Án Mạng Trên Sân Gôn

Lượt đọc: 213 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Lời Kêu Cứu

❊ ❊ ❊

Đồng hồ điểm chín giờ năm phút khi tôi bước vào phòng khách chung để dùng bữa sáng vào sáng hôm sau.

Bạn tôi, Poirot, vẫn đúng giờ đến từng phút như thường lệ, đang khẽ gõ lên lớp vỏ quả trứng thứ hai của anh ấy.

Anh mỉm cười rạng rỡ với tôi khi tôi bước vào.

“Cậu ngủ ngon chứ, phải không? Cậu đã hồi phục sau chuyến vượt biển khủng khiếp ấy chưa? Thật đáng kinh ngạc, gần như đúng giờ phút này sáng nay cậu đã có mặt. Xin lỗi, nhưng chiếc cà vạt của cậu chưa được cân đối lắm. Cho phép tôi chỉnh lại nó nhé.”

Nơi khác, tôi đã từng miêu tả về Hercule Poirot. Quả là một người đàn ông nhỏ con kỳ lạ! Chiều cao năm phút bốn inch (khoảng 1m62), cái đầu hình quả trứng hơi nghiêng sang một bên, đôi mắt ánh lên màu xanh lục khi phấn khích, bộ râu ria mép theo kiểu nhà binh cứng nhắc, phong thái đường bệ vô cùng! Ngoại hình của anh rất gọn gàng và chải chuốt. Đối với sự ngăn nắp dưới bất kỳ hình thức nào, anh có một niềm đam mê tuyệt đối. Nhìn thấy một món đồ trang trí bị lệch, một hạt bụi, hay một chút xộc xệch trên trang phục của ai đó, là sự cực hình đối vơi người đàn ông nhỏ bé cho đến khi anh có thể xoa dịu cảm xúc của mình bằng cách khắc phục điều đó. “Trật tự” và “Phương pháp” là những vị thần của anh. Anh có phần coi thường những bằng chứng hữu hình như dấu chân hay tàn thuốc lá, và thường cho rằng, nếu đứng độc lập, chúng không bao giờ có thể giúp một thám tử giải quyết được vấn đề. Sau đó, anh sẽ gõ vào cái đầu hình quả trứng của mình với vẻ tự mãn đến ngớ ngẩn, và nhận xét đầy thỏa mãn: “Công việc thực sự được thực hiện từ bên trong. Những tế bào não xám nhỏ bé—hãy luôn ghi nhớ những tế bào não xám nhỏ bé ấy, mon ami!”

Tôi trượt vào ghế của mình, và thản nhiên đáp lại lời chào của Poirot rằng một chuyến vượt biển dài một tiếng đồng hồ từ Calais đến Dover khó lòng có thể được gán cho cái mỹ từ “khủng khiếp.”

Poirot khua chiếc thìa ăn trứng để kịch liệt bác bỏ nhận xét của tôi.

“Du tout! Nếu trong một khoảng thời gian ngắn mà người ta phải trải qua những cảm giác và cảm xúc tồi tệ nhất, thì người ta đã sống qua rất nhiều giờ! Chẳng phải một trong những nhà thơ Anh của các cậu đã nói rằng thời gian được tính bằng nhịp đập của con tim chứ không phải bằng giờ giấc đó sao?”

“Tôi tưởng Browning đang ám chỉ điều gì đó lãng mạn hơn là chứng say sóng chứ.”

“Bởi vì ông ấy là người Anh, một kẻ sống trên đảo mà đối với hắn la Manche chẳng là gì cả. Ồ, những người Anh các cậu! Với chúng tôi thì khác. Hãy thử tưởng tượng xem, một người phụ nữ quen biết với tôi vào đầu cuộc chiến đã trốn chạy sang Ostend. Ở đó, cô ấy đã trải qua một cơn khủng hoảng thần kinh trầm trọng. Không thể trốn chạy đi đâu được nữa trừ khi vượt biển! Và cô ấy lại vô cùng sợ hãi—mais une horreur!—biển cả! Cô ấy phải làm gì đây? Ngày qua ngày, lũ Đức khốn kiếp ngày càng tiến lại gần. Hãy tưởng tượng tình thế hiểm nghèo lúc bấy giờ xem!”

“Cô ấy đã làm gì thế?” tôi tò mò hỏi.

“May thay, chồng cô ấy là một homme pratique (người thực tế). Anh ta lại rất bình tĩnh, những cơn khủng hoảng thần kinh chẳng thể tác động gì đến anh ta. Il l’a emportée simplement (Anh cứ thế bế xốc cô ấy đi)! Dĩ nhiên khi đến được nước Anh thì cô ấy đã kiệt sức hoàn toàn, nhưng cô ấy vẫn còn thở.”

Poirot nghiêm nghị lắc đầu. Tôi cố gắng làm bộ mặt cho ra dáng nhất có thể.

Bỗng nhiên anh đơ người lại và chỉ thẳng ngón tay đầy kịch tính về phía chiếc giá để bánh mì nướng.

“Ah, par exemple, c’est trop fort! (Thật quá đáng lắm rồi!)” anh kêu lên.

“Chuyện gì thế?”

“Miếng bánh mì nướng này. Cậu không nhận ra nó sao?” Anh nhấc bổng thủ phạm ra khỏi chiếc giá, và giơ cao lên cho tôi quan sát.

“Nó hình vuông ư? Không. Hình tam giác ư? Lại càng không. Hay thậm chí nó hình tròn ư? Không. Nó có bất kỳ hình thù nào lọt vào mắt xanh cho nổi không? Chúng ta tìm đâu ra sự cân đối ở đây? Không có gì sất.”

“Nó được cắt từ một ổ bánh mì tròn kiểu nông thôn mà,” tôi dịu giọng giải thích.

Poirot ném cho tôi một cái nhìn sắc bén đến cháy da cháy thịt.

“Trí tuệ của bạn tôi Hastings mới phong phú làm sao!” anh mỉa mai kêu lên. “Cậu không hiểu rằng tôi đã cấm mua loại bánh mì như thế này sao—một thứ bánh mì ngẫu hứng và vô định hình, loại mà không một thợ làm bánh nào lại cho phép mình đem nướng!”

Tôi liền tìm cách đánh lạc hướng anh.

“Có thư từ gì thú vị tới không anh?”

Poirot lắc đầu với vẻ không vừa lòng.

“Tôi vẫn chưa xem thư từ của mình, nhưng dạo này chẳng có gì thú vị lọt vào mắt cả. Những tên tội phạm lớn, những tên tội phạm có phương pháp, chúng chẳng hề tồn tại. Những vụ án mà tôi được thuê gần đây đều tầm thường đến mức cùng cực. Quả thật tôi đã bị hạ thấp đến mức đi tìm lại những con chó cảnh bị mất cho mấy bà quý tộc! Vấn đề cuối cùng mang lại chút ít hứng thú chính là vụ rắc rối nhỏ phức tạp về viên kim cương nhà Yardly, mà vụ đó tính ra đã... mấy tháng rồi nhỉ, bạn của tôi?”

Anh chán nản lắc đầu, còn tôi thì cười lớn.

“Vui lên đi, Poirot, vận may rồi sẽ đổi thay thôi. Mở thư ra đi. Biết đâu được, lại có một Vụ án lớn đang lờ mờ xuất hiện ở chân trời thì sao.”

Poirot mỉm cười, và cầm lấy chiếc dao rọc thư nhỏ nhắn, lịch sự mà anh dùng để bóc thư từ, rồi rạch phần đầu của vài phong bì đang nằm cạnh đĩa ăn của mình.

“Một hóa đơn. Lại một hóa đơn nữa. Chắc là tôi đang trở nên hoang phí lúc tuổi già. Aha! Mộth bức thư ngắn từ Japp.”

“Ừm?” tai tôi dựng cả lên. Viên Thanh tra của Scotland Yard đã không chỉ một lần giới thiệu cho chúng tôi những vụ án vô cùng thú vị.

“Anh ấy chỉ đơn thuần cảm ơn tôi (theo cách của anh ấy) vì một chi tiết nhỏ trong Vụ án Aberystwyth mà tôi đã giúp anh ấy đính chính lại. Tôi rất vui vì đã có thể giúp ích được cho anh ấy.”

“Anh ấy cảm ơn anh thế nào?” tôi tò mò hỏi, vì tôi thừa hiểu tính cách của Japp.

“Anh ấy rất tốt bụng khi nói rằng tôi là một tay chơi thể thao cừ khôi so với tuổi, và rằng anh ấy rất vui vì có cơ hội để kéo tôi vào tham gia vụ án.”

Điều này đúng là bản chất của Japp, khiến tôi không thể không khúc khích cười. Poirot điềm tĩnh đọc tiếp thư từ của mình.

“Một lời đề nghị rằng tôi nên đến thuyết trình trước các hướng đạo sinh địa phương của chúng ta. Nữ bá tước xứ Forfanock sẽ rất lấy làm biết ơn nếu tôi ghé thăm và diện kiến bà ấy. Lại một con chó cảnh nữa chứ không chừng! Và bây giờ là bức cuối cùng. Ah—”

Tôi ngẩng đầu lên, rất nhanh nhạy nhận ra sự thay đổi trong giọng điệu của anh. Poirot đang đọc một cách chăm chú. Chỉ một phút sau, anh ném thẳng tờ giấy về phía tôi.

“Vụ này ngoài sức tưởng tượng đấy, mon ami. Tự đọc lấy đi.”

Bức thư được viết trên một loại giấy ngoại quốc, bằng một nét chữ đậm đà, mang cá tính rõ rệt:

“Villa Geneviève

Merlinville-sur-Mer

Pháp

“Thưa Ông,

“Tôi đang cần dịch vụ của một thám tử và, vì những lý do mà tôi sẽ trình bày với ông sau, tôi không muốn nhờ cậy đến cảnh sát chính thức. Tôi đã nghe nói về ông từ nhiều nguồn khác nhau, và mọi lời đồn đại đều cho thấy ông không chỉ là một người có năng lực quyết đoán, mà còn là người biết cách giữ kín chuyện. Tôi không muốn tin tưởng giao phó các chi tiết qua đường bưu điện, nhưng vì một bí mật mà tôi đang nắm giữ, tôi sống trong nỗi sợ hãi tính mạng từng ngày. Tôi tin chắc rằng hiểm nguy đang cận kề, và do đó tôi khẩn khoản cầu xin ông đừng lãng phí thời gian mà hãy sang ngay nước Pháp. Tôi sẽ cử một chiếc xe hơi đến đón ông tại Calais, nếu ông chịu khó đánh điện báo cho tôi biết khi nào ông đến nơi. Tôi sẽ rất biết ơn nếu ông gác lại mọi vụ án đang dang dở, và dồn toàn tâm toàn ý cho lợi ích của tôi. Tôi sẵn sàng chi trả mọi khoản bồi thường cần thiết. Tôi có lẽ sẽ cần đến dịch vụ của ông trong một khoảng thời gian khá dài, vì có thể cần thiết phải đưa ông sang Santiago, nơi tôi đã trải qua vài năm cuộc đời mình. Tôi hoàn toàn bằng lòng để ông tự định mức thù lao cho mình.

“Xin đảm bảo với ông một lần nữa rằng đây là vấn đề khẩn cấp,

“Kính thư

P. T. RENAULD.”

Ngay bên dưới chữ ký là một dòng chữ được viết vội vàng, gần như không thể đọc nổi: “Vì Chúa, hãy đến ngay!”

Tôi trả lại bức thư với nhịp đập con tim dồn dập hơn.

“Cuối cùng thì!” tôi nói. “Đây mới thực sự là một vụ việc vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường.”

“Vâng, quả thực là vậy,” Poirot trầm ngâm nói.

“Chắc chắn anh sẽ đi chứ,” tôi tiếp lời.

Poirot gật đầu. Anh đang suy nghĩ sâu xa. Cuối cùng anh dường như đã đưa ra quyết định, và ngước nhìn lên đồng hồ. Gương mặt anh vô cùng nghiêm nghị.

“Cậu thấy đấy, bạn của tôi ơi, không còn thời gian để lãng phí nữa đâu. Chuyến tàu tốc hành xuyên lục địa rời ga Victoria lúc 11 giờ. Cậu đừng có mà hốt hoảng. Vẫn còn dư thời gian chán. Chúng ta có thể dành mười phút để thảo luận. Cậu sẽ đồng hành cùng tôi chứ, n’est-ce pas?”

“Ừm—”

“Chính cậu đã nói với tôi rằng chủ nhân của cậu không cần đến cậu trong vài tuần tới cơ mà.”

“Ồ, chuyện đó thì ổn cả thôi. Nhưng mà quý ông Renauld này cứ úp mở mạnh mẽ rằng công việc của ông ta mang tính riêng tư cơ mà.”

“Ta-ta-ta. Tôi sẽ lo liệu được cho ông M. Renauld. Nhân tiện đây, hình như tôi quen cái tên này thì phải?”

“Có một vị triệu phú người Nam Mỹ khá nổi tiếng. Tên ông ta là Renauld. Tôi không biết liệu có phải là cùng một người không nữa.”

“Nhưng chắc chắn là vậy rồi. Điều đó giải thích vì sao lại nhắc đến Santiago. Santiago nằm ở Chile, và Chile thì ở Nam Mỹ chứ đâu! Chà, chúng ta tiến triển tốt thật đấy.”

“Ôi chao, Poirot,” tôi lên tiếng, sự phấn khích trong tôi dâng trào, “tôi ngửi thấy mùi những đồng tiền vàng béo bở trong vụ này đấy. Nếu chúng ta thành công, chúng ta sẽ phất to cho mà xem!”

“Đừng có quá chắc chắn về điều đó, bạn của tôi ạ. Một kẻ giàu có và tiền bạc của hắn không dễ gì bị chia tách đâu. Bản thân tôi đã từng thấy một vị triệu phú nổi tiếng tống cổ cả một xe điện đầy người xuống chỉ để tìm cho ra một đồng nửa xu bị rơi.”

Tôi đành phải thừa nhận sự sáng suốt trong lời nói này.

“Dù sao đi nữa,” Poirot nói tiếp, “không phải tiền bạc là thứ thu hút tôi ở đây. Dĩ nhiên việc có được quyền tự do hành động (carte blanche) trong các cuộc điều tra của chúng ta sẽ thật dễ chịu; theo cách đó người ta có thể chắc chắn không lãng phí thời gian, nhưng chính sự kỳ quặc nào đó trong vấn đề này mới là thứ khơi gợi sự quan tâm của tôi. Cậu có chú ý đến phần tái bút chứ? Nó đập vào mắt cậu thế nào?”

Tôi ngẫm nghĩ.

“Rõ ràng là ông ấy đã viết bức thư trong trạng thái tự chủ rất tốt, nhưng đến đoạn cuối thì sự kìm chế đó đã sụp đổ và trong phút giây bốc đồng, ông ấy đã nguệch ngoạc viết ra bốn từ tuyệt vọng đó.”

Nhưng người bạn của tôi lại kiên quyết lắc đầu.

“Cậu lầm rồi. Cậu không nhận ra là trong khi mực của phần chữ ký gần như đen sẫm, thì mực của phần tái bút lại khá nhạt màu hay sao?”

“Thì sao chứ?” tôi bối rối hỏi.

“Mon Dieu, mon ami, hãy vắt óc suy nghĩ bằng những tế bào não xám nhỏ bé của cậu xem nào! Chẳng lẽ nó không quá rõ ràng hay sao? M. Renauld đã viết thư xong. Mà không dùng giấy thấm, ông ấy đọc lại nó thật cẩn thận. Rồi, không phải vì bốc đồng, mà một cách có chủ ý, ông ấy đã viết thêm mấy từ cuối đó, và lúc ấy mới dùng giấy thấm.”

“Nhưng tại sao chứ?”

“Parbleu! Để nó tạo ra trên người tôi cái hiệu ứng y như nó đã tác động lên cậu vậy!”

“Cái gì cơ?”

“Mais, oui—để chắc chắn rằng tôi sẽ đến! Ông ấy đọc lại bức thư và cảm thấy chưa vừa ý. Nó chưa đủ sức nặng!”

Anh dừng lại, rồi nói thêm một cách nhẹ nhàng, đôi mắt ánh lên thứ ánh sáng xanh lục luôn báo hiệu sự phấn khích ở bên trong: “Và thế đấy, mon ami, vì phần tái bút đó được viết thêm, không phải do bốc đồng, mà một cách tỉnh táo, trong lúc máu lạnh, nên mức độ khẩn cấp là vô cùng lớn, và chúng ta phải đến gặp ông ta càng sớm càng tốt.”

“Merlinville,” tôi lẩm bẩm suy tư. “Tôi có nghe qua cái tên này rồi thì phải.”

Poirot gật đầu.

“Đó là một nơi nhỏ bé yên tĩnh—nhưng lại rất sang trọng (chic)! Nó nằm ở khoảng giữa Boulogne và Calais. Nơi đây đang nhanh chóng trở thành mốt thời thượng. Những người Anh giàu có muốn tìm sự yên tĩnh đang đổ xô đến đây. M. Renauld chắc là có một ngôi nhà ở Anh chứ nhỉ?”

“Vâng, ở Rutland Gate, theo tôi nhớ là vậy. Cả một cơ ngơi rộng lớn ở vùng quê nào đó tại Hertfordshire nữa. Nhưng thực ra tôi biết rất ít về ông ta, ông ta không mấy khi giao du rộng rãi trong xã hội. Tôi tin rằng ông ta có nhiều lợi ích kinh tế lớn ở Nam Mỹ ngay tại khu trung tâm tài chính Luân Đôn, và đã dành phần lớn cuộc đời mình ở Chile và Argentina.”

“Thôi được, chúng ta sẽ nghe toàn bộ chi tiết từ chính đương sự. Nào, hãy đi thu dọn hành lý thôi. Mỗi người một chiếc va-li nhỏ, rồi bắt taxi ra ga Victoria.”

“Thế còn Nữ bá tước thì sao?” tôi mỉm cười hỏi.

“Ah! je m’en fiche! Vụ của bà ta quả thực chẳng có gì thú vị cả.”

“Sao anh chắc chắn thế?”

“Bởi vì nếu là vụ đó thì bà ta đã thân chinh đến gặp chứ không thèm viết thư. Đàn bà không thể chờ đợi được đâu—hãy luôn ghi nhớ điều đó, Hastings.”

Mười một giờ chứng kiến sự khởi hành của chúng tôi từ ga Victoria trên con đường hướng tới Dover. Trước khi xuất phát, Poirot đã gửi một bức điện tín cho ông Renauld thông báo thời gian chúng tôi đến Calais. “Tôi ngạc nhiên là anh không đầu tư vài chai thuốc say sóng đấy, Poirot ạ,” tôi lên tiếng đầy ác ý, khi nhớ lại cuộc trò chuyện của chúng tôi vào bữa sáng.

Người bạn của tôi, nãy giờ đang lo lắng quan sát thời tiết, liền quay sang tôi với vẻ mặt trách móc.

“Chẳng lẽ cậu đã quên phương pháp tuyệt vời của Laverguier rồi sao? Hệ thống của ông ấy, tôi vẫn luôn áp dụng. Người ta giữ thăng bằng cho cơ thể, nếu cậu còn nhớ, bằng cách quay đầu từ trái sang phải, hít vào rồi thở ra, đếm đến sáu giữa mỗi nhịp thở.”

“H’m,” tôi phản đối. “Anh sẽ thấy khá mệt mỏi với việc cứ giữ thăng bằng và đếm đến sáu cho đến lúc anh tới được Santiago, hay Buenos Aires, hoặc bất cứ nơi nào anh đặt chân lên đấy.”

“Quelle idée! Cậu không đời nào lại tưởng tượng rằng tôi sẽ thực sự đi Santiago đấy chứ?”

“Ông Renauld đã gợi ý điều đó trong thư của ông ta mà.”

“Ông ta không hiểu các phương pháp của Hercule Poirot. Tôi không chạy ngược chạy xuôi, thực hiện những chuyến hành trình, rồi tự làm mình bận tâm lo lắng. Công việc của tôi được thực hiện từ bên trong—ở đây—” anh vỗ vào trán mình đầy ngụ ý.

Như thường lệ, câu nói này lại khơi dậy bản năng tranh luận trong tôi.

“Mọi chuyện nghe hay đấy, Poirot, nhưng tôi nghĩ anh đang rơi vào thói quen coi thường một số thứ quá mức đấy. Dấu vân tay đôi khi đã dẫn đến việc bắt giữ và kết án một kẻ sát nhân.”

Poirot lạnh lùng nhận xét: “Và không còn nghi ngờ gì nữa, nó cũng đã treo cổ không chỉ một người vô tội.”

“Nhưng chắc chắn rằng việc nghiên cứu dấu vân tay và dấu chân, tàn thuốc lá, các loại bùn đất khác nhau, và những manh mối khác bao gồm sự quan sát tỉ mỉ từng chi tiết—tất cả những điều đó đều có tầm quan trọng sống còn chứ?”

“Nhưng dĩ nhiên rồi. Tôi chưa bao giờ nói khác đi cả. Người quan sát được đào tạo bài bản, chuyên gia, chắc chắn họ rất hữu ích! Nhưng những người khác, những Hercule Poirot, họ đứng trên cả các chuyên gia! Đối với họ, các chuyên gia mang lại các sự kiện, công việc của họ là phương pháp của tội phạm, sự suy luận logic của nó, trình tự và thứ tự đúng đắn của các sự kiện; trên hết là tâm lý học thực sự của vụ án. Cậu đã từng đi săn cáo bao giờ chưa, hả?”

“Tôi có đi săn dăm ba lần, thỉnh thoảng ấy mà,” tôi nói, có phần bối rối trước sự thay đổi chủ đề đột ngột này. “Sao thế?”

“Eh bien, cái việc săn cáo này, cậu cần mấy con chó chứ, phải không?”

“Chó săn (Hounds),” tôi nhẹ nhàng chỉnh lại. “Vâng, dĩ nhiên rồi.”

“Thế nhưng mà,” Poirot đưa ngón tay ra hiệu với tôi. “Cậu đâu có tụt xuống khỏi lưng ngựa rồi chạy lom khom sát mặt đất ngửi hít bằng mũi của mình và tru lên những tiếng ẳng ẳng đâu cơ chứ?”

Bất chấp cả bản thân, tôi vẫn cười nấc lên không kìm được. Poirot gật đầu với vẻ vô cùng mãn nguyện.

“Thế đấy. Cậu để công việc của lũ chó săn cho mấy con chó săn làm. Thế mà cậu lại đòi hỏi tôi, Hercule Poirot, phải tự làm cho mình trở nên nực cười bằng cách nằm bò ra (có thể là trên bãi cỏ ẩm ướt) để nghiên cứu những dấu chân giả định, rồi đi hốt tàn thuốc lá trong khi tôi chẳng phân biệt nổi loại này với loại kia. Hãy nhớ lại vụ bí ẩn trên chuyến tàu Plymouth đi. Anh chàng Japp tốt bụng đã thân chinh đi khảo sát tuyến đường sắt. Khi anh ta trở lại, tôi, mà chẳng hề nhấc mông khỏi căn hộ của mình, đã có thể nói cho anh ta biết chính xác những gì anh ta tìm thấy.”

“Vậy anh cho rằng Japp đã hoài phí thời gian của mình ư.”

“Hoàn toàn không, vì bằng chứng của anh ta đã củng cố cho lý thuyết của tôi. Nhưng tôi sẽ hoài phí thời gian nếu chính thân mình phải lếu thế đi đó. Mọi chuyện cũng tương tự với những kẻ tự xưng là ‘chuyên gia.’ Hãy nhớ lại lời khai về chữ ký trong Vụ án nhà Cavendish xem. Câu hỏi của một vị luật sư khai thác ra lời khai về những điểm giống nhau, bên bào chữa lại đưa ra bằng chứng để cho thấy sự khác biệt. Toàn bộ ngôn từ đều hết sức chuyên môn kỹ thuật. Và kết quả là gì? Cái mà tất cả chúng ta đều đã biết ngay từ đầu. Chữ ký rất giống với chữ ký của John Cavendish. Và tâm trí học tâm lý phải đối mặt với câu hỏi ‘Tại sao?’ Là vì đó thực sự là chữ ký của hắn ta? Hay bởi vì ai đó muốn chúng ta nghĩ rằng đó là của hắn? Tôi đã trả lời câu hỏi đó, mon ami, và trả lời một cách cực kỳ chính xác.”

Và Poirot, sau khi đã làm tôi hoàn toàn câm nín dẫu chưa hẳn đã thuyết phục được tôi, liền ngả người ra sau với vẻ mặt đầy thỏa mãn.

Trên thuyền, tôi dư sức hiểu để mà không làm phiền đến sự tĩnh lặng của bạn mình. Thời tiết đẹp tuyệt trần, và mặt biển phẳng lặng như mặt hồ phẳng như gương đúng như người ta hay nói, thế nên tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên mấy khi nghe tin phương pháp của Laverguier lại một lần nữa chứng minh được hiệu quả khi một Poirot mỉm cười chào đón tôi lúc cập cảng Calais. Một sự thất vọng đang chờ đợi chúng tôi, vì chẳng có chiếc xe hơi nào được phái đến đón cả, nhưng Poirot cho rằng đó là do bức điện tín của chúng tôi đã bị chậm trễ trong quá trình chuyển phát.

“Vì đây là quyền tự do hành động (carte blanche), chúng ta sẽ thuê một chiếc xe hơi,” anh vui vẻ nói. Và vài phút sau đã đưa chúng tôi vào cảnh cọc cạch và xóc nảy trên chiếc ô tô tả tơi nhất từng hành nghề chở khách, hướng thẳng về phía Merlinville.

Tinh thần tôi phấn chấn hơn bao giờ hết.

“Không khí tuyệt làm sao!” tôi kêu lên. “Chuyến đi này hứa hẹn sẽ vô cùng thú vị đây.”

“Với cậu thì đúng thế. Còn tôi, tôi có công việc phải làm, hãy nhớ lấy điều đó, khi chúng ta đến nơi.”

“Bah!” tôi vui vẻ nói. “Anh sẽ khám phá ra tất cả, đảm bảo sự an toàn cho quý ông Renauld này, tóm cổ đám sát thủ tiềm năng ra ngoài ánh sáng, và mọi thứ sẽ kết thúc trong vinh quang rực rỡ.”

“Cậu lạc quan quá đấy, bạn của tôi ạ.”

“Vâng, tôi cảm thấy hoàn toàn chắc chắn về thành công. Chẳng phải anh là bậc thầy duy nhất Hercule Poirot đó sao?”

Nhưng người bạn nhỏ của tôi không hề hớp lấy miếng mồi đó. Anh đang quan sát tôi đầy vẻ nghiêm nghị.

“Cậu đang ở vào cái trạng thái mà người Scotland gọi là ‘fey’ (điềm gở), Hastings ạ. Nó báo hiệu thảm họa đấy.”

“Vớ vẩn. Dù sao đi nữa, anh cũng đâu có chia sẻ cảm giác này với tôi.”

“Không, nhưng tôi cảm thấy sợ.”

“Sợ cái gì cơ chứ?”

“Tôi không biết nữa. Nhưng tôi có một điềm báo trước—một cảm giác khó tả (je ne sais quoi)!”

Anh nói rất nghiêm túc, khiến tôi bị tác động sâu sắc dẫu cố tỏ ra bất chấp.

“Tôi có linh cảm,” anh chậm rãi nói, “rằng đây sẽ là một vụ lớn—một vấn đề rắc rối, kéo dài và không dễ gì giải quyết xong.”

Tôi suýt nữa thì gặng hỏi anh thêm, nhưng chúng tôi vừa tiến vào thị trấn nhỏ Merlinville, và chúng tôi đành giảm tốc độ để hỏi đường đến Villa Geneviève.

“Cứ đi thẳng, thưa ngài, xuyên qua thị trấn này. Villa Geneviève nằm cách đây chừng nửa dặm ở phía bên kia. Ngài không thể không thấy nó đâu. Một biệt thự lớn, nhìn ra biển.”

Chúng tôi cảm ơn người chỉ đường, rồi tiếp tục lái xe đi, bỏ lại thị trấn phía sau. Một ngã ba đường buộc chúng tôi phải dừng lại lần thứ hai. Một người nông dân đang lầm lũi bước về phía chúng tôi, và chúng tôi đợi ông ta đến gần để hỏi đường lại lần nữa. Có một ngôi biệt thự nhỏ xíu nằm ngay sát bên đường, nhưng nó quá nhỏ và xiêu vẹo để có thể là nơi chúng tôi đang tìm kiếm. Trong lúc chúng tôi chờ đợi, cánh cổng của nó bật mở và một cô gái bước ra.

Người nông dân lúc này đang đi ngang qua chúng tôi, và người lái xe liền nhoài người ra khỏi ghế để hỏi đường.

“Villa Geneviève ư? Chỉ cần đi vài bước nữa theo con đường rẽ phải này thôi, thưa ngài. Ngài đã có thể nhìn thấy nó rồi nếu không vướng khúc cua này.”

Người lái xe cảm ơn ông ta, rồi khởi động lại chiếc xe. Ánh mắt tôi bị thu hút hoàn toàn bởi cô gái nãy giờ vẫn đứng đó, với một tay đặt lên cánh cổng, dõi theo chúng tôi. Tôi là một kẻ ngưỡng mộ cái đẹp, và ở đây xuất hiện một người mà không ai có thể đi ngang qua mà không ngoái lại nhìn. Rất cao ráo, với tỷ lệ cơ thể của một nữ thần trẻ tuổi, mái tóc vàng óng ả buông xõa lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời, tôi tự thề với lòng mình rằng đó là một trong những thiếu nữ đẹp nhất mà tôi từng thấy. Khi chiếc xe vọt lên con đường gập ghềnh, tôi ngoảnh đầu lại để ngắm nhìn cô ấy.

“Ôi chao, Poirot,” tôi thốt lên, “anh có thấy vị nữ thần trẻ tuổi đó không.”

Poirot nhướng mày.

“Ça commence! (Bắt đầu rồi đấy!)” anh lẩm bẩm. “Cậu đã nhìn thấy một nữ thần rồi đấy!”

“Nhưng mà quái lạ thật, chẳng phải cô ấy đúng thế sao?”

“Có thể lắm. Tôi không để ý đến điều đó.”

“Chẳng lẽ anh không chú ý đến cô ấy sao?”

“Mon ami, hai người hiếm khi nhìn thấy cùng một sự vật. Chẳng hạn như cậu, cậu nhìn thấy một nữ thần. Còn tôi—” anh ngập ngừng.

“Sao nào?”

“Tôi chỉ nhìn thấy một cô gái với đôi mắt đầy lo âu,” Poirot nghiêm nghị nói.

Nhưng đúng lúc đó chúng tôi dừng lại trước một cánh cổng lớn màu sơn xanh, và đồng thời, cả hai chúng tôi đều thốt lên một tiếng kinh ngạc. Đứng trước cổng là một viên cảnh sát thị trấn (sergent de ville) đầy uy nghiêm. Anh ta giơ tay ra hiệu chặn đường chúng tôi lại.

“Các ngài không thể qua được đâu.”

“Nhưng chúng tôi muốn gặp ông Renauld,” tôi kêu lên. “Chúng tôi có một cuộc hẹn. Đây đúng là biệt thự của ông ấy phải không?”

“Vâng, thưa ngài, nhưng mà—”

Poirot nhoài người về phía trước.

“Nhưng mà sao?”

“M. Renauld đã bị sát hại vào sáng nay rồi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.