Đó là đêm tiếp theo sau buổi tối xảy ra thảm kịch kép tại Rowan House.
Nayland Smith cùng Thanh tra Weymouth đang bận rộn với một cuộc điều tra bí ẩn nào đó ở khu vực bến tàu, còn tôi ở lại nhà để tiếp tục viết lại cuốn biên niên sử kỳ lạ của mình. Và—sao tôi lại phải giấu giếm chứ?—những ký ức ấy đã khiến tôi hoảng sợ.
Tôi đang sắp xếp lại các ghi chép của mình liên quan đến vụ án của Sir Lionel Barton. Chúng hoàn toàn thiếu sót và vô vọng. Chẳng hạn, tôi đã vội vàng ghi lại những câu hỏi sau:—(1) Có thực sự tồn ngại một điểm tương đồng nào giữa cái chết của M. Page le Roi với cái chết của Kwee, gã người Trung Hoa, và của Strozza không? (2) Xác ướp của Mekara đã đi về đâu? (3) Kẻ sát nhân đã trốn thoát khỏi một căn phòng khóa kín bằng cách nào? (4) Mục đích của nút cao su là gì? (5) Tại sao Kwee lại trốn trong phòng kính trồng cây? (6) Làn sương màu lục chỉ là một ảo giác chủ quan thuần túy—một sản phẩm tưởng tượng của Croxted—hay thực sự hắn đã nhìn thấy nó?
Cho đến khi những câu hỏi này được giải đáp thỏa đáng, việc tiến xa hơn là điều bất khả thi. Nayland Smith thẳng thắn thừa nhận rằng anh đã vượt quá tầm với. Chỉ vào buổi sáng hôm đó, anh từng nói: "Nhìn bề ngoài, vụ việc này giống một đề tài dành cho mấy vị nghiên cứu tâm linh hơn là một công chức bình thường vốn mới từ Mandalay trở về."
"Sir Lionel Barton thực sự tin rằng các thế lực siêu nhiên đã được kích hoạt bởi việc mở chiếc quan tài của vị đại tư tế. Phần tôi, ngay cả khi tin như vậy, tôi vẫn giữ quan điểm rằng Tiến sĩ Fu-Manchu đã thao túng những hiện tượng ấy. Nhưng cậu hãy tự suy luận đi và xem liệu chúng ta có tìm được điểm chung nào không. Đừng quá bận tâm vào dữ liệu về làn sương màu lục, mà hãy bám sát các SỰ THẬT đã được xác thực."
Tôi bắt đầu gõ gõ chiếc tẩu thuốc vào cái gạt tàn; rồi khựng lại, tẩu vẫn cầm trên tay. Căn nhà hoàn toàn tĩnh lặng, bởi vì bà chủ nhà và toàn bộ người hầu trong nhà đều đã đi vắng.
Vượt lên trên tiếng ồn của chiếc xe điện đang chạy qua, tôi tưởng như mình nghe thấy tiếng cửa chính mở ra. Trong sự im lặng sau đó, tôi ngồi lắng tai nghe.
Không một tiếng động. Khoan đã! Tôi thò tay vào ngăn kéo bàn, lấy khẩu súng lục ra và đứng dậy.
ĐÃ CÓ tiếng động. Ai đó hoặc thứ gì đó đang bò lên cầu thang trong bóng tối!
Quá quen thuộc với những thủ đoạn ghê rợn mà gã người Trung Hoa thường dùng, tôi bị thôi thúc bởi ý muốn chồm tới cửa, đóng sầm và khóa chặt nó lại. Thế nhưng tiếng sột soạt ấy lúc này lại phát ra từ ngay bên ngoài cánh cửa đang khép hờ của tôi. Tôi không còn thời gian để đóng cửa lại nữa; mà phần vì đã mường tượng ra những điều kinh hãi nằm trong quyền năng của Fu-Manchu, phần vì tôi không đủ can đảm để mở toang nó ra. Trái tim đập loạn nhịp, và ánh mắt dán chặt vào khoảng không tối tăm đầy rẫy những mối đe dọa rợn ngợp ấy, tôi chờ đợi—chờ đợi bất cứ thứ gì sắp xuất hiện. Có lẽ khoảng mười hai giây trôi qua trong im lặng.
"Ai ở đấy?" tôi thét lên. "Trả lời, không thì tôi bắn!"
"Á! Đừng," một giọng nói mềm mại vang lên, nghe du dương đến nao lòng. "Hạ xuống đi—khẩu súng đó. Nhanh lên! Tôi phải nói chuyện với anh."
Cánh cửa bị đẩy ra, và một bóng người mảnh dẻ khoác chiếc áo choàng trùm đầu bước vào. Tay tôi hạ xuống, và tôi đứng lặng đi, chết sững trong sự im lặng, nhìn vào đôi mắt đen đẹp đẽ của sứ giả dưới quyền Tiến sĩ Fu-Manchu—nếu như lời cô ta tự nhận là đáng tin, thì cô ta chỉ là một nữ nô lệ. Đã hai lần cô gái này, người mà mối liên hệ của cô với vị Tiến sĩ là một trong những bí ẩn sâu sắc nhất của vụ án, từng đánh đổi—tôi không dám chắc là thứ gì; có lẽ là một hình phạt không tên nào đó—để cứu tôi khỏi cái chết; và trong cả hai lần đều là một cái chết thê thảm. Giờ đây cô ta đến vì mục đích gì?
Đôi môi hơi hé mở, cô đứng đó, tay túm chặt vạt áo choàng quanh người, và dõi theo tôi bằng đôi mắt lớn đầy vẻ nồng nhiệt.
"Làm sao mà—" tôi bắt đầu lên tiếng.
Nhưng cô lắc đầu đầy sốt ruột.
"HẮN có một chìa khóa phụ của cửa ra vào ngôi nhà," đó là lời thông báo gây choáng váng của cô. "Tôi chưa từng phản bội bí mật nào của chủ nhân trước đây, nhưng anh phải tìm cách thay ổ khóa đi."
Cô bước tới và đặt đôi bàn tay mảnh dẻ lên đôi vai tôi đầy vẻ tin tưởng. "Tôi lại đến để cầu xin anh đưa tôi rời khỏi hắn," cô nói một cách giản dị.
Và cô ngẩng khuôn mặt lên nhìn tôi.
Những lời nói của cô chạm vào một nốt trầm trong tim tôi, ngân lên thứ âm thanh kỳ lạ, một thứ âm nhạc hoang dã đến mức, thú thật là, tôi thấy đỏ mặt khi nhận ra đó lại là sự hòa hợp. Tôi đã nói rằng cô ta đẹp chưa? Điều đó chẳng thể truyền tải nổi dù chỉ một phần nhỏ vẻ đẹp của cô. Với làn da trắng ngần, đôi mắt tựa như bóng đêm nhung lụa của phương Đông, và đôi môi đỏ mọng đang run rẩy ở khoảng cách quá gần với môi tôi, cô ta là sinh vật quyến rũ và xinh đẹp nhất mà tôi từng ngắm nhìn. Trong khoảnh khắc đầy điện giật ấy, trái tim tôi tràn ngập sự đồng cảm với mọi người đàn ông từng đánh đổi cả danh dự, tổ quốc, tất cả chỉ vì nụ hôn của một người phụ nữ.
Giong tôi vang lên không hoàn toàn là của chính mình khi tôi kiên quyết đáp: "Tôi sẽ đảm bảo để cô được đặt dưới sự bảo vệ thích hợp. Thật hoàn toàn vô lý khi nói đến chuyện nô lệ ở cái nước Anh này. Cô là một cá nhân tự do, nếu không thì giờ này cô đã chẳng thể có mặt ở đây. Tiến sĩ Fu-Manchu không thể kiểm soát hành động của cô được."
Cô thét lên, ngẩng phắt đầu lên đầy vẻ khinh miệt, xõa tung một làn tóc mây mà qua sự mềm mại ấy lấp lánh một món đồ trang sức đội đầu: "A! Không ư? Hắn không thể ư? Anh có biết thế nào là làm nô lệ không? Ngay tại đất nước Anh tự do của các anh đây, anh có biết thế nào là những cuộc cướp bóc, là hành trình vượt sa mạc, là roi da của những kẻ quản thúc, là ngôi nhà của kẻ buôn người, là nỗi nhục nhã không tên hay không? Thật nực cười!"
Trông cô mới đẹp làm sao trong cơn phẫn nộ!
"Anh tưởng rằng chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ rồi ư? Anh không tin rằng ngày nay—NGAY HÔM NAY—hai mươi lăm đồng bảng Anh có thể mua được một cô gái người Galla da ngăm đen, và"—cô thì thầm—"hai trăm năm mươi đồng có thể mua được một thiếu nữ người Circassian da trắng ư? Không, chẳng có chế độ nô lệ nào sất! Thế ư? Vậy thì tôi là cái gì?"
Cô hất tung chiếc áo choàng ra, và quả thực tôi đã phải dụi mắt, nửa tin nửa ngờ rằng mình đang mơ. Bởi vì bên dưới lớp áo đó, cô diện một bộ trang phục bằng lụa mỏng tang để lộ rõ những đường nét hoàn hảo của thân hình mảnh mai; cô thắt một chiếc đai lưng nạm ngọc và đeo những món trang sức mang phong cách dã man; một dáng vẻ tựa như bước ra từ những khu vườn có tường bao kín của kinh thành Istanbul—một hình ảnh thật đáng kinh ngạc, không thể tài nào hiểu nổi giữa khung cảnh đời thường tẻ nhạt trong căn phòng của tôi.
"Đêm nay tôi không có thời gian để biến mình thành một tiểu thư người Anh," cô nói, vội vã quấn lại chiếc áo choàng. "Anh nhìn thấy tôi đúng như nguyên bản." Trang phục của cô tỏa ra một làn hương thoang thoảng, gợi cho tôi nhớ đến lần gặp gỡ trước đây với cô. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt đầy thách thức ấy.
"Yêu cầu của cô chỉ là một cái cớ," tôi nói. "Tại sao cô lại che giấu những bí mật của kẻ đó, trong khi chúng mang lại cái chết cho bao nhiêu người?"
"Cái chết! Tôi từng thấy chính chị gái mình chết vì cơn sốt trong sa mạc—thấy chị ấy bị ném như một xác động vật thối rữa vào cái hố trên cát. Tôi từng thấy những người đàn ông bị đánh roi đến mức họ cầu xin cái chết như một ơn huệ. Bản thân tôi cũng từng nếm trải những đòn roi ấy. Cái chết ư? Nó có ý nghĩa gì đâu chứ?"
Cô khiến tôi bàng hoàng đến tột độ. Lại được bọc kín trong chiếc áo choàng và chỉ với một chút giọng điệu lơ lớ hé lộ xuất thân của cô, thật là khủng khiếp khi nghe những lời đó thốt ra từ miệng một cô gái mà nếu không vì vẻ đẹp mang nét độc đáo của riêng cô, thì trông chẳng khác nào một người phụ nữ châu Âu được giáo dục văn minh.
"Vậy thì hãy chứng minh rằng cô thực sự muốn rời bỏ gã đàn ông đó. Hãy nói cho tôi biết thứ gì đã giết chết Strozza và gã người Trung Hoa," tôi nói.
Cô nhún vai.
"Tôi không biết điều đó. Nhưng nếu anh bắt cóc tôi đi"—cô bấu chặt lấy tôi với vẻ căng thẳng—"sao cho tôi hoàn toàn bất lực, khóa tôi lại để tôi không thể trốn thoát, đánh đập tôi nếu anh thích, tôi sẽ kể cho anh nghe tất cả những gì tôi biết. Chừng nào hắn còn là chủ nhân của tôi, tôi sẽ không bao giờ phản bội hắn. Hãy giật phăng tôi khỏi hắn—bằng vũ lực, anh hiểu chứ, BẰNG VŨ LỰC, và khi ấy môi tôi sẽ không còn bị niêm phong nữa. Ồ! Nhưng anh nào có hiểu, với những 'giới chức có thẩm quyền' của anh—với cảnh sát của anh. Cảnh sát ư! A, tôi nói thế là quá đủ rồi."
Một chiếc đồng hồ ở vùng đất hoang bắt đầu điểm chuông. Cô gái giật mình và lại đặt đôi tay lên vai tôi. Những giọt nước mắt lấp lánh ẩn hiện giữa hàng mi cong ngợp màu đen.
"Anh không hiểu đâu," cô thì thầm. "Ồ, liệu anh có bao giờ hiểu và giải thoát tôi khỏi tay hắn không! Tôi phải đi thôi. Tôi đã ở lại quá lâu rồi. Lắng nghe này. Hãy ra ngoài ngay lập tức. Cứ ở bên ngoài—ở khách sạn, ở bất cứ đâu anh muốn, nhưng tuyệt đối đừng ở lại đây."
"Còn Nayland Smith thì sao?"
"Hắn ta là cái thá gì với tôi chứ, cái tên Nayland Smith đó? A, sao anh cứ nhất định không chịu cởi bỏ lời nguyền trên đôi môi tôi? Anh đang gặp nguy hiểm—anh nghe rõ tôi nói chưa, đang gặp nguy hiểm đấy! Hãy rời khỏi đây ngay đêm nay."
Cô buông tay ra và chạy biến khỏi căn phòng. Ở chỗ cửa mở, cô quay lại, dậm chân đầy phẫn uất.
Cô thét lên: "Anh có tay có chân, thế mà lại để mặc tôi đi thế này. Hãy coi chừng đấy; trốn khỏi đây đi—" Cô ngắt quãng câu nói bằng âm thanh nghe như tiếng nấc nghẹn ngào.
Tôi không hề cử động để níu giữ cô ta lại—kẻ đồng lõa xinh đẹp của tên ác nhân đầu sỏ Fu-Manchu. Tôi nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng của cô ta lẹt xẹt chạy xuống cầu thang, tôi nghe tiếng cô mở rồi khép lại cánh cửa—cánh cửa mà Tiến sĩ Fu-Manchu đang giữ chìa khóa. Tôi vẫn đứng nguyên ở nơi cô vừa rời đi, và vẫn đứng đó cho đến khi có tiếng chìa khóa lạch cạch xoay trong ổ và Nayland Smith hộc tốc chạy lên.
"Cậu có thấy cô ta không?" tôi cất lời.
Nhưng gương mặt của anh cho thấy anh chẳng hề chạm trán ai cả, và tôi nhanh chóng kể lại cho anh nghe về vị khách kỳ lạ của mình, về những lời cô nói, về lời cảnh báo của cô.
Tôi bối rối kêu lên: "Làm sao cô ta có thể đi qua London trong bộ trang phục đó cơ chứ? Cô ta có thể đến từ đâu được chứ?"
Smith nhún vai và bắt đầu nhồi thứ thuốc lá cắt sợi to vào chiếc tẩu brier nứt nẻ quen thuộc của mình.
Anh nói: "Cô ta có thể di chuyển bằng ô tô hoặc xe taxi; và chắc chắn là cô ta đi thẳng từ nhà của Tiến sĩ Fu-Manchu tới đây. Lẽ ra cậu nên giữ cô ta lại mới phải, Petrie. Đây là lần thứ ba chúng ta có người phụ nữ đó trong tầm tay, lần thứ ba chúng ta để cô ta sổng mất."
"Smith," tôi đáp lại, "tớ không thể. Cô ta tự nguyện đến để cảnh báo tớ. Cô ấy làm tớ mất hết khả năng phòng bị."
"Bởi vì cậu thấy cô ta đang yêu cậu chứ gì?" anh gợi ý, rồi bật ra tràng cười hiếm hoi khi thấy gương mặt tôi đỏ bừng lên vì tức giận. "Đúng thế đấy, Petrie—sao lại còn ra vẻ mù tịt làm gì? Cậu không hiểu tâm lý người phương Đông như tớ; nhưng tớ hoàn toàn hiểu vị trí của cô gái đó. Cô ta sợ nhà chức trách Anh, nhưng lại sẵn sàng chịu khuất phục nếu bị cậu bắt! Chỉ cần cậu nắm tóc cô ta kéo vào tầng hầm nào đó, quăng quật rồi đứng xách roi đứng lăm lăm bên trên, cô ta sẽ khai sạch sành sanh mọi chuyện mình biết, đồng thời tự thỏa mãn cái lương tâm kỳ quái theo kiểu phương Đông của mình rằng lời khai đó là do bị ép buộc. Tớ không đùa đâu; sự thật là thế đấy, tớ đảm bảo với cậu đấy. Và cô ta sẽ tôn sùng sự cục súc của cậu, coi cậu là kẻ mạnh mẽ và quyền uy!"
"Smith," tôi nói, "cậu hãy nghiêm túc đi. Cậu thừa biết lời cảnh báo của cô ấy có ngụ ý gì rồi đấy."
Anh đáp gọn lỏn: "Tớ đoán được bây giờ nó có nghĩa gì rồi. Kia!"
Có ai đó đang bấm chuông cửa một cách điên cuồng.
Bạn tôi liền bảo: "Không có ai ở nhà à? Để tớ ra mở. Tớ nghĩ tớ biết đó là ai rồi."
Chỉ vài phút sau, anh quay trở lại, trên tay cầm một bưu kiện hình vuông lớn.
Anh giải thích: "Từ Weymouth gửi đến, qua dịch vụ chuyển phát nhanh trong khu vực. Tớ để cậu ấy ở lại bến tàu, và cậu ấy đã sắp xếp để chuyển tiếp bất kỳ bằng chứng nào tìm được sau đó. Đây chắc là những mảnh vỡ của xác ướp."
"Cái gì! Cậu nghĩ xác ướp đã bị đánh cắp ư?"
"Đúng vậy, ngay tại bến tàu. Tớ chắc chắn thế; và có kẻ khác đã nằm trong cỗ quan tài khi nó được chuyển đến Rowan House. Tớ nhận ra cỗ quan tài gần như kín khí, thế nên tác dụng của nút cao su đã trở nên quá rõ ràng—để thông gió. Còn cách nào mà kẻ này đã sát hại Strozza thì tớ hãy còn phải tìm hiểu."
"Thêm nữa, làm sao hắn thoát khỏi một căn phòng bị khóa kín. Và còn làn sương màu lục thì sao?"
Nayland Smith xòe hai tay ra với một cử chỉ đặc trưng.
"Làn sương màu lục đó, Petrie, có thể được giải thích theo nhiều cách. Hãy nhớ rằng, chúng ta mới chỉ nghe từ một phía rằng nó thực sự tồn tại. Xét cho cùng, đó chỉ là một dữ kiện gây rối rắm mà chúng ta không được phép gán cho nó tầm quan trọng không có thực."
Anh vứt đống giấy gói xuống sàn và giật mạnh sợi dây bện ở phần nắp chiếc hộp vuông hiện đang đặt trên bàn. Ngay lập tức chiếc nắp bật ra, kéo theo lớp lót bằng chì giống như loại thường thấy ở các thùng đựng chè. Lớp lót này dính một phần vào một cạnh của hộp, thế nên hành động tháo nắp đã lập tức làm nó nhấc bổng và nghiêng hẳn sang một bên.
Và rồi một điều kỳ lạ đã xảy ra.
Từ trong hộp trào ra ngập bàn một thứ đám mây ngả vàng hơi xanh—một thứ hơi nước nhờ nhờ dầu—và một linh cảm, không gì khác hơn thế, nảy sinh từ một ký ức và từ những lời nói của vị nữ sứ giả xinh đẹp đã đánh thức tôi.
"CHẠY ĐI, SMITH!" tôi hét lên. "Cửa! Ra cửa mau, tính mạng đang ngàn cân treo sợi tóc đấy! Hộp này do chính tay Fu-Manchu gửi tới!" Tôi vòng tay ôm lấy anh. Khi anh nhoài người về phía trước, lớp hơi nước đang bay là đà suýt chạm tới mũi anh. Tôi kéo thốc anh lại và suýt nữa thì đẩy ngã anh ra ngoài chiếu nghỉ. Chúng tôi lao vào phòng ngủ của tôi, và ở đó, khi tôi bật đèn lên, tôi thấy khuôn mặt rám nắng của Smith bỗng trở nên hốc hác bất thường và tái nhợt đi.
Tôi khàn giọng nói: "Đó là một loại khí độc! Về nhiều mặt thì nó giống hệt khí clo, nhưng lại mang những đặc tính độc đáo chứng minh nó là một thứ khác—chỉ có Chúa và Fu-Manchu mới biết đích xác nó là gì! Chính làn khói clo đã giết chết những công nhân ở các nhà máy sản xuất chất tẩy trắng. Chúng ta đã quá mù quáng—đặc biệt là tớ. Cậu không thấy sao? Chẳng có ai trong cỗ quan tài cả, Smith ạ, nhưng lượng khí khủng khiếp chứa trong đó đủ sức làm nghẹt thở cả một trung đoàn!"
Smith siết chặt hai tay lại đầy bất lực.
Anh thốt lên: "Lạy Chúa! Làm sao tớ có thể hy vọng đối phó nổi với kẻ chủ ra một âm mưu thế này chứ? Tớ đã nhìn thấu toàn bộ kế hoạch. Hắn đã không tính đến chuyện cỗ quan tài bị lật nhào, và nhiệm vụ của Kwee là tháo nút chặn ra nhờ sợi dây—sau khi Sir Lionel đã bị ngạt thở. Tớ suy đoán rằng loại khí này nặng hơn không khí."
Tôi nói: "Khí clo có trọng lượng riêng là 2,470; nặng gấp hai lần rưỡi không khí. Cậu có thể rót nó từ bình này sang bình khác như chất lỏng—nếu như cậu đeo mặt nạ phòng độc của nhà hóa học. Về những điểm này, thứ khí này có vẻ tương tự; còn những điểm khác biệt thì chắc cậu chẳng hứng thú gì. Cỗ quan tài lẽ ra đã được làm rỗng qua lỗ thông hơi, và khí sẽ bay hơi đi mà không để lại bất kỳ dấu vết nào—ngoại trừ mùi hương."
"Tớ thực sự đã ngửi thấy mùi đó, Petrie, trên cái nút chặn, nhưng tất nhiên là tớ chưa quen thuộc với nó. Cậu có nhớ là cậu đã bị sự xuất hiện của Sir Lionel ngăn cản không? Hương thơm của đám hoa quái ác kia chắc cũng phần nào át đi mất rồi. Tội nghiệp gã Strozza khờ khạo đã hít phải thứ khí đó, làm lật nhào cỗ quan tài khi ngã xuống, và toàn bộ số khí—"
"Đã tràn xuống bên dưới cửa phòng kính và đổ dồn xuống bậc thềm, nơi Kwee đang co ro ẩn nấp. Việc Croxted đập vỡ cửa sổ đã tạo ra đủ lượng gió lùa để làm tản đi chút khí ít ỏi còn sót lại. Giờ thì nó đã lắng xuống sàn nhà rồi. Tớ phải đi mở tung cả hai cửa sổ ra mới được."
Nayland ngẩng gương mặt phờ phạc lên.
Anh nói: "Rõ ràng là hắn đã tạo ra lượng khí nhiều hơn mức cần thiết để thủ tiêu Sir Lionel Barton; và bằng thái độ đầy khinh miệt—cậu có nhận ra thái độ ấy không, Petrie?—hắn đã ban phát phần dư thừa đó cho tớ. Sự khinh miệt của hắn là hoàn toàn có cơ sở. Tớ chẳng qua chỉ là một đứa trẻ đang chật vật đối phó với một bộ óc vĩ đại. Việc Tiến sĩ Fu-Manchu thất bại kép hoàn toàn không phải nhờ vào sự thông minh gì của tớ."