Anima: Những hình ảnh cổ mẫu mang bản chất nữ tính vĩnh viễn trong vô thức của người đàn ông tạo ra một sự liên kết giữa bản ngã - ý thức và vô thức tập thể và có khả năng mở cánh cửa vào tự ngã (self).
Animus: Những hình ảnh cổ mẫu mang bản chất nam tính vĩnh cửu trong vô thức của phụ nữ tạo ra một sự liên kết giữa bản ngã - ý thức và vô thức tập thể và có khả năng mở một cánh cửa vào tự ngã.
Cổ mẫu (archetype): hình thức tiềm ẩn bẩm sinh của sự tưởng tượng, suy nghĩ hay hành vi có thể phát hiện ở con người ở mọi thời đại và mọi nơi.
Hình ảnh cổ mẫu (archetypal image): một hình thức tâm thần, tinh thần hay hành vi, mang tính chung cho loài người. Những hình ảnh cổ mẫu được tìm thấy trong giấc mơ của các cá nhân và trong những vật thể văn hóa chẳng hạn như những huyền thoại, truyện cổ tích và những biểu trưng tôn giáo.
Bù trừ (compensation): Quá trình động lực tự điều chỉnh trong đó bản ngã ý thức và vô thức tìm kiếm sự cân bằng nội tại, nó cũng thúc đẩy sự cá nhân hóa và vận động tuần tiến hướng tới sự tổng thể.
Phức cảm (complex): Một cảm giác có nội dung tự trị mang sắc thái cảm xúc của vô thức cá nhân, thường hình thành qua tổn thương hay sang chấn tâm thần.
Ego: Trung tâm của ý thức, “cái tôi”
Bản ngã ý thức (ego-consciousness): Phần tâm thần được tạo dựng từ những ý nghĩ, kí ức và cảm xúc dễ dàng tiếp cận mà tại trung tâm của nó là cái tôi.
Hướng ngoại (extroversion): Một thái độ ý thức thông thường là ưa thích gắn bó tích cực với những đối tượng hơn là nghiên cứu sâu về nó.
Imago: Biểu tượng tâm thần hay hình ảnh một đối tượng, nó giống như một người cha hay mẹ nhưng không được nhầm lẫn với đối tượng thực.
Cá nhân hóa (individuation): Quá trình phát triển tâm thần đưa tới sự nhận biết có ý thức về tổng thể. Không nên nhầm lẫn với chủ nghĩa cá nhân.
Bản năng (instinct): Nguồn năng lượng tâm thần (hay libido) có cơ sở sinh học và có tính bẩm sinh được thành hình và cấu trúc hóa trong tâm thần bởi một hình ảnh cổ mẫu.
Hướng nội (introversion): Một thái độ ý thức thông thường đó là chuộng sự nội quan và khảo sát kĩ những mối quan hệ với đối tượng.
Libido: Có thể dùng thay đổi cho nhau với “năng lượng tâm thần” và có sự gần gũi với khái niệm triết học “sức sống”. Libido có thể định lượng và đo lường được.
Nhiễu tâm (neurosis): Thái độ một mặt cứng nhắc của bản ngã ý thức, nhằm loại trừ những nội dung vô thức khỏi ý thức một cách có hệ thống vì mang tính tự phòng vệ.
Mặt nạ (persona): Giao diện về tâm thần giữa cá nhân và xã hội nhằm tạo dựng cá tính, hay bản sắc xã hội của một người.
Sự phóng chiếu (projection): Sự phóng ngoại những nội dung tâm thần vô thức, có khi vì những mục đích tự vệ (như với bóng âm), và có khi vi những mục đích hòa nhập và phát triển (như với anima và tự ngã).
Tâm thần (psyche): Một thuật ngữ rộng để chỉ các lĩnh vực ý thức, vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Vô thức tập thể thỉnh thoảng được nói tới như là tâm thần khách quan bởi vì nó không mang tính ngôi vị (cái mặt nạ) hay cá nhân.
Giống tâm thần (psychoid): Một tính từ dùng để nói về những ranh giới của tâm thần, có ranh giới giao diện với cơ thể và thế giới tự nhiên, có ranh giới giao diện với thế giới “tinh thần”.
Loại hình tâm lí (psychological type): Sự kết hợp giữa một trong hai thái độ (hướng ngoại và hướng nội) với một trong bốn chức năng (suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, trực giác) để tạo nên một sự định hướng quen thuộc nhất định của bản ngã ý thức (ego-consciousness).
Loạn tâm (psychosis): Trạng thái bị khống chế khi bản ngã ý thức bị tràn ngập bởi cái vô thức và thường tìm cách tự vệ bằng cách đồng nhất với một hình ảnh cổ mẫu.
Tự ngã (self): Trung tâm, nguồn của tất cả những hình ảnh cổ mẫu và của những khuynh hướng tâm thần bẩm sinh hướng tới cấu trúc, sự trật tự và sự hòa nhập.
Bóng âm (shadow): Những mặt bị từ chối và không được chấp nhận, nên bị dồn nén của nhân cách và hình thành nên một cấu trúc bù trừ cho những lí tưởng về chính mình của bản ngã và cho cái mặt nạ.
Nguyên lí đồng thời tương ứng (synchronicity): Sự trùng hợp có ý nghĩa của hai sự cố, một là nội tâm và tâm thần và một là bên ngoài và tự nhiên.
Chức năng siêu việt (transcendent function): Sự liên kết tâm thần được tạo ra giữa bản ngã - ý thức và cái vô thức do kết quả của việc thực hành giải thích các giấc mơ và tưởng tượng tích cực, và do đó là thiết yếu cho sự cá nhân hóa ở nửa sau của cuộc đời.
Vô thức (unconscious): Phần của tâm thần nằm ngoài sự nhận thức ý thức. Nội dung của cái vô thức được tạo thành từ những kí ức và nội dung bị dồn nén, chẳng hạn như những suy nghĩ và những hình ảnh và cảm xúc chưa bao giờ được ý thức. Vô thức được chia thành cái vô thức cá nhân, bao gồm các phức cảm và cái vô thức tập thể (collective unconscious) là nơi cư ngụ của những hình ảnh cổ mẫu và những nhóm bản năng.
Tổng thể (wholeness): Cảm nhận trỗi dậy về sự phức hợp và sự toàn vẹn về tâm thần phát triển qua suốt toàn bộ cuộc đời.