Trong hai chương trước, tôi đã mô tả hai cấu trúc cơ bản của tâm thần - bản ngã ý thức và các phức cảm - như Jung đã nhận biết và viết về nó. Bây giờ tôi sẽ xem xét cái sức mạnh làm hoạt động những cấu trúc này và tạo cho chúng một đời sống, tức là libido. Nó là ham muốn và xúc cảm, là huyết mạch sống của tâm thần. Jung gọi libido là năng lượng tâm thần. Trong hai chương trước, tôi đã thường xuyên sử dụng từ năng lượng. Đây là đặc điểm năng động của tâm thần. Lí thuyết của Jung về libido đã xây dựng khái niệm, theo một cách trừu tượng, mới liên hệ giữa các phần khác nhau của tâm thần. Sử dụng ẩn dụ về tâm thần như hệ mặt trời, chương này sẽ đề cập đến vật lí và những sức mạnh ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác nhau trong vũ trụ này.
Theo nghĩa triết học chung, chủ đề năng lượng tâm thần được các nhà tư tưởng nghiên cứu qua nhiều thời đại. Thật ra, không phải là một cái gì mới mẻ và hiện đại khi suy nghĩ về các câu hỏi xung quanh sức sống, ý chí, đam mê và xúc cảm, sự lên và xuống của sự thích thú và khát vọng. Các nhà triết học ở phương Tây đã xem xét những vắn đề này từ thời Heraclitus và Plato, và ở phương Đông là từ thời Lão Tử và Khổng Tử. Những thế kỉ gần đây, các nhà triết học như Schopenhauer, Bergson, và Nietzsche đã dành sự chú ý đặc biệt tới những vấn đề này. Các nhà vật lí cũng vậy, chẳng hạn như Anton Mesmer với lí thuyết về chất lỏng tâm thần trong cơ thể, bắt đầu theo đuổi chủ đề chuyển động và động cơ tâm lí học theo nhiều cách có tính thực nghiệm và khoa học. Nhà triết học và vật lí học nổi tiếng thế kỉ XIX người Đức C.G. Carus suy đoán sâu rộng và sâu sắc về vô thức như là nguồn năng lượng và lưu ý về những ảnh hưởng sâu rộng của nó lên phần tâm thần ý thức. Jung cũng trích dẫn những tác giả khác như vậy, chẳng hạn như von Hartmann, Wundt, Schiller và Goethe, và coi họ như người báo trước quan điểm của ông. Mặc dù Freud cũng là một người tạo ra thuật ngữ tâm lí học hiện đại libido và là người mà Jung kính phục trong những thảo luận phân tâm học của ông về lí thuyết libido, nhưng Freud không phải là người duy nhất ảnh hưởng lên Jung hoặc là người mà ông trả lời trong những tác phẩm lớn hơn của ông về libido và năng lượng tâm thần.
Quan điểm về bản chất và dòng năng lượng tâm thần trên thực tế là cơ bản cho mọi triết thuyết về bản chất con người và linh hồn, vì nó chứa đựng những quan điểm của tác giả về động cơ và những yếu tố động lực trong đời sống tách những sinh vật sống ra khỏi cái chết. Sự khác biệt giữa chuyển động và sự tĩnh tại tạo thành một phạm trù cơ bản về tư tưởng con người và một cách tự phát, nó dẫn tới sự suy ngẫm về điều gì có thể giải thích cho sự khác biệt giữa hai trạng thái tồn tại này. Tại sao vật thể lại có thể di chuyển trong không gian, và tại sao chúng lại di chuyển theo hướng này thay vì hướng khác? Trong khoa học vật lí, những câu hỏi này dẫn tới các lí thuyết về nhân quả và sự hình thành những quy luật về chuyển động, giống như luật vạn vật hấp dẫn. Điều tương tự cũng đúng với triết học và tâm lí học, ở đó những vấn đề về nhân quả, động cơ và những quy luật chi phối những vật thể tâm thần đang chuyển động cũng mang tầm quan trọng tương ứng. Trong tâm lí học, nó trở thành câu hỏi về linh hồn và những chuyển động cũng như năng lượng làm dịch chuyển các đối tượng của nó. Aristotle đã suy nghĩ về điều này. Năng lượng tâm thần hiện diện ở một cơ thể sống và không có trong các xác chết; nó hiện diện trong cả đời sống khi thức lẫn khi nằm mơ; nó là những gì tạo ra sự khác biệt giữa trạng thái “bật” và “tắt” nếu sử dụng một chút ẩn dụ ở đây. Nhưng nó là cái gì?
Tình dục và libido
Cái mà Schopenhauer gọi là “Ý chí” và coi đó như là động cơ chính của hoạt động và tư tưởng của con người, Freud chọn gọi là libido. Với sự lựa chọn thuật ngữ này, ông nhấn mạnh yếu tố nhục dục, tìm kiếm sự thỏa mãn thích thú trong bản chất con người. Từ linh hồn với Freud về bản chất được xác định chủ yếu bằng năng lượng tình dục. Từ Latin libido đặc biệt phù hợp với những mục đích của ông bởi vì Freud tin rằng động cơ tình dục là cơ sở của đời sống tâm thần và là nguồn tiên phát của những chuyển động tâm thần. Lí thuyết libido của Freud, về một mặt, là một cách lịch sự để nói về tình dục, cho từ tình dục một cái tên Latin và làm cho những cuộc thảo luận có vẻ y học hơn; về mặt khác, nó là một cách để tiếp tục việc thảo luận trừu tượng và dường như khoa học về những động thái tình dục và thúc đẩy một người tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau và trong một số trường hợp nó đã kết thúc bằng việc gây ra những thái độ và hành vi nhiễu tâm như thế nào.
Đó chính là quan điểm của Freud khi cho rằng tình dục là động cơ căn bản của hầu như, nếu như không muốn nói là tất cả, những quá trình và hành vi tâm thần. Libido là nguồn “nhiên liệu” làm cho con người hoạt động và phát triển, ngay cả những hoạt động đặc thù mà một người tham dự, chẳng hạn như chơi violin hay tính tiền, không có vẻ gì là tình dục cả. Tình dục là động cơ tiên phát của ngay cả những hoạt động đó của con người, cũng như là nguyên nhân tiên phát của những xung đột tâm lí mà kết quả là làm cho một người rơi vào trạng thái nhiễu tâm và bệnh tâm thần trầm trọng chẳng hạn như hoang tưởng hay tâm thần phân liệt. Cuối cùng, Freud muốn chỉ ra rằng tất cả những biểu hiện của năng lượng tâm thần trong đời sống cá nhân và tập thể có thể gán, ít nhất là trong phần quan trọng nào đó, cho động cơ tình dục và sự thăng hoa hay dồn nén của nó. Freud đặc biệt có ý định chứng minh rằng xung đột tình dục là gốc rễ của tất cả những chứng nhiễu tâm và loạn tâm.
Trước đó trong những thảo luận của mình với Freud về lí thuyết tâm lí và việc thực hành lâm sàng, Jung đã chỉ ra những ranh giới quan trọng về vị trí cao nhất của tình dục và gợi ý một điểm rõ ràng rằng có thể có những động cơ khác cũng hoạt động trong đời sống con người. Chẳng hạn có động cơ căn bản là đói:
Như anh đã biết, có thể là sự dè dặt của tôi về những quan điểm sâu sắc của anh là do sự thiếu hụt kinh nghiệm. Nhưng liệu anh có nghĩ rằng một số nhiều hiện tượng ranh giới có thểđượcxem xét thích hợp hơn qua một động cơ cơ bản khác, là đói: ví dụ như ăn uống, mút (chủ yếu là đói), hôn (chủ yếu là tình dục)? Hai phức cảm tồn tại đồng thời này luôn luôn gắn chặt với nhau thành một sự thốngnhất xét về mặt tâm lí, đến mức mà một phức cảm này luôn tụ hội mặt của phức cảm kia52.
Lá thư thể hiện sự khác biệt quan điểm này dường như đã xuất hiện trong lá thư thứ hai của Jung gửi cho Freud, đề ngày 23 tháng 10 năm 1906. Ngay từ lúc bắt đầu của sự hợp tác này, rõ ràng Jung đã nghi ngờ và thận trọng về sự nhấn mạnh của Freud lên tính trung tâm của xung đột tình dục trong bệnh học tâm lí. Trong những năm sau này, có nhiều lá thư hơn và nhiều trao đổi được xuất bản về chủ đề các động cơ và nguồn gốc của năng lượng tâm thần và Jung trở đi trở lại về sự gắn bó của ông với học thuyết Freud. “Dưới dấu ấn về nhân cách của Freud”, Jung viết nhiều năm sau này trong tự truyện của mình “tôi đành phải gạt sang một bên những quan điểm của mình và từ bỏ mọi sự chỉ trích. Đó là điều tiên quyết để hợp tác với Freud”53. Thỉnh thoảng trong những tác phẩm đầu tiên của mình, có cảm tưởng Jung như một người theo thuyết quy giản theo khuôn mẫu của Freud. Tuy nhiên cũng từ những ghi chép này mà ta thấy rõ ràng là ông không phải một môn đệ luôn tuân phục của Freud, dù ông có thể phải kìm giữ những quan điểm bất đồng của mình vì lợi ích làm nhẹ những khác biệt và những điểm mâu thuẫn tiềm ẩn trong liên hệ giữa hai người.
Khi điều này xảy ra, cuộc tranh luận nổ ra xung quanh việc phải khái niệm hóa năng lượng tâm thần như thế nào và gọi tên nó là gì trở thành vấn đề lớn hơn nhiều vấn đề chuyên môn thứ yếu. Trong khi những quan niệm tản mát ban đầu của Jung dường như vụn vặt và mơ hồ hoặc hiểu nhầm những gì Freud muốn nói, những hàm ý trở nên ngày càng sâu và theo thời gian chúng đưa tới một sự bất đồng lớn về lâm sàng, lí thuyết và triết học. Trên thực tế những khác biệt giữa họ về chủ đề libido trở thành điểm căn bản trong sự phân chia lí thuyết giữa họ. Và còn một vấn đề nữa là khái niệm bản chất con người và ý nghĩa của ý thức. Trong những năm đầu tiên, điều này không thể được nhìn thấy rõ ràng như sau này. Jung đang nỗ lực học từ Freud cũng như từ các bệnh nhân của mình và nhiều nguồn khác.
Trong tiểu luận xuất sắc Vềnănglượngtâm thần54 xuất bản năm 1928, Jung giải thích rõ ràng quan điểm rất sâu sắc của ông về chủ đề libido này. Tiểu luận đó là nguồn tài liệu chính cho chương này. Vào lúc ông viết nó vào giữa những năm 1920, lúc ông đã tách khỏi Freud và phong trào phân tâm học hơn một thập kỉ. Tiểu luận này mang tính khách quan đến lạnh lùng, trong khi các công trình chủ yếu trước kia của ông về chủ đề này, Wandlun- gen und Symbole der Libido (1912-1913) (được dịch sang tiếng Anh năm 1916 thành Psychology of the Unconscious (Tâm lí học vô thức) bởi Beatrice Hinkle và tôi sẽ sử dụng cái tên này trong toàn bộ cuốn sách), được tập hợp vội vã và mang những dấu vết của một suy nghĩ sáng tạo nồng nhiệt nhưng chưa được bố trí gọn gàng. Trong tác phẩm này, được viết khi ông vẫn còn có liên hệ gần gũi với Freud và thực sự vấn là “thái tử” và người kế tục của Freud khi là chủ tịch Hội Phân tâm học quốc tế, ông đã xem lí thuyết libido như một vấn đề phụ, nhưng nó trở thành vẫn đề trung tâm khi ông kết thúc cuốn sách. Tôi sẽ đề cập tác phẩm này một cách ngắn gọn ở đây như một cơ sở lịch sử trước khi tiếp tục mô tả tiểu luận sau này của Jung về năng lượng tâm thần.
Trong một lá thư viết cho Freud, để ngày 14 tháng 11 năm 1911, Jung viết:
Trong phần hai [Tâm lí học vô thức] tôi sẽ trình bày những thảo luận cơ bản về lí thuyết libido. Trong đoạn phân tích của anh về Schreber gặp phải vấn đề libido (thiếu hụt libido = mất thực tế) là một trong những vấn đề mà các tâm thần của mọi người sẽ gặp phải. Theo quan điểm của tôi, khái niệm libido được nêu ra trong Ba tiểu luận cần phải được bổ sung bởi yếu tố di truyền để có thể áp dụng cho bệnh mất trí sớm55.
Ở đây Jung đang nói đến chương hai trong phần II của Tâm lí học vô thức, “Khái niệm và lí thuyết di truyền về libido”. Trong chương này ông đề cập đến vấn đề, đã được nói đến trong lá thư trước đó, mối quan hệ giữa libido (được Freud xác định có tính chất tình dục trong tác phẩm “Ba tiểu luận về lí thuyết tình dục” năm 1905) và fonction du reel - chức năng của cái thực (một thuật ngữ được sử dụng bởi nhà tâm thần học người Pháp Pierre Janet nhằm nói tới bản ngã ý thức). Liệu có phải cái sau bắt nguồn từ cái trước. Nếu bản ngã ý thức chỉ là một phái sinh của những gắn bó với đối tượng do tình dục quyết định thì chắc chắn rằng những rối loạn của tình dục sẽ gây ra những rối loạn của bản ngã, và thực sự là những rối loạn của bản ngã có thể coi là có gốc rễ trong những rối loạn tình dục. Những gì mà Freud (và nhà phân tâm học Berlin là Karl Abraham) muốn tranh luận là những rối loạn nghiêm trọng của bản ngã, trong loạn tâm và tâm thần phân liệt, là do sự thiếu hụt sự quan tâm tình dục đến thế giới đối tượng, bởi vì trước hết chức năng thực tế và những gắn bó với các đối tượng được tạo ra bởi sự quan tâm tình dục. Tuy nhiên, đây là một lập luận luẩn quẩn và Jung đã chỉ ra rõ ràng điều này56. Thay vì điều này, ông đưa ra những giải thích khác đối với tâm thần phân liệt và loạn tâm, nhưng nó lại đưa đến sự xét lại căn bản lí thuyết libido.
Jung bắt đầu bằng cái ông gọi là tính di truyền thay vì quan điểm mô tả. Ông bắt đầu với một khái niệm rộng hơn về libido như là năng lượng tâm thần, theo sau khái niệm của Schopenhauer về ý chí. “Như anh biết,” ông viết hơi có tính xin lỗi cho Freud, “Tôi luôn luôn bắt đầu từ bên ngoài vào bên trong và từ tổng thể tới bộ phận”57. Từ quan điểm rộng này, libido tình dục chỉ là một nhánh của một ý chí tổng quát hơn nhiều hay sức sống. Dòng năng lượng tổng quát này có nhiều nhánh, và trong lịch sử của sự tiến hóa con người, một số những nhánh này nổi bật hơn các nhánh kia tại những thời điểm nhất định. Tại một số giai đoạn của sự phát triển con người, cả tập thể và cá nhân, libido tình dục là cơ bản và thiết yếu; tại các giai đoạn khác, nó ít phổ biến hơn.
Hơn thế nữa, Jung viết, có thể cho rằng những hoạt động mà một thời đã quan hệ chặt chẽ với tình dục và thực sự có thể được thấy rõ ràng là phái sinh của bản năng tình dục, thông qua quá trình phát triển của ý thức con người và văn hóa, đã trở nên tách khỏi phạm vi tình dục ở một mức độ lớn đến mức mà chúng không còn liên quan gì với tình dục:
Do đó, chúng ta phát hiện thấy những bản năng nghệ thuật đầu tiên ở động vật được sử dụng cho xung lực sáng tạo, và bị hạn chế vào mùa sinh sản. Đặc điểm tình dục nguyên thủy của những tổ chức sinh học này trở nên mất đi trong sự cố định vào các cơ quan của chúng và sự độc lập về chức năng. Dù không nghi ngờ gì về nguồn gốc tình dục của âm nhạc, nhưng nếu ai định đưa âm nhạc vào phạm trù tình dục thì đó chỉ là một sự tổng quát hóa tầm thường và phi thẩm mĩ. Việc định danh như vậy sẽ dẫn chúng ta tới việc phân loại giáo đường Cologne thuộc về khoáng vật học vì chúng được xây dựng bằngđá58.
Rõ ràng là với Jung, không phải tất cả những biểu hiện của hoạt động tâm thần đều có một nguồn gốc hay mục đích tình dục, dù thậm chí chúng từng đã có những gắn bó như vậy với lịch sử nguyên thủy của loài người. Nhìn nhận dưới góc độ tiến hóa như vậy, sau đó Jung đã suy luận về việc những hoạt động một thời là tình dục về ý nghĩa và mục đích sau đó đã được biến đổi thành những hoạt động phi tình dục khác, chẳng hạn như âm nhạc và nghệ thuật.
Sự biến đổi của năng lượng tâm thần
Làm thế nào mà năng lượng tâm thần được biến dạng thành một biểu hiện bản năng đơn giản, từ sự giải tỏa một xung lực mạnh mẽ (tức là ăn bởi vì bị đói hoặc quan hệ tình dục vì cảm thấy có nhu cầu tình dục) thành những biểu hiện và nỗ lực văn hóa (nghĩa là nghề nẫu ăn hoặc viết nhạc)? Khi nào thì những hoạt động đó mất di tính “bản năng” theo bất kì nghĩa nào của từ này và trở thành một cái gì khác với ý nghĩa và mục đích hoàn toàn khác.
Jung cho rằng trong Tâm lí học vô thức, sự chuyển dạng năng lượng này có thể xảy ra dưới hình thức khả năng bẩm sinh của tâm thần con người tạo ra những sự tương tự. Con người có khả năng và nhu cầu suy nghĩ qua những ẩn dụ và điều này nằm sau quá trình chuyển dạng. Do đó mà săn bắn chẳng hạn, giống với (gleich wie) việc tìm kiếm một bạn tình nên sự tương tự này có thể áp dụng và sử dụng để tạo nên sự nhiệt tình và hưng phấn trong săn bắn. Qua thời gian, hoạt động săn bắn phát triển những ý nghĩa văn hóa và động cơ của riêng nộ và có cuộc sống riêng của mình. Nó không còn cần ẩn dụ tình dục nữa, và do vậy mà tình dục không thể áp dụng cho nó được nữa. Nhưng một số tàn tích của sự tương tự mạnh mẽ này vẫn luôn còn lại, và những tàn tích này cho phép khả năng diễn giải theo tính quy giản tình dục các hoạt động văn hóa đương đại.
Do khuynh hướng tạo ra những sự tương tự, thế giới ý thức của con người và văn hóa theo thời gian trở nên được mở rộng đáng kể:
Dường như là bằng cách tạo ra cải giống nhưảo ảnh này mà libido dần dần trở nên phi tình dục hóa bởi vì những tương quan có tinh ảo ảnh ngày càng tăng được thay thế cho những thành quảnguyên thủy của, libido tình dục. Cùng với điều này, sự mở rộng rộng lớn ý tưởng thế giới dần phát triển bởi vì có nhiều đối tượng mới luôn luôn được đồng hóa như là những tượng trưng tình dục59.
Do đó, thế giới có xưa của hoạt động con người và ý thức qua hàng ngàn năm trở nên được tình dục hóa hơn nhưng cũng đồng thời được phi tình dục hóa: tình dục hóa là bởi vì nhiều sự tương tự với tình dục được tạo ra, nhưng phi tình dục hóa 'bởi vì những sự tương tự này ngày càng trở nên xa rời nguồn gốc của nó hơn.
Quan điểm của Jung là những động cơ và suy nghĩ tình dục được thay thế dần dần bởi những ẩn dụ, sự tương tự, và biểu tượng trong đời sống ý thức và vô thức của con người. Tuy nhiên động cơ tình dục sẽ tái hiện mạnh mẽ trong sự thoái lùi ở đời sống tâm thần của bệnh nhân và đây chính là những cơ sở mà các khái niệm của Freud được dựa vào. Trong việc tranh luận về điểm này, Jung đã đưa ra các chi tiết và những lập luận bổ trợ cho quan điểm rằng nhiều thứ trong đời sống tâm thần của người lớn hiện đại bắt nguồn từ những nguồn gốc tình dục ngay cả khi tự thân nó không còn liên hệ nhiều với tình dục nữa. Những khác biệt như vậy mà ông chỉ ra từ góc nhìn chính thống của Freud về vấn đề này không tạo ra sự “dị giáo”. Phần quan trọng hơn nhiều hơn sẽ xuất hiện sau đó, trong chương cuối cùng của cuốn sách Tâm lí học vô thức với tiêu đề “Sự hi sinh”, đề cập chủ đề loạn luân.
Trong tự truyện của mình, Jung nhớ lại:
Khi tôi đang viết cuốn sách của mình về libido và tới đoạn cuối của chương “Sự hi sinh”, tôi biết trước rằng việc xuất bản nó sẽ khiến tôi phải trả giá bằng tình bạn với Freud. Vì tôi chuẩn bị nêu ra quan điểm của mình về loạn luân, sự biến đổi cố tính chất quyếtđịnh của khái niệm libido... Đối với tôi, loạn luân biểu hiện những khó khăn cá nhân chỉ trong một phạm vi rất hẹp. Thông thường nó có một khía cạnh tôn giáo, và vì lí do này mà chủ đề loạn luân chiếm một vị trí quan trọng trongtất cả các vũ trụ quan và trongrất nhiều thần thoại. Nhưng Freud chỉ gắn vào việc diễn giải nó theo nghĩa đen và không thểnắm được ý nghĩa tinh thần của loạn luân như là một biểu tượng. Tôi biết là Freud sẽ không bao giờ có thể chấp nhận bất kì quan điểm nào của tôi về vấn đề này60.
Tại sao Jung lại quan niệm về loạn luân như là “sự biến đổi có tính quyết định của khái niệm libido”. Đó là bởi vì ông đã làm mất đi ý nghĩa ham muốn loạn luân thuần túy của từ này. Freud coi ham muốn loạn luân là một ham muốn vô thức có quan hệ tình dục với một người mẹ thực sự. Trái lại, Jung diễn giải ham muốn loạn luân một cách biểu tượng như là một khát vọng chung muốn tiếp tục ở trong thiên đường của thời thơ ấu. Khát vọng này trở nên nổi bật hơn khi một người phải đối mặt với thách thức to lớn trong cuộc sống, để trưởng thành, để thích nghi với một môi trường đầy căng thẳng. Họ muốn leo lên giường và trùm kín chăn. Khát vọng về một người mẹ trở nên, trong cách diễn giải có tính tượng trưng của Jung, khát vọng về một sự thoái lùi về sự phụ thuộc ấu thơ, trở về thời trẻ con, về sự vô thức và không có trách nhiệm. Đây là động cơ đằng sau sự nghiện ngập rượu và ma túy. Do đó, khi những huyễn tưởng loạn luân xuất hiện trong việc điều trị nhiễu tâm, Jung diễn giải chúng như những sự kháng cự lại sự thích nghi thay vì như sự xuất hiện của những ham muốn vô thức thực sự hoặc những kí ức trẻ con về những ham muốn đấy. Sự hiện diện của loạn luân thật sự trong một số những cư dân cổ đại, chẳng hạn như các pharaon Ai Cập chẳng hạn, được Jung hiểu như là có tính biểu tượng tôn giáo, khẳng định một địa vị được ưu tiên và chỉ ra sự thống nhất với một nguồn năng lượng thần thánh. Nó là cuộc hôn nhân với Người Mẹ - cội nguồn của sự sống chứ không phải một sự thỏa mãn những ham muốn tình dục theo nghĩa đen. Thực tế Jung cho rằng tình dục có ít liên hệ với loạn luân. Loạn luân có ý nghĩa tượng trưng chứ không phải ham muốn sinh học.
Việc diễn giải có tính biểu tượng những chủ đề và hình ảnh tâm lí này đã khiến Freud nổi giận. Chống lại học thuyết của Freud, Jung cho rằng libido không chỉ bao gồm ham muốn tình dục với những đối tượng đặc thù và nó cũng không thể được coi là một áp lực nội tâm tìm kiếm sự giải tỏa chính nó bằng việc gắn với (“thanh lọc” là một thuật ngữ phân tâm học hơi sang trọng) những đối tượng yêu được cố định. Libido là “ý chí”. Jung đang chấp nhận quan điểm của Schopenhauer ở đây. Nhưng Jung còn tiếp tục quan điểm này, ý chí được chia làm hai phần, một ý chí để sống và một ý chí để chết: “Trong nửa đầu của cuộc sống, ý chí [của libido] là để phát triển và trong nửa sau của cuộc đời, nó gợi nhắc mơ hồ lúc đầu và rõ dần về sau, là ý chí để chết”61. Điều đáng ngạc nhiên là, đoạn này nói tới tính hai mặt của libido và một ý chí để chết báo trước lí thuyết của Freud về ước vọng chết khoảng một thập kỉ sau và chủ yếu dựa vào sự hợp tác với Sabina Spielrein, người là học trò của ông lúc đó. Cần phải lưu ý rằng, Jung đã xóa đoạn này ra khỏi văn bản sau khi ông sửa chữa nó vào năm 1952, trong tác phẩm có tên gọi là Những kí hiệu của sự chuyển dạng62. Vào lúc đó, ông đã loại Spielrein khỏi lí thuyết của mình và không còn chấp nhận khái niệm về bản năng chết nữa.
Chủ đề sự hi sinh mà Jung viết khá dài trong Tâm lí học vô thức là một điểm trung tâm trong những tư tưởng của ông về sự phát triển của ý thức và nhu cầu của nhân cách con người để phát triển trạng thái thành thục. Nếu con người vẫn tiếp tục ở trong sự gắn bó với ham muốn và hành vi loạn luân nói bằng kí hiệu tượng trưng thì sẽ không có chuyển động tâm thần nào nhằm thoát khỏi thời thơ ấu. Thiên đường sẽ là gia đình. Đồng thời, loài người sẽ thất bại trong việc phát triển bởi vì sự thích nghi với những môi trường khắc nghiệt và đòi hỏi cao không thể xảy ra. Ham muốn loạn luân cho một tuổi trẻ vĩnh cửu cần phải được hi sinh một cách tập thể ở thời nguyên thủy, và cần phải được hi sinh cá nhân ở từng con người hiện đại nhằm thúc đẩy vận động của ý thức hướng tới ý thức lớn hơn. Và đối với Jung, chuyển động hướng tới sự thành thục tâm lí này xuất hiện tự nhiên thông qua những cơ chế và động thái nội tại. Nó không bị gây ra bởi những nguy hiểm bên ngoài. Sự hi sinh to lớn sự loạn luân được tạo ra một cách tự nguyện chứ không (như lí thuyết của Freud) phải do đe dọa bị thiến. Lí thuyết của Freud về tội giết cha hay là sự chuộc tội là cơ sở của ý thức là xa lạ với cách suy nghĩ của Jung. Con người phát triển lương tâm, đạo lí và văn hóa một cách tự nhiên như là một phần của bản chất mình. Do đó, văn hóa là tự nhiên đối với loài người.
Trong Tâm lí học vô thức, Jung cho rằng điểm quan trọng chủ yếu là việc chuyển dạng libido không xuất hiện qua xung đột giữa động cơ tình dục và thực tế bên ngoài mà thông qua sự can thiệp của một cơ chế nằm chính trong bản chất con người. Cơ chế này đưa đến việc hi sinh loạn luân vì mục đích phát triển. Có thể thấy điều này biểu hiện trong nhiều tôn giáo, đặc biệt là trong tôn giáo Mithraism và Thiên chúa giáo mà ở đây Jung đã so sánh một đoạn khá dài.
Vào thời điểm này trong sự nghiệp của mình, Jung vẫn chưa khái niệm hóa cổ mẫu như là một sức mạnh cấu trúc nên tâm thần và năng lượng tâm thần. Điều này sẽ xuất hiện sau và cho phép ông đạt được mức độ đặc thù lớn hơn nhiều để vạch ra những sự chuyển dạng khác trong nền tảng bản năng. Khi ông đưa ra bản sửa đổi bao quát tác phẩm năm 1912-1913 này vào năm 1952, được xuất bản với tiêu đề Những kí hiệu của sự chuyển dạng, ông đã đưa lí thuyết cổ mẫu vào nhiều chỗ để đạt được một cách chính xác loại hình các đặc điểm này. Tuy nhiên vào năm 1913, ông bị giới hạn về mặt lí thuyết và chỉ có thể nói mơ hồ về khái niệm là có một xu hướng tự nhiên hướng tới hi sinh sự thỏa mãn ham muốn bản năng, có tính bẩm sinh đối với hệ thống tâm thần của con người, mà nếu không có nó thì văn hóa và ý thức con người như chúng ta biết sẽ không thể đạt được. Sự hi sinh giải thích cho sự chuyển dạng năng lượng từ dạng biểu hiện và hoạt động sang một hình thức khác, nhưng vẫn có một điều không rõ ràng là cái gì đã thúc đẩy con người thực hiện những sự hi sinh phi thường như vậy63. Hơn thế nữa, vẫn còn có một câu hỏi là cái gì đã thúc đẩy năng lượng theo những hướng cụ thể tới những nghề nghiệp và các nỗ lực đặc thù. Một quan điểm căn bản là khả năng của các kí hiệu chuyển dạng và định hướng libido.
Khi nhìn nhận quan điểm về bản năng và libido như vậy, Jung biết trước rằng những ngày ông là người kế vị và thái tử của Freud sắp hết. Freud là một người không chấp nhận những khác biệt quá lớn về quan điểm trong các môn đệ mình. Uy quyền đang bị đe dọa và Freud đòi hỏi một sự tuân phục. Jung gây trở ngại trong vấn đề libido và đây là cốt lõi tâm lí của sự chia tay cay đắng giữa hai người64.
Và điều này đã thực sự xảy ra khi quan hệ đồng nghiệp giữa Freud và Jung kết thúc vài tháng sau khi Jung xuất bản phần II cuốn Tâm lí học vô thức. Ngày xuất bản là tháng 9 năm 1912, khi tài liệu này xuất hiện trong tập sáu của Niên giám nghiên cứu tâm bệnh học và phân tâm học mà Jung là tổng biên tập. Đối với Jung, toàn bộ những khác biệt với Freud về định nghĩa và khái niệm libido nằm ở việc tránh phương pháp quy giản cực đoan của Freud khi coi tất cả những biểu hiện của đời sống ý thức và hoạt động văn hóa được quy cho tình dục với các mức độ khác nhau. Đối với Freud, việc khẳng định tính trọng yếu của tình dục là nhằm duy trì cách nhìn nhận phân tâm học đối với việc con người hiện đại lần tránh các sự thật và chịu đựng việc giải quyết vấn đề tình dục một cách khó khăn. Ngoài ra, Jung có mục đích tạo ra một lí thuyết chung về năng lượng và một tâm lí học tổng quát, trong khi Freud tìm kiếm sâu hơn những sự bóp méo và lẩn tránh đời sống tâm lí đối với vấn đề tình dục và (sau đó) là sự phá hoại và dục vọng chết.
Vào năm 1928, khi xuất bản tiểu luận “Về năng lượng tâm thần”, Jung đã suy nghĩ về chủ đề này trong hai mươi năm. Lập luận và những liên hệ chi tiết với nhiều tài liệu trong tiểu luận này vẫn phản ánh sự bất đồng của ông với Freud và phân tâm học, nhưng chúng cũng thể hiện ước muốn của ông trình bày vấn đề có thể là quan trọng nhất đối với quan điểm chung về libido trong vai trò là năng lượng tâm thần.
Vật lí học như là một mô hình
Vật lí học với những vấn đề quan trọng mà Jung không quen thuộc lắm lại rất phổ biến xung quanh ông ở Zurich vào đầu thế kỉ XX, cung cấp cho ông một mô hình để suy nghĩ về năng lượng tâm thần. Đối với Jung, nó là một ẩn dụ đưa ra những khả năng cho việc hình thành sự hiểu biết tương tự đối với năng lượng tâm thần. Vật lí học đã xây dựng nên một lí thuyết chi tiết về năng lượng, với các quy luật về nhân quả, entropy65 bảo tồn năng lượng, sự biến dạng v.v. Xem xét những quy luật vật lí này và bỏ qua những công thức và phương trình toán học, Jung bắt đầu khái niệm hóa tâm thần theo cách đã nhắc nhở người đọc điều gì đó của công trình trước đó của ông về tâm lí học thực nghiệm với các test liên tưởng từ. Jung chỉ ra rằng khi xem xét năng lượng con người có xu hướng định lượng66.
Năng lượng là một sự trừu tượng hóa từ thế giới vật thể, ông viết. Chúng ta không thể nhìn, sờ hay nếm được nó. Nói về năng lượng là đề cập đến quan hệ giữa các vật thể hơn là chính các vật thể. Chẳng hạn, lực hấp dẫn mô tả cách mà một vật thể ảnh hưởng đến vật thể khác chứ không đề cập điều gì cụ thể về đặc tính của các vật thể đó. Tương tự, Jung cho rằng, lí thuyết về năng lượng tâm thần hay libido, sẽ giải thích cho việc các đối tượng trong thế giới tâm thần ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào.
Jung cho rằng năng lượng có tính mục đích và có liên quan đến việc biến đổi của vận động hay xung lượng trong những đối tượng (tâm thần) khi chúng liên tục chuyển động theo một gradient (suất biến đổi) và kết thúc ở trạng thái cân bằng. Điều này giống với sự mô tả một chuỗi những sự kiện vật lí: khi một vật va vào một vật khác, thì vật thứ nhất bị chậm lại và xunglượng (momentum) của vật thứ hai tăng lên. Định luật bảo toàn năng lượng được áp dụng cho quá trình này, định luật khẳng định rằng năng lượng không được tạo ra hay mất đi, nên lượng năng lượng mất đi của vật thứ nhất phải bằng lượng năng lượng mà vật thứ hai nhận được. Điều này có thể đo lường một cách chính xác. Do đó, trong khi năng lượng là trừu tượng và không thể sờ mò được, những tác động của nó có thể quan sát được, giống như những người chơi bi-a đều biết. Jung áp dụng mô hình này cho tâm thần và tiểu luận này nói về việc đo lường năng lượng tâm thần và suy nghĩ về đời sống tâm thần dưới hình thức những chuyển đổi và vận động của năng lượng.
“Sự thấu cảm đưa tới quan điểm cơ chế, sự trừu tượng đưa tới quan điểm năng lượng”67, Jung viết và tiếp tục đối lập quan điểm năng lượng và cơ học khi xem xét thực tế thể chất và tâm thần. Cả hai quan điểm này không tương thích lẫn nhau nhưng cả hai đều đúng. “Quan điểm cơ chế-nguyên nhân xem xét chuỗi những sự kiện a-b-c-d như sau: a gây ra b, b gây ra c, c gây ra d và v.v.”68 sự tập trung của nó là vào nguyên nhân. Quả bóng thứ nhất chạm vào quả bóng thứ hai và quả bóng thứ hai chạm vào quả bóng thứ ba. Va chạm đầu tiên gây ra một hiệu ứng, hiệu ứng này lại tạo ra một hiệu ứng khác và v.v. Do đó những hiệu ứng có thể truy nguyên tới nguyên nhân ban đầu. “Ở đây khái niệm kết quả thể hiện ra như là sự xác định phẩm chất, như là kết quả của nguyên nhân, hay nói theo cách khác là động lực”69. Áp dụng quan điểm này vào đời sống tâm lí thì một phức cảm có thể được coi như được gây ra bởi một sang chấn. Sức mạnh của sang chấn xâm nhập vào hệ thống tâm thần và gây ra một chuỗi những kết quả mà liên tục biểu hiện trong nhiều năm dưới dạng những triệu chứng. Từ quan điểm cơ học, sang chấn được xem như các gốc nguyên nhân của phức cảm. Và hiểu biết này dẫn tới sự thấu cảm đối với phức cảm bị chấn thương.
“Quan điểm mục đích - năng lượng”, Jung viết “trái lại, xem kết quả như sau: a-b-c là những phương tiện cho sự chuyển dạng năng lượng mà xuất phát không có nguyên nhân từ a, một trạng thái không thể, bằng cách đo năng lượng đối với b-c và cứ như vậy đối với trạng thái có thể là d. Ở đây, tác động nguyên nhân hoàn toàn bị bỏ qua bởi vì chỉ có các cường độ của hiệu ứng là được xem xét tính đến. Trong phạm vi cường độ là như nhau, chúng ta có thể sử dụng công thức w-x-y-z khác thay cho a-b-c-d”70. Từ quan điểm năng lượng - mục đích có thể thấy năng lượng được chuyển từ trạng thái ít có thể xảy ra sang một trạng thái nhiều khả năng xảy ra hơn bằng việc di chuyển theo gradient của các cường độ cho đến khi kết thúc ở trạng thái cân bằng. Áp dụng quan điểm này cho đời sống tâm lí - và ở đây chúng ta hiểu được tại sao Jung lại gọi đây là quan điểm trừu tượng chứ không phải thấu cảm - thì bất cứ ở đâu con người kết thúc sự sống, nói về mặt tâm lí và tình cảm, ở đó cũng chính là nơi mà cường độ của các gradient đã dẫn dắt để đạt tới trạng thái cân bằng. Sự cân bằng là mục đích, và theo nghĩa này, nó là nguyên nhân, một nguyên nhân có tính kết thúc, vạch ra một chuỗi những sự kiện cho nó. Tất cả chỉ là như vậy. Quan hệ nhân quả dường như giống với số phận cá nhân71.
Cho dù bất cứ lí do nào, dù được thúc đẩy từ đằng sau hay hướng về phía trước tới một mục tiêu trong tương lai, năng lượng luôn vận động. Theo quy luật vật lí về đo năng lượng (entropy), năng lượng lưu chuyển từ mức cao tới mức thấp, từ những trạng thái cường độ xác suất thấp tới trạng thái cường độ xác suất cao; và ngược lại, theo quy luật negentropy, nó chuyển động hướng tới những trạng thái phức tạp hơn. Quan điểm năng lượng xem trạng thái kết thúc là sự kiện quan trọng nhất, trong khi quan điểm cơ học - nguyên nhân tập trung vào xung động ban đầu đã đưa năng lượng vào hệ thống ở vị trí thấp nhất. Không có quan điểm nào cho rằng kết quả là ngẫu nhiên hay không thể đoán định được. Và cả hai đều đầy tiềm năng khoa học.
Cần phải lưu ý rằng ở đây Jung không đề cập đến các vấn đề về mục đích tối thượng hay ý nghĩa. Thường bị cáo buộc là một nhà thần bí, ông đặc biệt nhạy cảm trước những nguy hiểm của việc phóng chiếu mục đích hay ý nghĩa vào các quá trình tự nhiên. Ông không coi quan điểm năng lượng-kết thúc là có tính mục đích luận theo ý nghĩa tôn giáo về các quá trình tự nhiên và lịch sử hướng tới và tìm kiếm một kết luận tinh thần có ý nghĩa. Chỉ đơn giản, ông nói về quan điểm xem xét sự chuyển đổi năng lượng từ trạng thái ít có khả năng tới các trạng thái nhiều khả năng. Những câu hỏi sẽ là: Có nhân tố thiết kế nào đứng đằng sau những mô hình này? Liệu Chúa có kiểm soát và định hướng năng lượng và dẫn dắt chúng theo những mục tiêu và kết luận định trước? Và mặc dù những câu hỏi này rất hấp dẫn xét về siêu hình học nhưng Jung không muốn trình bày những vấn đề như vậy ở đây. Ông chỉ đơn giản đề cập đến sự chuyển đổi của năng lượng từ một mức này sang mức khác.
Trong khi lí thuyết tâm lí của ông mang tính mục đích về nhiều mặt quan trọng, Jung cũng cố gắng tạo ra một sự tổng hợp giữa những quan điểm nhân quả và mục đích. Ông nghĩ rằng sự bất đồng giữa Freud và Adler có thể gán cho sự khác biệt giữa một tâm lí học hướng về nguyên nhân và một tâm lí học hướng về mục đích. Trong khi tâm lí học của Freud (hướng ngoại) tìm kiếm những nguyên nhân thì tâm lí học mục đích của Adler (hướng nội) hướng vào những điểm kết thúc. Adler giả định rằng hoàn cảnh sống hiện tại của một con người, bất chấp nó là gì đi nữa, được cấu trúc để phù hợp với những nhu cầu và sở thích cá nhân về một số mặt. Quan điểm mục đích - năng lượng của Adler hoàn toàn xung đột với quan điểm cơ học - nguyên nhân của Freud. Jung đang tìm kiếm một nền tảng trung gian, một quan điểm có thể tính đến cả hai quan điểm trên72.
Những mô hình cơ học - nguyên nhân và mô hình mục đích bắt đầu với một giả định khác nhau về những trạng thái năng lượng ban đầu. Mô hình cơ học - nguyên nhân khởi đầu với giả định về một sự tĩnh tại ban đầu. Vào lúc khởi đầu, không có gì xảy ra cả, và sẽ không có gì xảy ra cho đến khi có sự can thiệp từ bên ngoài hệ thống và gây ra cho nó một sự tăng năng lượng. Ai đó đá bóng, nó chạm vào người khác và một chuỗi các sự kiện bắt đầu hoạt động. Ngược lại, quan điểm năng lượng - mục đích lại cho rằng từ một trạng thái có năng lượng cao lúc khởi đầu, và từ đó xuất hiện những mô hình vận động khi năng lượng tìm kiếm những trạng thái có thể hơn, và cuối cùng đạt được sự cân bằng và tĩnh tại. Chẳng hạn những phức cảm - Jung viết - chứa đựng một lượng năng lượng đặc thù, và chúng có thể đưa tới sự chuyển động nếu hệ tâm thần ở vào trạng thái không cân bằng. Do đó các phức cảm không chỉ có tính phản ứng mà thỉnh thoảng chúng cũng còn có tính tích cực. Nếu các phức cảm không tích cực và chủ động mà chỉ mang tính phản ứng, chúng không thể coi là tự trị theo nghĩa thật sự của từ này. Dưới những điều kiện nào đó, chúng sẽ xâm nhập vào bản ngã - ý thức với những huyễn tưởng hay khát vọng hoặc ý nghĩ mà hoàn toàn không bị kích phát bởi môi trường. Những kích thích môi trường chỉ đơn giản thúc đẩy hoặc giải phóng năng lượng tồn tại trong phức cảm. Xét từ cái nhìn mục đích, phức cảm có thể được coi như đang tìm kiếm sự giải phóng năng lượng của nó và trở về mức năng lượng thấp hơn. Nó thực hiện điều này bằng cách đưa vào chủ thể có ý thức một ý nghĩ, một cảm xúc hay tình cảm hay huyễn tưởng, và điều này có thể dẫn một người đến việc ứng xử theo một cách xác định. Khi việc giải phóng năng lượng hoàn tất, nó sẽ trở lại trạng thái tiềm ẩn nhiều hơn trong vô thức và chờ đợi việc tạo dựng nhiều năng lượng hơn trong hệ thống nội tâm hoặc việc hội tụ bởi một kích thích bên ngoài.
Nguồn năng lượng
Trong tiểu luận “Về năng lượng tâm thần”, Jung không diễn giải chi tiết về những nguồn đặc hiệu của năng lượng của một phức cảm. Chỉ đơn giản ông tuyên bố rằng năng lượng tâm thần được phân bố trong nhiều thành phần khác nhau của tâm thần, và ông quan tâm tới việc tìm hiểu, từ góc nhìn năng lượng, làm thế nào mà chúng ta có thể theo dõi sự phân bố năng lượng từ một trạng thái này sang một trạng thái khác. Câu hỏi của ông là: Năng lượng di chuyển thế nào trong tâm thần? Tại sao một số phức cảm tích lũy năng lượng nhiều hơn các phức cảm khác và thỉnh thoảng lại tích lũy nhiều năng lượng ở một thời điểm này hơn so với một thời điểm khác? Tại sao năng lượng bản năng, có nguồn gốc trong nền tảng sinh học của cơ thể, có thể biến dạng thành những hoạt động khác?
Một phức cảm tập hợp thêm năng lượng tâm thần cho nó theo hai cách: từ những sang chấn mới gắn với nó và làm giàu phức cảm với nhiều nội dung mới, và từ sức mạnh hấp dẫn của hạt nhân cổ mẫu của phức cảm. Hạt nhân này thu hút năng lượng vào nó từ hai nguồn. Về một mặt nó được cung cấp năng lượng từ bản năng mà cổ mẫu gắn bó. Các bản năng và cổ mẫu là hai mặt của một thực tại trong tâm thần, mà tôi sẽ thảo luận chi tiết trong chương tiếp theo. Do đó, hình ảnh cổ mẫu hoạt động như một tác nhân thu hút năng lượng khi năng lượng này trở nên sẵn có cho tâm thần từ nền tảng sinh học (thông qua một quá trình gọi là tâm thần hóa - psychization). Về mặt khác, các cổ mẫu cũng thu hút năng lượng từ những nguồn khác. Nó hòa nhập vào nền văn hóa, hòa nhập những trao đổi với những người khác, thậm chí cả với chính bản thân tinh thần, như Jung sẽ đề cập trong tiểu luận sau này: “Về bản chất của tâm thần”. Tâm thần không phải là một hệ đóng. Nó mở ra thế giới thông qua cơ thể và tinh thần.
Sự xuất hiện của phức cảm trong ý thức cho thấy rằng nó tạm thời tích lũy năng lượng nhiều hơn bản ngã. Năng lượng tuôn chảy từ phức cảm vào bản ngã và làm nhấn chìm hay chi phối bản ngã. Bản ngã có tìm cách kiểm soát luồng năng lượng này hay không là một vấn đề thực hành quan trọng. Liệu bản ngã có thể hội tụ và sử dụng những gì mà thỉnh thoảng lại giống như một khối lượng khổng lồ năng lượng không được kiểm soát như thế nào? Vấn đề nằm ở chỗ bản ngã, nếu nó đủ mạnh và quyết đoán, thì có thể lựa chọn định hướng luồng năng lượng này vào việc tạo ra những cấu trúc, ranh giới và kế hoạch chẳng hạn. Hoặc ngược lại con người có thể sẽ bị ngập tràn cảm xúc và rối loạn chức năng.
Do đó, đối với Jung, tâm thần không phải là một hệ năng lượng khép kín. Những hệ năng lượng kín vận động theo hướng đo được nănglượng (entropy) và những hệ hoàn toàn đóng sẽ ổn định ở trong trạng thái kết thúc hoàn toàn tĩnh tại. Jung tin rằng hệ tâm thần chỉ tương đối khép kín. Một tâm thần lành mạnh thường thỉnh thoảng hơi đóng và biểu hiện một xu hướng hướng tới entropy, nhưng nó cũng có tính mở khi được cung cấp và bị ảnh hưởng bởi thế giới xung quanh. Những hệ tâm thần hoàn toàn đóng sẽ mang tính bệnh lí. Chúng sẽ bị cô lập khỏi những ảnh hưởng bên ngoài đến mức mà liệu pháp tâm lí cũng thất bại. Chẳng hạn như tâm thần phân liệt thể paranoid73 là một hệ tâm thần hoàn toàn đóng và kết thúc trong trạng thái hoàn toàn tĩnh với những ý tưởng và thái độ đóng băng và sự cô lập ngày càng tăng. Chỉ có cách điều trị bằng sinh học mới ảnh hưởng tới nó.
Ở một người lành mạnh, năng lượng tâm thần cũng theo quy luật entropy ở một mức độ nhất định. Qua thời gian, có một xu hướng hướng tới sự bảo toàn và tĩnh lặng dần dần. Sự biến đổi trở nên khó khăn khi một người già đi. Sự phân cực trong tâm thần, vốn tạo ra năng lượng thông qua những tương tác mạnh của chúng, hướng tới một thể ổn định và điều tiết. Sự việc này chỉ ra rằng hệ tâm thần bình thường chỉ tương đối mở và hơi đóng. Sự phân bố năng lượng có xu hướng chuyển từ những mức độ cao tới thấp giống như nước chảy tới chỗ thấp nhất có thể.
Đo lường năng lượng tâm thần
Jung suy nghĩ trong tiểu luận này về việc những trạng thái năng lượng có thể đo lường về mặt khoa học thế nào. Ông giả định rằng điều này có thể được thực hiện bằng việc ước lượng các giá trị. Lượng giá trị được đặt lên một thái độ hay hoạt động sẽ xác định cường độ của năng lượng. Tuy nhiên việc định lượng hóa chúng cho thấy một số khó khăn. Nếu chúng ta làm một bảng liệt kê về những nội dung và quan tâm ý thức của một người - về chính trị, tôn giáo, tiền bạc, tình dục, nghề nghiệp, các mối quan hệ, gia đình - và đưa một giá trị ước đoán cho từng thứ, sử dụng thang đo từ 1 đến 100, chúng ta sẽ có cảm giác về năng lượng tâm thần được phân bố thế nào trong những nội dung ý thức. Rõ ràng là điều này dao động theo từng ngày, từng năm, từng thập kỉ. Và làm thế nào mà một người thực sự biết các thứ được định giá trị bởi tâm thần như thế nào? Sẽ rất dễ tự lừa dối mình. Bảng liệt kế những nội dung ý thức có thể đo trên một thang, nhưng chúng ta không thể chắc chắn về độ chính xác của những gì đã được đo cho đến khi chúng được kiểm nghiệm. Chỉ khi có những lựa chọn giữa hai hay nhiều thứ hấp dẫn thì chúng ta mới thực sự chắc chắn về những giá trị tương đối đó là gì. Một người nghiện rượu bị buộc phải lựa chọn giữa việc uống rượu túy lúy và vợ và gia đình sẽ bị buộc phải cam kết bỏ rượu nhưng một cuộc khủng hoảng như vậy sẽ kiểm tra lời hứa có bỏ rượu của anh ta không. Sử dụng các thói quen ở đây có thể cung cấp manh mối quan trọng cho những giá trị thực chứ không phải giả định của một người. Lượng tiền, biểu tượng cho năng lượng, là một cách để chỉ ra sức mạnh giá trị nằm ở đâu. Con người sẽ cố ý chi tiêu nhiều cho những gì mà họ đánh giá cao.
Đó là một số cách mà những giá trị năng lượng của nội dung ý thức có thể được đo lường. Nhưng còn về những giá trị vô thức? Liệu chúng có thể đo như thế nào? Chúng không thể được thực hiện chỉ bởi một sự nội quan bởi vì bản ngã thông thường không thể thâm nhập đủ sâu vào những chiều sâu vô thức. Các phức cảm sẽ thực hiện những lựa chọn mà bản ngã không thực hiện. Một phương pháp đo lường trực tiếp là cần thiết và đối với Jung thì test liên tưởng từ đã đưa ra một phương pháp như vậy. Một mức độ năng lượng của phức cảm được xác định bằng số các chỉ báo phức cảm có liên hệ với nó. Một khi điều này được biết, sự ước đoán có thể thực hiện được từ khả năng năng lượng của nó. Cũng qua thời gian, một người sẽ hiểu được về mặt thực nghiệm các phức cảm sẽ tạo ra những phản ứng xúc cảm mạnh nhất. Những lĩnh vực nhạy cảm này tốt hơn cả là không nên thể hiện ra trước đám đông và xã hội vì những phản ứng mạnh có thể dự đoán được của họ. Một số những phức cảm tập thể, xoay quanh vấn đề giới tính, tôn giáo, tiền bạc hay quyền lực ảnh hưởng tới hầu hết tất cả mọi người ở một mức độ và có thể đưa tới sự giải tỏa năng lượng mạnh mẽ, thậm chí dẫn tới chiến tranh nếu bị kích thích quá mạnh. Cường độ và tần suất của những rối loạn trong đời sống thường ngày là những chỉ báo hữu ích về những mức độ năng lượng của những phức cảm vô thức. Mức độ năng lượng của một nội dung tâm thần có thể được xác định bằng những xúc cảm và phản ứng tích cực hay tiêu cực. Từ quan điểm năng lượng, sự khác biệt về cảm xúc này không tạo ra sự khác biệt.
Sự thống nhất giữa tinh thần và thể xác
Năng lượng tâm thần, Jung lặp lại trong tiểu luận này những gì ông đã nói mười lăm năm trước trong Tâm lí học vô thức là một phạm trù con của năng lượng sống. Một số người có nó nhiều còn những người khác thì ít hơn. Lindon Johnson chẳng hạn, ông dường như có nhiều tuyến năng lượng hơn những người xung quanh ông. Ông lấn át người khác bằng năng lượng của mình. Là một thượng nghị sĩ, ông viết 250 lá thư mỗi ngày cho các cử tri khi thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của mình với tư cách là nhà lãnh đạo khối đa số trong thượng viện. Một số người có một lượng năng lượng sống rất lớn trong khi những người khác chỉ có một lượng năng lượng thấp. Theo một nghĩa nào đó, khía cạnh sinh lí của đời sống ảnh hưởng mạnh tới khía cạnh tâm lí và cảm nhận về sự khoẻ mạnh về thể chất sẽ góp phần dự trữ năng lượng tâm thần của mỗi người. Nhưng quan hệ giữa tâm thần và cơ thể là phức tạp và thường là có tính nghịch lí. Chẳng hạn, Nietzsche trong lúc ốm nặng và hết sức đau đớn vẫn viết nên kiệt tác đầy thi vị Zarathustra đã nói như thế. Heinrich Heine trong mười năm cuối đời chịu đựng sự đau khổ vì bệnh tật vẫn có thể viết hằng trăm bài thơ và bài hát và những công trình văn học khác có tầm cỡ lớn. Lượng năng lượng tâm thần khổng lồ cần thiết cho những nõ lực thiên tài này không thể giải thích bằng khái niệm đơn giản rằng một cơ thể khoẻ mạnh có thể tạo ra năng lượng tâm thần đủ cho hoạt động. Có nhiều thứ khác đang hoạt động hơn là sự chuyển đổi đơn giản năng lượng từ cơ thể sang linh hồn và tâm trí.
Bởi những sự khó khăn như vậy, một số nhà tư tưởng nghĩ rằng thể xác và tâm lí chỉ là hai hệ thống song song tương đối độc lập với nhau. Điều này có ưu điểm là bảo toàn được tính duy nhất của mỗi hệ thống và phủ nhận sự quy giản năng lượng tâm thần thành năng lượng thể chất. Nhưng Jung không hài lòng với mô hình trên dù là ông đang chống lại mạnh mẽ chủ nghĩa quy giản sinh học. Ông khẳng định rằng có hai hệ thống, nhưng sự tương tác giữa chúng là rỗi ren và phức tạp, và vì phần lớn bị vùi quá sâu trong vô thức đến mức rất khó xác định một hệ thống này bắt nguồn từ đâu và hệ thống kia chấm dứt ở đâu. Về một số mặt, chúng là độc lập, nhưng về một số mặt khác, chúng có liên hệ sâu sắc với nhau và dường như phụ thuộc lẫn nhau. Vấn đề tâm thần/cơ thể xuất hiện nhiều lần trong những tác phẩm của Jung và tôi sẽ đề cập đến nó một lần nữa trong những chương sau. Trong tiểu luận “Về năng lượng tâm thần”, ông chỉ ngụ ý đến vấn đề này.
Bởi vì sự thống nhất tâm thể chỉ là một hệ thống tương đối chứ không phải tuyệt đối đóng nên quy luật entropy hay bảo toàn năng lượng không hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, về thực tê mà nói, có một sự tương quan mạnh mẽ giữa chúng. Nếu sự quan tâm đến một cái gì của ai đó bị giảm đi hay biến mất thì một lượng năng lượng tương tự thường xuất hiện ở một nơi khác. Hai đối tượng của sự quan tâm có thể không có liên hệ gì rõ ràng nhưng tổng năng lượng trong hệ đó là không đổi. Về một mặt khác, một khối lượng lớn năng lượng thỉnh thoảng lại biến mất hoàn toàn. Một người bỗng trở nên thờ ơ hoặc buồn bã. Trong trường hợp này, Jung cho rằng năng lượng đã thoái lùi. Nó thoát khỏi ý thức và trở về vô thức.
Năng lượng, chuyển động và phương hướng
Thoái lùi và tiến triển của libido là những thuật ngữ quan trọng trong lí thuyết của Jung, chúng nói tới các hướng của vận động năng lượng. Khi tiến triển, libido được sử dụng để thích ứng với cuộc sống và thế giới. Con người sử dụng nó cho hoạt động trong thế giới và có thể sử dụng nó một cách tự do vào những hoạt động được lựa chọn. Họ đang trải qua một dòng năng lượng tâm thần tích cực. Nhưng giả sử rằng người đó thất bại trong một kì thi quan trọng hoặc mất vị trí do một sự phân công lại công việc trong một tổ chức, hoặc mất một người yêu hay một đứa con, thì sự tiến triển của libido có thể bị dừng lại, cuộc sống dừng xung lực hướng về phía trước và dòng năng lượng sẽ đảo hướng. Nó sẽ thoái lùi và biến mất trong vô thức, ở đó nó sẽ kích hoạt các phức cảm. Điều này có thể dẫn tới sự chia tách những cực đối lập đã từng gắn với nhau trước đó và chúng trở thành những mặt đối lập mâu thuẫn nhau. Và bây giờ bản ngã - ý thức có thể có một tập hợp những nguyên tắc và giá trị trong khi vô thức có một quan điểm ngược lại. Người đó sẽ bị giằng xé giữa xung đột nội tâm và trở nên tê liệt. Trong trạng thái tiến triển, những sự đối lập trong chính một người được cân bằng lẫn nhau và tạo ra năng lượng hướng về phía trước. Con người có thể vừa yêu ghét lẫn lộn, nhưng phải theo một cách thích ứng với thực tế. Ngược lại, trong quá trình thoái lùi, dòng năng lượng trở ngược lại hệ tâm thần và trở nên vô hiệu cho việc thích nghi. Khi những sự đối lập tách rời nhau, một loại tình cảm hai chiều trái ngược nghiêm trọng phát triển làm tê liệt cuộc sống. Bế tắc tiếp diễn, có và không loại bỏ lẫn nhau và người đó không thể vận động.
Jung nhận thấy rằng khi năng lượng không được sử dụng để thích nghi với thế giới và không vận động theo hướng tiến triển, nó sẽ kích hoạt các phức cảm và làm tăng năng lượng tiềm ẩn của các phức cảm đến một mức độ mà bản ngã mất đi năng lượng vốn có. Đây là luật bảo tồn năng lượng áp dụng cho tâm thần. Năng lượng không biến mất khỏi hệ thống mà chỉ biến mất khỏi ý thức. Và điều này thường đưa đến những trạng thái trầm cảm, tình cảm hai chiều trái ngược, xung đột nội tâm, sự không chắc chắn, nghi ngờ, đặt câu hỏi và mất động cơ.
Trong tình trạng tiến triển làm tăng khả năng thích nghi với thế giới, còn sự thoái lùi, có phần nghịch lí một chút, lại đưa tới những khả năng mới để phát triển. Sự thoái lùi kích hoạt thế giới nội tâm. Khi thế giới bên trong bị kích hoạt, thì một người buộc phải xem xét nó và sau đó thực hiện một sự thích nghi mới với cuộc sống đòi hỏi sự chú ý đến các kết quả trước. Sự chuyển động hướng tới sự thích nghi bên trong này cuối cùng sẽ đưa đến một sự thích nghi bên ngoài mới khi một lần nữa libido lại bắt đầu đi theo hướng tiến triển. Nhưng bây giờ người đó chín chắn hơn bởi vì sự đương đầu với vô thức - các phức cảm, quá khứ đã qua, điểm yếu, lỗi lầm và tất cả những vấn đề đau đớn và khó chịu xuất hiện trong sự thoái lùi. (Tôi sẽ nói đến khái niệm cá nhân hóa của Jung kĩ hơn ở chương 8).
Cần phải lưu ý rằng, một mặt, Jung phân biệt rõ giữa sự tiến triển và sự thoái lùi của libido và mặt kia là hai kiểu thái độ hướng nội và hướng ngoại. Người mới nhập môn sẽ dễ nhầm lẫn giữa chúng. Những người hướng nội tiến triển theo con đường của họ, thích nghi với thế giới theo cách hướng nội, trong khi người hướng ngoại tiến triển theo cách hướng ngoại. Điều này cũng đúng cho sự thoái lùi. Chẳng hạn, tip người hướng ngoại - những người thường sử dụng suy nghĩ trong liên hệ với thế giới bên ngoài và quan hệ với người khác và tìm cách chống lại những điều kiện sống mà ở đó chức năng đó của họ hoạt động không hiệu quả và trải qua thất bại. Những vấn đề quan hệ luôn luôn không thể giải quyết được bằng suy nghĩ hướng ngoại. Ở đây một cách tiếp cận hoàn toàn khác là cần thiết. Khi chức năng cấp cao của một người trở nên vô dụng, cảm giác hẫng hụt và thất bại ngự trị, và thình lình những chức năng khác được đòi hỏi nhưng chúng lại chưa sẵn sàng. Do đó, libido sẽ thoái lùi và thường là sẽ kích hoạt các chức năng cấp thấp, và trong trường hợp này, là chức năng cảm xúc hướng nội. Như Jung đã chỉ ra, chức năng cấp thấp là vô thức và mang theo những dấu vết của những khía cạnh sâu tăm tối khi chúng xuất hiện trong ý thức. Một chức năng cảm xúc thống - hợp là một công cụ của bản ngã và là một chức năng lí trí, phân biệt, tinh lọc định hướng một người bằng cách thiết lập các giá trị. Một chức năng cảm xúc cấp thấp, không biệt hóa xuất hiện từ vô thức dù chỉ đưa ra một chút ít định hướng về các giá trị nhưng lại hết sức mạnh mẽ “Đây là điều quan trọng nhất trong toàn bộ đời tôi! Tôi không thể sống thiếu nó”. Nó mang tính cảm xúc cao. Sự không có kỹ năng thích nghi của chức năng cấp thấp nhìn chung là quá rõ ràng, nhưng bản ngã bị thách thức trong việc sử dụng những xúc cảm và suy nghĩ xuất hiện trong ý thức dưới hình thức này, và bằng việc làm điều này, nó bắt đầu nhiệm vụ thích nghi với phần ẩn khuất của nhân cách, tức là vô thức.
Ngược lại, những người tận dụng quá lâu khả năng thích nghi xuất sắc của họ với người khác trong nửa đầu cuộc đời sẽ tới lúc không có gì có thể thỏa mãn họ được. Chức năng cảm xúc hướng ngoại phát triển cao không còn đủ cho tâm hồn họ nữa. Những tiềm năng khác đòi hỏi phải được nhận biết. Có lẽ những mục tiêu suy nghĩ trực giác có tính hướng nội (nghiên cứu triết học và thần học) xuất hiện và có vẻ hấp dẫn hơn những bữa tiệc với bạn bè hay sự tụ tập các gia đình trong những ngày nghỉ. Cuộc sống đầy đủ của con người có nhiều giai đoạn biến đổi quan trọng.
Những biến đổi và những biểu tượng
Những sự biến đổi như vậy xảy ra như thế nào là mối quan tâm sâu sắc và liên tục của tác phẩm của Jung. Trong tiểu luận “Về năng lượng tâm thần” ông đã đứa ra một giải thích lí thuyết có tính hình thức về sự chuyển dạng. Trong phần về hướng đi của libido74, ông đã xem xét gradient tự nhiên của năng lượng. Trong trạng thái tự nhiên, tức là trạng thái lí tưởng mà chúng ta có thể hình dung, không có hoạt động nào như vậy được đòi hỏi hay thực hiện. Giống như một con chó cảnh sống ở trong một ngôi nhà ấm cúng, ngủ một giấc dài, đến bàn ăn, và (nếu không bị thiến) sẽ quan hệ tình dục mạnh theo mùa thì con người sống thuần túy trong trạng thái tự nhiên cũng sống hoàn toàn theo bản năng và ham muốn sinh học. Nhưng con người sáng tạo ra văn hóa và sự chuyên môn hóa công việc, và điều này dự báo trước khả năng biến đổi năng lượng khỏi gradient tự nhiên sang trạng thái khác, những cách thức dường như nhân tạo khác. Điều này xảy ra thế nào?
Jung không coi tự nhiên và văn hóa hoàn toàn đối lập với nhau. Thay vào đó, ông coi chúng cùng thuộc về bản chất con người theo một cách thức cơ bản. Những sáng tạo của con người ra văn hóa và chuyên môn hóa công việc xuất hiện do sự sáng tạo ra những sự tương tự trong đầu óc với những mục tiêu và hoạt động bản năng. Những sự tương tự như vậy hoạt động như là những biểu tượng75. Những ý tưởng và hình ảnh - những nội dung tâm thần - chuyển đổi năng lượng theo những hướng mới bằng cách chuyển hướng nó từ gradient tự nhiên và các đối tượng của nó. Chẳng hạn, một ý tưởng xuất hiện ở một đứa trẻ nhỏ có sự hấp dẫn như vú mẹ. Ý tưởng này, được nhận biết khi chơi, thu hút nhiều năng lượng hơn là vú mẹ và cho phép đứa trẻ trì hoãn ham muốn bú và cuối cùng giảm đi dần dần. Trong phần đời sau này, sự tương tự hay biểu tượng thay thế vú mẹ có thể là một bữa ăn. Ý nghĩ được hưởng một bữa ăn cao cấp (haute cuisine) có cùng tác dụng làm dễ chịu cho một người lớn giống như hình ảnh một chiếc vú đối với đứa trẻ. Do vậy, một ý tưởng hay đồ vật văn hóa sẽ nắm giữ năng lượng đã từng cố định vú người mẹ. Cả vú và nhà hàng là những biểu tượng cho những gì mà tại thời điểm đó trong sự phát triển tâm lí có thể được thể hiện tốt nhất.
Một biểu tượng thu hút một khối lượng năng lượng lớn và hình thành nên những cách mà năng lượng tâm thần được hội tụ và sử dụng. Các tôn giáo thu hút một lượng năng lượng tâm thần lớn của con người và sức mạnh chủ yếu của chúng dựa vào các biểu tượng. Thông qua việc sử dụng các biểu tượng, chúng cũng trở nên có sức mạnh về chính trị và kinh tế, nhưng những sức mạnh này chỉ là thứ yếu so với những sức mạnh nằm bên dưới chúng. Nếu loại bỏ đi sức mạnh biểu tượng thì toàn thể tòa lâu đài sẽ sụp đổ. Khi còn sống và đầy sức mạnh, những ý tưởng và nghi thức tôn giáo có một sức mạnh hấp dẫn to lớn thu hút năng lượng con người vào những hoạt động và những mối quan tâm cụ thể. Tại sao biểu tượng có một gradient mạnh hơn đối tượng tự nhiên? Tại sao mà một đối tượng trở nên hấp dẫn và thu hút con người hơn những đối tượng có sức hấp dẫn bản năng như vú mẹ hay dương vật?
Jung biết rằng điều này không xuất hiện do quyết định của bản ngã. Khi “Bill W.” (William G. Wilson), đồng sáng lập của tổ chức “Những người nghiện rượu ẩn danh”, viết cho Jung năm 1961 và báo cáo về số phận của Roland H (một bệnh nhân đã được Jung điều trị bệnh nghiện rượu đầu những năm 1930), Jung đã trả lời bằng việc thừa nhận rằng nhà điều trị cũng bó tay trong việc giúp bệnh nhân khỏi sự phụ thuộc vào rượu76. Thông điệp của Jung là - theo cách diễn giải bức thư đó của tôi - Anh cần một biểu tượng, một sự tương tự thu hút năng lượng đãng chìm vào những sự nghiện rượu đó. Anh phải phát hiện ra một cái gì đó tương đương hấp dẫn hơn là việc uống rượu hằng đêm, thu hút sự quan tâm của anh ta nhiều hơn những chai vodka. Một biểu tượng đầy sức mạnh đòi hỏi đưa đến những biến đổi lớn như vậy ở một người nghiên rượu và Jung nói về nhu cầu về sự cần thiết một kinh nghiệm ngược lại. Những biểu tượng xuất hiện từ nền tảng cổ mẫu của nhân cách, từ vô thức tập thể. Chúng không phải những phát minh tùy tiện của bản ngã mà là biểu hiện tự phát từ vô thức, đặc biệt là trong những thời điểm có nhu cầu lớn.
Những biểu tượng là những nhân tố tổ chức lớn của libido. Việc sử dụng thuật ngữ libido của Jung ở đây là chính xác. Một biểu tượng không phải là một dấu hiệu. Các dấu hiệu có thể được đọc và diễn giải mà không mất đi ý nghĩa. Một dấu hiệu dừng lại có nghĩa là “dừng lại”. Nhưng trong hiểu biết của Jung, biểu tượng là một khẳng định hay biểu hiện tốt nhất có thể cho những gì mà về bản chất không được hiểu đầy đủ hay chưa đầy đủ đối với trạng thái ý thức hiện tại. Việc diễn giải các biểu tượng là những nỗ lực chuyển ý nghĩa của biểu tượng sang các từ vựng hay thuật ngữ có thể hiểu được hơn, nhưng biểu tượng vẫn là cách diễn tả hiện tại tốt nhất. Những biểu tượng mở ra cho con người sự thần bí. Và chúng cũng kết hợp những yếu tố của tinh thần và bản năng, của hình ảnh và động cơ. Vì lí do đó, những mô tả các trạng thái tinh thần quá mức và những kinh nghiệm thần bí thường nói tới những sự thỏa mãn bản năng hay sinh học như dinh dưỡng và tình dục. Các nhà thần bí nói nhiều về trạng thái xuất thần khi thống nhất với Chúa như sự đạt khoái cảm và nhiều khả năng là như vậy. Trải nghiệm về biểu tượng thống nhất cơ thể và linh hồn trong một cảm xúc mạnh mẽ và có tính thuyết phục của tổng thể. Đối với Jung, biểu tượng có tầm quan trọng như vậy là vì khả năng của nó chuyển dạng năng lượng tự nhiên thành những dạng văn hóa và tinh thần. Trong tiểu luận này, ông không nói về thời điểm của sự xuất hiện có tính biểu tượng như vậy trong tâm thần. Nó sẽ được xem xét kĩ hơn trong các tác phẩm khác, đặc biệt quan trọng là tác phẩm sau này có tựa đề Nguyên lí đồng thời tương ứng: Một nguyên tắc kết nối phi nhân quả77.
Sự khác nhau giữa chuyển dạng và thăng hoa thể hiện rõ hơn sự khác biệt cơ bản giữa những lí thuyết của Jung và Freud. Đối với Freud, con người văn minh có thể thăng hoa những ham muốn tình dục, nhưng sự thăng hoa này chỉ tạo ra những sự thay thế cho những đối tượng thực của những ham muốn như vậy. Libido sẽ gắn vào những sự thay thế này, nhưng chúng chỉ duy trì vị trì thứ yếu. Trên thực tế, libido muốn trở lại trạng thái đầu thời thơ ấu, trở lại với những sự cố định vào người mẹ và người cha, trở lại với sự thỏa mãn huyễn tưởng Oedipus. Do đó, phân tích của Freud luôn mang tính quy giản. Jung đồng ý rằng libido lúc đầu tìm kiếm cơ thể người mẹ bởi vì dinh dưỡng là quan trọng cho sự tồn tại của đứa trẻ. Sau đó, libido được chuyển hướng sang những kênh tình dục và đi theo những gradient này: sinh sản là cần thiết cho sự tồn tại của loài. Nhưng khi libido tìm thấy một yếu tố tương tự về tinh thần, một ý tưởng hay một hình ảnh, nó sẽ đến đó bởi vì đó là mục tiêu của nó, không phải vì đây là sự thay thế cho sự thỏa mãn tình dục. Đối với Jung, đây là sự biến dạng của libido, và văn hóa bắt nguồn từ những biến đổi như vậy. Văn hóa là sự thỏa mãn một ham muốn chứ không phải ngăn cản nó. Jung tin rằng bản chất con người sẽ đưa tới sự hình thành văn hóa, sự tạo dựng các biểu tượng, sự ngăn chặn năng lượng để nó có thể đi theo hướng hướng tới những nội dung tâm linh và tâm thần