Cho đến tận một năm trước, gần khu Seven Dials vẫn có một cửa hàng nhỏ trông vô cùng nhếch nhác, bên trên có tấm biển với dòng chữ vàng đã phai màu theo thời gian: "C. Cave, Nhà tự nhiên học và Kinh doanh đồ cổ." Hàng hóa trưng bày trong tủ kính vô cùng kỳ lạ và phong phú. Chúng bao gồm vài chiếc ngà voi, một bộ cờ vua thiếu vài quân, hạt cườm và vũ khí, một hộp đựng mắt giả, hai chiếc đầu lâu hổ và một đầu lâu người, mấy con khỉ nhồi bông bị mối mọt ăn (một con đang cầm đèn), một chiếc tủ cổ, vài quả trứng đà lụa bị ruồi làm bẩn, một ít dụng cụ câu cá, và một bể cá bằng thủy tinh trống không, bám đầy bụi bẩn một cách bất thường. Ngoài ra, vào thời điểm câu chuyện bắt đầu, còn có một khối pha lê được mài giũa theo hình quả trứng và đánh bóng sáng chói. Có hai người đang đứng bên ngoài ngõ cửa kính để ngắm nhìn vật đó: một người là mục sư cao gầy, người kia là một thanh niên da ngăm đen, râu đen, ăn mặc giản dị. Chàng thanh niên da ngăm vừa nói vừa khua tay múa chân đầy hào hứng, có vẻ rất mong người đi cùng mua lại món đồ ấy.
Trong lúc họ ở đó, ông Cave bước vào cửa hàng, bộ râu vẫn còn cử động nhai miếng bánh mì phết bơ trong buổi trà chiều. Khi nhìn thấy hai người đàn ông và vật mà họ đang chú ý, nét mặt ông trùng xuống. Ông liếc nhìn ra sau lưng với vẻ chột dạ rồi khẽ khép cửa lại. Ông là một cụ già nhỏ thó, mặt tái nhợt và đôi mắt xanh nhạt đờ đẫn; tóc màu xám bẩn, khoác một chiếc áo khoác dài sờn cũ màu xanh lam, đội chiếc mũ lụa cổ lỗ sĩ và đi dép lê trong nhà đã mòn gót. Ông đứng quan sát hai người đàn ông đang trò chuyện. Vị mục sư thọc tay sâu vào túi quần, đếm một nấp tiền rồi nhe răng cười thân thiện. Ông Cave càng thêm ủ rũ khi họ bước vào cửa hàng.
Vị mục sư không khách sáo, hỏi thẳng giá của quả trứng pha lê. Ông Cave liếc mắt đầy lo lắng về phía cánh cửa dẫn vào phòng khách phía sau, rồi đáp là năm bảng. Vị mục sư liền phàn nàn rằng giá quá cao, nói với cả người đi cùng lẫn ông Cave — thực ra, mức giá này cao hơn rất nhiều so với dự tính ban đầu của ông Cave khi trưng bày món hàng — và một màn mặc cả diễn ra. Ông Cave bước ra cửa tiệm và giữ cạch cửa mở. "Năm bảng là giá của tôi," ông nói, như thể muốn tránh phiền phức vì một cuộc tranh luận vô ích. Khi ông làm vậy, nửa khuôn mặt của một người phụ nữ xuất hiện phía trên tấm rèm ở ô cửa kính trên của căn phòng trong, tò mò nhìn chằm chằm hai vị khách. "Năm bảng là giá của tôi," ông Cave nói, giọng run run.
Chàng thanh niên ngăm đen từ nãy đến giờ vẫn đứng ngoài cuộc, chăm chú quan sát Cave. Bấy giờ anh ta mới lên tiếng. "Cứ trả ổng năm bảng đi," anh ta nói. Vị mục sư liếc nhìn xem anh ta có nói thật không, và khi quay lại nhìn ông Cave, ông nhận ra mặt ông lão đã cắt không còn giọt máu. "Số tiền ấy không nhỏ đâu," vị mục sư nói, rồi thọc tay vào túi bắt đầu đếm số tiền mình có. Ông chỉ có hơn ba mươi đồng xu và đành cầu cứu người bạn đồng hành, người mà ông có vẻ rất thân thiết. Điều này tạo cơ hội cho ông Cave trấn tĩnh lại, và ông bắt đầu lắp bắp giải thích rằng thực ra quả trứng pha lê không hoàn toàn để bán. Hai vị khách tất nhiên tỏ ra bất ngờ và hỏi tại sao ông không nghĩ đến điều đó trước khi ngã giá. Ông Cave lúng túng nhưng vẫn khăng khăng giữ nguyên câu chuyện rằng chiều hôm nay quả trứng không bán, vì đã có một vị khách tiềm năng xuất hiện từ trước. Cả hai cho rằng đây chỉ là chiêu trò đẩy giá lên cao hơn nữa nên định bỏ đi. Nhưng đúng lúc đó, cánh cửa phòng trong mở ra, và chủ nhân của mái tóc đen bờm xờm cùng đôi mắt húp híp xuất hiện.
Đó là một người phụ nữ thô kệch, béo phì, trẻ hơn và to con hơn ông Cave rất nhiều; bà bước đi nặng nề, mặt đỏ bừng. "Quả trứng đó có bán," bà nói. "Và năm bảng là mức giá quá hời rồi. Không hiểu ông nghĩ gì nữa, Cave, mà lại không chịu nhận lời đề nghị của người ta!"
Ông Cave, vô cùng hoảng hốt trước sự xuất hiện đột ngột này, trừng mắt nhìn bà qua cặp kính và, dẫu chẳng mấy tự tin, vẫn khẳng định quyền tự quản lý công việc kinh doanh theo cách của mình. Một cuộc cãi vã bùng nổ. Hai vị khách hào hứng và có phần thích thú theo dõi sự việc, thỉnh thoảng còn đưa ra vài ý kiến góp ý giúp bà Cave. Ông Cave bị dồn vào chân tường, vẫn cố bám lấy câu chuyện lủng củng và vô lý về việc có người hỏi mua quả trứng vào sáng hôm đó, sự lo lắng khiến ông đau đớn. Nhưng ông vẫn kiên quyết đến cùng với một sự cố chấp kỳ lạ. Chính chàng thanh niên gốc Á là người đã chấm dứt màn tranh cãi kỳ quặc này. Anh ta đề nghị hai người sẽ quay lại sau hai ngày nữa — để nhường cơ hội công bằng cho vị khách giả định kia. "Và khi đó chúng tôi nhất định phải mua," vị mục sư nói. "Năm bảng nhé." Bà Cave đứng ra thay mặt chồng xin lỗi, giải thích rằng ông nhà đôi khi "hơi dở hơi", và trong lúc hai vị khách rời đi, cặp vợ chồng chuẩn bị sẵn tinh thần cho một cuộc tranh luận thoải mái về mọi khía cạnh của sự việc vừa rồi.
Bà Cave nói chuyện với chồng bằng một sự thẳng thắn kỳ lạ. Ông cụ tội nghiệp, người run lên vì xúc động, tự làm rối tung lên giữa các câu chuyện của mình, một mặt khẳng định rằng mình đã nhắm được khách hàng khác, mặt khác lại quả quyết rằng quả trứng pha lê đáng giá mười guinea là cái chắc. "Sao ông lại đòi năm bảng?" vợ ông hỏi. "Xin hãy để tôi tự quản lý việc kinh doanh của mình theo cách của tôi!" ông Cave đáp.
Sống cùng ông Cave có một cô con gái riêng và một cậu con trai riêng, và trong bữa tối tối hôm đó, vụ mua bán lại được đem ra mổ xẻ. Không ai trong số họ đánh giá cao phương pháp kinh doanh của ông Cave, và hành động này bị coi là đỉnh điểm của sự ngốc nghếch.
„Con thấy chắc chắn là ổng từng từ chối bán quả trứng đó trước đây rồi,“ cậu con trai riêng, một kẻ lêu lổng mười tám tuổi, lên tiếng.
„Nhưng mà tận năm bảng cơ mà!“ cô con gái riêng, một người hay lý sự đã hăm sáu tuổi, thốt lên.
Những câu trả lời của ông Cave thật thảm hại; ông chỉ có thể lầm bầm những lời khẳng định yếu ớt rằng ông tự biết rõ việc kinh doanh của mình nhất. Họ dồn ông từ bữa tối ăn dở ra cửa hàng để đóng cửa đi ngủ, đôi tai đỏ bừng và những giọt nước mắt ấm ức chực trào sau cặp kính. Sao ông lại để quả trứng pha lê ở cửa sổ lâu đến thế cơ chứ? Thật là ngốc nghếch hết chỗ nói! Đó là nỗi phiền muộn đang đè nặng trong tâm trí ông. Suốt một lúc, ông chẳng thấy có cách nào để né tránh vụ bán chác này.
Sau bữa tối, con gái và con trai riêng của ông chải chuốt rồi đi chơi, còn vợ ông lui lên lầu để ngẫm nghĩ về khía cạnh thương mại của quả trứng pha lê bên ly nước nóng pha chút đường và chanh. Ông Cave bước vào cửa hàng và ở lại đó đến tận khuộn, bề ngoài là để làm mấy hòn non bộ trang trí bể cá, nhưng thực ra là vì một mục đích riêng tư sẽ được giải thích rõ hơn sau. Ngày hôm sau, bà Cave phát hiện ra quả trứng pha lê đã bị nhấc khỏi bệ cửa sổ và đang nằm ẩn đằng sau mấy cuốn sách cũ viết về câu cá. Bà bèn đặt nó trở lại vị trí dễ thấy. Nhưng bà không tranh cãi thêm nữa, vì chứng đau nửa đầu khiến bà chẳng muốn đôi co. Bản thân ông Cave thì lúc nào cũng chẳng thích đôi co. Trả qua một ngày thật khó chịu. Ông Cave, nếu có thể nói vậy, thậm chí còn lơ đễnh hơn thường lệ và cực kỳ cáu kỉnh. Buổi chiều, khi vợ đang chợp mắt theo thói quen, ông lại dời quả trứng pha lê khỏi cửa sổ một lần nữa.
Hôm sau, ông Cave phải đi giao một lô cá nhám cho một trường y, nơi họ cần chúng cho việc mổ xẻ. Vắng mặt chồng, tâm trí bà Cave lại quay về với đề tài quả trứng pha lê cùng những dự tính chi tiêu cho món tiền trời cho trị giá năm bảng. Bà đã vạch ra sẵn mấy kế hoạch vô cùng ưng ý, trong đó có một chiếc váy lụa màu xanh lá cho bản thân và một chuyến đi chơi Richmond, thì tiếng chuông cửa trước reo vang kéo bà ra cửa hàng. Khách hàng là một gia sư luyện thi đến phàn nàn về việc chưa giao số ếch đã đặt từ hôm qua. Bà Cave không ưa hoạ động kinh doanh cụ thể này của chồng, và vị khách, người ghé qua với thái độ có phần hầm hố, đã ra về sau vài câu trao đổi ngắn ngủn — hoàn toàn lịch sự xét về phía ông ta. Ánh mắt bà Cave sau đó tự nhiên hướng về phía khung cửa sổ; vì nhìn thấy quả trứng pha lê chính là sự đảm bảo cho năm bảng tiền mặt và những giấc mơ của bà. Khỏi phải nói bà ngạc nhiên thế nào khi thấy nó đã biến mất!
Bà bước đến cái hốc đằng sau tủ đựng đồ trên quầy, nơi bà đã tìm thấy nó ngày hôm qua. Nó không có ở đó; và bà lập tức bắt đầu lùng sục khắp cửa hàng với vẻ đầy sốt sắng.
Khi ông Cave trở về từ chuyến giao hàng cá nhám vào khoảng gần hai giờ chiều, ông thấy cửa hàng có phần lộn xộn, còn vợ ông thì đang cực kỳ cáu giận, quỳ gối sau quầy hàng và bới tung đống vật liệu nhồi xác động vật của ông lên. Khuôn mặt bà đỏ bừng, hầm hầm ngóc lên khỏi quầy khi tiếng chuông reo báo hiệu ông về, và bà lập tức buộc tội ông là "đã giấu nó đi".
„Giấu cái gì cơ?“ ông Cave hỏi.
„Quả trứng pha lê!“
Nghe vậy, ông Cave tỏ vẻ vô cùng kinh ngạc, lao ngay ra cửa sổ. „Nó không ở đây sao?“ ông nói. „Lạy Chúa tôi! Chuyện gì đã xảy ra với nó thế này?“
Ngay lúc đó, cậu con trai riêng của ông Cave bước từ buồng trong ra cửa hàng — cậu ta về nhà trước ông Cave chừng một phút — miệng chửi thề không ngớt. Cậu ta đang học việc ở một tiệm đồ cũ đằng xa, nhưng vẫn ăn cơm nhà, và tất nhiên là rất bực mình khi thấy chưa có cơm trưa.
Nhưng khi nghe tin quả trứng pha lê bị mất, cậu ta quên béng chuyện ăn uống, cơn giận chuyển hướng từ mẹ sang cha dượng. Ban đầu, tất nhiên họ đều nghĩ chính ông đã giấu nó. Nhưng ông Cave kiên quyết phủ nhận mọi sự liên quan đến tung tích của món đồ, thậm chí còn thề thốt đủ điều — và cuối cùng bị dồn đến mức quay sang buộc tội, trước là vợ và sau đó là con riêng của vợ đã lấy trộm nó để đem bán lu. Cả nhà bắt đầu một trận cãi vã vô cùng gay gắt và đầy cảm xúc, kết thúc bằng việc bà Cave rơi vào một trạng thái thần kinh kỳ lạ lửng lơ giữa sự cuồng loạn và cơn thịnh nộ điên cuồng, đồng thời khiến cậu con trai riêng đi làm muộn mất nửa tiếng vào buổi chiều. Ông Cave trốn tránh những cơn xúc động của vợ bằng cách chạy ra cửa hàng.
Buổi tối, câu chuyện lại tiếp tục với ít sự cay cú hơn và mang tinh thần phán quyết hơn, dưới sự chủ trì của cô con gái riêng. Bữa tối trôi qua tẻ nhạt và kết thúc bằng một màn kịch tính đầy đau đớn. Ông Cave cuối cùng cũng bùng nổ cơn thịnh nộ tột cùng và bỏ ra ngoài, sập cửa trước thật mạnh. Những thành viên còn lại trong nhà, sau khi bàn tán về ông với sự tự do mà việc ông vắng mặt cho phép, đã lùng sục ngôi nhà từ gác mái xuống tận tầng hầm với hy vọng tìm thấy quả trứng pha lê.
Hôm sau, hai vị khách lại ghé qua. Họ được bà Cave tiếp đón trong trạng thái suýt khóc. Hóa ra chẳng ai có thể tưởng tượng nổi tất cả những gì bà đã phải chịu đựng từ Cave trong suốt cuộc hôn nhân của mình. ... Bà cũng kể lại một cách luyên thuyên và sai lệch về sự biến mất của món đồ. Vị mục sư và chàng trai người phương Đông nhìn nhau cười thầm, bảo rằng chuyện đó thật quá kỳ lạ. Vì bà Cave có vẻ muốn kể cho họ nghe toàn bộ lịch sử cuộc đời mình, họ liền tìm cách chuồn khỏi cửa hàng. Lúc đó, bà Cave vẫn ôm một tia hy vọng, bèn hỏi xin địa chỉ của vị mục sư để nếu có thể moi được gì từ Cave, bà sẽ liên lạc lại. Địa chỉ đã được đưa đầy đủ nhưng có lẽ sau đó đã bị để thất lạc. Bà Cave chẳng thể nhớ nổi điều gì về nó cả.
Vào buổi tối hôm đó, nhà Cave dường như đã cạn kiệt mọi cảm xúc, và ông Cave, người đã đi vắng suốt buổi chiều, ăn tối trong một sự cô lập u ám trái ngược hoàn toàn với những cuộc cãi vã nảy lửa của mấy ngày trước. Trong một thời gian, không khí trong gia đình Cave vô cùng căng thẳng, nhưng chẳng thấy cả quả trứng pha lê lẫn vị khách nào xuất hiện lại.
Nói thẳng ra không giấu giếm gì nữa, chúng ta phải thừa nhận rằng ông Cave là một kẻ nói dối. Ông thừa biết quả trứng pha lê đang ở đâu. Nó nằm trong phòng của ông Jacoby Wace, Trợ lý Giảng dạy tại Bệnh viện St. Catherine, phố Westbourne. Nó đặt trên chiếc tủ đựng bát đĩa, bị che khuất một phần bởi một tấm vải nhung đen, bên cạnh một bình đựng rượu whisky kiểu Mỹ. Quả thực, chính từ ông Wace mà các chi tiết làm nền tảng cho câu chuyện này được thu thập lại. Cave đã mang món đồ trốn đến bệnh viện trong chiếc túi đựng cá nhám, và ở đó nài nỉ nhà nghiên cứu trẻ tuổi giữ hộ mình. Ông Wace thoạt đầu có hơi lưỡng lự. Mối quan hệ của ông với Cave khá đặc biệt. Ông có sở thích tìm hiểu những nhân vật kỳ quặc, và đã hơn một lần mời ông lão này đến phòng mình hút thuốc, uống rượu, đồng thời trải lòng về những quan điểm khá thú vị của ông ta về cuộc sống nói chung và về người vợ nói riêng. Ông Wace cũng từng chạm trán bà Cave những lúc Cave không có nhà để tiếp khách. Ông biết rõ những sự quấy rầy liên tục mà Cave phải chịu đựng, và sau khi cân nhắc câu chuyện một cách thấu đáo, ông quyết định cất giữ quả trứng pha lê giúp ông lão. Ông Cave hứa sẽ giải thích rõ hơn về lý do cho tình cảm kỳ lạ của mình dành cho quả trứng vào một dịp khác, nhưng ông nói rất rành mạch về việc nhìn thấy những điều kỳ ảo trong đó. Ông ghé thăm ông Wace ngay tối hôm đó.
Ông kể một câu chuyện phức tạp. Quả trứng, theo lời ông, lọt vào tay ông cùng với mấy món đồ lặt vặt khác trong một vụ bán đấu giá siết nợ của một tiệm buôn đồ cổ khác, và vì không biết giá trị thực của nó là bao nhiêu, ông đã đề giá mười shilling. Nó ế ẩm ở mức giá đó suốt mấy tháng trời, và ông đang định "hạ giá xuống" thì phát hiện ra một điều kỳ lạ.
Vào thời điểm đó, sức khỏe của ông rất kém — và phải nhớ rằng, trong suốt chuỗi trải nghiệm này, thể trạng của ông luôn ở mức suy kiệt — và ông đang vô cùng khốn khổ vì sự thờ ơ, thậm chí là đối xử tệ bạc tột cùng mà vợ và các con riêng dành cho mình. Vợ ông là kẻ hư vinh, hoang phí, nhẫn tâm và ngày càng nghiện ngập lén lút; con gái riêng thì keo kiệt, vụ lợi; còn con trai riêng thì căm ghét ông cay đắng và chẳng bỏ lỡ cơ hội nào để thể hiện điều đó. Áp lực công việc đè nặng lên vai, và ông Wace cho rằng ông cũng không hoàn toàn tránh khỏi việc thỉnh thoảng chè chén say sưa. Ông vốn xuất thân trong một gia đình khá giả, là người có học thức tương đối khá, và phải chịu đựng những cơn u uất cùng chứng mất ngủ kéo dài ròng rã nhiều tuần lễ. Sợ làm phiền gia đình, những khi suy nghĩ trở nên quá đỗi bức bối, ông lại rón rén trượt khỏi giường vợ và lang thang khắp nhà. Và vào khoảng ba giờ sáng một ngày cuối tháng Tám, sự tình cờ đã đưa bước chân ông vào cửa hàng.
Cái tiệm nhỏ bé dơ bas tối đen như mực ngoại trừ một đốm sáng duy nhất, nơi ông nhận thấy một thứ ánh sáng rực rỡ bất thường. Lại gần xem xét, ông phát hiện ra đó chính là quả trứng pha lê, đang đặt ở góc quầy hướng ra phía cửa sổ. Một tia sáng mỏng manh lọt qua khe cửa chớp, chiếu thẳng vào vật thể và có cảm giác như lấp đầy toàn bộ không gian bên trong nó.
Ông Cave chợt nhận ra điều này không hề tuân theo các định luật quang học mà ông từng được học hồi trẻ. Ông có thể hiểu được việc các tia sáng bị khúc xạ qua khối pha lê và hội tụ tại một điểm bên trong nó, nhưng sự khuếch tán ánh sáng này lại đi ngược lại những hiểu biết vật lý của ông. Ông bước lại gần quả trứng pha lê, chăm chú nhìn xuyên qua và xung quanh nó, với sự sống lại thoáng qua của sự tò mò khoa học từng quyết định hướng đi nghề nghiệp của ông thời trẻ. Ông ngạc nhiên khi thấy ánh sáng không hề đứng yên, mà đang uốn lượn bên trong khối chất của quả trứng, tựa như thể vật thể ấy là một quả cầu rỗng chứa đầy một làn hơi nước phát sáng. Khi di chuyển để quan sát từ các góc độ khác nhau, ông chợt nhận ra mình đã đứng vào giữa tia sáng và quả trứng, thế nhưng khối pha lê vẫn tiếp tục phát sáng. Vô cùng kinh ngạc, ông nhấc nó ra khỏi tia sáng và mang đến góc tối nhất của cửa hàng. Nó vẫn sáng rực trong khoảng bốn, năm phút, rồi từ từ mờ dần và tắt hẳn. Khi ông đặt nó trở lại vệt sáng ban ngày, ánh sáng lập tức được khôi phục gần như ngay lập tức.
Ít nhất là đến lúc đó, ông Wace đã có thể kiểm chứng câu chuyện kỳ lạ của ông Cave. Bản thân ông cũng đã nhiều lần cầm quả trứng pha lê này đặt vào một tia sáng (với đường kính nhỏ hơn một milimét). Và trong bóng tối hoàn toàn, chẳng hạn như được bọc kín trong lớp vải nhung, khối pha lê quả thực xuất hiện hiện tượng lân quang rất mờ nhạt. Tuy nhiên, có vẻ như thứ ánh sáng đó mang một tính chất ngoại lệ nào đó và không phải ai cũng nhìn thấy rõ như nhau; bởi vì ông Harbinger — cái tên hẳn rất quen thuộc với giới khoa học qua các công trình liên quan đến Viện Pasteur — hoàn toàn không thể nhìn thấy bất kỳ ánh sáng nào. Và bản thân khả năng cảm nhận của ông Wace cũng kém hơn ông Cave rất nhiều. Ngay cả với ông Cave, năng lực đó cũng dao động vô cùng lớn: thị lực của ông trở nên sống động nhất trong những trạng thái suy nhược và mệt mỏi cực độ.
Ngay từ đầu, thứ ánh sáng trong quả trứng pha lê ấy đã tạo ra một sức hút kỳ lạ đối với ông Cave. Và việc ông không hề hé răng nửa lời với bất kỳ ai về những quan sát kỳ quặc của mình còn nói lên sự cô độc trong tâm hồn ông nhiều hơn cả một tập văn chương đẫm nước mắt. Ông dường như đang sống trong một bầu không khí đầy những sự ganh đua vụn vặt đến mức việc thừa nhận sự tồn tại của một niềmm vui cũng đồng nghĩa với việc đánh mất nó. Ông nhận thấy khi trời hửng sáng và lượng ánh sáng khuếch tán tăng lên, quả trứng pha lê dường như mất đi khả năng phát sáng. Và trong một khoảng thời gian, ông chẳng thể thấy gì bên trong nó, ngoại trừ vào ban đêm tại các góc tối trong cửa hàng.
Nhưng ông chợt nghĩ ra cách dùng một tấm vải nhung cũ — thứ ông vẫn dùng làm phông nền cho bộ sưu tập khoáng vật của mình — và bằng cách gấp đôi nó lại rồi trùm lên đầu lẫn tay, ông đã có thể nhìn thấy chuyển động phát quang bên trong quả trứng pha lê ngay cả giữa ban ngày. Ông hết sức cẩn thận để không bị vợ phát hiện và chỉ luyện tập thói quen này vào các buổi chiều khi bà đang ngủ trưa trên lầu, lại còn phải thật kín đáo nấp trong một cái hốc dưới quầy hàng. Và rồi có một ngày, khi đang xoay chuyển quả trứng pha lê trong tay, ông nhìn thấy một thứ. Nó đến và đi nhanh như chớp, nhưng để lại cho ông ấn tượng rằng vật thể ấy vừa mở ra trước mắt ông khung cảnh của một vùng đất rộng lớn, thênh thang và kỳ lạ; và khi xoay nó qua lại, ngay lúc ánh sáng phai đi, ông lại nhìn thấy viễn cảnh tương tự một lần nữa.
Bây giờ, việc kể lại tất cả các giai đoạn khám phá của ông Cave kể từ thời điểm này sẽ trở nên tẻ nhạt và thừa thãi. Chỉ cần biết rằng hiệu quả của nó là thế này: khi nhìn sâu vào quả trứng pha lê ở góc khoảng 137 độ so với hướng của tia sáng chiếu tới, người ta sẽ thu được một bức tranh rõ ràng và mạch lạc về một vùng nông thôn rộng lớn và kỳ lạ. Nó hoàn toàn không giống như một giấc mơ: nó mang lại một ấn tượng rõ rệt về tính thực tế, và ánh sáng càng tốt thì nó càng hiện lên có thật và vững chắc bấy nhiêu. Đó là một bức tranh chuyển động: nghĩa là có những vật thể chuyển động bên trong đó, nhưng chậm rãi và có trật tự như những sự vật có thật, và tùy theo sự thay đổi của hướng chiếu sáng cũng như góc nhìn, bức tranh cũng thay đổi theo. Quả thực, cảm giác ấy giống như nhìn qua một khung kính bầu dục vào một phong cảnh, rồi xoay chiếc kính qua lại để ngắm nhìn ở các góc độ khác nhau.
Ông Wace đảm bảo rằng những lời khai của ông Cave cực kỳ chi tiết, hoàn toàn không mang chút cảm xúc nào vốn thường làm vấy bẩn những ấn tượng do ảo giác tạo ra. Nhưng cần phải nhớ rằng mọi nỗ lực của ông Wace nhằm tìm kiếm sự rõ ràng tương tự trong lớp ánh sáng mờ đục của quả trứng pha lê đều hoàn toàn thất bại, dù ông có cố gắng thế nào đi chăng nữa. Sự khác biệt về cường độ của những ấn tượng mà hai người thu nhận được là vô cùng lớn, và hoàn toàn dễ hiểu khi thứ vốn là một khung cảnh rõ ràng đối với ông Cave lại chỉ là một đám mờ nhòe mịt mù đối với ông Wace.
Khung cảnh, theo mô tả của ông Cave, luôn là một vùng đồng bằng rộng lớn, và dường như ông luôn nhìn nó từ một độ cao đáng kể, tựa như từ trên đỉnh một ngọn tháp hay một cột buồm. Về phía đông và phía tây, vùng đồng bằng bị giới hạn ở một khoảng cách xa xôi bởi những vách đá đỏ khổng lồ, gợi cho ông nhớ đến những vách đá từng thấy trong bức tranh nào đó; nhưng bức tranh đó là gì thì ông Wace không tài nào dò ra được. Những vách đá ấy kéo dài về hướng bắc và hướng nam — ông có thể xác định các phương hướng nhờ những chòm sao nhìn thấy được vào ban đêm — lùi sâu vào một phối cảnh gần như vô tận và nhạt nhòa dần vào làn sương mờ xa xăm trước khi chúng chạm vào nhau. Ông đứng gần dãy vách đá phía đông hơn; vào dịp chiêm kiến đầu tiên, mặt trời đang mọc lên trên đỉnh những vách đá ấy, nổi bật lên với màu đen ngòm trước ánh nắng và mờ nhạt trước bóng râm của chúng là vô số hình thù bay lượn mà ông Cave cho là loài chim. Một quần thể kiến trúc đồ sộ trải dài bên dưới; ông có cảm giác như đang nhìn xuống chúng; và khi chúng tiến đến phần rìa mờ ảo và khúc xạ của bức tranh, chúng trở nên nhòe đi. Nơi đó cũng có những loài cây có hình dáng kỳ lạ, với sắc màu xanh rêu thẳm cùng một sắc xám tinh tế, nằm bên cạnh một con kênh rộng lớn và sáng lấp lánh. Và một sinh vật gì đó to lớn với màu sắc rực rỡ bay vụt qua bức tranh. Nhưng lần đầu tiên nhìn thấy những hình ảnh ấy, ông Cave chỉ thấy chúng chớp nhoáng, tay ông run lẩy bẩy, đầu lắc lư, viễn cảnh đến rồi đi, trở nên mờ mịt và không rõ ràng. Và ban đầu, ông gặp muôn vàn khó khăn để tìm lại bức tranh một khi đã mất đi góc nhìn.
Lần chiêm kiến rõ ràng tiếp theo của ông, diễn ra khoảng một tuần sau lần đầu tiên — khoảng thời gian ngắt quãng chỉ mang lại những cái nhìn lướt qua đầy trêu ngươi cùng chút kinh nghiệm hữu ích — cho ông thấy khung cảnh dọc theo chiều dài của thung lũng. Cảnh tượng đã khác, nhưng ông có một niềm tin kỳ lạ, mà những quan sát sau đó của ông đã chứng minh hoàn toàn xác đáng, rằng ông đang ngắm nhìn thế giới kỳ lạ đó chính xác từ một vị trí cũ, mặc dù ông đang nhìn theo một hướng khác. Dãy mặt tiền dài của tòa nhà lớn mà ông từng nhìn xuống phần mái nay đang lùi dần theo phối cảnh. Ông nhận ra phần mái đó. Phía trước mặt tiền là một khoảng hiên có tỷ lệ vô cùng bề thế và chiều dài phi thường, và dọc theo giữa khoảng hiên ấy, cách nhau những khoảng đều đặn, là những cột buồm khổng lồ nhưng vô cùng uyển chuyển, mang những vật nhỏ lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời lặn. Ý nghĩa của những vật nhỏ lấp lánh ấy mãi một thời gian sau, khi ông đang mô tả lại khung cảnh cho ông Wace nghe, ông Cave mới ngộ ra. Khoảng hiên ấy nhô ra trên một thảm thực vật vô cùng tươi tốt và duyên dáng, và xa hơn thế nữa là một bãi cỏ xanh rộng lớn, nơi có những sinh vật dạng bản rộng, hình thù giống loài bọ cánh cứng nhưng to lớn đến kinh hoàng, đang nằm nghỉ ngơi. Xa hơn thế nữa lại là một con đường lát đá được trang trí lộng lẫy có màu hồng nhạt; và vượt qua đó, được viền bởi những đám cỏ dại màu đỏ dày đặc và chạy dọc theo thung lũng hoàn toàn song song với những vách đá ở đằng xa, là một vùng nước rộng lớn phẳng lặng như gương. Bầu không khí dường như ngập tràn những phi đội chim lớn, đang bay lượn theo những đường cong oai nghiêm; và băng qua con sông là vô số công trình kiến trúc lộng lẫy, rực rỡ sắc màu và lấp lánh những họa tiết kim loại cùng các mặt cắt, nằm giữa một khu rừng bao gồm những loài cây tựa rêu và địa y. Và đột nhiên, một vật gì đó vỗ phành phạch liên tục khắp khung cảnh, giống như tiếng phất phơ của chiếc quạt cẩn ngọc hay tiếng đập cánh, và một khuôn mặt, hay đúng hơn là phần trên của một khuôn mặt với đôi mắt vô cùng to lớn, áp sát vào ông như thể ở ngay bên kia của khối pha lê. Ông Cave giật mình và bị ấn tượng mạnh bởi sự chân thực tuyệt đối của đôi mắt ấy đến mức ông phải rụt đầu lại khỏi quả trứng pha lê để nhìn ra phía sau nó. Ông đã trở nên tập trung quan sát đến độ vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình đang ở trong không gian mát lạnh và tối tăm của cửa tiệm nhỏ, với mùi hương quen thuộc của cồn, ẩm mốc và sự mục rữa. Và khi ông chớp mắt nhìn quanh, khối pha lê đang phát sáng liền mờ dần rồi tắt hẳn.
Đó là những ấn tượng chung đầu tiên của ông Cave. Câu chuyện mang tính trực diện và chi tiết đến kỳ lạ. Ngay từ đầu, khi thung lũng thoáng hiện lên trong các giác quan của ông trong chớp mắt, trí tưởng tượng của ông đã bị tác động một cách kỳ lạ, và khi ông bắt đầu nhận thức được các chi tiết của khung cảnh mình nhìn thấy, sự ngạc nhiên của ông đã dâng trào đến mức thành niềm đam mê. Ông lơ đễnh và bần thần làm việc, trong đầu chỉ nghĩ đến thời điểm được quay lại với việc quan sát. Và rồi vài tuần sau lần đầu tiên nhìn thấy thung lũng, hai vị khách ghé đến, cùng với áp lực và sự kích động từ lời đề nghị của họ, suýt chút nữa khiến quả trứng pha lê bị bán mất như tôi đã kể.
Bây giờ, khi sự việc vẫn là bí mật của riêng ông Cave, nó chỉ là một điều kỳ diệu đơn thuần, một thứ để lén lút đến gần và ngó trộm, giống như một đứa trẻ lén nhìn khu vườn bị cấm. Nhưng ông Wace, đối với một nhà nghiên cứu khoa học trẻ tuổi, lại có một thói quen tư duy vô cùng mạch lạc và rõ ràng. Ngay khi quả trứng pha lê cùng câu chuyện của nó đến tay ông, và sau khi tự mình chứng kiến hiện tượng lân quang để xác thực rằng thực sự có những bằng chứng chắc chắn cho lời kể của ông Cave, ông đã tiến hành khai thác vấn đề một cách có hệ thống. Ông Cave quá đỗi háo hức được đến để thỏa sức chiêm ngưỡng thế giới thần tiên mà ông nhìn thấy, thế là ông đến đều đặn mỗi đêm từ tám giờ rưỡi đến mười giờ rưỡi, và đôi khi, trong lúc ông Wace vắng nhà, ông còn đến vào ban ngày. Vào các buổi chiều Chủ nhật, ông cũng ghé qua. Ngay từ đầu, ông Wace đã ghi chép lại vô cùng cẩn thận, và chính nhờ phương pháp khoa học của ông mà mối liên hệ giữa hướng của tia sáng kích thích đi vào quả trứng pha lê và phương hướng của bức tranh đã được chứng minh. Và bằng cách bọc quả trứng pha lê vào một chiếc hộp chỉ đục một lỗ nhỏ để lọt tia sáng kích thích, đồng thời thay thế các tấm rèm màu vàng bằng vải lanh đen, ông đã cải thiện đáng kể các điều kiện quan sát; nhờ vậy mà chẳng bao lâu sau, họ đã có thể khảo sát thung lũng theo bất kỳ hướng nào họ muốn.
Do đó, sau khi đã dọn đường, chúng ta có thể tóm tắt ngắn gọn về thế giới ảo ảnh bên trong quả trứng pha lê này. Mọi sự việc trong mọi trường hợp đều do ông Cave nhìn thấy, và phương thức làm việc luôn là ông quan sát quả trứng pha lê rồi thuật lại những gì mình thấy, trong khi ông Wace (với tư cách là một sinh viên khoa học đã học được thói quen viết trong bóng tối) ghi lại những ghi chú ngắn gọn về lời thuật của ông. Khi quả trứng pha lê mờ đi, nó được cất vào hộp đúng vị trí và bật đèn điện lên. Ông Wace đặt câu hỏi và gợi ý những điểm cần quan sát để làm sáng tỏ những khúc mắc. Quả thực, chẳng có điều gì ít mang tính hão huyền và mang tính thực tế hơn thế.
Sự chú ý của ông Cave nhanh chóng hướng về những sinh vật giống loài chim mà ông đã thấy xuất hiện vô cùng nhiều trong mỗi lần chiêm kiến trước đó. Ấn tượng ban đầu của ông sớm được đính chính, và một thời gian sau ông cho rằng chúng có thể đại diện cho một loài dơi hoạt động ban ngày. Sau đó, một cách khá kỳ quặc, ông nghĩ rằng chúng có thể là những thiên thần nhỏ. Đầu của chúng tròn trịa và mang nét người một cách kỳ lạ, và chính đôi mắt của một trong số chúng đã khiến ông giật mình trong lần quan sát thứ hai. Chúng có đôi cánh rộng, bạc phếch, không có lông vũ nhưng lấp lánh gần như rực rỡ chẳng kém gì con cá vừa mới bắt lên và có sự chuyển màu tinh tế y như vậy, và theo những gì ông Wace tìm hiểu được, những đôi cánh ấy không được cấu trúc theo dạng cánh chim hay cánh dơi, mà được nâng đỡ bởi các xương sườn cong tản ra từ cơ thể. (Một dạng cánh bướm với các xương sườn cong có lẽ là cách diễn tả tốt nhất hình dáng của chúng.) Cơ thể chúng nhỏ nhắn, nhưng được trang bị hai chùm cơ quan bám víu, giống như những chiếc xúc tu dài, nằm ngay dưới miệng. Dù điều đó có vẻ khó tin đối với ông Wace, nhưng cuối cùng ông cũng phải chấp nhận một cách không thể chối cãi rằng chính những sinh vật này là chủ nhân của những công trình kiến trúc mang hình dáng bán nhân cùng khu vườn tráng lệ đã làm cho thung lũng rộng lớn trở nên lộng lẫy đến thế. Và ông Cave nhận thấy các công trình kiến trúc ấy, bên cạnh những điểm đặc thù khác, không hề có cửa ra vào, mà thay vào đó là những ô cửa sổ tròn lớn mở toang, tạo lối ra vào cho các sinh vật. Chúng sẽ đáp xuống bằng các xúc tu của mình, khép cánh lại nhỏ gọn gần như chiếc gậy rồi nhảyót vào bên trong. Nhưng giữa chúng còn có vô số sinh vật cánh nhỏ khác giống như loài chuồn chuồn lớn, bướm đêm và bọ cánh cứng bay lượn, còn trên thảm cỏ xanh, những con bọ cánh cứng mặt đất khổng lồ với màu sắc rực rỡ lười biếng bò qua bò lại. Hơn nữa, trên các lối đi và khoảng hiên, những sinh vật đầu to tương tự như loài ruồi có cánh lớn nhưng không có cánh, xuất hiện đang bận rộn nhảyót trên đám xúc tu chằng chịt giống như bàn tay của chúng.
Những vật lấp lánh trên các cột buồm dựng trên khoảng hiên của tòa nhà gần hơn đã được đề cập từ trước. Sau khi quan sát một trong những cột buồm ấy thật chăm chú vào một ngày đặc biệt rõ nét, ông Cave chợt ngộ ra rằng vật lấp lánh ở đó chính là một quả trứng pha lê y hệt thứ mà ông đang dán mắt vào. Và một sự soi xét thậm chí còn cẩn thận hơn đã thuyết phục ông rằng mỗi cột buồm trong một hàng dài gần hai mươi chiếc đều mang một vật thể tương tự.
Thỉnh thoảng, một trong những sinh vật bay lớn sẽ vỗ cánh bay đến một cột buồm, rồi khép cánh lại và cuộn một số xúc tu quanh cột, chăm chú ngắm nhìn quả trứng pha lê trong một khoảng thời gian — đôi khi kéo dài tới mười lăm phút. Và một loạt các quan sát được thực hiện theo gợi ý của ông Wace đã thuyết phục cả hai người quan sát rằng, xét về thế giới ảo ảnh này, quả trứng pha lê mà họ đang nhìn vào thực ra nằm ở đỉnh của cột buồm tận cùng trên khoảng hiên, và ít nhất trong một lần, một trong số những cư dân của thế giới khác ấy đã nhìn thẳng vào mặt ông Cave trong lúc ông đang thực hiện những quan sát đó.
Đó là những sự thật cốt lõi của câu chuyện vô cùng kỳ lạ này. Trừ khi chúng ta gạt phắt mọi thứ đi coi đó là sản phẩm thêu dệt khéo léo của ông Wace, chúng ta buộc phải tin vào một trong hai điều: hoặc quả trứng pha lê của ông Cave nằm ở hai thế giới cùng một lúc, và trong khi nó được mang đi lại ở thế giới này thì lại đứng yên ở thế giới kia, điều này nghe có vẻ hoàn toàn vô lý; hoặc là nó có một mối quan hệ cộng hưởng kỳ lạ nào đó với một quả trứng pha lê khác hoàn toàn giống hệt ở thế giới bên kia, sao cho những gì nhìn thấy bên trong quả trứng ở thế giới này, dưới những điều kiện thích hợp, sẽ hiển thị trước mắt một nhà quan sát ở quả trứng tương ứng tại thế giới kia; và ngược lại. Hiện tại, quả thực chúng ta chưa biết cách nào để hai quả trứng pha lê có thể kết nối en rapport như vậy, nhưng ngày nay chúng ta đã đủ hiểu biết để nhận thức rằng điều đó không hẳn là bất nhiệm màu. Quan điểm xem các quả trứng pha lê en rapport với nhau chính là giả thuyết nảy sinh trong đầu ông Wace, và ít nhất đối với tôi, nó có vẻ vô cùng hợp lý...
Và thế giới bên kia nằm ở đâu? Trí thông minh nhạy bén của ông Wace cũng nhanh chóng làm sáng tỏ điều này. Sau khi mặt trời lặn, bầu trời tối sầm lại rất nhanh — thực sự chỉ có một khoảng chạng vạng rất ngắn — và các sao bắt đầu lấp lánh. Chúng hoàn toàn có thể nhận diện được là những chòm sao mà chúng ta vẫn thấy, được sắp xếp theo cùng những chòm sao ấy. Ông Cave nhận ra chòm Đại Hùng, quần tinh Pleiades, sao Aldebaran và sao Sirius; do đó thế giới bên kia hẳn phải nằm đâu đó trong hệ mặt trời, và tính ra cùng lắm chỉ cách trái đất chúng ta vài trăm triệu dặm. Lần theo manh mối này, ông Wace nhận ra bầu trời lúc nửa đêm có màu xanh đậm hơn cả bầu trời giữa mùa đông của chúng ta, và mặt trời trông có vẻ nhỏ hơn một chút. Lại còn có hai mặt trăng nhỏ! "giống như mặt trăng của chúng ta nhưng nhỏ hơn, và có các dấu vết hoàn toàn khác biệt," một trong hai mặt trăng di chuyển nhanh đến mức người ta có thể thấy rõ chuyển động của nó khi ngắm nhìn. Những mặt trăng này không bao giờ lên cao trên bầu trời mà biến mất ngay khi mọc lên: nghĩa là, mỗi lần chúng quay vòng là chúng lại bị nhật thực vì chúng nằm quá gần hành tinh mẹ của mình. Và tất cả những điều này hoàn toàn trùng khớp, dẫu ông Cave không hề hay biết, với những điều kiện vốn phải có trên sao Hỏa.
Quả thực, có vẻ như là một kết luận cực kỳ hợp lý khi cho rằng khi dán mắt vào quả trứng pha lê này, ông Cave thực sự đã nhìn thấy hành tinh sao Hỏa cùng cư dân của nó. Và nếu đúng là như vậy, thì ngôi sao hôm tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời của viễn cảnh xa xôi ấy chẳng gì khác hơn chính là trái đất quen thuộc của chúng ta.
Trong một thời gian, người sao Hỏa — nếu đúng họ là người sao Hỏa — dường như không hề hay biết về cuộc soi mói của ông Cave. Đôi bận, có kẻ sẽ đến ngó nghiêng rồi nhanh chóng bỏ đi chỗ cột buồm khác, như thể khung cảnh đó không làm hắn hài lòng. Trong khoảng thời gian này, ông Cave có thể quan sát hoạt động của những con người có cánh ấy mà không bị sự chú ý của họ làm phiền, và dẫu bản báo cáo của ông tất yếu mang tính mơ hồ và chắp vá, nó vẫn vô cùng gợi mở. Hãy thử tưởng tượng ấn tượng về nhân loại mà một nhà quan sát sao Hỏa sẽ thu nhận được khi, sau một quá trình chuẩn bị gian khổ và khiến đôi mắt mệt mỏi rã rời, hắn có thể ngó nghiêng Luân Đôn từ ngọn tháp của nhà thờ St. Martin trong khoảng thời gian kéo dài nhiều nhất là bốn phút mỗi lần. Ông Cave không thể xác định liệu những người sao Hỏa có cánh có phải là những kẻ nhảyót quanh các lối đi và khoảng hiên hay không, và liệu nhóm sau có thể tự ý mọc cánh theo ý muốn hay không. Ông đã vài lần nhìn thấy một số sinh vật đi bằng hai chân vụng về, thoạt nhìn gợi nhớ đến loài khỉ, có màu trắng và hơi mờ đục, đang kiếm ăn giữa những tán cây địa y, và có lần một vài con trong số chúng đã bỏ chạy trước sự truy đuổi của một tên người sao Hỏa đầu tròn chuyên nhảyót. Kẻ sau đã tóm được một con bằng những chiếc xúc tu của mình, và thế là bức tranh đột nhiên mờ đi, để lại ông Cave trong bóng tối đầy trêu ngươi. Dịp khác, một vật thể khổng lồ mà thoạt đầu ông Cave tưởng là một loài côn trùng khổng lồ nào đó, xuất hiện đang tiến dọc theo con đường lát đá bên cạnh con kênh với tốc độ phi thường. Khi vật đó đến gần hơn, ông Cave nhận ra đó là một cỗ máy làm bằng kim loại sáng lóng lánh với độ phức tạp phi thường. Và rồi, khi ông nhìn lại lần nữa, nó đã khuất dạng từ bao giờ.
Sau một thời gian, ông Wace nảy sinh tham vọng thu hút sự chú ý của người sao Hỏa, và vào lần tiếp theo khi đôi mắt kỳ lạ của một kẻ trong số chúng xuất hiện sát quả trứng pha lê, ông Cave đã kêu lên rồi giật mình lùi lại, và họ lập tức bật đèn lên rồi bắt đầu khua tay múa chân theo cách ra hiệu. Nhưng khi ông Cave cuối cùng nhìn lại quả trứng pha lê thì tên người sao Hỏa đã đi mất.
Các quan sát đã tiến triển đến mức độ đó vào đầu tháng Mười một, và khi ấy ông Cave, cảm thấy rằng sự nghi ngờ của gia đình về quả trứng pha lê đã lắng xuống, bắt đầu mang nó theo người qua lại để hễ có cơ hội ban ngày hay ban đêm là lại tự an ủi bản thân bằng thứ đang dần trở thành điều chân thật nhất trong sự tồn tại của ông.
Đến tháng Mười hai, công việc của ông Wace liên quan đến một kỳ thi sắp tới trở nên bận rộn, các buổi quan sát đành phải ngưng lại một tuần, và suốt mười hoặc mười một ngày — ông không nhớ chính xác — ông không gặp lại Cave. Sau đó, ông trở nên nôn nóng muốn nối lại các cuộc khảo sát, và khi áp lực công việc theo mùa đã thuyên giảm, ông liền xuống Seven Dials. Ở góc phố, ông để ý thấy tấm cửa chớp đang che trước cửa tiệm bán chim cảnh, rồi lại thấy một tấm khác ở tiệm thợ giày. Cửa hàng của ông Cave đã đóng cửa.
Ông gõ cửa và người mở cửa là cậu con trai riêng mặc đồ đen. Cậu ta lập tức gọi bà Cave ra, người mà ông Wace không khỏi nhận thấy đang khoác lên mình bộ đồ tang rẻ tiền nhưng rộng thùng thình mang kiểu cách tang lễ rườm rà nhất. Không quá ngạc nhiên khi ông Wace hay tin Cave đã qua đời và đã được chôn cất từ trước đó. Bà đang đẫm nước mắt và giọng nói hơi khàn đục. Bà vừa ở Highgate về. Tâm trí bà có vẻ bận rộn với các viễn cảnh tương lai của bản thân và những chi tiết trang trọng của đám tang, nhưng cuối cùng ông Wace cũng thu thập được các chi tiết về cái chết của Cave. Ông được phát hiện đã qua đời trong cửa hàng vào sáng sớm, đúng ngày hôm sau chuyến viếng thăm cuối cùng đến chỗ ông Wace, và quả trứng pha lê đang được nắm chặt trong đôi bàn tay lạnh ngắt như đá của ông. Khuôn mặt ông đang mỉm cười, bà Cave nói, còn tấm vải nhung dùng để lót khoáng vật thì nằm lăn lóc dưới sàn ngay chân ông. Hẳn ông đã qua đời được năm sáu tiếng khi người ta phát hiện ra.
Tin này giáng một đòn chí mạng vào Wace, và ông bắt đầu tự dằn vặt bản thân cay đắng vì đã lờ đi những triệu chứng rõ mồn một về sức khỏe tồi tệ của ông lão. Nhưng suy nghĩ lớn nhất của ông vẫn là quả trứng pha lê. Ông tiếp cận đề tài đó một cách dè dặt, bởi vì ông thừa hiểu những tính cách kỳ quặc của bà Cave. Ông chết trân khi hay tin nó đã được bán.
Ngay sau khi thi thể Cave được đưa lên lầu, phản ứng đầu tiên của bà Cave là viết thư cho vị mục sư điên rồ từng ra giá năm bảng cho quả trứng pha lê để thông báo rằng đã tìm lại được nó; nhưng sau một trận lùng sục điên cuồng có sự tham gia của cả cô con gái, họ đành chịu thua vì làm thất lạc địa chỉ của ông ta. Do không có đủ phương tiện để để tang và chôn cất Cave theo cái phong cách cầu kỳ mà phẩm giá của một cư dân kỳ cựu ở Seven Dials đòi hỏi, họ đã phải cầu cứu một người hàng xóm quen thuộc ở phố Great Portland. Ông ta đã rất tốt bụng mua lại một phần hàng hóa theo mức định giá. Giá trị là do ông ta tự định, và quả trứng pha lê được gộp chung vào một trong các lô hàng. Ông Wace, sau vài lời chia buồn phù hợp có lẽ được thốt lên hơi hời hợt, liền vội vã chạy thẳng đến phố Great Portland. Nhưng ở đó ông được hay quả trứng pha lê đã được bán cho một người đàn ông cao lớn, da ngăm mặc đồ xám. Và đó cũng là lúc những sự thật cốt lõi trong câu chuyện kỳ lạ này, ít nhất là vô cùng gợi mở đối với tôi, đi đến hồi kết một cách đột ngột. Người chủ tiệm ở phố Great Portland không biết người đàn ông cao lớn da ngăm mặc đồ xám ấy là ai, cũng chẳng quan sát ông ta đủ kỹ để miêu tả chi tiết. Hắn thậm chí còn chẳng biết người đó đã rẽ theo hướng nào sau khi rời khỏi cửa hàng. Ông Wace ở lại cửa hàng một lúc, làm mất kiên nhẫn của chủ tiệm bằng những câu hỏi vô vọng, đồng thời trút bỏ sự bực dọc của chính mình. Và cuối cùng, chợt nhận ra rằng toàn bộ sự việc đã vượt khỏi tầm kiểm soát của mình, đã biến mất tựa như một ảo ảnh trong đêm, ông lủi thủi trở về phòng mình, có chút kinh ngạc khi thấy những ghi chú mình từng viết vẫn còn hữu hình và nằm nguyên trên chiếc bàn bừa bộn.
Sự bực dọc và thất vọng của ông tất nhiên là vô cùng lớn. Ông đã đến tiệm ở phố Great Portland lần thứ hai (cũng chẳng thu được kết quả gì) và đăng quảng cáo trên những tờ tạp chí dễ lọt vào tay của những nhà sưu tầm đồ cổ. Ông cũng viết thư gửi tới tờ The Daily Chronicle và Nature, nhưng cả hai tờ báo đó, vì nghi ngờ đây chỉ là một trò lừa bịp, đã yêu cầu ông xem xét lại hành động của mình trước khi họ cho in, và ông được khuyên rằng một câu chuyện quá kỳ lạ, không may lại hoàn toàn thiếu bằng chứng hậu thuẫn như vậy, có thể làm tổn hại đến uy tín của ông với tư cách là một nhà nghiên cứu. Hơn nữa, những công việc chính đáng của ông đang rất gấp rút. Thế là sau khoảng một tháng, ngoại trừ việc thỉnh thoảng nhắc nhở vài chủ tiệm, ông đành ngậm ngùi từ bỏ cuộc hành trình tìm kiếm quả trứng pha lê, và từ ngày đó cho đến nay nó vẫn bặt vô âm tín. Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông vẫn kể cho tôi nghe, và tôi hoàn toàn tin ông, rằng có những lúc nhiệt huyết bùng lên, ông lại gác lại những công việc cấp bách hơn để tiếp tục tìm kiếm.
Liệu nó có mãi mãi thất lạc hay không, cùng với bản chất và nguồn gốc của nó, tất cả vẫn là những điều hoàn toàn phỏng đoán ở thời điểm hiện tại. Nếu người mua hiện tại là một nhà sưu tầm, người ta lẽ ra phải hy vọng rằng những câu hỏi của ông Wace đã tiếp cận được người đó thông qua các chủ tiệm. Ông đã tìm ra vị mục sư và "hoàng tử người phương Đông" của ông Cave — chẳng phải ai khác ngoài mục sư James Parker và vị Hoàng tử trẻ tuổi xứ Bosso-Kuni ở Java. Tôi vô cùng biết ơn họ vì một số chi tiết cụ thể. Mục đích của vị Hoàng tử đơn giản chỉ là sự tò mò — và tính hoang phí. Anh ta quá hãnh diện muốn mua vì Cave cứ khăng khăng tỏ ra miễn cưỡng không muốn bán. Cũng có khả năng người mua trong trường hợp thứ hai chỉ là một khách hàng tình cờ chứ chẳng phải nhà sưu tầm nào sất, và quả trứng pha lê, biết đâu đấy, ở thời điểm hiện tại đang nằm đâu đó cách tôi chưa đầy một dặm, làm vật trang trí trong phòng khách hoặc làm chặn giấy — trong khi những công năng kỳ diệu của nó hoàn toàn chìm vào quên lãng. Quả thực, một phần với ý tưởng về khả năng đó mà tôi đã nhào nặn câu chuyện này thành một hình thức có thể mang lại cho nó cơ hội được đọc bởi những độc giả văn học thông thường.
Quan điểm của riêng tôi về vấn đề này hoàn toàn trùng khớp với ông Wace. Tôi tin rằng quả trứng pha lê trên cột buồm ở sao Hỏa và quả trứng pha lê của ông Cave có một mối liên hệ cộng hưởng nào đó về mặt vật lý, dẫu cho đến nay vẫn hoàn toàn không thể giải thích được, và cả hai chúng ta đều tin rằng quả trứng pha lê ở trái đất hẳn đã được — có lẽ vào một thời điểm xa xôi nào đó — gửi từ hành tinh kia đến đây, nhằm mang lại cho người sao Hỏa một cái nhìn cận cảnh về các sự việc của chúng ta. Rất có thể những quả trứng đồng dạng với các quả trứng trên những cột buồm khác cũng đang hiện diện trên quả địa cầu của chúng ta. Không có lý thuyết về ảo giác nào có thể giải thích thỏa đáng cho các sự kiện này.