chuyên gia trị liệu hành vi – nhận thức, bạn có thể chưa biết cho đến tận khi nghe thấy câu hỏi.
Dưới đây là 4 câu nói Carol sử dụng để đánh giá quan điểm của một cá nhân về trí thông minh.
• Trí thông minh là cái gì đó rất cơ bản mà bạn không thể thay đổi.
• Bạn có thể học những điều mới nhưng không thực sự thay đổi được trí thông minh.
• Cho dù thông minh đến đâu, bạn vẫn chẳng thay đổi được bản thân là mấy.
• Bạn luôn thay đổi được trí thông minh của mình.
Nếu bạn đồng ý với hai ý kiến đầu nhưng không đồng ý với hai ý kiến sau thì bạn là người có tư duy bảo thủ. Nếu chọn ngược lại, bạn là người có tư duy cầu tiến.
Tôi thích nghĩ về tư duy cầu tiến theo cách này: Một số người tin con người thực sự có thể thay đổi. Những người có khuynh hướng cầu tiến cho rằng chúng ta có thể cải thiện trí thông minh nếu có cơ hội phù hợp
và được giúp đỡ, nếu cố gắng hơn và nếu tin tưởng vào bản thân. Ngược lại, một số người cho rằng bạn có thể học được kỹ năng như đi xe đạp, hay bán hàng nhưng khả năng học kỹ năng – tài năng của bạn – lại không thể rèn luyện được. Vấn đề với những người có tư duy bảo thủ – và nhiều người cho rằng những người có tài cũng có lối tư duy này – nằm ở chỗ
chẳng có con đường nào bằng phẳng. Rõ ràng, bạn sẽ có lúc gặp phải vật cản trên đường. Khi ấy, tư duy bảo thủ sẽ trở thành mối nguy hiểm cực lớn. Đây là khi điểm C-, điểm trượt, lời nhận xét tệ hại đối với công việc hay bất kỳ trở ngại nào có thể đánh gục bạn. Với tư duy bảo thủ, bạn có thể xem những trở ngại này là bằng chứng cho rằng bạn chưa đủ thông minh. Với tư duy cầu tiến, bạn tin mình có thể học để làm tốt hơn.
Tư duy được chứng minh tạo ra sự thay đổi ở tất cả các mặt phát triển giống như tinh thần lạc quan. Ví dụ, nếu có tư duy cầu tiến, bạn sẽ có nhiều khả năng học tập tốt, tình cảm và thể chất tốt hơn, có mối quan hệ
xã hội gắn bó và tích cực hơn so với những người khác.
Trước đó vài năm, Carol và tôi đã đề nghị hơn 2.000 học sinh trung học trả lời phiếu hỏi về tư duy cầu tiến. Chúng tôi phát hiện thấy học sinh có tư duy cầu tiến bền bỉ hơn rất nhiều so với học sinh có tư duy bảo thủ.
Ngoài ra, học sinh bền bỉ đạt điểm cao hơn, sau khi tốt nghiệp các em cũng có nhiều khả năng thi đỗ và hoàn thành chương trình đại học hơn.
Tôi cũng đo lường tư duy phát triển và mức độ bền bỉ ở cả trẻ em và người lớn, trong mỗi nhóm mẫu, tôi phát hiện thấy tư duy cầu tiến và đức tính bền bỉ luôn song hành cùng nhau.
***
Khi bạn hỏi Carol rằng tư duy của chúng ta đến từ đâu, cô sẽ kể ra những câu chuyện thành công và thất bại của nhiều cá nhân, những người xung quanh họ, đặc biệt là những người ở vị trí quản lý phản ứng lại với những kết quả này như thế nào.
Ví dụ, hãy nhớ lại điều mọi người nói với bạn lúc bạn làm việc gì đó thực sự tốt lúc còn nhỏ. Bạn có được khen ngợi vì tài năng của mình không?
Bạn có được khen ngợi vì nỗ lực của mình không? Dù họ khen bạn điều gì đi chăng nữa, bạn đều đang sử dụng cơ hội với cùng lối giao tiếp của ngày hôm nay khi đánh giá thành công và thất bại.
Khen ngợi những nỗ lực và nhận biết “tài năng bẩm sinh” là mục đích chính của việc đào tạo giáo viên ở các trường KIPP. KIPP là các chữ viết tắt của Knowledge Is Power Program, đây là chương trình do Mike Feinberg và Dave Levin, hai giáo viên trẻ tuổi, bền bỉ từ chương trình TFA khởi xuống vào năm 1994. Ngày nay, các trường KIPP có hàng nghìn học sinh từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông trên cả nước.
Đa số thành viên của KIPP đều tự nhận mình xuất thân từ các gia đình thu nhập thấp. Dù khó khăn, hầu hết học sinh đều đã tốt nghiệp trung học và hơn 80% trong số đó học lên đại học.
Mỗi giáo viên của KIPP đều nhận được một cuốn từ điển nhỏ trong quá trình đào tạo. Ở một mặt của cuốn từ điển, có những cách khuyến khích giáo viên thường xuyên sử dụng với ý định rõ ràng nhất. Mặt còn lại là ngôn ngữ truyền đi thông điệp khéo léo rằng cuộc sống là học cách thay

đổi chính bạn và học cách làm điều bạn không thể làm được trước đây.
Hãy xem bảng dưới đây, chúng tôi giới thiệu một số ví dụ về ngôn ngữ
được sử dụng theo lứa tuổi. Cho dù bạn là cha mẹ, nhà quản lý, huấn luyện viên hay bất kỳ kiểu giáo viên dạy kèm nào, tôi đề nghị bạn hãy xem xét ngôn ngữ của mình trong vài ngày để có thể củng cố khả năng ngôn ngữ cho chính bản thân bạn và những người khác.
Ngôn ngữ là phương tiện để nuôi dưỡng hy vọng. Nhưng mô phỏng tư
duy cầu tiến – tức là chứng minh bằng hành động – có thể còn quan trọng hơn.
Nhà viết sách kiêm nhà hoạt động James Baldwin từng thử cách này:
“Trẻ em không giỏi trong việc lắng nghe người lớn nhưng chúng chưa bao giờ thất bại trong việc bắt chước họ.” Đây là một trong những câu trích dẫn ưa thích của Dave Levin và tôi cũng đã theo dõi anh sử dụng nó để khai giảng nhiều lớp tập huấn của KIPP.
Một chuyên gia tâm lý trong phòng thí nghiệm của tôi, Daeun Park, gần đây phát hiện điều này là có thật. Trong vòng một năm nghiên cứu học sinh lớp 1 và 2, cô phát hiện thấy những giáo viên thiên vị học sinh giỏi và hay so sánh học sinh giỏi với những học sinh khác đã vô tình khắc sâu tư duy bảo thủ ở học sinh. Trong cả năm học, học sinh của những giáo viên có cách ứng xử này dần dần thích các trò chơi, bài toán dễ “để làm được nhiều câu đúng”. Đến cuối năm, các em đều nhất trí “một người thông minh sẽ vẫn thông minh”.
Tương tự vậy, Carol và cộng sự cũng phát hiện thấy trẻ phát triển tư duy bảo thủ rõ rệt hơn khi cha mẹ coi sai sót là những thứ rất tệ hại và rắc rối.
Điều này đúng ngay cả khi các bậc phụ huynh này nói họ là người có tư
duy cầu tiến. Trẻ quan sát chúng ta rồi bắt chước những việc chúng ta làm.
Cách làm tương tự cũng được áp dụng vào môi trường doanh nghiệp.
Giáo sư Jennifer Chatman tại trường Berkeley và cộng sự gần đây đã tiến hành khảo sát nhân viên của 1.000 công ty theo xếp hạng Fortune về tư
duy, động cơ và cảm giác hạnh phúc. Họ phát hiện thấy mỗi công ty đều có quan điểm giống nhau về tư duy. Ở các công ty có tư duy phối hợp, nhân viên đồng ý với các ý kiến kiểu như: “Để trở nên thành công, công ty dường như tin mọi người ai cũng có tài năng nhất định và họ thực sự
chẳng tác động được gì nhiều để thay đổi điều đó”. Họ cảm thấy chỉ vài người xuất sắc được đánh giá cao, công ty không đầu tư đúng mức vào việc bồi dưỡng các nhân viên khác. Những người tham gia phỏng vấn cũng thừa nhận họ giữ bí quyết, tìm ra các cách nhanh nhất và rẻ nhất,
thậm chí là dối trá để vượt lên những người khác. Ngược lại, ở các công ty có văn hóa tư duy cầu tiến, 47% nhân viên nói đồng nghiệp của họ là người đáng tin cậy, 49% nói công ty khuyến khích đổi mới và 65% nói công ty ủng hộ việc chấp nhận rủi ro.
Bạn đối xử với người tài như thế nào? Bạn phản ứng ra sao khi có người làm bạn thất vọng?
Tôi đoán cho dù tin vào tư duy cầu tiến đến mức nào, bạn cũng thường mặc định bản thân với tư duy bảo thủ. Ít nhất, đây là trường hợp của Carol, Marty và tôi. Tất cả chúng tôi đều biết mình sẽ phản ứng như thế
nào khi ai đó do mình hướng dẫn mang nộp một sản phẩm kém chất lượng. Chúng tôi cố gắng giữ bình tĩnh và tỏ thái độ động viên. Chúng tôi mong đợi phản ứng Được rồi, có điều gì học được ở đây? trước những sai sót.
Nhưng chúng ta là con người. Kết quả không như mong đợi khiến chúng ta cảm thấy căng thẳng. Chúng ta thể hiện thái độ không kiên trì. Khi đánh giá khả năng của người khác, chúng ta cho phép bản thân nghi ngờ
họ có thể làm điều gì nữa để cải thiện, việc đó khiến chúng ta mất tập trung nhất thời khỏi nhiệm vụ quan trọng hơn.
Trên thực tế, bên trong mỗi chúng ta đều có cả tư duy bảo thủ của người bi quan lẫn tư duy cầu tiến của người lạc quan. Nhận thức được điều này rất quan trọng, bởi chúng ta rất dễ mắc sai lầm khi thay đổi điều chúng ta nói mà không thay đổi ngôn ngữ cơ thể, biểu hiện nét mặt và hành vi.
Vậy chúng ta nên làm gì? Bước đi thứ nhất là nên xem xét sự bất đồng giữa ngôn ngữ và hành động của chúng ta. Khi chúng ta tách biệt được như vậy – và sẽ làm được – chúng ta có thể hiểu được việc loại bỏ những quan niệm cứng nhắc, bi quan về thế giới là không hề dễ dàng. Một trong những đồng nghiệp của Carol, Susan Mackie, là người chuyên làm việc với các CEO và khuyến khích họ đặt tên cho những đặc điểm của tư duy bảo thủ hướng nội. Rồi nói ra những điều như “À, hình như tôi đã mang kiểm soát viên Claire đến buổi họp hôm nay.” Hay: “Olivia đang xoay sở
để hoàn thành các yêu cầu, bạn có thể giúp tôi đưa ra hướng giải quyết không?”
Cuối cùng, để hình thành một quan điểm bền bỉ đòi hỏi chúng ta phải thừa nhận rằng con người ta làm tốt hơn tức là họ đã trưởng thành hơn.
Giống như khi chúng ta muốn nuôi dưỡng khả năng vực dậy sau thất bại, chúng ta muốn những người xung quanh hiểu rằng cho dù có cố gắng song nhiều khi họ vẫn có thể thất bại. Song, sẽ luôn có một ngày mai.
***
Gần đây, tôi đã gọi điện cho Bill McNabb để tìm hiểu thêm về quan điểm của ông. Từ năm 2008, Bill làm CEO cho Vanguard, công ty chuyên cung cấp quỹ tương hỗ lớn nhất thế giới.
“Đúng là chúng tôi theo dõi các lãnh đạo cấp cao tại Vanguard và đặt câu hỏi tại sao có người làm tốt hơn những người khác trong suốt những khoảng thời gian dài. Trước đây, tôi thường dùng từ ‘tự mãn’ để nói về
những người không làm việc tốt, nhưng tôi càng xem xét kỹ càng từ này
thì lại càng nhận ra nó không phản ánh đúng sự việc. Mọi người thường có niềm tin: ‘Ôi, tôi không thể học thêm được nữa đâu. Tôi là tôi. Đây là cách tôi làm việc.”
Thế còn những người quản lý mãi về sau mới xuất sắc thì sao?
“Những người tiếp tục thành công ở đây đều là những người cầu tiến. Họ
liên tục khiến bạn ngạc nhiên với sự tiến bộ của họ. Chúng tôi có những người mà nếu bạn xem hồ sơ của họ khi mới vào, bạn sẽ nói: ‘Ồ, người đó làm sao có thể thành công đến vậy?’ Và chúng tôi cũng đã có những người đến đây với những thư giới thiệu vô cùng xuất sắc khiến bạn sẽ
thắc mắc: ‘Tại sao họ không thể phát triển hơn nữa?’”
Rồi Bill phát hiện ra công trình nghiên cứu về tư duy cầu tiến và tinh thần bền bỉ, nó đã khẳng định trực giác của ông – với tư cách là lãnh đạo tập đoàn, người cha, cựu giáo viên dạy tiếng La-tinh ở trường trung học, huấn luyện viên đua thuyền và vận động viên. “Tôi thực sự nghĩ việc con người hình thành nên các lý thuyết riêng về bản thân và thế giới là yếu tố quyết định họ sẽ làm gì.”
Khi tôi đề cập đến câu hỏi chính xác là mỗi người trong chúng ta bắt đầu hình thành những lý thuyết này từ đâu, Bill nói: “Cô có thể không tin nhưng đúng là trước kia tôi là người có tư duy bảo thủ.” Ông hình thành tư duy đó một phần vì cha mẹ ông đã đăng ký cho ông tham gia một nghiên cứu do một trường đại học gần nhà tiến hành khi còn là học sinh tiểu học. Ông nhớ mình đã làm toàn bộ các bài kiểm tra trí thông minh và rồi cuối buổi được nói: “Em làm rất tốt, em sẽ học tốt lắm đấy.”
Trong một thời gian, kết quả chẩn đoán có căn cứ về tài năng cộng với thành công sớm đã củng cố niềm tin của ông: “Tôi vô cùng tự hào vì mình đã hoàn thành các bài kiểm tra nhanh hơn bất kỳ ai. Không phải lúc nào tôi cũng hoàn thành kiểm tra 100%, nhưng tôi thường đạt gần mức như
vậy và tôi vô cùng vui sướng vì không phải cố gắng nhiều mà vẫn làm được.”
Bill cho rằng ông đã trở nên cầu tiến để có thể tham gia vào đội tuyển ở
trường đại học. “Trước đó, tôi chưa bao giờ chèo thuyền nhưng tôi thấy mình thích hoạt động dưới nước. Tôi thích ở ngoài trời. Tôi thích chèo thuyền. Có thể là tôi yêu môn thể thao này.”
Chèo thuyền là thứ đầu tiên Bill muốn làm tốt mà lại không thể làm một cách dễ dàng: “Tôi không có năng khiếu bẩm sinh.” Ông nói: “Ban đầu, tôi thất bại liên tiếp. Tuy nhiên, tôi không ngừng cố gắng và rồi tôi bắt đầu tiến bộ. Đột nhiên, điều này trở nên có ý nghĩa: ‘Tập trung và làm hết sức. Sự cố gắng thực sự có ý nghĩa.’” Đến cuối năm thứ nhất, Bill giành được một vị trí trong đội tuyển dự bị của trường. Điều đó nghe không quá tệ nhưng theo Bill, xét về mặt thống kê, thì với vị trí này, ông sẽ không có cơ hội tham gia vào đội tuyển chính thức. Mùa hè năm ấy, Bill quyết định ở lại trường và tập luyện suốt cả mùa.
Việc luyện tập ấy đã nhận được thành quả xứng đáng. Bill được đề cử vào ghế “số hai” của đội tuyển thi đấu, ông trở thành một trong những người quyết định tốc độ của 7 thành viên còn lại. Khi một trong những thành viên bị chấn thương, Bill liền có cơ hội chứng minh khả năng của mình.
Bằng sự cố gắng của chính mình cùng với người đội trưởng, ông đã thể
hiện xuất sắc. Tuy nhiên, khi thành viên chấn thương hồi phục, huấn luyện viên lại yêu cầu Bill quay về vị trí cũ.
“Vị huấn luyện viên ấy có tư duy bảo thủ – ông ta không tin tôi đã tiến bộ hơn rất nhiều.”
Dù có nhiều lúc thăng trầm, song tư duy cầu tiến của Bill đã được khẳng định. “Nhiều lúc, tôi nản đến mức muốn từ bỏ nhưng lại lưỡng lự, rồi nhiều chuyện được giải quyết đã giúp tôi rút ra một bài học không bao giờ quên. Bài học ấy là khi bạn gặp thất bại, đừng bao giờ nghiêm trọng hóa vấn đề. Bạn cần lùi lại, phân tích những thất bại và rút ra bài học từ
đó. Bạn cũng cần giữ tinh thần lạc quan.”
Bài học này đã giúp Bill như thế nào trong cuộc sống sau này? “Nhiều khi tôi cảm thấy chán nản với công việc. Tôi thấy những người khác được cất nhắc trước tôi. Tôi muốn mọi việc diễn ra theo hướng này song lại không được như vậy. Những lúc như thế, tôi lại tự nhủ: ‘Cứ làm việc chăm chỉ
và học hỏi đi, mọi việc rồi sẽ ổn thôi.’”
***
Nietzsche từng nói: “Những gì không thể giết tôi lại khiến tôi mạnh mẽ
hơn.” Kanye West và Kelly Clarkson cũng có suy nghĩ tương tự; và luôn có lý do khiến chúng ta nhắc lại câu nói này. Nhiều người trong số chúng ta có thể nhớ tới thời điểm chúng ta tự tin đối diện với thách thức so với thuở ban đầu, giống như Bill McNabb.
Ví dụ, trong chương trình Outward Bound – tên chương trình có nghĩa là thời điểm chiếc tàu rời cảng để khám phá nhiều vùng biển, người tham gia sẽ khám phá những địa điểm hoang dã dưới sự dẫn dắt của những người chỉ huy giàu kinh nghiệm trong vài tuần. Kể từ khi ra đời cách đây nửa thế kỷ, Outward Bound luôn giữ quan điểm cho rằng những tình huống khó khăn ở ngoài trời có thể giúp người tham gia nâng cao “mức độ theo đuổi“ và “tinh thần bất bại”. Trên thực tế, qua một số nghiên cứu, chương trình này được chứng minh đã góp phần nâng cao tính độc lập, tự tin, quyết đoán và niềm tin rằng điều gì xảy ra trong cuộc sống đều nằm trong khả năng kiểm soát của bạn. Chưa kể, những lợi ích này còn gia tăng chứ không hề giảm trong sáu tháng sau khi tham gia chương trình.
Cũng như vậy, không thể phủ nhận những gì không thể giết chết chúng ta đôi khi lại khiến chúng ta yếu đuối hơn. Hãy nhớ lại những con chó bị
xung điện nhiều lần mà không có thiết bị kiểm soát. 1/3 số chó tỏ ra kiên cường trước thử thách nhưng chẳng có bằng chứng nào cho thấy trải nghiệm như vậy lại có lợi cho chúng. Ngược lại, đa số chúng đều dễ bị
tổn thương hơn trước những tác động trực tiếp.
Vì vậy, những gì không thể giết chết bạn có lúc lại khiến bạn mạnh mẽ
hơn, song đôi khi nó cũng dẫn đến điều ngược lại. Vậy câu hỏi đặt ra là: Khi nào đấu tranh dẫn tới hy vọng và khi nào đấu tranh dẫn tới bi quan?
Vài năm trước, Steve Maier cùng các sinh viên đã thiết kế thí nghiệm gần giống với thí nghiệm ông và Marty Seligman đã thực hiện hơn 40 năm
trước: Nhóm chuột thứ nhất bị xung điện, nếu chúng dùng hai chân trước để quay chiếc vòng nhỏ thì nguồn điện sẽ lập tức bị ngắt ở vòng quay tiếp theo. Nhóm chuột thứ hai cũng bị điện xung y hệt nhóm thứ
nhất nhưng không có thiết bị kiểm soát thời gian chịu đựng kích thích.
Sự khác biệt cơ bản là trong thí nghiệm mới, chuột chỉ mới 5 tuần tuổi –
đó là tuổi trưởng thành trong vòng đời của loài chuột. Sự khác biệt thứ
hai là ảnh hưởng của trải nghiệm này được đánh giá 5 tuần sau khi chuột đã hoàn toàn trưởng thành. Thời điểm ấy, cả hai nhóm chuột bị xung điện nhưng không có thiết bị kiểm soát, rồi ngày hôm sau, người ta quan sát chúng trong bài kiểm tra về khả năng khám phá xã hội.
Đây là điều Steve đã phát hiện. Những con chuột mới lớn (những con chuột trải nghiệm sự căng thẳng mà chúng không thể kiểm soát) trở
thành những con chuột trưởng thành nhút nhát sau khi bị xung điện lần thứ hai, chúng không có khả năng kiểm soát các xung điện. Điều này không có gì bất thường – những con chuột này trở nên bất lực giống như
cách những con chuột khác đã trải qua. Ngược lại, những con chuột trưởng thành đã từng trải nghiệm cảm giác căng thẳng song kiểm soát được tình huống trở nên mạo hiểm hơn và ngạc nhiên nhất là chúng dường như được hướng dẫn để chống lại tình trạng bất lực do huấn luyện ở tuổi trưởng thành. Điều này hoàn toàn đúng – khi những “con chuột kiên cường“ này lớn lên, những quy trình xung điện thông thường không thể khiến chúng trở nên bất lực nữa.
Nói cách khác, nhờ vào nỗ lực của bản thân, những con chuột mới lớn
không gục ngã, thay vào đó, chúng có thể kiểm soát những gì đang xảy ra và mạnh mẽ hơn trước.
***
Khi nghe nói về công trình thí nghiệm mới của Steve Maier, tôi nghĩ
mình phải trực tiếp gặp ông để trao đổi. Vì vậy, tôi lên máy bay đến Colorado.
Steve giới thiệu với tôi phòng thí nghiệm của ông và chỉ cho tôi thấy những cái lồng đặc biệt được lắp thêm một số bánh xe nhỏ xíu, khi bánh xe quay, dòng điện sẽ bị ngắt ngay lập tức. Sau đó, sinh viên thực hiện thí nghiệm với những con chuột mới lớn mà tôi vừa đề cập quay sang nói chuyện với tôi về đường liên kết não và các chất dẫn truyền thần kinh có liên quan. Cuối cùng, khi tôi và Steve cùng ngồi xuống, tôi đã đề nghị ông giải thích cơ chế sinh lý thần kinh của hy vọng dựa trên thí nghiệm này và bất kể điều gì khác ông đã từng làm trong cả sự nghiệp lâu năm và xuất sắc của mình.
Steve suy nghĩ giây lát. “Vấn đề lớn chỉ gói gọn trong vài câu. Có nhiều vùng trong não của cô sẽ có cùng phản ứng với những trải nghiệm khó chịu. Nó giống hệt cơ chế hoạt động của các hạch trong cơ thể chúng ta.
Trên thực tế, có nhiều khu vực ngoại biên cũng phản ứng với sự ức chế.”
Tôi gật đầu.
“Bây giờ, các cấu trúc ngoại biên này được quy định bởi các vùng não có
tổ chức cao giống như vỏ não trước. Và vì vậy, nếu nhận được lời khen, cô sẽ có suy nghĩ và niềm tin – bất kể là gì theo cách gọi của cô – kiểu như: ‘Đợi một phút. Tôi có thể làm việc này nhỉ?’ hoặc ‘Điều này không quá tệ đâu!’ hay bất kể thứ gì, thì những cấu trúc kiềm chế ở vỏ não sẽ
được kích hoạt. Chúng gửi đi thông điệp: ‘Kiềm chế lại đi! Đừng bị kích động quá như vậy. Có việc chúng ta sẽ làm được.’”
Tôi nghe rõ. Song tôi vẫn chưa hiểu rõ tại sao Steve lại đề cập đến vấn đề
ông gặp phải trong thí nghiệm với những con chuột mới lớn.
Ông nói tiếp: “Câu chuyện dài ngày này cần thêm vài lời giải thích.
Chúng tôi nghĩ các liên kết thần kinh có tính đàn hồi. Nếu cô vượt qua hoàn cảnh khó khăn – hoàn cảnh có ảnh hưởng lớn – từ thời thanh niên, cô sẽ hình thành cách thức để ứng phó với những hoàn cảnh bất lợi về
sau. Điều quan trọng chính là ở chỗ hoàn cảnh bất lợi ấy phải có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Bởi vì những vùng não này phải liên kết với nhau theo cách nào đó, nhưng trong những trường hợp bất lợi nhỏ, sự liên kết ấy sẽ
không xảy ra”.
Như vậy, bạn không thể chỉ thuyết phục ai đó hãy tin rằng họ có thể kiểm soát được thử thách?
“Đúng vậy. Chỉ nói với ai đó rằng họ có thể vượt qua khó khăn là không đủ. Để sự kết nối có thể xảy ra, cô phải kích hoạt mối liên kết thần kinh có chức năng kiểm soát cùng thời điểm với các khu vực kiềm chế cấp thấp. Điều này xảy ra khi cô kiểm soát được hoàn cảnh khó khăn”.
Thế còn cuộc đời nhiều thách thức mà không có kiểm soát thì sao?
Steve đáp: “Tôi rất lo lắng cho những trẻ em nghèo. Chúng có quá nhiều trải nghiệm bất lực và không có đủ trải nghiệm về khả năng kiểm soát.
Chúng không học được những điều như: ‘Cháu có thể làm được việc này.
Cháu có thể thành công với việc đó’. Tôi cho rằng những trải nghiệm ban đầu ấy có những ảnh hưởng lâu dài. Cô nên biết giữa hành động cô làm và điều xảy ra với cô có mối liên quan với nhau: ‘Nếu tôi làm việc này, điều gì đó sẽ xảy ra.’”
***
Nghiên cứu khoa học chứng minh rất rõ ràng, những sang chấn vượt quá khả năng kiểm soát có thể dẫn đến sự suy yếu. Tuy nhiên, tôi còn quan tâm đến những người trải nghiệm sự thất bại đầu tiên trong cuộc đời quá muộn màng. Họ có quá ít cơ hội gục ngã, đứng lên nhưng lại có quá nhiều lý do để gắn bó với kiểu tư duy bảo thủ.
Tôi đã gặp nhiều người thành công, họ là người dễ bị tổn thương nhưng không bộc lộ ra bên ngoài và họ từng vấp ngã ở tuổi trưởng thành rồi vật lộn để đứng lên. Tôi gọi họ là “những người mong manh đầy nghị lực”.
Đôi khi, tôi gặp những người như vậy ngay tại văn phòng của mình sau buổi thi giữa và cuối kỳ. Những con người sáng láng và tuyệt vời này rõ ràng biết cách trở nên thành công chứ không phải thất bại.
Năm ngoái, tôi đã liên hệ với Kayvon Asemani, sinh viên năm thứ nhất tại Penn. Hồ sơ xin việc của Kayvon khiến bạn nghĩ cậu có thể là “người
mong manh đầy nghị lực”: Cậu là học sinh đọc diễn văn tốt nghiệp ở
trường trung học, là Chủ tịch Hội Sinh viên, là ngôi sao thể thao… và nhiều thứ nữa.
Nhưng tôi dám chắc chắn Kayvon là đại diện của típ người có tư duy cầu tiến và lạc quan. Chúng tôi gặp nhau khi cậu học năm cuối tại trường Milton Hershey, trường nội trú miễn phí do nghệ nhân sô-cô-la, Milton Hershey, thành lập dành cho các bé trai mồ côi, cho đến hôm nay, ngôi trường đã trở thành thiên đường cho trẻ em có hoàn cảnh thiệt thòi.
Kayvon và các anh chị em ruột của mình đến học tại trường Hershey ngay trước khi Kayvon lên lớp 5 – một năm sau khi cha cậu bóp cổ mẹ
cậu đến gần chết và bà đã bị hôn mê suốt đời.
Tại trường Hershey, Kayvon tiến bộ vượt bậc. Cậu phát hiện mình đam mê âm nhạc và chơi kèn trombon ở hai ban nhạc của trường. Khi phát hiện mình có khả năng lãnh đạo, cậu đã nhiều lần phát biểu trước các chính trị gia của bang, thành lập một trang tin điện tử do học sinh quản lý, làm chủ tịch nhiều ủy ban và gây quỹ hàng chục nghìn đô-la vì mục đích từ thiện. Năm thứ tư, cậu là Chủ tịch Hội Sinh viên của trường.
Tháng Một, Kayvon viết e-mail cho tôi kể về học kỳ thứ nhất của mình.
Cậu viết: “Em đã hoàn thành học kỳ đầu tiên với số điểm 3,5. Em có ba điểm A và một điểm C. Em không hoàn toàn hài lòng với điều này. Em biết mình có thể đạt điểm A và mình đã làm gì sai để bị C.”
Lý do gì khiến cậu nhận mức điểm thấp nhất như vậy? “Em bị điểm C
môn Kinh tế học vì em còn đang băn khoăn về ngôi trường này và liệu
em có phù hợp với nó không… Rõ ràng em có thể đạt trên mức điểm 3,5, thậm chí điểm 4 cũng không nằm ngoài khả năng của em. Ở học kỳ đầu, em lo lắng mình có nhiều điều cần học hỏi từ các bạn. Sau đó, em nhận thấy em có thể dạy các bạn nhiều điều.”
Học kỳ mùa xuân không hoàn toàn suôn sẻ. Kayvon đạt nhiều điểm A nhưng không tốt như cậu đã kỳ vọng ở hai môn toán. Chúng tôi trao đổi ngắn gọn về khả năng chuyển khỏi Wharton – Khoa Quản trị Kinh doanh có tính cạnh tranh rất cao tại Penn, tôi nói với cậu rằng việc chuyển sang chuyên ngành khác không có gì đáng xấu hổ. Kayvon đã không nghĩ như
tôi.
Đây là những điều cậu đã viết cho tôi vào tháng Sáu: “Lúc nào em cũng gặp khó khăn với các con số và việc tính toán. Tuy nhiên, em sẽ chấp nhận thử thách này, em sẽ cố gắng bền bỉ để cải thiện bản thân, ngay cả
khi điều này có nghĩa là em sẽ tốt nghiệp với điểm GPA thấp hơn mức em có thể đạt nếu chuyển sang ngành khác, ngành nào đó không đòi hỏi em phải làm việc với các con số.”
Tôi không hề nghi ngờ gì về việc Kayvon sẽ liên tục cố gắng, học hỏi và tiến bộ.
***
Tóm lại, những minh chứng mà tôi trình bày ở đây là để kể câu chuyện: Suy nghĩ bảo thủ về khả năng sẽ dẫn đến những giải thích bi quan về
hoàn cảnh khó khăn, từ đó dẫn đến việc cá nhân sẽ vừa đầu hàng vừa

lảng tránh thách thức. Ngược lại, suy nghĩ cầu tiến dẫn đến những giải thích lạc quan về hoàn cảnh khó khăn, từ đó cá nhân sẽ có thái độ kiên cường và tìm kiếm những thử thách mới, vì vậy, họ trở nên mạnh mẽ
hơn.
Về việc tự dạy bản thân hy vọng, tôi khuyên bạn nên thực hiện từng bước theo quy trình trên và đặt câu hỏi: Tôi nên làm gì ở bước này?
Thứ nhất, tôi đề nghị bạn cập nhật hiểu biết về trí thông minh và tài năng.
Khi Carol và cộng sự cố gắng thuyết phục mọi người rằng trí thông minh hay bất kỳ tài năng nào khác đều có thể cải thiện được nếu cố gắng, cô thường mở đầu bằng cách giải thích về não bộ. Ví dụ, cô nhắc đến một nghiên cứu về sự phát triển của não bộ được công bố trên tạp chí khoa học hàng đầu thế giới Nature. Nhiều người trưởng thành trong nghiên cứu này đạt điểm IQ cao hơn so với trước đây, tức là họ kiểm tra lần đầu tiên lúc 14 tuổi, thời điểm nghiên cứu mới bắt đầu và lần thứ hai, lúc 18
tuổi khi nghiên cứu kết thúc. Thực tế này – điểm IQ không hoàn toàn cố
định trong suốt cuộc đời một con người – thường làm người ta ngạc nhiên. Hơn nữa, Carol nói tiếp, những người này cho thấy có sự thay đổi lớn về cấu trúc não bộ: “Những ai có kỹ năng toán học tốt hơn thường hoàn thiện các vùng não liên quan đến toán, điều này thực sự đúng đối
với các kỹ năng tiếng Anh.”
Carol cũng giải thích não bộ có khả năng thích ứng cao. Giống như việc cơ bắp sẽ trở nên săn chắc khi nó thường xuyên được sử dụng, não bộ
cũng thay đổi khi bạn cố gắng kiểm soát thách thức mới. Trên thực tế, chưa bao giờ não bộ hoàn toàn “cố định”. Ngược lại, trong cả cuộc đời chúng ta, các tế bào thần kinh luôn chứa đựng tiềm năng phát triển những liên kết mới và củng cố những liên kết đã có. Hơn nữa, ở tuổi trưởng thành, chúng ta duy trì khả năng sản sinh chất myelin, loại vỏ
bọc bảo vệ tế bào thần kinh và kích thích sự trao đổi tín hiệu giữa các tế
bào.
Thứ hai, tôi gợi ý bạn nên rèn luyện đối thoại nội tâm theo hướng tích cực.
Sự kết hợp giữa liệu pháp hành vi, nhận thức và tình trạng bi quan do huấn luyện đã dẫn đến sự ra đời của chương trình “tập huấn nhằm rèn luyện tính kiên cường”. Chương trình này có tính chất tương tác với nhiều hoạt động trị liệu về hành vi và nhận thức nhằm mục đích phòng ngừa. Trong một nghiên cứu, những học sinh đã tham gia chương trình tập huấn này thể hiện mức độ bi quan thấp hơn, đồng thời có ít triệu chứng trầm cảm hơn ở 2 năm tiếp theo. Trong một nghiên cứu tương tự, sinh viên đại học có tính cách bi quan cũng bớt lo lắng hơn sau 2 năm và ít bị trầm cảm hơn sau 3 năm tham gia chương trình.
Đọc đến chương này, nếu bạn nhận thấy bản thân là người cực kỳ bi quan, tôi khuyên bạn hãy tìm kiếm một chuyên gia trị liệu hành vi và
nhận thức để được giúp đỡ. Tôi biết, lời khuyên này không dễ nghe chút nào. Nhiều năm trước, khi còn ở tuổi thiếu niên, tôi từng viết thư gửi đến chuyên gia Dear Abby để được tư vấn. Cô ấy đã trả lời tôi như thế này:
“Cháu hãy đi gặp nhân viên trị liệu.” Tôi nhớ mình đã xé lá thư của cô ấy, cảm thấy giận dữ vì cô ấy không cho tôi giải pháp rõ ràng hơn, nhanh chóng hơn, thẳng thắn hơn. Tuy nhiên, tôi không quá ngây thơ để đề
nghị bạn đọc 20 trang sách khoa học nghiên cứu về hy vọng nhằm loại bỏ rào cản bi quan bạn đã có từ lâu. Còn có nhiều điều nữa về liệu pháp hành vi, nhận thức và rèn luyện tính kiên cường mà tôi không thể nói hết ở đây.
Trên thực tế, bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh hoạt động đối thoại nội tâm và học cách hạn chế tác động của nó đối với việc phấn đấu vì mục tiêu của mình. Bằng cách luyện tập và thực hiện theo hướng dẫn, bạn có thể thay đổi cách nghĩ, cảm nhận, và quan trọng nhất là hành động khi gặp khó khăn, trắc trở.
Và để chuyển tiếp tới phần cuối của cuốn sách, Bền bỉ – Những yếu tố
khách quan, hãy để tôi đưa ra gợi ý cuối cùng nhằm giúp bạn tự trau dồi sự hy vọng, đó là Tìm kiếm sự giúp đỡ.
Vài năm trước, tôi đã gặp Rhonda Hughes, cô là Tiến sĩ Toán học đã nghỉ
hưu. Không ai trong gia đình Rhonda từng học đại học, nhưng là con gái, ngay từ nhỏ, cô đã thích môn toán nhiều hơn môn tốc ký. Cuối cùng, Rhonda đã đạt được học vị Tiến sĩ Toán học và sau 79 trong tổng số 80
lần nộp đơn xin làm giảng viên bị từ chối, cô cũng nhận được lời mời làm
việc cho một trường đại học.
Rhonda nói với tôi, cô có vấn đề với một mục nằm trong Thang đo tính bền bỉ. “Tôi không thích câu ‘Thất bại không làm tôi nản chí.’ Điều này chẳng có nghĩa gì. Ý tôi là ai mà không bị nản chí khi gặp thất bại cơ chứ?
Rõ ràng là tôi cũng vậy. Tôi nghĩ câu ấy nên được sửa lại thành ‘Thất bại không làm tôi nản chí trong thời gian dài. Tôi sẽ lại đứng lên.’”
Tất nhiên, Rhonda đúng và tôi đã thay đổi nội dung câu đánh giá này theo đề nghị của cô.
Nhưng điều quan trọng nhất về câu chuyện của Rhonda là cô không bao giờ tự mình đứng lên sau vấp ngã. Ngược lại, cô cho rằng tìm kiếm sự
giúp đỡ là một cách tốt để duy trì hy vọng.
Đây chỉ là một trong những câu chuyện cô kể cho tôi: “Tôi được làm việc với một giáo viên dạy kèm, ông biết tôi sẽ trở thành nhà toán học. Mọi thứ bắt đầu khi tôi nhận toàn điểm kém trong các bài kiểm tra của ông và tôi đã tìm đến văn phòng của ông để khóc lóc. Đột nhiên, ông bật dậy khỏi ghế và không nói từ nào, ông bước nhanh ra khỏi phòng. Cuối cùng, khi quay trở lại, ông nói: ‘Cô gái trẻ, cô nên học chương trình thạc sĩ về
toán. Tuy nhiên, cô đã chọn sai các môn học.’ Rồi ông kể tên tất cả những môn học lẽ ra tôi đã phải xác định từ trước cùng với lời hứa cá nhân của những giảng viên khác sẽ giúp đỡ tôi.”
Khoảng 20 năm trước, Rhonda đã đồng sáng lập Chương trình EDGE
cùng Sylvia Bozeman, một nhà toán học khác. EDGE là các chữ viết tắt
của Enhancing Diversity in Graduate Education, sứ mệnh của chương trình là hỗ trợ phụ nữ và sinh viên thiểu số muốn học các chương trình đào tạo Thạc sĩ Toán học. Sylvia nói: “Mọi người cho rằng bạn phải có năng khiếu đặc biệt mới có thể học toán. Họ nghĩ bạn sinh ra đã có khả
năng ấy, nếu không bạn sẽ chẳng bao giờ học được. Nhưng Rhonda và tôi liên tục nhắc lại: “Bạn hoàn toàn có thể phát triển khả năng toán học.
Đừng từ bỏ!”
Rhonda nói với tôi: “Rất nhiều lần tôi muốn từ bỏ công việc của mình và làm cái gì đó dễ dàng hơn. Nhưng luôn có ai đó, bằng cách này hay cách khác, bảo tôi phải tiếp tục. Tôi nghĩ mọi người cần một ai đó như vậy. Cô có vậy không?”