Chỉ trong chớp mắt, Poirot đã nhảy phắt khỏi chiếc xe, đôi mắt sáng rực vẻ phấn khích. Ông chộp lấy vai người cảnh sát.
“Anh vừa nói gì thế? Bị sát hại? Khi nào? Bằng cách nào?”
Viên cảnh sát khu vực đứng thẳng người lên.
“Tôi không thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào, thưa ông.”
“Phải. Tôi hiểu.” Poirot trầm ngâm suy nghĩ trong giây lát. “Viên thanh tra cảnh sát, chắc chắn ông ấy đang ở bên trong chứ?”
“Vâng, thưa ông.”
Poirot lấy ra một tấm danh thiếp, nhanh chóng nguệch ngoạc vài chữ lên đó.
“Voilà! Anh làm ơn đưa tấm thẻ này vào cho thanh tra ngay lập tức được chứ?”
Người cảnh sát nhận lấy, quay đầu qua vai huýt sáo một tiếng. Chỉ vài giây sau, một đồng nghiệp tiến đến và nhận lấy mẩu nhắn của Poirot. Phải đợi vài phút, một người đàn ông thấp đậm với bộ ria mép to tướng mới vội vã bước ra cổng. Viên cảnh sát nghiêm chỉnh chào và đứng sang một bên.
“M. Poirot thân mến của tôi,” người mới đến kêu lên, “tôi thật mừng khi gặp lại ông. Sự xuất hiện của ông đúng là đúng lúc lắm.”
Khuôn mặt Poirot bừng sáng.
“M. Bex! Đúng là một vinh hạnh lớn đây.” Ông quay sang tôi. “Đây là một người bạn người Anh của tôi, Đại úy Hastings—còn đây là M. Lucien Bex.”
Viên thanh tra và tôi cúi đầu chào nhau đầy vẻ lịch sự, rồi M. Bex lại quay sang Poirot.
“Mon vieux, tôi chưa gặp lại ông kể từ năm 1909, vụ ở Ostend ấy. Tôi nghe nói ông đã rời khỏi ngành cảnh sát rồi cơ mà?”
“Đúng vậy. Tôi đang mở văn phòng thám tử tư ở London.”
“Và ông bảo ông mang đến những thông tin có thể giúp ích cho chúng tôi ư?”
“Có lẽ các ông đã biết rồi ấy chứ. Các ông có biết là tôi đã được mời đến đây không?”
“Không. Ai mời?”
“Người đã khuất. Có vẻ như ông ấy biết trước một âm mưu ám sát nhắm vào mình. Đáng tiếc là ông ấy lại gọi tôi quá muộn.”
“Sacré tonnerre!” viên chức người Pháp thốt lên. “Hóa ra ông ta đã lường trước được cái chết của chính mình ư? Điều đó làm đảo lộn các giả thuyết của chúng ta đáng kể đấy! Nhưng xin mời vào trong.”
Ông đẩy cánh cổng mở rộng, và chúng tôi bắt đầu bước về phía ngôi nhà. M. Bex tiếp tục câu chuyện:
“Quan tòa thẩm vấn, M. Hautet, phải được biết chuyện này ngay lập tức. Ông ấy vừa khám nghiệm xong hiện trường vụ án và chuẩn bị bắt đầu việc lấy cung. Một con người vô cùng quyến rũ. Ông sẽ mến ông ấy thôi. Rất đáng mến. Phương pháp làm việc có phần độc đáo, nhưng lại là một vị quan tòa xuất sắc.”
“Vụ án xảy ra khi nào thế?” Poirot hỏi.
“Thi thể được phát hiện vào khoảng chín giờ sáng nay. Lời khai của phu nhân Renauld cùng các bác sĩ cho thấy cái chết phải xảy ra vào khoảng hai giờ sáng. Nhưng xin mời các ông cứ vào trong.”
Chúng tôi đã đến bậc thềm dẫn lên cửa chính của biệt thự. Ở tiền sảnh, một viên cảnh sát khác đang ngồi. Anh ta đứng dậy ngay khi thấy viên thanh tra.
“M. Hautet đang ở đâu rồi?” người sau hỏi.
“Ở phòng khách lớn, thưa ông.”
M. Bex mở một cánh cửa bên trái tiền sảnh, và chúng tôi bước vào. M. Hautet cùng thư ký của ông đang ngồi bên một chiếc bàn tròn lớn. Họ ngẩng đầu lên khi chúng tôi bước vào. Viên thanh tra giới thiệu chúng tôi và giải thích lý do chúng tôi có mặt.
M. Hautet, vị quan tòa điều tra, là một người cao gầy, với đôi mắt đen sắc sảo và bộ râu màu xám được cắt tỉa gọn gàng, thói quen của ông là vuốt ve bộ râu trong lúc nói chuyện. Đứng cạnh lò sưởi là một người đàn ông lớn tuổi, vai hơi còng, được giới thiệu là bác sĩ Durand.
“Thật quá ư kỳ lạ,” M. Hautet nhận xét khi viên thanh tra dứt lời. “Ông có bức thư ở đây chứ, thưa ông?”
Poirot liền đưa bức thư cho ông, vị thẩm phán chăm chú đọc nó.
“Hừm. Ông ta nhắc đến một bí mật. Tiếc thật, giá như ông ta nói rõ hơn thì tốt biết mấy. Chúng tôi rất mang ơn ông, M. Poirot. Tôi hy vọng ông sẽ nể mặt giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra. Hay ông buộc phải quay về London ngay?”
“Thưa ngài quan tòa, tôi dự định sẽ ở lại. Tôi đã đến không kịp để ngăn chặn cái chết của thân chủ mình, nhưng danh dự buộc tôi phải tìm cho ra kẻ sát nhân.”
Vị thẩm phán cúi đầu.
“Tấm lòng ấy thật đáng trân trọng. Hơn nữa, chắc chắn phu nhân Renauld cũng sẽ muốn nhờ cậy dịch vụ của ông. Chúng tôi đang chờ M. Giraud từ sở Sûreté ở Paris đến bất cứ lúc nào, và tôi chắc rằng ông và anh ta có thể hỗ trợ lẫn nhau trong công tác điều tra. Trong lúc này, tôi hy vọng ông sẽ niệm tình tham gia buổi lấy cung của tôi, và tôi khỏi phải nói rằng nếu ông cần bất kỳ sự trợ giúp nào, chúng tôi luôn sẵn sàng đáp ứng.”
“Cảm ơn ông. Các ông cũng hiểu rằng hiện tại tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi chẳng biết một chút gì cả.”
M. Hautet gật đầu với viên thanh tra, và người này tiếp lời:
“Sáng nay, người hầu già Françoise, khi xuống nhà bắt đầu công việc, đã thấy cửa chính khép hờ. Cảm thấy hơi lo ngại về trộm cắp, bà nhìn vào phòng ăn, nhưng thấy đồ bạc vẫn còn nguyên vẹn nên không bận tâm nữa, và kết luận rằng ông chủ của mình chắc chắn đã dậy sớm đi dạo đâu đó.”
“Xin lỗi vì đã ngắt lời ông, nhưng thói quen đó có phổ biến ở ông ta không?”
“Không, không hề, nhưng mụ Françoise già cả này vẫn mang cái định kiến thường thấy về người Anh—rằng họ vốn điên rồ, và sẵn sàng làm những chuyện khó hiểu nhất bất cứ lúc nào! Đi lên gọi bà chủ như mọi khi, một cô hầu trẻ tên là Léonie đã hoảng hốt phát hiện ra bà chủ bị bị miệng, trói quặt lại, và gần như cùng lúc ấy, tin dữ được báo đến rằng thi thể của ông Renauld đã được tìm thấy, đã chết cứng, với một nhát đâm sau lưng.”
“Ở đâu thế?”
“Đó chính là một trong những điểm kỳ lạ nhất của vụ án. M. Poirot, thi thể nằm úp mặt xuống một cái huyệt được đào sẵn.”
“Cái gì?”
“Vâng. Cái hố được đào mới tinh—chỉ cách ranh giới khu vườn biệt thự vài bước chân.”
“Và ông ấy đã chết—bao lâu rồi?”
Bác sĩ Durand trả lời câu hỏi này.
“Tôi đã khám nghiệm thi thể vào lúc mười giờ sáng nay. Cái chết chắc chắn phải xảy ra cách đó ít nhất bảy, và có lẽ là mười tiếng trước.”
“Hừm, vậy là vào khoảng từ nửa đêm đến ba giờ sáng.”
“Chính xác, và lời khai của phu nhân Renauld xác định nó xảy ra sau hai giờ sáng, điều này càng thu hẹp phạm vi hơn nữa. Cái chết diễn ra tức thì, và hiển nhiên không thể là do tự sát.”
Poirot gật đầu, và viên thanh tra tiếp tục:
“Phu nhân Renauld đã được những người hầu hoảng loạn cởi trói vội vã. Bà đang ở trong tình trạng suy kiệt trầm trọng, gần như bất tỉnh vì đau đớn do những sợi dây trói gây ra. Có vẻ như hai kẻ bị mặt đã đột nhập vào phòng ngủ, bịt miệng và trói bà lại trong khi bắt cóc chồng bà đi. Chúng ta biết được điều này qua lời kể gián tiếp của bọn gia nhân. Khi nghe tin dữ, bà ngất lịm đi trong trạng thái hoảng loạn tột cùng. Vừa đến nơi, bác sĩ Durand đã lập tức kê thuốc an thần, và chúng tôi vẫn chưa thể thẩm vấn bà. Nhưng chắc chắn khi tỉnh dậy, bà sẽ bình tĩnh hơn và đủ sức chịu đựng áp lực của cuộc hỏi cung.”
Viên thanh tra dừng lại.
“Còn những người sinh sống trong nhà thì sao, thưa ông?”
“Có mụ Françoise già, người quản gia, bà ta đã sống nhiều năm với những chủ nhân trước của biệt thự Geneviève. Rồi đến hai cô gái trẻ là hai chị em Denise và Léonie Oulard. Quê họ ở Merlinville và là con của những gia đình rất đáng kính. Tiếp theo là người lái xe mà ông Renauld đưa từ Anh sang cùng, nhưng anh ta đang đi nghỉ mát. Cuối cùng là phu nhân Renauld và con trai họ, M. Jack Renauld. Cậu ta cũng đang vắng nhà vào lúc này.”
Poirot cúi đầu. M. Hautet lên tiếng:
“Marchaud!”
Viên cảnh sát xuất hiện.
“Dẫn mụ Françoise vào đây.”
Anh ta nghiêm chào rồi biến mất. Chỉ một lát sau, anh trở lại, áp giải mụ Françoise đang sợ hãi.
“Tên bà là Françoise Arrichet phải không?”
“Vâng, thưa ông.”
“Bà đã làm việc lâu năm ở biệt thự Geneviève này chứ?”
“Mười một năm với bà tử tước. Rồi khi bà ấy bán biệt thự vào mùa xuân này, tôi đồng ý ở lại làm việc cho ông quý tộc người Anh. Tôi chưa bao giờ ngờ rằng—”
Vị thẩm phán ngắt lời mụ.
“Được rồi, rõ rồi. Này Françoise, về vấn đề cánh cửa chính, việc chốt cửa vào ban đêm là trách nhiệm của ai?”
“Của tôi, thưa ông. Lúc nào tôi cũng tự tay lo việc đó.”
“Còn tối qua?”
“Tôi vẫn cài cửa như mọi khi.”
“Bà chắc chắn chứ?”
“Tôi xin thề trước các chư thánh hiển linh, thưa ông.”
“Mấy giờ thì làm việc đó?”
“Vẫn giờ giấc như mọi hôm, mười giờ rưỡi, thưa ông.”
“Còn những người khác trong nhà thì sao, họ đã lên lầu đi ngủ chưa?”
“Bà chủ đã lui về phòng từ trước đó một lúc. Denise và Léonie cùng lên lầu với tôi. Ông chủ vẫn còn ở phòng làm việc.”
“Thế thì, nếu có ai đó mở cửa sau đó, chắc chắn chỉ có thể là chính ông Renauld phải không?”
Françoise nhún đôi vai rộng của mình.
“Ông ấy làm thế để làm gì cơ chứ? Trong khi trộm cướp và sát nhân nhan nhản từng phút! Thật là ý nghĩ nực cười! Ông chủ đâu có phải kẻ đần độn. Đâu phải lúc nào ông ấy cũng phải mở cửa tiễn người phụ nữ ấy ra—”
Vị thẩm phán nghiêm khắc cắt ngang:
“Người phụ nữ ấy? Bà đang nói đến người đàn bà nào?”
“Thì ra là người phụ nữ đến gặp ông ấy chứ ai.”
“Có một người phụ nữ đến gặp ông ấy tối hôm qua à?”
“Vâng chứ thưa ông—mà cả nhiều tối khác nữa chứ bộ.”
“Cô ta là ai? Bà có biết mặt không?”
Vẻ ranh mãnh thoáng hiện trên khuôn mặt mụ đàn bà. “Làm sao tôi biết được đó là ai chứ?” mụ làu bàu. “Tối hôm qua tôi có ra mở cửa đâu.”
“Aha!” vị thẩm phán điều tra gầm lên, đập mạnh tay xuống bàn một cái. “Bà dám giỡn mặt với cảnh sát đấy à? Tôi yêu cầu bà khai ra ngay cái tên của người phụ nữ hay đến thăm ông Renauld vào các buổi tối.”
“Cảnh sát với chả cảnh sát,” mụ Françoise lầm bầm. “Tôi chưa từng nghĩ có ngày mình lại dính líu đến đám cảnh sát. Nhưng tôi thừa biết cô ta là ai. Chính là Madame Daubreuil.”
Viên thanh tra thốt lên một tiếng kinh ngạc, rướn người về phía trước như thể vô cùng sửng sốt.
“Madame Daubreuil—từ biệt thự Marguerite ngay cuối con đường này á?”
“Chính là người tôi vừa nói đấy, thưa ông. Ồ, mụ ta ghê gớm lắm cơ, mụ ả đó!” Mụ già hất đầu vẻ khinh miệt.
“Madame Daubreuil,” viên thanh tra thì thào. “Không thể nào.”
“Voilà,” mụ Françoise làu bàu. “Nói thật toàn chuốc lấy thế đấy.”
“Không có gì đâu,” vị thẩm phán điều tra dị giọng nói. “Chúng tôi chỉ ngạc nhiên chút thôi, thế thôi mà. Vậy Madame Daubreuil và Monsieur Renauld, họ có—” ông ngập ngừng một cách tế nhị. “Hử? Chuyện là thế chứ gì nữa?”
“Làm sao tôi biết được? Nhưng các ông bảo phải làm sao đây? Ông chủ, ngài ấy là một quý tộc Anh—rất giàu có—còn Madame Daubreuil, mụ ta nghèo túng, vậy mà—trông vẫn vô cùng sành điệu dù sống rất lặng lẽ cùng con gái. Chắc chắn là mụ ta từng có một quá khứ lẫy lừng rồi! Dù không còn trẻ nữa, nhưng ma foi! Tôi đây chính mắt đã thấy đàn ông cứ ngoái cổ nhìn theo mỗi khi mụ ta đi dạo trên phố. Hơn nữa dạo gần đây, mụ ta có vẻ rủng rỉnh tiền tiêu hơn hẳn—cả thị trấn này ai chẳng biết. Những khoản tằn tiện, nay hết sạch rồi.” Và Françoise lắc đầu với vẻ chắc như đinh đóng cột.
M. Hautet đăm chiêu vuốt râu.
“Còn phu nhân Renauld?” cuối cùng ông hỏi. “Bà ấy đón nhận mối quan hệ này như thế nào?”
Françoise nhún vai.
“Bà ấy lúc nào cũng vô cùng nhã nhặn—hết sức lịch sự. Ai nhìn vào cũng tưởng bà chẳng hay biết gì sất. Nhưng dẫu sao đi nữa, thưa các ông, cõi lòng nào mà chẳng đau đớn? Ngày qua ngày, tôi cứ thấy phu nhân ngày một xanh xao và gầy gò đi. Bà ấy đâu còn là người phụ nữ tràn đầy sức sống như hồi mới chuyển đến đây cách đây một tháng. Cả ông chủ cũng thay đổi. Ngài ấy cũng mang nhiều tâm sự. Nhìn là biết ngài sắp chạm đến bờ vực của sự suy nhược thần kinh rồi. Mà ngài lạ gì, một vụng trộm lố lăng thế cơ mà? Chẳng chút kiềm chế, chẳng chút kín đáo. Đích thị là phong cách Anh quốc rồi!”
Tôi tức giận đến mức chồmm hẳn người lên ghế, nhưng vị thẩm phán điều tra vẫn tiếp tục những câu hỏi của mình, chẳng mảy may bận tâm đến những chuyện ngoài lề.
“Bà nói rằng M. Renauld không phải là người tiễn Madame Daubreuil ra về cơ mà? Vậy là mụ ta đã đi rồi chứ?”
“Vâng, thưa ông. Tôi nghe tiếng họ bước ra từ phòng làm việc và tiến về phía cửa. Ông chủ nói chúc ngủ ngon và đóng cửa lại sau khi mụ ta đi.”
“Lúc đó là mấy giờ?”
“Khoảng mười giờ hai mươi lăm phút, thưa ông.”
“Bà có biết M. Renauld lên giường đi ngủ lúc mấy giờ không?”
“Tôi nghe tiếng ngài bước lên lầu khoảng mười phút sau chúng tôi. Cầu thang kêu cóót kéét nên ai lên xuống là nghe tiếng hết.”
“Và chỉ có thế thôi chứ? Bà không nghe thấy bất kỳ âm thanh xáo trộn nào trong suốt đêm đó sao?”
“Hoàn toàn không có gì hết, thưa ông.”
“Ai trong số những người hầu đã xuống nhà đầu tiên vào buổi sáng?”
“Tôi, thưa ông. Tôi nhìn thấy ngay cánh cửa đang mở toang.”
“Thế còn những ô cửa sổ ở tầng trệt khác, chúng đều được cài then chứ?”
“Tất cả đều khóa kín. Chẳng có điều gì khả nghi hay bất thường ở bất cứ đâu cả.”
“Tốt lắm, Françoise, bà có thể lui ra.”
Mụ già lê bước về phía cửa. Đến ngưỡng cửa, mụ ngoái đầu lại.
“Tôi nói cho các ông biết một điều này nhé, thưa ông. Cái mụ Daubreuil đó đích thị là một ả đàn bà hư hỏng! Ồ, phải rồi, phụ nữ thừa hiểu bản chất của nhau mà. Mụ ta là một ả tồi tệ, các ông hãy nhớ lấy điều đó.” Và lẩm bẩm gật đầu vẻ từng trải, Françoise bước ra khỏi phòng.
“Léonie Oulard,” vị thẩm phán gọi.
Léonie bước vào trong nước mắt đầm đìa và có vẻ sắp lên cơn kích động. M. Hautet khéo léo trấn an cô. Lời khai của cô chủ yếu xoay quanh việc phát hiện bà chủ bị bị miệng và trói, một sự việc mà cô kể lại có phần hơi phóng đại. Giống như Françoise, cô không nghe thấy bất cứ âm thanh nào trong suốt đêm qua.
Em gái cô, Denise, nối tiếp bước vào. Cô đồng ý rằng ông chủ của họ đã thay đổi rất nhiều trong thời gian gần đây.
“Ngày nào ông ấy cũng trở nên lầm lì hơn. Ông ấy ăn ít đi. Lúc nào cũng chán nản.” Nhưng Denise lại có giả thuyết riêng của mình. “Chắc chắn là hội Mafia đang truy đuổi ông ấy rồi! Hai kẻ bị mặt—ngoài chúng ra thì còn có thể là ai được nữa? Một tổ chức tội phạm thật khủng khiếp!”
“Đương nhiên điều đó hoàn toàn có thể xảy ra,” vị thẩm phán điềm đạm nói. “Nào cô bé, có phải chính cô là người đã mở cửa cho Madame Daubreuil vào nhà tối hôm qua không?”
“Không phải tối hôm qua, thưa ông, mà là tối hôm kia cơ ạ.”
“Nhưng Françoise vừa bảo với chúng ta rằng Madame Daubreuil đã đến đây tối hôm qua cơ mà?”
“Không ạ, thưa ông. Tối qua quả thực có một người phụ nữ đến gặp M. Renauld, nhưng đó không phải là Madame Daubreuil.”
Cảm thấy ngạc nhiên, vị thẩm phán gặng hỏi, nhưng cô gái vẫn kiên quyết giữ vững lời khai. Cô biết mặt Madame Daubreuil rất rõ. Người phụ nữ tối qua cũng có tóc tối màu, nhưng thấp người hơn và trẻ hơn rất nhiều. Không gì có thể làm lay chuyển tuyên bố của cô.
“Cô đã bao giờ nhìn thấy người phụ nữ này trước đây chưa?”
“Chưa bao giờ, thưa ông.” Và rồi cô gái ngập ngừng nói thêm: “Nhưng cháu nghĩ bà ta là người Anh.”
“Người Anh á?”
“Vâng, thưa ông. Bà ta hỏi tìm M. Renauld bằng tiếng Pháp khá chuẩn, nhưng cái giọng điệu ấy—người ta lúc nào chẳng nhận ra điểm khác biệt, phải không ạ? Hơn nữa, khi họ bước ra từ phòng làm việc, họ đã nói chuyện bằng tiếng Anh.”
“Cô có nghe thấy họ nói gì không? Ý tôi là cô có hiểu không?”
“Cháu ấy ạ, cháu nói tiếng Anh rất giỏi,” Denise tự hào đáp. “Bà ta nói quá nhanh nên cháu không bắt kịp ý nghĩa, nhưng cháu nghe được câu nói cuối cùng của ông chủ khi ngài mở cửa tiễn bà ta.” Cô khẩn trương dừng lại một chút, rồi cẩn trọng và chật vật lặp lại:
“ ‘Yeas—yeas—butt for Gaud’s saike go nauw!’ ”
“Yes, yes, but for God’s sake go now! (Vâng, vâng, nhưng vì ơn Chúa hãy đi ngay đi!)” vị thẩm phán lặp lại.
Ông cho Denise lui ra và, sau vài phút suy ngẫm, gọi Françoise quay lại. Ông đặt ra câu hỏi liệu có phải mụ đã nhầm lẫn khi khẳng định về đêm ghé thăm của Madame Daubreuil hay không. Tuy nhiên, Françoise lại tỏ ra bướng bỉnh một cách bất ngờ. Chính là tối hôm qua Madame Daubreuil đã đến. Chắc chắn không trật đi đâu được. Con bé Denise muốn làm ra vẻ quan trọng ấy mà, voilà tout! Thế nên nó mới bịa ra cái câu chuyện ly kỳ về một người phụ nữ lạ mặt. Lại còn bày đặt khoe mẽ vốn tiếng Anh nữa chứ! Có lẽ nào ông chủ chưa từng thốt ra câu tiếng Anh nào như thế, mà dẫu có nói đi chăng nữa, thì điều đó cũng chẳng chứng minh được gì, bởi Madame Daubreuil nói tiếng Anh vô cùng hoàn hảo, và thường xuyên dùng ngôn ngữ đó khi trò chuyện với vợ chồng M. Renauld. “Các ông thấy đấy, M. Jack, con trai của ông chủ, thường xuyên có mặt ở nhà, mà cậu ta nói tiếng Pháp rất tồi.”
Vị thẩm phán không nài nỉ thêm. Thay vào đó, ông hỏi về người tài xế, và biết được rằng ngay ngày hôm qua, M. Renauld đã tuyên bố ông sẽ không cần dùng đến xe, và anh lái xe Masters cứ việc nghỉ phép một chuyến cho khỏe.
Một nếp nhăn bối rối bắt đầu hằn lên giữa hai chân mày của Poirot.
“Có chuyện gì thế?” tôi thì thào hỏi.
Ông bực dọc lắc đầu, rồi cất lời hỏi:
“Xin lỗi M. Bex, nhưng chắc chắn là M. Renauld có thể tự lái xe lấy chứ nhỉ?”
Viên thanh tra nhìn sang Françoise, và mụ già nhanh chóng đáp lời:
“Không, ông chủ không bao giờ tự lái xe cả.”
Vẻ đăm chiêu của Poirot càng trở nên sâu sắc hơn.
“Tôi ước gì anh chịu nói cho tôi biết điều gì đang làm anh phiền lòng,” tôi nóng ruột lên tiếng.
“Cậu không thấy sao? Trong bức thư của mình, M. Renauld nhắc đến việc cử xe ra Calais đón tôi cơ mà.”
“Có lẽ ý ông ấy là thuê xe ngoài,” tôi gợi ý.
“Chắc chắn là thế rồi. Nhưng tại sao lại phải thuê xe trong khi mình có sẵn xe riêng chứ? Tại sao lại chọn đúng ngày hôm qua để đuổi người lái xe đi nghỉ mát—một cách đột ngột, báo trước chỉ trong chớp mắt? Phải chăng vì một lý do nào đó mà ông ấy muốn hắn ta tránh mặt trước khi chúng ta đến?”