Trong chương trước, chúng ta đã thấy bản ngã ý thức - bề mặt của tâm thần - là đối tượng của những rối loạn và phản ứng xúc cảm được tạo ra bởi sự xung đột giữa môi trường của cá nhân và môi trường bên ngoài. Jung cảm thấy rằng những va chạm giữa tâm thần và thế giới này có một chức năng tích cực. Nếu không quá mạnh, chúng có xu hướng kích thích sự phát triển của bản ngã bởi vì chúng đòi hỏi năng lực tập trung cao hơn về phía ý thức và cuối cùng dẫn đến khả năng giải quyết vấn đề mạnh hơn và sự tự lập của cá nhân lớn hơn. Buộc phải đưa ra các lựa chọn và giữ các quan điểm, một người buộc phải phát triển khả năng làm nhiều và tốt hơn. Điều này giống như luyện tập cơ bắp bằng các phương pháp căng cơ. Bản ngã phát triển thông qua nhiều tương tác mạnh như vậy với thế giới. Những nguy hiểm, sự hấp dẫn, quầy rối, đe dọa và hẫng hụt từ người khác và nhiều nhân tố môi trường xung quanh sẽ đánh thức ở một mức độ nhất định năng lượng tập trung trong ý thức và bản ngã được huy động để giải quyết những mặt này của thế giới mà nó va chạm.
Nhưng có những rối loạn khác của ý thức không có liên hệ rõ ràng với những nguyên nhân môi trường và nằm ngoài kích thích có thể quan sát được. Tất cả những gì gây ra rối loạn này không phải chủ yếu là những xung đột bên ngoài mà là những va chạm bên trong. Thỉnh thoảng, con người trở nên hết sức giận dữ với những lí do không mấy rõ ràng. Hoặc có những kinh nghiệm tưởng tượng nội tâm lạ lùng đã dẫn đến những dạng hành vi không thể giải thích được. Họ trở nên loạn tâm, hoang tưởng, họ mơ hay đơn giản chỉ phát điên, si tình hoặc nổi nóng. Con người không phải luôn hành động có lí trí và hành xử theo những tính toán cụ thể theo lợi ích cá nhân. “Con người lí trí” mà từ đó nhiều lí thuyết kinh tế được xây dựng nên nhiều nhất cũng chỉ là mô tả phần nào con người khi họ hoạt động. Con người bị thúc đẩy bởi những sức mạnh tinh thần hay những ý nghĩ không dựa trên những quá trình lí trí và là đối tượng của những hình ảnh và ảnh hưởng vượt ngoài những gì có thể đo lường trong môi trường có thể quan sát được. Nói một cách ngắn gọn, chúng ta là những sinh vật bị thúc đẩy bởi cảm xúc và hình ảnh cũng nhiều như bị thúc đẩy bởi lí trí và sự thích nghi với môi trường. Chúng ta mơ cũng nhiều như chúng ta suy ngẫm và có lẽ chúng ta cảm nhận nhiều hơn chúng ta nghĩ. Nhiều suy nghĩ của chúng ta chí ít cũng được tô điểm và định hình bởi các cảm xúc, và hầu hết những tính toán lí trí của chúng ta là phục vụ cho những cảm xúc mạnh và sợ hãi. Cần phải hiểu là khía cạnh ít lí trí này của bản chất con người đã dẫn Jung tới việc sử dụng những công cụ của phương pháp khoa học và dành cả đời mình để nghiên cứu điều gì định hình và thúc đẩy xúc cảm, huyễn tưởng và hành vi con người. Thế giới nội tâm này là một terra incognita (địa hạt bất khả tri) vào thời của ông. Và ông phát hiện thấy nó có tính phổ biến.
Với tới vô thức
Hãy tưởng tượng rằng tâm thần là một đối tượng ba chiều giống như hệ mặt trời. Bản ngã - ý thức là trái đất, vùng đất cứng (terrafirma), đó là nơi chúng ta sống, ít nhất trong lúc chúng ta thức. Không gian xung quanh trái đất bao gồm các vệ tinh và thiên thạch to nhỏ khác nhau. Không gian này được Jung gọi là vô thức, và những đối tượng mà chúng ta gặp trước tiên khi chúng ta thám hiểm không gian này là các phức cảm. Vô thức là nơi cư ngụ các phức cảm. Đây là địa hạt mà Jung đã khảo sát lúc khởi đầu sự nghiệp của mình với tư cách một nhà tâm thần học. Sau đó ông gọi nó là vô thức cá nhân.
Ông bắt đầu phác họa vùng tâm thần này thậm chí trước khi ông xem xét kĩ càng phức cảm bản ngã hay bản chất của ý thức. Ông tiến hành việc khảo sát ban đầu này bằng cách sử dụng một công cụ khoa học được đánh giá cao vào đầu thế kỉ XX, là Thực nghiệm Liên tưởng từ (Word Associration Experimat)30. Về sau ông cũng áp dụng một số cách nội quan lấy từ những tác phẩm ban đầu của Sigmund Freud. Cùng với khái niệm về tính quyết định vô thức của các quá trình tâm thần và thực nghiệm liên tưởng từ, Jung dẫn đầu một ê kíp các nhà nghiên cứu về dự án khoa học tiến hành những thí nghiệm được kiểm chứng kĩ lưỡng để tìm hiểu những nhân tố tâm lí vô thức như vậy có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm hay không.
Kết quả của dự án này được tập hợp trong cuốn sách Diagnostische Assoziationstudien (Những nghiên cứu về liên tưởng từ)do Jung biên soạn. Những nghiên cứu này được tiến hành tại Bệnh viện Tâm thần của Đại học Zurich với sự giúp đỡ và khuyến khích của thầy giáo của ông, Eugen Bleuler31. Dự án này được thai nghén năm 1902 và tiếp tục trong năm năm sau. Các kết quả được xuất bản lẻ tẻ từ 1904 đến 1910 trong Journalfur Psychologie und Neurologie (Tạp chí Tâm lí học và thần kinh học). Chính trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm này mà Jung bắt đầu sử dụng thuật ngữ “phức cảm” mà ông vay mượn từ nhà tâm lí học Đức Ziehen nhưng đã mở rộng và làm phong phú thêm với nhiều nghiên cứu và lí thuyết của riêng ông. Thuật ngữ này sau đó cũng được Freud chấp nhận và được sử dụng rộng rãi trong giới phân tâm học32 cho đến khi Freud và Jung kết thúc quan hệ, và sau đó nó gần như bị xoá bỏ hoàn toàn khỏi từ vựng của Freud, cùng với Jung và những gì thuộc về Jung.
Lí thuyết về phức cảm là đóng góp ban đầu quan trọng nhất của Jung đối với việc hiểu biết vô thức và cấu trúc của nó. Một phần nào đó nó chính là cách mà Jung khái niệm hóa những gì mà Freud đã viết cho đến lúc đó về những kết quả tâm lí của dồn nén, về tầm quan trọng của tuổi thơ đối với cấu trúc của tính cách, và về khó khăn của sự kháng cự trong phân tâm. Nó tiếp tục là một khái niệm hữu ích trong việc thực hành phân tâm cho đến tận bây giờ. Jung đã phát hiện trước tiên và phác họa đặc điểm này của vô thức như thế nào?
Vấn đề bấy giờ là làm thế nào để xâm nhập vào lĩnh vực tâm thần nằm ngoài những rào cản ý thức. Ý thức có thể được nghiên cứu bằng cách hỏi những câu hỏi và ghi lại những câu trả lời, hoặc bằng cách nội quan. Nhưng làm thế nào để có thể xâm nhập sâu hơn vào thế giới chủ quan và khám phá các cấu trúc và hoạt động của nó? Để giải quyết vấn đề này, Jung và ê kíp các bác sĩ tâm thần nội trú đã tiến hành một loạt những thí nghiệm với các chủ thể nhiều người để hiểu xem liệu, bằng cách “tấn công” vào tâm thần bằng những kích thích lời nói và quan sát những đáp ứng trong ý thức - những “dấu vết” (nếu có thể nói như vậy được), của những phản ứng cảm xúc tinh tế - họ có thể phát hiện được bằng chứng của những cấu trúc bên dưới không. Làm việc gần gũi với những đồng nghiệp như Bleuler, Wehrlin, Ruerst, Binswanger, Nunberg và quan trọng nhất là Riklin, đầu tiên Jung đã tinh luyện công cụ thí nghiệm liên tưởng cho các mục đích nghiên cứu của mình và lựa chọn được khoảng 400 từ phổ thông, hằng ngày, những từ dường như là kích thích trung tính - những từ như bàn, đầu, mực, kim, bánh mì và cừu33. Rải rác trong các từ này còn có những từ có tính kích thích hơn - chiến tranh, sự tin tưởng, tấn công, cú đánh. Sau đó số lượng này giảm xuống còn 100 từ. Những từ kích thích này, được đọc lần lượt cho một người với yêu cầu phải đáp trả ngay với từ đầu tiên xuất hiện trong đầu đã đưa đến nhiều phản ứng khác nhau. Có thể có những khoảng dừng lâu, những đáp trả vô nghĩa, những nhịp điệu và những phản ứng bằng âm thanh, và thậm chí những phản ứng sinh lí học có thể đo lường bằng cách sử dụng một thiết bị gọi là máy đo điện tâm lí34.
Một câu hỏi thú vị đối với Jung là, cái gì diễn ra trong tâm thần của những người được test khi từ kích thích được đọc lên. Ông tìm kiếm cảm xúc, và đặc biệt là những dấu hiệu của sự kích thích lo âu và tác động của nó lên ý thức. Thời gian đáp ứng được đo đếm và ghi lại cùng với những lời đáp nguyên văn. Sau đó tất cả những từ kích thích được lặp lại một lần nữa, và chủ thể được yêu cầu lặp lại mỗi lời đáp trước đây. Một lần nữa những kết quả được ghi lại. Test sau đó được phân tích, trước tiên bởi việc tính toán thời gian trả lời trung bình của chủ thể và chúng được so sánh với thời gian trả lời của những người khác. Một số từ cần một giây để trả lời, những từ khác cần mười giây và những từ khác nữa hoàn toàn không mang lại câu trả lời nào vì chủ thể bị bế tắc hoàn toàn. Sau đó những kiểu trả lời khác được ghi lại. Một số từ đưa tới những phản ứng đáp trả đặc biệt, chẳng hạn như nhịp điệu, những từ vô nghĩa, hoặc những liên tưởng khác thường. Jung xem những đáp trả này như là những dụng cụ chi báo phức cảm - những dấu hiệu của sự lo âu và bằng chứng của những phản ứng phòng vệ chống lại những xung đột tâm lí vô thức. Chúng sẽ mách bảo Jung điều gì về bản chất của vô thức?
Các phức cảm
Jung cho rằng những rối loạn của ý thức, được lưu trữ và đo lường như là những đáp ứng cho những kích thích bằng lời nói này, là do những liên tưởng vô thức tới những từ được đọc. Ở đây, quan điểm của ông trùng với quan điểm của Freud được thể hiện trong tác phẩm Giải thích các giấc mơ, trong đó Freud cho rằng những hình ảnh trong giác mơ có thể liên kết với những suy nghĩ và cảm xúc từ ngày trước (hoặc thậm chí từ những năm trước, bao gồm thời gian ngược lại tới đầu thời niên thiếu). Tuy thế, những liên tưởng như vậy là hoàn toàn khó hiểu và bị che giấu. Jung cho rằng, những liên tưởng tồn tại không phải giữa những từ kích thích và từ trả lời, mà là giữa những từ kích thích đó và những nội dung vô thức ẩn giấu. Một số từ kích thích làm kích hoạt những nội dung vô thức và chúng liên kết với những nội dung khác. Khi bị kích thích, mạng lưới chất liệu liên tưởng này - chủ yếu gồm những kí ức bị dồn nén, những huyễn tưởng, hình ảnh, ý nghĩ - tạo ra một sự rối loạn trong ý thức. Những chỉ báo phức cảm là những dấu hiệu của sự rối loạn. Nói một cách chính xác thì những gì gây ra rối loạn vẫn cần được khảo sát kĩ hơn, và điều này được thực hiện thông qua việc hỏi kĩ hơn về chủ thể và thông qua nhiều phân tích nếu điều đó là cần thiết. Nhưng những rối loạn được ghi lại bởi thực nghiệm này đưa ra những lĩnh vực quan trọng cho việc khảo sát sâu hơn và đưa ra những bằng chứng rằng những cấu trúc vô thức thực sự nằm dưới ngưỡng ý thức. Thường thì lúc đầu chủ thể không biết tại sao những từ đó lại gây ra những phản ứng này.
Jung quan sát thấy những rối loạn có thể đo lường này trong dòng ý thức thỉnh thoảng có liên hệ tới những từ kích thích dường như vô hại như “bàn” hay “kho thóc”. Phân tích những mẫu trả lời, ông thấy rằng những từ chỉ ra rối loạn có thể tập hợp theo chủ đề. Những tập hợp đó hướng tới một nội dung chung. Khi chủ thể được yêu cầu nói về những liên tưởng của họ tới những tập hợp các từ kích thích này, dần dần họ có thể nói cho ông về những khoảnh khắc chứa đầy cảm xúc mạnh trong quá khứ của họ. Thông thường thì trong đó có các chấn thương. Những từ kích thích này thật ra đã đánh thức những liên tưởng đau đớn bị vùi sâu trong vô thức và những liên tưởng căng thẳng này là những gì đã làm rối loạn ý thức. Những nội dung vô thức là căn nguyên của những rối loạn ý thức được Jung gọi là “phức cảm”.
Sau khi thừa nhận rằng các phức cảm tồn tại trong vô thức, Jung quan tâm tới việc khảo sát chúng kĩ hơn. Với những công cụ như thực nghiệm liên tưởng từ, ông có thể đo lường chúng chính xác hơn. Việc đo lường chính xác có thể biến đổi những trực giác mơ hồ và những lí thuyết suy đoán thành dữ liệu và khoa học, một điều làm hài lòng cá tính khoa học của Jung. Ông nhận thấy rằng ông có thể đo lường trọng tải xúc cảm do một phức cảm cụ thể nắm giữ bằng cách đơn giản là tăng thêm số lượng những chỉ báo phức cảm mà nó phát sinh và mức độ nặng nhẹ của những rối loạn này. Điều này cho ông biết khối lượng tương đối của năng lượng tâm thần tích luỹ trong phức cảm. Việc khảo sát vô thức, do đó, có thể định lượng được. Thông tin này cũng trở nên có tầm quan trọng cho phép chữa trị, như một sự chỉ dẫn nơi mà những vấn đề cảm xúc nghiêm trọng nhất của một bệnh nhân hiện diện ở đâu và những gì cần phải làm trong điều trị. Nó đặc biệt hữu ích cho liệu pháp tâm lí ngắn hạn.
Kết quả của những thí nghiệm này thuyết phục Jung rằng có những thực thể tâm thần nằm ngoài ý thức, tồn tại những vật thể giống như vệ tinh liên quan với bản ngã - ý thức nhưng lại có khả năng gây ra những rối loạn của bản ngã một cách đáng ngạc nhiên và đôi khi áp đảo. Chúng là những “sinh vật” giả tưởng và ma quỷ bên trong có thể chi phối một người một cách bất ngờ. Những rối loạn gây ra bởi các phức cảm cần phải được phân biệt với những rối loạn do những nhân tố gây stress bắt nguồn từ môi trường bên ngoài, dù là chúng có thể và thường có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Khi Jung gửi Diagnostichen Assoziationstudien (Nghiên cứu hiện tượng trong chẩn đoán) cho Freud vào tháng 4 năm 1906, ngay lập tức Freud tìm thấy ở đấy sự đồng cảm và viết cho Jung một bức thư cảm ơn nồng nhiệt. Hai người gặp gỡ nhau một năm sau đó, và từ thời khắc đó cho đến khi họ chấm dứt hẳn những liên hệ thư từ vào đầu 1913, mối quan hệ của họ tràn đầy những mục đích và cường độ cao về cảm xúc và trí tuệ. Ai đó có thể nói rằng họ đã thành công trong việc kích thích những phức cảm căn bản trong cả hai người. Chắc chắn là họ có liên hệ với nhau sâu sắc xung quanh mối quan tâm chung về vô thức. Đối với Jung, sự gắn bó cá nhân với Freud có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp của ông về tâm thần học và cũng cho cả sự phát triển học thuyết tâm lí học của chính ông sau này. Cả sự nghiệp và lí thuyết của ông đều định hình trong cái bóng của sự hiện diện về mặt văn hóa ngày càng tăng của Freud; tuy nhiên, trên tất cả, bản đồ cuối cùng của Jung về thế giới nội tâm con người độc lập đáng kể với ảnh hưởng của Freud. Tinh thần của Jung về cơ bản là khác với Freud, và do vậy bản đồ tâm thần của ông khác rất nhiều so với Freud. Đối với những độc giả quen thuộc với các công trình của Freud, điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn trong phần còn lại của cuốn sách này. Hai ông thực sự sống trong những thế giới tri thức khác nhau.
Vào năm 1910, công trình lí thuyết của Jung về các phức cảm đã hoàn tất về cơ bản. Trong những năm sau, ông tiếp tục tinh luyện thêm đôi chút nhưng không bổ sung nhiều tài liệu mới hoặc thay đổi quan điểm về khái niệm cơ bản về phức cảm, ngoại trừ bổ sung thêm nội dung rằng, mọi phức cảm đều có một thành tố cổ mẫu (tức là, bẩm sinh và nguyên thủy). Bài viết của ông, “Xem xét lại lí thuyết phức cảm”35, xuất bản năm 1934, đưa ra một tóm tắt xuất sắc. Viết khá lâu sau sự sụp đổ quan hệ với Freud, lung đưa những giới thiệu có tính khen ngợi cao về người thầy cũ và cũng là đồng nghiệp của mình cũng như về phân tâm học nói chung khi ông thừa nhận tầm quan trọng của Freud với công trình của ông về lí thuyết phức cảm. Nếu có thể tìm thấy ở đâu đó ảnh hưởng quan trọng của Freud trong lí thuyết của Jung, thì chính là ở đây.
Điều đáng lưu ý là Jung đã trình bày “Xem xét lại lí thuyết phức cảm” vào tháng 5 năm 1934 ở Bad Neuheim, Đức tại Đại hội lần thứ 7 về liệu pháp tâm lí. Vào thời điểm đó, Jung là Chủ tịch của Hội Y học Quốc tế về liệu pháp tâm lí, tổ chức tài trợ cho hội nghị này. Tình trạng chính trị ở Đức vào thời điểm này đang căng thẳng với những xung đột và sự hỗn loạn. Những người Quốc xã, vừa chiếm quyền lực ngay trước đó, đang tấn công Freud, một người Do Thái, như một ảnh hưởng độc hại cần phải loại khỏi văn hóa Đức. Những cuốn sách của Freud bị thiêu cháy và những quan điểm của ông bị chống đối dữ dội. Jung, người trước đó là Phó Chủ tịch của tổ chức này và sau đó chấp nhận vị trí chủ tịch năm 1933, phải đối diện với nhiều lựa chọn chính trị phức tạp và nguy hiểm. Về mặt khác, đây là thời điểm khó khăn cho người lãnh đạo bất kì một tổ chức nào trên những vùng đất nói tiếng Đức. Như những con diều hâu, những người Quốc xã tìm kiếm bất kỳ mọi dấu hiệu nhỏ nhất của sự tách khỏi những học thuyết phân biệt chủng tộc của họ. Hội y học này cũng không là ngoại lệ. Jung bị ép buộc mạnh mẽ phải nói những gì mà các quan chức Đức muốn nghe và phù hợp với những kế hoạch của họ. Về mặt khác, đây cũng là thời điểm để các nhà tâm thần học không phải người Đức có thể tạo ra một sự khác biệt trong hiệp hội quốc tế này. Đó chính là ý định của Jung để bảo vệ tổ chức này như một hội y học quốc tế. Một trong những hành động đầu tiên của ông với tư cách là chủ tịch là biến đổi hiến chương của hội để những bác sĩ Do Thái ở Đức có thể giữ vị trì thành viên của họ với tư cách là thành viên cá nhân dù họ đã bị loại khỏi tất cả những hội y học Đức. Vào năm 1933, không có cách nào để biết những động cơ xấu của những nhà lãnh đạo Quốc xã trở nên hiệu quả và tiêu tốn thời gian như thế nào.
Tuy nhiên, trong cái bóng đen của bầu không khí đó cũng xuất hiện cơ hội nghề nghiệp cho Jung. Freud đã nổi tiếng trong giới tâm thần học và tâm lí học ở Đức một thập kỉ trước, và bây giờ những quan điểm của Jung có một cơ hội để xuất hiện. Jung đang đi trên dây. Thế giới đang dõi theo và tất cả những hành động ông thực hiện giai đoạn này ảnh hưởng đến công luận. Quan điểm của Jung là chấp nhận vị trí chủ tịch của tổ chức y học này vào năm 1933 và vai trò sau này của ông trong tổ chức đó đến tận những năm 1940 vẫn gây ra nhiều tranh luận nóng bỏng cho đến tận bây giờ. Những cáo buộc rằng Jung ủng hộ các chính sách của Hitler và kế hoạch của Đức Quốc xã “thanh lọc” Volk (người) Đức có nguồn gốc từ những gì mà ông thực sự, có lẽ có chủ ý và dưới những áp lực chính trị nặng nề, nói và làm trong năm đầu tiên làm chủ tịch36.
Một biểu hiện ủng hộ khác của Jung [đối với Freud] là việc ông trình bày bài báo đặc biệt “Xem xét lại lí thuyết phức cảm” tại Bad Neuheim năm 1934; trong bài diễn văn chủ tịch này, ông đã không hạ thấp tầm quan trọng của Freud. Trên thực tế ông đã ca ngợi Freud, người mà ông đã chấm dứt quan hệ và không nói chuyện trong suốt 20 năm qua, là người có nhiều ảnh hưởng nhất. Vào năm 1934, việc nói tích cực về Freud, dù chỉ là chút ít cũng là rất dũng cảm. Jung dường như đã làm mọi thứ trong khả năng của mình để bảo vệ danh tiếng quốc tế của Freud bằng cách dành cho ông những lời tán thưởng trong bài viết của mình.
Bài viết bắt đầu với một thảo luận về công trình liên tưởng từ mà Jung đã bảo trợ và thực hiện trong những năm đầu của sự nghiệp của ông. Hiểu được nhiều điều về cách mà con người phản ứng lại lẫn nhau trong những môi trường riêng tư hay trong lâm sàng, Jung bắt đầu tập trung vào những khía cạnh tâm lí của điều kiện thí nghiệm. Ông chỉ ra rằng chính bản thân tình huống làm test đã dẫn đến sự “hội tụ” các phức cảm. Các nhân cách ảnh hưởng lẫn nhau và khi họ bắt đầu tương tác thì một vùng tâm thần được thiết lập giữa họ sẽ kích thích các phức cảm.
Thuật ngữ “hội tụ” thường xuất hiện trong các tác phẩm của Jung và là một từ quan trọng trong từ vựng tâm lí học của ông. Đó là một từ lúc đầu làm cho mọi người khó hiểu. Thường nó nói đến sự hình thành một khoảnh khắc đầy cảm xúc, một khoảnh khắc mà ý thức đã hoặc sắp chuẩn bị bị quấy rối bởi một phức cảm. “Thuật ngữ này đơn giản chỉ diễn đạt sự kiện là tình trạng bên ngoài đã giải phóng một quá trình tâm thần trong đó các nội dung nhất định kết hợp với nhau và chuẩn bị hành động. Khi chúng ta nói một người bị “hội tụ” chúng ta muốn nói rằng anh ta ở vào một vị trí mà từ đó có thể đoán chừng họ sẽ hành động theo một cách hoàn toàn xác định”37. Những phản ứng phức cảm hoàn toàn có thể dự đoán trước một khi chúng ta biết các phức cảm đặc thù của một cá nhân là gì. Chúng ta nói đến những miền tâm thần bao gồm rất nhiều các phức cảm như là những “nút bấm” như trong câu “cô ta biết cách ẩn những chiếc nút của tôi!”. Khi chúng ta ấn một nút như vậy, chúng ta sẽ có một phản ứng cảm xúc. Nói theo cách khác, chúng ta đã tập hợp một phức cảm. Sau khi chúng ta biết một người trong một thời gian, chúng ta sẽ biết một số nút bấm của họ ở đâu và hoặc là tránh những lĩnh vực nhạy cảm đó hoặc cố gắng tìm cách chạm vào nó.
Xét về mặt thực nghiệm, tất cả mọi người đều biết bị “hội tụ” là gì. Nó xảy ra trong một phạm vi rất rộng từ hơi lo lắng đến mất kiểm soát và lên đến đỉnh điểm là sự điên khùng. Khi một phức cảm hội tụ, con người bị đe dọa bởi sự mất kiểm soát cảm xúc của mình và đến chừng mực nào đó là mất kiểm soát cả hành vi của mình. Con người sẽ phản ứng phi lí và thường lấy làm tiếc về nó hoặc nghĩ tốt về nó sau này. Đối với những người có hiểu biết về mặt tâm lí thì điều đáng buồn là họ đã từng ở vào trạng thái đó nhiều lần, đã phản ứng đúng như vậy trong nhiều trường hợp, nhưng hoàn toàn vô vọng để kiềm chế không lặp lại điều tương tự. Khi bị hội tụ, con người dường như bị chi phối bởi một con quỷ, một lực mạnh hơn ý chí của họ. Điều này tạo ra cảm giác tuyệt vọng. Thậm chí khi một người quan sát mình đang trở thành nạn nhân điên khùng của một lực cưỡng bức bên trong để nói hoặc làm những gì mà họ biết tốt hơn cả là không nên nói hoặc không nên làm, thì điều này vẫn tiếp tục diễn ra như dự đoán và các từ vẫn được nói ra, các hành động vẫn được thực hiện. Một sức mạnh nội tâm đã được thôi thúc hành động do một tình huống hội tụ.
Cấu trúc của những sự hội tụ này là “những phức cảm xác định có năng lượng đặc hiệu riêng của nó”38. Năng lượng của phức cảm (thuật ngữ này sẽ được đề cập đến kĩ hơn trong chương sau) nói đến một số lượng sức mạnh tiềm ẩn của cảm xúc và hành động tích tụ trong hạt nhân giống nam châm của phức cảm. Các phức cảm có năng lượng và biểu hiện một loại spin (hệ vòng) điện tử của chúng, giống như các điện tử xoay quanh hạt nhân một nguyên tử. Khi bị kích thích bởi một tình huống hay một sự kiện, chúng làm bùng phát năng lượng và vượt qua các mức năng lượng cho đến khi xuất hiện trong ý thức. Năng lượng của chúng xuyên qua vỏ bọc của bản ngã - ý thức và tràn ngập nó, do đó làm cho bản ngã hoạt động theo cùng hướng với nó và giải phóng một lượng năng lượng cảm xúc đã được giải phóng trước đó do xung đột này. Khi điều này xảy ra, bản ngã hoàn toàn không kiểm soát được ý thức nữa và vì lí do này, cả cơ thể nữa. Người đó trở thành đối tượng của một sự giải tỏa năng lượng không chịu sự chi phối của bản ngã. Tất cả những gì bản ngã có thể làm, nếu nó đủ mạnh, là giữ lấy một lượng năng lượng nhất định của phức cảm và làm giảm đến tối thiểu các cơn bùng phát cảm xúc và cơ thể. Nhưng, ở một mức độ nào đó, chúng ta không phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho những gì chúng ta nói và làm khi bị chi phối bởi phức cảm. Dĩ nhiên, điều này không thể coi là một sự bảo vệ có hiệu quả trước tòa án luật pháp được. Thỉnh thoảng xã hội đòi hỏi một chuẩn mực cao hơn những gì mà tâm thần cho phép.
Sự phức tạp của tâm thần đã trở nên rõ ràng hơn. Trên thực tế, lí thuyết của Jung thỉnh thoảng được gọi là tâm lí học phức cảm (bên cạnh tên gọi thông thường hơn của nó, tâm lí học phân tích): tính phức tạp và khái niệm phức cảm đều là cơ bản cho quan điểm của ông về tâm thần. Tâm thần được tạo thành từ nhiều trung tâm và mỗi trung tâm đó đều có năng lượng và thậm chí cả ý thức và mục tiêu riêng của chúng.
Trong việc khái niệm hóa nhân cách này, bản ngã là một trong nhiều phức cảm. Môi phức cảm có một lượng năng lượng đặc thù của riêng nó. Khi chúng ta nói về năng lượng của bản ngã, chúng ta gọi đó là “ý chí tự do”. Nếu chúng ta muốn nói tới lượng năng lượng liên kết trong một phức cảm, chúng ta có thể nói về sức mạnh ma quỷ nội tâm của chúng ta. Đó là những lực cưỡng ép phi lí chi phối chúng ta và không nhiều thì ít khiến chúng ta thực hiện những gì nó muốn. Nhìn chung một phức cảm có thể tạo ra nhiều ảnh hưởng trong lĩnh vực ý thức, nhưng điều này không phải luôn luôn là vậy. Thỉnh thoảng những rối loạn xảy ra bên ngoài toàn thể tâm thần. Jung quan sát thấy rằng một phức cảm có thể ảnh hưởng tới những đối tượng và người khác ở thế giới xung quanh. Nó có thể hoạt động như một poltergeist hay một sự tác động tinh tế lên những người khác.
Jung có một quan sát thú vị khác về các phức cảm. Một người thỉnh thoảng có thể ngăn chặn những ảnh hưởng của sự kích thích và loại bỏ sự tụ hội một phức cảm: “những chủ thể với ý chí mạnh mẽ có thể, thông qua khả năng vận động - ngôn ngữ, ngăn chặn ý nghĩa của một từ kích thích bởi thời gian phản ứng ngắn khiến nó không thể xâm nhập chút nào vào họ, nhưng điều này chỉ có thể diễn ra khi những bí mật cá nhân thật sự quan trọng cần phải được bảo vệ”39. Điều này có nghĩa rằng con người có thể kiểm soát được những phản ứng vô thức của mình bằng cách loại bỏ các kích thích một cách cố ý. Để vượt qua trở ngại này trong tình huống làm thực nghiệm, Jung thiết lập một kĩ thuật mà sau này sẽ trở thành test phát hiện nói dối. Nó là một sự mở rộng xuất sắc của các thí nghiệm liên tưởng từ.
Bằng việc đo lường độ dẫn điện của da bằng một máy đo điện tâm lí, Jung chỉ ra rằng những biến đổi độ dẫn diện tương quan với các chỉ báo phức cảm. Nói theo cách khác, khi một người lừa dối hay cố gắng che giấu dấu hiệu phản ứng nạp tải phức cảm, bản ngã có thể che giấu một số những dấu hiệu chỉ báo này, nhưng nó cần phải có nhiều thời gian hơn để xoá bỏ một cách khó khăn những phản ứng sinh lí học tinh tế hơn. Khi đáp ứng với một từ kích thích phức cảm hay một câu hỏi, chủ thể sẽ ra mồ hôi ở lòng bàn tay hoặc bắt đầu run hoặc cảm thấy khô miệng. Bằng việc đo tính dẫn điện của da, Jung đưa ra một phương pháp tinh tế hơn để thu được các chỉ báo phức cảm. Bằng việc sử dụng thiết bị này, Jung đã giải quyết được một ca ăn trộm trong bệnh viện tâm thần40 của ông. Tất nhiên, phương pháp này không phải là không thể phạm sai lầm.
Phần lớn bản ngã của mọi người bình thường đều có thể hoá giải các ảnh hưởng của phức cảm ở một mức độ nào đó. Khả năng này có tác dụng cho việc thích nghi và thậm chí tồn tại. Điều này tương tự (hoặc có lẽ giống) khả năng phân li. Nếu một người không thể làm được điều này, bản ngã sẽ trở nên ngừng hoạt động vào thời điểm có một mối nguy hiểm lớn nhất đòi hỏi một người cần phải giữ một cái đầu lạnh. Trong đời sống chuyên môn, điều thiết yếu là phải gạt những phức cảm cá nhân ra một bên để tiếp tục công việc. Các nhà liệu pháp tâm lí phải có khả năng xếp sang bên những cảm xúc và những xung đột cá nhân của họ khi họ chữa trị bệnh nhân. Để luôn song hành cùng bệnh nhân - những người mà cuộc sống đang bị rối loạn, nhà liệu pháp tâm lí phải bình tĩnh ngay cả khi đây cũng có thể là một khoảnh khắc rối loạn trong chính cuộc đời của họ. Tất cả mọi nghề nghiệp đều đòi hỏi công việc phải được thực hiện bất chấp những gì diễn ra trong đời sống cá nhân. Như người ta nói, khi đã hiện diện trên sân khấu, buổi biểu diễn phải tiếp diễn. Điều này đòi hỏi khả năng vượt qua những tác động của phức cảm lên bản ngã - ý thức ít nhất cũng ở một mức độ nhất định. Khi bàn luận về khả năng chấp nhận lo âu của riêng mình cũng như các phản ứng của phức cảm, Jung nói tới bậc thầy về nghệ thuật này, nhà ngoại giao Talleyrand. Các nhà ngoại giao hoạt động trên sự chỉ dẫn từ những người đứng đầu nhà nước và sử dụng một cách tối thiểu ngôn từ biểu hiện cảm xúc hay sự yêu thích của họ. Họ đánh giá cao nghệ thuật nói sao cho có thể che giấu tình cảm và che giấu những chỉ báo phức cảm. Và họ có lợi thế trong việc không bị kiểm tra bởi máy đo điện tâm lí.
Các cấp độ của vô thức
Thông thường, người ta có thể coi các phức cảm là có tính “cá nhân”. Và đúng là nhiều phức cảm được sinh ra trong tiểu sử đặc biệt riêng của một người và hoàn toàn thuộc về cá nhân đó. Nhưng có những phức cảm gia đình và xã hội. Những phức cảm như vậy không thuộc về cá nhân như một căn bệnh thuộc về một cá nhân. Nó thuộc về tập thể và cá nhân chỉ “nắm bắt” lấy nó. Điều này có nghĩa là trong xã hội, nhiều người được gắn bó với nhau một cách tương tự nếu xét về mặt tâm lí. Con người trưởng thành trong những gia đình giống nhau, hoặc nhóm có huyết thống mở rộng hoặc những nền văn hóa truyền thống cùng chia sẻ nhiều cấu trúc vô thức chung này. Ngay cả trong một xã hội rộng lớn và phân tán như nước Mĩ, nhiều kinh nghiệm điển hình được chia sẻ trong toàn dân. Gần như tất cả mọi đứa trẻ đều bắt đầu trường học ở tuổi lên năm hoặc sáu, trải qua cùng những căng thẳng của các kì thi và sang chấn về thất bại và đau khổ, sau đó vượt qua nỗi sợ hãi để nộp đơn vào đại học nhằm có được một sự giáo dục tốt hơn hoặc đi làm. Tất cả những kinh nghiệm chung nằm trong tay những người có thẩm quyền trong chính quyền này tạo ra những mẫu hình tâm lí dựa trên xã hội thông qua hoạch định tinh tế của vô thức cá nhân. Những sang chấn chung tạo ra những phức cảm chung. Thỉnh thoảng chúng có tính thế hệ. Trước đây, mọi người thường nói về một “tinh thần suy thoái” đặc trưng của những người của thời đại những năm 1930 và chia sẻ những sang chấn của cuộc Đại khủng hoảng. Ngày nay chúng ta nói về “những cựu binh trong chiến tranh Việt Nam” và cho rằng tất cả những người tham dự vào cuộc chiến tranh cùng chia sẻ nhiều hay ít một kiểu hình thành phức cảm giống nhau từ những sang chấn phát sinh trong cuộc chiến tranh đó.
Ở đây chúng ta có thể nói về một lớp văn hóa của vô thức, hay một loại vô thức văn hóa41. Nó mang tính cá nhân theo nghĩa đó là những gì đạt được trong đời sống cá nhân, nhưng nó cũng còn có tính tập thể bởi vì nó được chia sẻ trong một nhóm. Vô thức, ở cấp độ này, được cấu trúc bởi những mẫu và thái độ văn hóa rộng hơn, và kết thúc bằng việc ảnh hưởng tới thái độ ý thức của cá nhân và các phức cảm đặc biệt hơn nhiều trong hệ thống những giả định văn hóa vô thức (Lớp vô thức văn hóa này khác với vô thức tập thể mà tôi sẽ nói đến trong chương 4).
Điều này đưa ra một câu hỏi thú vị về việc các phức cảm được hình thành như thế nào. Câu trả lời thông thường là do sang chấn. Nhưng cần phải đặt nó vào trong một bối cảnh xã hội rộng lớn hơn. Một số nghiên cứu của Jung về liên tưởng từ hướng vào vấn đề ảnh hưởng của gia đình lên sự hình thành những nội dung vô thức ở trẻ. Thông qua các test liên tưởng từ này, ông tìm thấy những bằng chứng mạnh mẽ về những hình thức tương tự đáng kinh ngạc trong việc hình thành phức cảm trong các thành viên gia đình - giữa mẹ và con gái, cha và con trai, và mẹ và con trai... Trong số những kết hợp này, sự gần gũi nhất là giữa mẹ và con gái. Những đáp ứng của họ đối với những từ kích thích thể hiện những lo âu và xung đột gần như giống nhau. Từ đó Jung kết luận rằng vô thức được định hình một cách quan trọng bởi những liên hệ gần gũi trong môi trường gia đình. Tuy nhiên nó diễn ra chính xác như thế nào thì lại không thấy rõ trong tác phẩm của ông. Liệu có phải do sự truyền phát? Liệu có phải do sự lặp lại những sang chấn tương tự xuyên qua nhiều thế hệ? Không có câu trả lời ở đây.
Sau này, trong quá trình phát triển của trẻ, những cấu trúc tâm thần ban đầu này được biến đổi đáng kế’ do sự tiếp xúc với văn hóa rộng lớn hơn. Sự tiếp xúc liên tục của tâm thần trước những kích thích văn hóa và xã hội, từ ti vi cho đến trường học, trở thành một nhân tố trong những giai đoạn niên thiếu sau này, và điều đó làm giảm ảnh hưởng tâm lí của các văn hóa gia đình và chủng tộc, ít nhất cũng ở trong một xã hội đa nguyên như Mĩ. Khi các nhóm đồng đẳng trở thành trung tâm, nó tạo ra những nhân tố cấu trúc quan trọng mới, tuy nhiên phần lớn trong số đó dựa trên những chuẩn mực văn hóa chung sẵn có. Nhưng những phức cảm do gia đình tạo ra buổi đầu không biến mất khỏi tâm thần. Những phức cảm người cha và người mẹ tiếp tục chi phối những gì diễn ra trong vô thức cá nhân42. Chúng là những tác nhân vô cùng to lớn.
Những hình ảnh tâm thần
Để hiểu được cấu trúc cơ bản của phức cảm, cần phải phân chia nó thành nhiều phần. “Do đó, xét về mặt khoa học, cái gì sẽ là một “phức cảm”?”, Jung tự hỏi. “Đây là hình ảnh của một tình huống tâm thần nhất định chất đầy yếu tố cảm xúc và hơn thế nữa, không tương thích với thái độ ý thức thông thường”43. Trong câu này, “hình ảnh” là một từ khóa. Nó là một thuật ngữ cực kì quan trọng với Jung. Hình ảnh xác định bản chất của tâm thần. Thỉnh thoảng Jung sử dụng từ Latin imago thay vì từ image (hình ảnh) để nói tới một phức cảm. “Imago người mẹ” là phức cảm người mẹ, khác với người mẹ thực. Vấn đề ở đây là phức cảm là một hình ảnh và như vậy xét về bản chất, nó thuộc về thế giới chủ quan; nó được tạo thành từ tâm thần thuần túy, mặc dù nó cũng phản ánh cho một con người thực sự, một kinh nghiệm, hay một tình huống. Không thể nhầm lẫn nó với thực tế khách quan - những con người thực khác hay những cơ thể vật chất khác. Phức cảm là một đối tượng nội tâm, và tại hạt nhân của nó là một hình ảnh.
Thật đáng ngạc nhiên là có nhiều sự tương tự giữa một hình ảnh tâm thần và hiện thực bên ngoài, ngay cả khi không có khả năng là tâm thần bị in dấu bởi nó hay lưu giữ nó từ kinh nghiệm. Konrad Lorenz, một nhà tập tính học động vật nổi tiếng, nghiên cứu những đáp ứng phản xạ bẩm sinh ở một số loài vật phản ứng lại những kích thích đặc hiệu. Ví dụ, các con gà chưa bao giờ gặp phải những con diều hâu vẫn biết chạy tìm nơi ẩn nấp khi một con diều hâu bay qua đầu và bóng nó xuất hiện trên mặt đất. Sử dụng những thiết bị mắc trên dây cao đu đưa và tạo ra những cái bóng tương tự bóng diều hâu, các nhà tập tính học đã chỉ ra rằng những con gà không được tập luyện trước, khi nhìn thấy bóng vẫn chạy tìm nơi trú ẩn. Sự đáp ứng phòng vệ với một con vật săn mồi đã có sẵn trong con gà và hình ảnh của con vật săn mồi là mang tính bẩm sinh và được nhận biết mà không cần phải học.
Các phức cảm hoạt động theo một cách tương tự, chỉ có điều là ở con người chúng chỉ có tính bản năng một phần chứ không hoàn toàn là bản năng. Chúng hoạt động giống như các bản năng bằng cách tạo ra những phản ứng tự phát đối với những tình huống hoặc con người cụ thể, nhưng chúng không chỉ có tính bẩm sinh thuần túy giống như các bản năng. Phần lớn chúng là những sản phẩm của kinh nghiệm - sang chấn, những tương tác và các kiểu gia đình, sự quy định của văn hóa. Chúng được kết hợp với một số yếu tố bẩm sinh mà Jung gọi là những hình ảnh cổ mẫu, để tạo nên một phức cảm toàn diện. Những phức cảm là những gì còn lại trong tâm thần sau khi nó đã hấp thu kinh nghiệm và tái cấu trúc thành những đối tượng bên trong. Ở con người, các phức cảm hoạt động giống như những bản năng ở các loài có vú khác. Những hình ảnh hay những phức cảm, theo một cách nói nào đó, kiến tạo những bản năng của con người.
Những giấc mơ được tạo dựng từ những hình ảnh vô thức này - những phức cảm. Jung diễn thuyết ở nhiều nơi về các phức cảm như là những cấu trúc của các giấc mơ. Qua một thời gian nhất định, những giấc mơ biểu hiện những hình ảnh, hình thức, sự lặp lại và những chủ đề cho chúng ta một bức tranh về các phức cảm của một người sẽ như thế nào.
“Hình ảnh này có một sự cố kết nội tâm rất mạnh, nó có tính tổng thể của nó và, ngoài ra, một mức độ tự trị tương đối cao đến mức nó chỉ chịu sự chi phối của tâm thần ý thức trong một phạm vi nhất định, và do đó xử sự như một con người xa lạ đầy sức mạnh trong phạm vi ý thức”44. Mỗi một đặc điểm này của hình ảnh - tính có kết nội tâm, tính tổng thể, và tính tự trị - là những khía cạnh quan trọng trong định nghĩa của Jung về phức cảm. Một phức cảm có sự bền vững về tâm thần của nó; nó có tính ổn định và kéo dài trong thời gian. Tồn tại trong không gian của riêng mình mà không có sự can thiệp của ý thức và thách thức của bản ngã ý thức, một phức cảm có xu hướng không biến đổi nhiều. Chúng ta có thể quan sát thấy điều này trong sự lặp lại của những hình thức tương tự nhau của phản ứng và giải tỏa cảm xúc, những lỗi lầm giống nhau, những lựa chọn không may giống nhau lặp đi lặp lại trong đời sống của một người.
Việc phân tích có nhiệm vụ phát hiện các phức cảm và đưa chúng ra trước sự suy nghĩ có ý thức của bản ngã. Sự can thiệp này có thể biến đổi chúng đôi chút. Trong phân tích, một người sẽ hiểu được các phức cảm hoạt động như thế nào, những gì gây ra sự kích hoạt chúng và những gì có thể ngăn cản sự lặp lại vô tận của chúng. Không có sự can thiệp như vậy của bản ngã, một phức cảm sẽ hành xử như một con người xa lạ đầy sức mạnh hoặc một sự lây truyền. Khi bị chi phối bởi một phức cảm, con người có xu hướng cảm thấy vô vọng và không kiểm soát được cảm xúc.
Nhìn chung, những tác động tâm lí của sự kích hoạt các phức cảm tồn tại trong một thời gian dài sau khi kích thích đã không còn ảnh hưởng tới tâm thần. “Những khảo sát thực nghiệm nhất định dường như chỉ ra rằng biểu đồ cường độ hay hoạt động của phức cảm có đặc điểm dạng sóng với một bước sóng là nhiều giờ, nhiều ngày hay nhiều tuần”45. Kích thích làm cho phức cảm hoạt động có thể nhẹ hay lớn, trong một thời gian dài hay ngắn, nhưng tác động của nó lên tâm thần có thể tiếp diễn trong một giai đoạn dài và có thể xuất hiện trong ý thức dưới dạng những đợt sóng xúc cảm hay lo âu. Một trong những dấu hiệu của một liệu pháp tâm lí có hiệu quả là làm cho những rối loạn gây ra bởi phức cảm tồn tại trong một thời gian ngắn hơn trước đó. Một sự phục hói nhanh chóng khỏi những rối loạn gây ra bởi phức cảm cho thấy sức mạnh tăng lên của bản ngã và sự hòa nhập những nội dung tâm thần, cũng như sức mạnh bị suy giảm trong các phức cảm. Một thời gian tồn tại ngắn hơn cũng có nghĩa là sức mạnh của phức cảm đã bị làm yếu đi. Tuy thế, phải thừa nhận rằng một phức cảm có thể không bao giờ bị loại bỏ hoàn toàn. Những tác động dạng sóng của phức cảm “sau shock” đang cạn kiệt và mất dần. Sự loại bỏ một phức cảm đầy sức mạnh có thể đòi hỏi một khối lượng lớn năng lượng tâm thần và thể chất.
Những mảnh của nhân cách
Các phức cảm cũng có thể được nghĩ đến như là những phần nhân cách hay các tiểu nhân cách. Nhân cách của mỗi người lớn khá dễ bị tan rã vì chúng được cấu thành từ những phần nhân cách nhỏ và rộng lớn hơn. Chúng có thể không còn gắn bó được với nhau nữa. “Các phát hiện của tôi về các phức cảm đã cho thấy một bức tranh không yên bình lắm về những khả năng của sự phân rã tâm thần, vì về cơ bản không có sự khác biệt trên nguyên tắc giữa một nhân cách phân chia và một phức cảm. Chúng có tất cả những đặc điểm căn bản chung, cho đến khi chúng ta đi tới một vấn đề tinh tế về ý thức bị phân chia. Những phần nhân cách đó không nghi ngờ gì là có ý thức của riêng chúng, nhưng vấn đề là những phần nhân cách tâm thần nhỏ là các phức cảm có thể có một ý thức hay không là một vấn đề còn bỏ ngỏ”46. Ở đây Jung nêu lên một vấn đề hết sức tinh tế và quan trọng về sự khác nhau giữa sự phân li bình thường, những rối loạn phân li nặng hơn nhiều và rối loạn đa nhân cách.
Mọi người đều có thể và đôi khi thực hiện sự phân li, theo nghĩa trải qua những trạng thái biến đổi nhẹ của ý thức hoặc hoàn toàn phân li khỏi những kinh nghiệm sang chấn để có thể tiếp tục hoạt động. Bị “nắm bắt” bởi phức cảm trạng thái cũng chính là một phân li. Bản ngã ý thức trở nên rối loạn và tùy thuộc vào mức độ rối loạn, có thể rơi vào trạng thái mất phương hướng và lẫn lộn. Bởi vì các phức cảm có một ý thức theo ý nó nên khi một người bị “nắm bắt” bởi phức cảm sẽ ở vào trạng thái bị chi phối bởi một nhân cách xa lạ. Trong bệnh rối loạn đa nhân cách, những trạng thái khác nhau của ý thức này không kết hợp lại được bằng một ý thức thống nhất, trong khi mỗi phức cảm khác lại có một bản ngã của chính nó và hoạt động tương đối độc lập. Mỗi phức cảm có tính xác định riêng và thậm chí một kiểu kiểm soát những chức năng của cơ thể riêng. Một số nghiên cứu về rối loạn đa nhân cách đã chỉ ra những gắn bó tâm thể đáng ngạc nhiên trong mỗi một nhân cách đến mức mà mỗi nhân cách có những khả năng hay khó khăn sinh học không có ở nhân cách khác. Một nhân cách có thể dị ứng với khói thuốc, còn nhân cách kia lại là một con người nghiện ngập thuốc lá.
Bệnh đa nhân cách biểu hiện một hình thức cực đoan của phân li nhân cách. Những quá trình hội nhập hoạt động bình thường trong tâm thần bị cản trở bởi chấn động thời bé (thường là tình dục). Nhưng ở một mức độ thấp hơn, tất cả mọi người đều có nhiều nhân cách bởi vì tất cả đều có các phức cảm. Sự khác biệt ở chỗ các phức cảm, theo quy luật là phụ thuộc vào một bản ngã thống - hợp (intergrated ego), và bản ngã ý thức được duy trì khi một phức cảm được hội tụ. Nhìn chung, các phức cảm có ít năng lượng hơn bản ngã và có ít ý thức riêng hơn. Trái lại, bản ngã có năng lượng đáng kể, có thể thực hiện được theo ý nó và nó là trung tâm tiên phát của ý thức.
Trong khi bản ngã chịu trách nhiệm cho hầu hết những điều mà chúng ta gọi là động cơ và mục đích, các phức cảm khác dường như cũng có một mục đích và ý chí riêng. Thông thường nó xung đột với những gì mà tổ hợp bản ngã muốn tại một thời điểm cụ thể. Jung mô tả các phức cảm như là “những diễn viên trong các giấc mơ, những người mà chúng ta bất lực khi đương đầu; chúng là những yêu tinh đặc trưng trong truyện dẫn gian Đan Mạch theo câu chuyện về một giáo sĩ người tìm cách thuyết giảng những lời cầu nguyện của Chúa cho hai con yêu tinh. Cả hai cảm thấy đau đớn vô cùng khi lặp lại lời chính xác theo vị giáo sĩ, và ở câu cuối cùng, chúng không thể tránh khỏi việc thốt lên “Chúa của chúng ta không ở trên thiên đường”. Và từ cơ sở lí thuyết chúng ta có thể thấy được rằng những phức cảm tinh tế này không thể truyền dạy được”47. Tính đạo lí mà câu chuyện này chính là các phức cảm không thể bị bắt làm những gì mà bản ngã muốn chúng phải làm. Chúng giống như những hình ảnh kí ức bị đóng băng của những kinh nghiệm sang chấn. Và chúng không chỉ được trải nghiệm trong các giấc mơ mà còn trong cuộc sống hằng ngày, và ở đó chúng cũng làm cho bản ngã cảm thấy bất lực.
Cấu trúc của phức cảm
Xem xét sâu hơn về cấu trúc của phức cảm, Jung mô tả chúng như là được tạo dựng từ những hình ảnh liên tưởng và những kí ức bị đóng băng của những thời điểm sang chấn được chôn sâu trong vô thức và khó được phục hồi bởi bản ngã. Chúng là những kí ức bị dồn nén. Những gì làm cho nhiều yếu tố liên tưởng của phức cảm gắn bó và kết hợp với nhau chính là cảm xúc. Đó là chất keo. Hơn thế nữa, “nội dung mang sắc thái cảm xúc, các phức cảm, bao gồm một yếu tố hạt nhân và một số lớn những liên tưởng hội tụ thứ phát xung quanh”48. Yếu tố cơ bản này là hình ảnh cốt lõi và kinh nghiệm mà từ đó phức cảm được tạo dựng - kí ức đóng băng. Nhưng cái lõi này hóa ra lại bao gồm hai phần: một hình ảnh hay dấu vết tâm thần của chấn động sản sinh và một phần bẩm sinh (cổ mẫu) gắn bó chặt chẽ với nó. Cái hạt nhân kép này của phức cảm phát triển bởi việc tập hợp những liên tưởng xung quanh nó, và điều này có thể diễn ra trong suốt cả một đời người. Chẳng hạn, nếu một người đàn ông làm cho một người phụ nữ hồi tưởng lại sự lạm dụng, khắc nghiệt của người cha mình bởi tiếng nói, bởi cách mà anh ta phản ứng trước cuộc sống, bởi cường độ đáp ứng xúc cảm của anh ta v.v. Chắc chắn anh ta sẽ làm kích hoạt phức cảm người cha của cô gái. Nếu cô gái tương tác với chàng trai trong một giai đoạn, các nội dung mới sẽ được thêm vào phức cảm đó. Nếu anh ta lạm dụng cô gái, phức cảm người cha tiêu cực sẽ mạnh thêm và nhiều năng lượng hơn, và cô gái sẽ trở nên phản ứng nhiều hơn trong những tình huống mà phức cảm người cha được kích hoạt. Dần dần, cô có thể tránh những người đàn ông như vậy hoàn toàn, hoặc ngược lại, cô sẽ thấy mình bị thu hút một cách phi lí tới họ. Trong cả hai trường hợp, cuộc sống của cô gái trở nên ngày càng bị hạn chế bởi phức cảm này. Các phức cảm càng mạnh hơn, chúng càng hạn chế phạm vi tự do lựa chọn của bản ngã.
Việc các phức cảm có thể bị biến đổi bởi kinh nghiệm sau này dĩ nhiên là mang lại lợi ích cho cá nhân, và khả năng chữa trị của liệu pháp tâm lí phụ thuộc vào điều này. Liệu pháp tâm lí là một hình thức phá vỡ những hình ảnh kí ức đã kết dính. Nó có thể tái cấu trúc nhân cách ở một mức độ nào đó bởi vì chuyển dịch cho phép nhà liệu pháp tâm lí thay thế cho (trong số những hình ảnh tâm thần khác của tâm thần) cha mẹ, bao gồm cả cha lẫn mẹ, ở những giai đoạn khác nhau của việc điều trị. Khi một phức cảm cha mẹ được kích hoạt bởi một nhà phân tích, kinh nghiệm của bệnh nhân về một hình ảnh cha mẹ khác sẽ bó sung cho phức cảm cũ này và tạo ra một lớp vỏ mới cho nó. Cấu trúc mới này không hoàn toàn thay thế cấu trúc cũ, nhưng nó biến đổi cấu trúc cũ một cách quan trọng, đến mức mà phức cảm không còn hạn chế đời sống của một người trong tình trạng bất lực. Sự khắc nghiệt của hình ảnh cha mẹ bạo hành có thể được làm giảm nhẹ đi - hoặc bị phá vỡ - hoặc bù đắp bởi những cấu trúc mới.
Một phần khác của hạt nhân phức cảm là “một nhân tố bẩm sinh trong nhân cách cá nhân và được quyết định bởi khuynh hướng của anh ta”(20). Phần đó chính là cổ mẫu. Chẳng hạn, trong trường hợp những phức cảm cha mẹ, nó là hình ảnh cổ mẫu về một người Mẹ hay Cha, một hình ảnh không bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân mà từ vô thức tập thể. Những yếu tố cổ mẫu trong nhân cách con người là những khuynh hướng bẩm sinh để phản ứng, ứng xử, và tương tác theo những cách thức điển hình và có thể dự đoán được. Nó tương tự như cơ chế giải phóng bẩm sinh ở các loài vật. Chúng được di truyền chứ không phải đạt được và chúng thuộc về mỗi một người từ khi sinh ra. Chúng là những gì làm cho chúng ta là những con người duy nhất và đặc trưng. Không chỉ cơ thể mà còn cả linh hồn - tâm thần - là những gì đặc trưng của con người và tạo ra những tiền đề cho tất cả kinh nghiệm, sự phát triển và giáo dục sau này. Tôi sẽ mở rộng lí thuyết về các cổ mẫu của Jung trong những chương sau. Còn bây giờ đủ để nhận ra rằng những yếu tố cổ mẫu của tâm thần được trải qua trong đời sống hằng ngày thông qua kinh nghiệm của các phức cảm.
Nói chung các phức cảm được tạo ra bởi các sang chấn. Trước sang chấn, phần cổ mẫu tồn tại như một hình ảnh và một lực thúc đẩy nhưng không có những phẩm chất gây ra lo âu hay quấy rối như phức cảm. Sang chấn tạo ra một hình ảnh kí ức đầy cảm xúc gắn với một hình ảnh cổ mẫu và chúng cùng nhau đông kết thành một cấu trúc ít nhiều bền vững. Cấu trúc này bao gồm một lượng năng lượng đặc thù, và cùng với nó, cấu trúc này có thể gắn với những hình ảnh liên tưởng khác để tạo ra một mạng lưới. Do đó, một phức cảm trở nên phong phú và được mở rộng bởi những kinh nghiệm sau này về một loại tương tự. Nhưng không phải tất cả những sang chấn đều là từ bên ngoài hoặc bị tạo ra do những sự xung đột có tính phá hoại với môi trường bên ngoài. Có những sang chấn phần lớn xảy ra bên trong đời sống tâm thần cá nhân. Jung chỉ ra rằng các phức cảm cũng có thể được tạo ra hoặc bổ sung bởi một “xung đột đạo đức, mà xét một cách tuyệt đối thì bắt nguồn từ sự bất lực rõ ràng trong việc khẳng định tính tổng thể của bản chất một người”49. Những thái độ đạo đức liên tục biến đổi trong xã hội khiến chúng ta khó có thể khẳng định được hoàn toàn tính tổng thể của mình trong nhiều hoàn cảnh. Chúng ta buộc phải phủ nhận nhiều cảm xúc chân thực của mình và kiềm chế trải qua chúng để có thể hòa nhập hoặc, đôi khi, để tồn tại được. Thực hiện nhiều biến đổi xã hội như vậy vì lợi ích của sự thích nghi tạo ra một chiếc mặt nạ xã hội, một “persona”, loại bỏ những phần quan trọng nhất của bản thân. Nhìn chung, mọi người thích được tồn tại trong các nhóm xã hội và những ai công khai nói ra suy nghĩ riêng của mình hoặc không tuân thủ những chuẩn mực xã hội có xu hướng bị đào thải hoặc bỏ rơi. Nghịch lí xã hội này đẩy con người vào cái mà Jung gọi là một xung đột đạo đức. Ở cấp độ sâu nhất, sự cưỡng chế này là trở thành một tổng thể. Bản chất con người chống lại những sự khắc nghiệt của xã hội và văn hóa nếu họ bị ngăn cản quá nhiều những động cơ bẩm sinh hướng tới cái tổng thể này và đây là nguồn gốc sâu xa hơn của các phức cảm.
Đây là vấn đề mà Freud đã gặp phải ở Vienna, một xã hội bị chính thức ngăn cản về tình dục nhưng cũng lại hoàn toàn đạo đức giả về những chuẩn mực tình dục của nó. Freud đã chứng tỏ những xung đột xoay quanh tình dục đã trở nên bám rễ trong những mô hình tâm lí và gây ra những chứng nhiễu tâm thế nào. Tình dục, được gắn vào cấu trúc bẩm sinh của con người, trở nên không tương thích về mặt xã hội và do đó bị tách khỏi ý thức và bị dồn nén. Chúng tạo ra một phức cảm tình dục mà các sang chấn có liên hệ xoay quanh. Xét về bản chất thì những gì tạo ra sự dồn nén tình dục như nguồn bệnh lí học chính là sự cưỡng chế cương quyết của cơ thể con người đạt được tính tổng thể bẩm sinh của nó, bao gồm cả tình dục bị ngăn cấm. Không phải là xung đột giữa cá nhân và xã hội xét tự thân đã gây ra vấn đề nhiễu tâm như quan niệm của Freud mà xung đột đạo đức nảy sinh trong tâm thần muốn phủ nhận chính nó về một mặt còn mặt kia lại muốn tự khẳng định mình.
Sự xuất hiện của các phức cảm
Các phức cảm có khả năng xuất hiện đường đột và xâm nhập tự phát vào ý thức rồi nắm quyền kiểm soát các chức năng của bản ngã. Những gì ban đầu xuất hiện dường như hoàn toàn tự phát lại có thể không hoàn toàn phải vậy. Thường thì có những kích thích tinh tế có thể được phát hiện thấy nếu chúng ta xem xét cẩn thận quá khứ gần đây. Chẳng hạn, chứng trầm cảm tâm can có vẻ như là nội sinh cho đến khi người ta phát hiện được sựxúc phạm nhỏ đã làm nó xuất hiện. Khi bản ngã bị chi phối dưới hình thức này, nó được đồng hóa vào phức cảm, và những mục đích của phức cảm và kết quả là những gì chúng ta gọi là “manh động”. Người đang manh động thường không nhận thức được những gì đang diễn ra. Đơn giản họ chỉ “rơi vào cảm xúc đó”, và hành vi dường như không hài hòa với bản ngã. Đó là bản chất của sự chi phối: bản ngã bị lừa dối bởi suy nghĩ rằng nó đang tự do thể hiện mình. Chỉ sự hồi tưởng lại mới khiến một người nhận ra rằng “có cái gì đã xâm nhập vào tôi và khiến tôi làm vậy. Tôi không biết rằng tôi đang làm cái gì”. Nếu một người khác cố gắng chỉ ra rằng một người đang đóng vai một nhân vật, đáp ứng thông thường sẽ là trạng thái phòng vệ giận dữ. Một người trong trạng thái ám ảnh chi phối không thích nhận những phản hồi một cách thân thiện. Jung nói rằng trong thời Trung Cổ sự đồng nhất với một phức cảm “mang một cái tên khác; nó được gọi là “ma ám”. Có lẽ không ai lại có thể tưởng tượng được trạng thái này là đặc biệt vô hại và trong đó không có sự phân biệt trên nguyên tắc giữa sự lỡ lời do một phức cảm gây ra và những báng bổ ghê gớm nhất”50. Sự khác biệt này là mức độ. Có những mức độ chi phối khác nhau, từ tạm thời và nhẹ đến loạn tâm và mãn tính. Những gì mà chúng ta nhìn thấy trong sự ám ảnh là sự trở nên rõ rệt của những đặc điểm của nhân cách thường không phải là một phần của đặc trưng và phong thái của cái ngã. Những đặc điểm chưa biết này đã được tồn tại trong vô thức trong một giai đoạn và thình lình bản ngã bị chế ngự bởi cực đối lập nội tâm này. Và người đó bây giờ bị ám bởi một con “quỷ” bên trong và nguyền rủa những điều mà trước đó ý thức của anh ta đã hết sức tôn sùng.
Những người mắc hội chứng Tourette thể hiện điều này rõ ràng và một cách triền miên. Với một người may mắn có được một tâm lí bình thường, những nhân cách phân tách này thể hiện chúng theo nhiều cách tinh tế hơn nhiều, một số rất nhẹ đến mức không thể phát hiện ra được - như sự lỡ lời, sự quên. Trong một giờ đồng hồ một người có thể trải qua nhiều trạng thái khác nhau của ý thức, những cảm xúc, các tiểu nhân cách, và hiếm khi nhận ra sự thay đổi này. Một cách tinh tế, chúng chuyển thành những hình thức lớn hơn nhiều khi chúng ta gặp phải trạng thái bị chi phối thực sự. Sự chi phối có một đặc điểm khác biệt và cực đoan hơn nhiều. Nó khó có thể quên được và thậm chí thường có những đặc điểm của một kiểu tính cách đặc hiệu. Một phức cảm “người cứu hộ” chẳng hạn, được phát triển chủ yếu từ những kinh nghiệm đau đớn về sự bị bỏ rơi trong thời trẻ con, và sau đó thể hiện qua hành vi thực hiện lòng tốt và giúp đỡ. Tuy vậy, những đặc điểm này không thuộc về bản ngã dưới hình thức hòa nhập mà chúng có xu hướng lúc tăng lúc giảm bởi vì chúng có gốc rễ trong một phức cảm tự trị mà bản ngã ít kiểm soát được. Đó là những người không thể kiềm chế được sự giúp đỡ người khác bất chấp sự nguy hiểm mà họ có thể gặp phải cho mình hay những người khác như thế nào. Hành vi này thực sự bị kiểm soát bởi một phức cảm và do đó không nằm dưới sự kiểm soát của bản ngã. Nó cũng có xu hướng dao động khá tùy tiện. Có những sự bất ổn đột ngột không thể dự đoán hay giải thích được. Thỉnh thoảng một người trở nên quá trầm tư và quan tâm tới người khác, và thỉnh thoảng lại thô bạo, bàng quan, hoặc thậm chí ngược đãi họ. Những phần tâm thần bị phân li khác (các phức cảm) xung đột với nhau trong việc tìm kiếm sự bảo trợ của bản ngã. Khi một bản ngã có xu hướng bị chi phối từ bỏ sự đồng nhất với một phức cảm, nó chuyển sang một phức cảm khác. Phức cảm này thường là một hình bóng của phức cảm trước. Một phức cảm “giống Chúa cứu thế” với những đặc điểm tâm linh, hướng về chỗ cao thượng, ban cho, vị tha được gắn chặt với một phức cảm giống Ma quỷ với một thái độ duy vật chủ nghĩa và cá nhân. Cả hai đều có thể thay thế trong việc giành quyền kiểm soát bản ngã, giống như Jekyll và Hyde. Một phức cảm sẽ hoạt động như cái mặt nạ chính thức trọng nhiều hoàn cảnh xã hội công khai còn phức cảm kia sẽ chi phối nhân cách ý thức trong hoàn cảnh thầm kín và riêng tư. Bản ngã này dễ bị tổn thương trước cái mà Jung gọi là “enantiodromia”, một sự đảo ngược sang mặt đối lập.
Các phức cảm là những đối tượng của thế giới bên trong. “Chính chúng là nơi mà niềm vui hay nỗi buồn của đời sống cá nhân của một người dựa vào. Chúng là những lares và penates [những vị thần trong gia đình] đợi chúng ta bên những chiếc lò sưởi, và sẽ là nguy hiểm nếu ca tụng sự bình yên này của họ”51. Những vị thần đó không thể bị coi nhẹ.