Tôi cảm thấy thật hấp dẫn khi bắt đầu chương về tự ngã của cuốn sách này, bởi vì đây là đặc trưng cơ bản nhất của toàn bộ quan điểm của Jung. Nó là trọng tấm của lí thuyết tâm lí học của ông, và về một số mặt nào đó chính là cái phân tách ông khỏi các nhà tâm lí học chiều sâu và phân tâm học khác nhiều nhất. Một điểm đáng lưu ý là lí thuyết phân tâm học đã biến đổi đáng kể theo hướng của Jung trong hơn nửa thế kỉ qua nhưng chỉ có rất ít nhà phân tâm học dám mạnh bạo trong việc tìm hiểu về khái niệm tự ngã trong lí thuyết của họ như Jung. Trong khi nhiều tác giả khác ngày nay sử dụng thuật ngữ tự ngã trong những nghiên cứu lâm sàng và các quan điểm lí thuyết của họ thì không ai lại đề cập đến phạm vi mà Jung đang cố gắng nắm bắt với khái niệm thuật ngữ này. Tuy vậy, lúc ban đầu lí thuyết của Jung về tự ngã bị hiểu sai xét về cả mặt lịch sử lẫn khái niệm. Đây không chỉ là đặc điểm cơ bản nhất của lí thuyết của ông, mà còn là nền tảng cơ bản. Do đó, cần có sự chuẩn bị để nắm bắt được phạm vi rộng lớn và tầm quan trọng của nó.
Đối với Jung, tự ngã có tính siêu việt, điều đó có nghĩa rằng nó không được xác định hay nằm trong phạm vi lĩnh vực tâm thần mà nằm bên ngoài tâm thần và, theo một nghĩa quan trọng, xác định nó. Chính điểm này về tính siêu việt của tự ngã đã làm cho lí thuyết của Jung khác với những lí thuyết khác của những lí thuyết gia về tự ngã khác như Kohut. Đối với Jung, một cách thật nghịch lí, tự ngã không phải là chính nó. Nó vượt xa tính chủ quan của một người và bản chất của nó nằm ngoài phạm vi chủ quan. Tự ngã tạo dựng cơ sở cho sự tương đồng giữa chủ thể và thế giới, với những cấu trúc của Tồn Tại. Trong tự ngã, chủ thể và khách thể, bản ngã và những cái khác nó được gắn kết trong một lĩnh vực chung của cấu trúc và năng lượng. Đây là điểm tôi hi vọng sẽ trở nên quan trọng nhất của những gì sẽ được đề cập trong chương này.
Việc sử dụng thông thường từ “self” trong tiếng Anh tạo ra khó khăn cho việc đánh giá những gì Jung phát hiện trong lí thuyết của ông. Được sử dụng trong ngôn ngữ hằng ngày, self tương đương với ego. Khi chúng ta nói một ai đó là cá nhân (selfish), chúng ta muốn nói tới việc họ ích kỉ (egotistical) hay ái kỷ. Nhưng trong từ vựng của Jung, self (tự ngã) có nghĩa ngược lại. Nói rằng một ai đó hướng về tự ngã tức là nói rằng họ không ích kỉ hay ái kỷ, mà hơi có tính triết học một chút, hàm ý rằng họ có một cái nhìn rộng mở và không có phản ứng mang tính cá nhân và dễ dàng phá bỏ sự cân bằng. Khi bản ngã được liên kết tốt với tự ngã, con người sẽ ở trong một mối quan hệ với một trung tâm siêu việt và hoàn toàn không đắm mình một cách vị kỉ vào những mục tiêu thiền cận và những thành quả ngắn hạn. Ở những người như vậy có một phẩm chất phi bản ngã, dường như họ đang hướng theo một thực tế rộng hơn và sâu hơn những mối quan tâm cá nhân, lí trí, thực tế điển hình của bản ngã ý thức.
Kinh nghiệm của Jung về tự ngã
Trước khi bắt đầu thảo luận về Aion, tác phẩm trung tâm của lí thuyết về tự ngã của Jung, tôi nghĩ sẽ là hữu ích nếu mang đến cho độc giả một ấn tượng về những kinh nghiệm độc đáo của Jung đã đưa ông tới giả định sự tồn tại của tự ngã. Việc xây dựng lí thuyết sau này của ông bắt nguồn từ kinh nghiệm đó.
Ghi chép của chính Jung về kinh nghiệm quan trọng đầu tiên của ông về tự ngã nằm trong giai đoạn từ 1916 đến 1918. Trong giai đoạn khó khăn này trong cuộc đời mình, ông đã có phát hiện lớn là cuối cùng thì tâm thần cũng được dựa trên một cấu trúc cơ bản và cấu trúc này có thể chống lại những cú sốc của sự bỏ rơi và phản bội đe dọa phá vỡ sự ổn định tâm thần và sự cân bằng cảm xúc của một người. Đây là việc phát hiện ra một hình mẫu vô thức rộng và sâu về sự thống nhất và tổng thể tâm lí.
Với Jung, kinh nghiệm về tự ngã - những gì phi cá nhân nhất trong tất cả các cổ mẫu - có một đặc điểm hết sức ẩn tượng. Nó xuất hiện từ chính cuộc đầu tranh và xung đột nội tâm của ông và bao trùm một thời kì mà thường làm Jung tự hỏi rằng liệu ông có đang mất phương hướng trong sự chao đảo tâm thần không. Lúc đó ông không có bản đồ để tham khảo khi phải mò mầm qua một vùng đất hoang đầy bụi rậm những kí ức, cảm xúc, ý tưởng hình ảnh, hỗn độn. Trong tự truyện, ông gọi thời kì này là “đương đầu với vô thức”151. Đồng thời với những phát hiện lớn của mình, Jung đã rơi vào cuộc khủng hoảng thời trung niên. Lúc đó là vào khoảng 41 tuổi và ông đã chấm dứt quan hệ với Freud khoảng năm năm trước và sau đó phải chịu đựng những rối loạn cảm xúc và bất ổn nghề nghiệp mà từ đó ông đang dần dần hồi phục lại. Ông nói tới giai đoạn đầu tiên của cuộc khủng hoảng trung niên (1913-1916) là thời điểm ông phát hiện ra thế giới nội tâm, anima, và sự đa dạng của những hình ảnh và huyễn tưởng vô thức. Trong những năm tháng thăm dò thế giới nội tâm này, Jung ghi chép lại những giấc mơ, huyễn tưởng và những kinh nghiệm quan trọng khác trong một tài liệu tỉ mỉ và có ảnh minh họa được gọi là “Sách đỏ”. Trong khi cố gắng phân loại những hình ảnh và cảm xúc đã từng bùng phát trong mình từ vô thức, ông cũng cố gắng tìm hiểu chúng gắn bó với nhau như thế nào và có ý nghĩa gì. Ông đã sử dụng những phương pháp như thực hành thở yoga để duy trì sự cân bằng cảm xúc. Khi cảm xúc đe dọa phá vỡ sự cân bằng và sức khỏe tâm thần, ông sử dụng thiền, liệu pháp vui chơi, tưởng tượng tích cực và vẽ tranh để bình tĩnh lại. Tự là bác sĩ điều trị tâm lí cho chính mình, ông sử dụng những kĩ thuật (mà về sau được ông sử dụng với các bệnh nhân) nhằm duy trì sự ổn định của bản ngã ý thức của mình giữa sự tràn ngập của các nội dung đến từ vô thức.
Lúc đó khi tiếp tục quan sát, lắng nghe và ghi chép những kinh nghiệm nội tâm, Jung đã vươn tới phần cổ mẫu của liên thể tâm thần và tới thế giới tinh thần mà nó xuất hiện. Sau nhiều năm gắn bó ở “cấp độ anima” giờ đây ông bắt đầu bước vào một miền tiết lộ cổ mẫu tự ngã, cấu trúc quan trọng nhất của tổng thể tâm thần và sự trật tự. Việc phát hiện ra tự ngã được kể lại trong tự truyện của ông và diễn ra qua một thời kì nhiều năm.
Trước tiên có một sự kiện lạ lùng về tiếng chuông cửa reo. Jung kể lại rằng vào một buổi chiều chủ nhật năm 1916, khi ông đang ngồi trong phòng khách của mình tại Seestrasse ở Kusnacht, ông cảm thấy một bầu không khí nặng nề trong ngôi nhà. Những thành viên trong gia đình có vẻ căng thẳng và dễ cáu kỉnh. Ông không hiểu tại sao nhưng bầu không khí dường như nặng nề bởi sự hiện diện của những nhân vật vô hình. Thình lình chuông cửa reo lên. Ông bước ra trả lời nhưng không có ai ở đó. Nhưng rõ ràng là người gõ cửa đang đi. Ông thề rằng ông đã nhìn thấy người gõ cửa. Ngẫu nhiên? Khi người phục vụ hỏi ai bấm chuông, Jung nói rằng ông không biết bởi vì không thấy ai ở ngoài cửa. Chuông lại reo. Lần này người phục vụ nói rằng cũng nhìn thấy người gõ cửa đó. Ông không bị ảo giác. Và sau đó Jung nghe thấy những lời sau:
Người chết đến từJerusalem, nơi đó họ không phát hiện được những gì họ tìm kiếm. Họ cầu khẩn tôi để cho họ vào và cầu xin lời nói của tôi và do vậy tôi bắt đầu thuyết giảng…152
Ông quyết định viết ra những lời đó. Các từ lần lượt xuất hiện:
Harken: Tôi bắt đầu từ hư không. Hư không cũng như đầy tràn. Trong vô tận thì đầy tràn không tốt hơn trống không. Hư không vừa cả trống không và đầy tràn. Như vậy anh có thể nói một điều gì khác về hư không, chẳng hạn như nó là trắng hay đen và hoặc là nó không phải là vậy hoặc là vậy. Hư không hay đầy tràn này chúng tôi gọilà PLEROMA153.
Trong vài ngày sau đó, Jung ghi chép lại một văn bản “ngộ đạo” tên là “Bảy lời cầu nguyên cho người chết”. Tác phẩm này, được rao giảng bằng lời nói và thông qua một bậc thầy trường phái Ngộ đạo, Basilides, là một thông điệp đến với Jung từ phần cổ mẫu của tâm thần154.
Dĩ nhiên chúng ta biết rằng, Jung rất quan tâm đến thuyết - ngộ đạo trước sự xuất hiện này và ông đã đọc nhiều văn bản của thuyết Ngộ đạo, do vậy, không nghi ngờ gì là có nhiều liên hệ với kinh nghiệm ảo thị trong phòng khách của ông và thư viện. Nhưng đây cũng là một hoạt động mới mang tính sáng tạo và tưởng tượng cao dù rằng dưới hình thức một văn bản tôn giáo tầm cỡ, và nó xuất hiện tự phát từ sâu thẳm của tâm thần Jung. Không đơn giản là Jung viết lại nó từ trí nhớ vì ngay cả hiện tượng trí nhớ ngầm ẩn - cryptomnesia cũng không giải thích được điều này vì nó không xuất hiện ở chỗ nào khác trong các tác phẩm ngộ đạo cổ điển. Và chính ông cũng không cố tình viết theo phong cách của các nhà ngộ đạo. Việc ghi chép này là không có chủ ý. Nhìn ngược trở lại có thể thấy rằng tác phẩm này, được hoàn tất khoảng trong ba ngày, chứa đựng nhiều mầm móng của nhiều ý tưởng mà Jung sẽ phát triển trong những thập kỉ sau này dưới hình thức những thuật ngữ khoa học, tri thức có lí tính hơn nhiều.
Đây là một trong nhiều kinh nghiệm tâm thần đặc biệt trong những năm tháng đương đầu với vô thức của ông. Trong cuộc đời bình thường, Jung vấn tiếp tục cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp của mình. Thời kì này gần như trùng khít với Thế chiến thứ nhất mà Thụy Sĩ, một quốc gia trung lập, bị cô lập khỏi châu Âu và thế giới. Việc đi lại là không thể. Giống như những người Thụy Sĩ khác, Jung đi lính và là một bác sĩ quân y với vai trò phụ trách trại các tù nhân chiến tranh ở Chateau d”Oex ở phần nói tiếng Pháp của đất nước. Đây là một công việc quản lí khá buồn tẻ và như thường lệ ông bắt đầu dành một phần thời gian vào mỗi buổi sáng để vẽ các vòng tròn và nắn nót chúng thêm khi cảm thấy phải làm vậy. Sau công việc này ông cảm thấy khỏe khoắn hơn và sẵn sàng cho một ngày làm việc mới. Hoạt động này là trọng tâm với Jung như ông ghi trong tự truyện155.
Một số những bức họa này trở thành bức tranh rất tinh xảo. Sau đó, Jung so sánh chúng với những gì mà các tín đồ Phậtgiáo Tây Tạng gọi là Mandala (biểu đồ vũ trụ), những hình ảnh biểu hiện cho vũ trụ, thế giới tinh thần của những người thực hành đạo Phật. (Hai mươi năm sau, trong chuyến đi tới Ấn Độ, Jung nhận thấy với sự thích thú đặc biệt việc người dân nơi đây vẽ những hình ảnh truyền thống này lên tường nhà họ hay những ngôi đền nhằm gắn kết với những sức mạnh tinh thần của vũ trụ hay để ngăn cản những sức mạnh hay ảnh hưởng xấu xa. Mandala có cả chức năng bảo vệ và cầu khấn). Jung nhận ra rằng ông đang tái tạo một mô hình cổ mẫu cơ bản phổ biến cần phải làm để thiết lập trật tự mọi thứ. Cuối cùng, kinh nghiệm này dẫn ông tới kết luận rằng nếu một quá trình tâm thần diễn ra tự phát đi theo một mục tiêu logic và được thể hiện đầy đủ thì mục tiêu của quá trình này sẽ được hoàn thành, tức là biểu hiện những hình ảnh phổ biến về trật tự và thống nhất. Mandala là một tượng trưng phổ biến chung biểu hiện trực giác của một tổng thể đã được sắp xếp trật tự. Để đặt tên cho nhân tố cổ mẫu hoạt động trong tâm thần sinh ra mục tiêu và hình thức này, Jung chọn thuật ngữ tự ngã theo như Kinh Upanishads của Ấn Độ để chỉ một nhân cách cao hơn, atman. Kinh nghiệm về vẽ và chi tiết tinh xảo Mandala này gắn bó với Jung như một kinh nghiệm căn bản về tự ngã: xuất hiện chậm rãi, và về mặt thực nghiệm, thì tự phát đi vào ý thức.
Cuối cùng, Jung ghi chép lại một giấc mơ năm 1928 mà đối với ông phản ánh sự hoàn tất của việc nhận biết tự ngã. (Mặc dù cường độ của cuộc khủng hoảng thời trung niên đã chấm dứt vào năm 1920, những hậu quả còn lại vẫn kéo dài tới năm 1928 khi Jung đã 52 tuổi). Trong suốt những năm tuổi 40 của mình, Jung có một đời sống tâm lí bấp bênh, lúc đầu là căng thẳng và sâu xa và sau đó thì giảm nhẹ. Cuối cùng, ông có một giấc mơ thấy mình đang ở trong thành phố Liverpool của Anh. Ông thấy mình đang đi bộ qua các đường phố với những người bạn Thụy Sĩ trong một đêm mưa, và ngay sau đó đến một chỗ giao cắt có hình giống như một bánh xe. Nhiều đường phố tỏa ra từ chỗ nút giao thông này và ở giữa chỗ giao cắt của đường phố đó có một quảng trường. Trong khi mọi thứ trong khu vực xung quanh đều tối thì có một chỗ ở giữa lại sáng chói. Ở đó mọc lên một cái cây duy nhất, một cây mộc lan đầy hoa màu đỏ. Những người bạn của ông dường như không thể thấy cái cây đẹp đó nhưng Jung bị tràn ngập bởi vẻ đẹp của nó. Sau đó, ông diễn giải giấc mơ này là ông đã có được một cái nhìn về trung tâm, cái tự ngã, một hình ảnh về vẻ đẹp siêu phàm hiện diện tại “cái hồ cuộc đời” (Liverpool). Từ kinh nghiệm về giấc mơ này, Jung viết, “xuất hiện một ý niệm mơ hồ đầu tiên về huyền thoại cá nhân của tôi”156. Trong đoạn quan trọng này, Jung khẳng định rằng tự ngã là trung tâm của huyền thoại cá nhân ông. Sau đó, ông nhận thức về nó như một cổ mẫu bậc nhất (cái duy nhất) mà từ đó tất cả các cổ mẫu khác và hình ảnh cổ mẫu được phát sinh. Tự ngã là một trung tâm hấp dẫn mạnh của vũ trụ quan tâm lí của Jung. Sự hiện diện của nó kéo chiếc kim la bàn của bản ngã đến hướng bắc chính xác.
Định nghĩa của Jung về tự ngã
Chuyển từ kinh nghiệm cá nhân của Jung về tự ngã sang lí thuyết của ông, có vài nhận xét cần lưu ý trước khi thảo luận tác phẩm quan trọng về chủ đề này, Aion. Những ghi chép của Jung về tự ngã nằm rải rác trong Toàn Tập trong các tập sách và tiểu luận xuất bản sau 1925 (năm kỉ niệm ngày sinh thứ 50 của Jung) và tập trung nhất vào tự ngã là cuốn Aion. Tác phẩm này được xuất bản năm 1951, và theo những người biên tập tập sách này thì đây là “một chuyên khảo dài về cổ mẫu tự ngã”. Tiêu đề nhỏ bên dưới “Nghiên cứu về hiện tượng tự ngã” thể hiện rõ quan điểm này. Tên của cuốn sách lấy từ tôn giáo cổ Mithraism, ở đó Aion là tên của một vị thần cai quản lịch chiêm tinh học và vì thế cũng là người cai quản thời gian. Do đó tên của cuốn sách giả định một nhân tố vượt qua liên thể thời gian, không gian chi phối bản ngã - ý thức.
Bốn chương đầu của Aion có tác dụng như một nhập để đại cương ngắn gọn vào tâm lí học của Jung, đề cập đến các khái niệm bản ngã, bóng âm, anima/us và một lối đi đầu tiên về lí thuyết tự ngã. Từ đó, ông thảo luận nhiều biểu hiện tượng trưng của tự ngã, chủ yếu theo truyền thống Kinh Thánh và những trường phái “dị giáo” có liên quan như Ngộ đạo và giả kim thuật. Tác phẩm kết thúc bằng một tổng kết mang tính lí thuyết lớn ở chương cuối cùng với tiêu đề “Cấu trúc và động lực của Tự ngã”. Những luận chứng của Jung, thường khó theo dõi vì ông đề cập rất nhiều đến chiêm tinh học, thuyết ngộ đạo, giả kim thuật, thần học, và nhiều hệ tượng trưng truyền thống, cho rằng nhân tố siêu việt này của tâm thần - mà chúng ta gọi là tự ngã - đã được nghiên cứu và trải nghiệm bởi nhiều người thuộc các thời đại trước và những ghi chép của họ dưới hình thức các thuật ngữ có tính tượng trưng có thể hữu ích cho việc hiểu rõ bản chất và năng lượng của nó.
Chương dẫn nhập về tự ngã bắt đầu như sau: “Tự ngã... hoàn toàn nằm ngoài phạm vi cá nhân và chỉ phần nào xuất hiện qua một hệ thống thần thoại tôn giáo, và những kí hiệu tượng trưng của nó biến đổi từ mức cao nhất xuống thấp nhất... bất kì ai muốn đạt được những kì công gian khổ của việc nhận biết những gì không những về mặt trí tuệ mà còn tùy theo giá trị cảm xúc của nó, thì dù tốt hay xấu cũng phải hiểu được vấn đề anima/us để mở ra một con đường cho một sự thống nhất cao hơn, một coniunctio oppositorum. Đây là một tiền đề thiết yếu đối với tổng thể”157. Ở đây, Jung đưa ra khái niệm “tổng thể”, một thuật ngữ tương đương với tự ngã. Thực tế mà nói thì tổng thể là kết quả khi mà tự ngã được nhận biết qua ý thức. Trên thực tế, điều này không thể đạt được hoàn toàn, bởi vì các đối cực và đối lập tồn tại trong tự ngã không ngừng tạo ra những nội dung mới và nhiều hơn để hòa nhập lại. Dẫu vậy, đạt được sự tổng thể trên nền tảng bình thường là con đường của tự ngã, đó là cách nhìn của Jung về cuộc sống qua Đạo. “Mặc dù “tổng thể” thoáng nhìn lúc đầu có vẻ không là gì ngoài một ý tưởng trừu tượng (giống như anima và animus), nhưng nó lại có tính thực nghiệm khi được dự đoán trước bởi tâm thần dưới hình thức những tượng trưng tự trị và tự phát. Đó là cấu trúc bộ tứ hay những kí hiệu tượng trưng của biểu đồ vũ trụ Mandala, xuất hiện không chỉ trong những giấc mơ của con người hiện đại, những người chưa bao giờ nghe nói về chúng, mà còn nằm phổ biến trong rất nhiều những ghi chép lịch sử của nhiều người thuộc mọi thời đại”158.
Những tượng trưng về tự ngã là trọng tâm của Aion. Như Jung nhận thấy, chúng là phổ biến và hiện hữu (tức là bẩm sinh và tự phát), và chúng xâm nhập vào tâm thần thông qua miền giống tâm thần cổ mẫu psychoid từ chính bản thân cổ mẫu. Tự ngã, một thực thể phi tâm lí siêu việt, tác động trên hệ thống tâm thần để tạo ra những kí hiệu tượng trưng của tổng thể, thường là những cấu trúc bộ tứ hay những hình ảnh Mandata biểu đồ vũ trụ (các hình vuông và hình tròn). “Tầm quan trọng của chúng với tư cách là những kí hiệu tượng trưng của sự thống nhất và toàn thể được khẳng định rõ ràng qua lịch sử cũng như tâm lí học thực nghiệm. Những gì lúc đầu giống như một ý tưởng trừu tượng trên thực tế lại đại diện cho những điều tồn tại có thể trải nghiệm được và chứng minh một cách tự phát cho sự tồn tại tiên nghiệm của nó. Do đó, tổng thể là một nhân tố khách quan đối diện độc lập với chủ thể”159.
Trong đoạn này, Jung tiếp tục mô tả thứ bậc của các thành tố trong tâm thần. Vì anima và animus có “một vị trí cao hơn so với bóng âm nên tổng thể có một vị trí và giá trị cao hơn cả hai yếu tố cấu thành syzygy này”160. Ở vị trí hàng đầu là bóng âm và trên chúng là animal animus - tức là syzygy - tồn tại như một sức mạnh và quyền lực cao hơn. Chi phối hoạt động tâm thần tổng thể là tự ngã với quyền lực lớn nhất và giá trị cao nhất: “Cái nhất thể và toàn thể nằm ở điểm cao nhất trên thang các giá trị khách quan bởi vì những tượng trưng của chúng không còn phân biệt được khỏi imago Dei”161. Jung cho rằng tất cả chúng ta đều có hình ảnh Chúa - dấu ẩn của tự ngã - trong mình. Chúng ta có dấu ấn của cổ mẫu này: typos nghĩa là một dấu ấn trên một đồng xu, và arche nghĩa là bản gốc hay bản chính. Mỗi cá nhân đều mang một ấn tượng về cổ mẫu của tự ngã. Điều này mang tính bẩm sinh và thiên phú.
Bởi vì mỗi chúng ta có dấu ấn của imago Dei vì chúng ta là con người, nên chúng ta cũng gắn với “Cái nhất thể và toàn thể hiện diện ở mức cao nhất trong thang bậc các giá trị khách quan”. Khi cần thiết, kiến thức trực giác này có thể hỗ trợ chúng ta: “kinh nghiệm cho thấy rằng các biểu đồ vũ trụ của cá nhân Mandala là những tượng trưng của trật tự và xuất hiện ở các bệnh nhân chủ yếu trong những lúc mất định hướng hoặc hồi phục định hướng tâm thần”162. Khi mọi người vẽ hoặc mơ một cách tự phát về Mandala thì đó là gợi ý cho thấy điều trị rằng có một khủng hoảng tâm lí trong ý thức. Sự hiện diện của kí hiệu tượng trưng của tự ngã có nghĩa là tâm thần cần được thống nhất. Đây chính là kinh nghiệm của bản thân Jung. Trong thời kì rối loạn định hướng cao trào nhất, ông bắt đầu tự phát vẽ ra các Mandala. Những tượng trưng bù trừ của tổng thể được tạo ra bởi tự ngã khi hệ tâm thần có nguy cơ bị suy sụp. Đây là thời điểm mà cổ mẫu tự ngã can thiệp trong một nỗ lực để thống nhất lại.
Sự xuất hiện của những kí hiệu tượng trưng sự thống nhất và các vận động hòa nhập trong hệ tâm thần nhìn chung là dấu hiệu hoạt động của cổ mẫu tự ngã. Nhiệm vụ của tự ngã dường như là để tập hợp hệ tâm thần cùng nhau và duy trì nó ở trạng thái cân bằng. Mục tiêu của nó là sự thống nhất. Sự thống nhất này không phải là tĩnh mà là động như chúng ta sẽ thấy trong chương tiếp theo về cá nhân hóa. Hệ tâm thần được thống nhất bằng cách trở nên cân bằng hơn, liên hệ với nhau hơn và khớp nối với nhau hơn. Ảnh hưởng của tự ngã lên hệ tâm thần nhìn chung được phản ánh bởi ảnh hưởng của bản ngã lên ý thức. Giống như tự ngã, bản ngã cũng có một chức năng thống nhất, thiết lập trật tự, tập trung, và mục tiêu của nó là làm cân bằng và hòa nhập các chức năng trong chừng mực có thể, trên cơ sở sự tồn tại của các phức cảm và cơ chế phòng vệ. Trong chương 1, tôi đã nói về bản ngã như là trung tâm của ý thức và là nơi tồn tại của ý chí. Nó có khả năng để nói “tôi” và “tôi là” hoặc “tôi nghĩ” hoặc “tôi sẽ”. Ở một giai đoạn khác, nó trở thành một thực thể tâm thần tự ý thức và có thể nói không chỉ “tôi là” mà còn “tôi biết rằng tôi là”. Điều này có thể đúng, mặc dù có thể không chắc chắn rằng tự ngã cũng biết điều đó. Liệu cổ mẫu có tự nhận thức chính mình? Liệu nó có biết nó là gì? Jung phát hiện ra rằng đó là một kiểu ý thức trong các cổ mẫu. Chang hạn, khi những hình ảnh cổ mẫu xâm chiếm và chi phối bản ngã, chúng có một tiếng nói, một bản sắc, một quan điểm, một tập hợp các giá trị. Nhưng liệu có một sự tự nhận thức trong chính cổ mẫu không? Có một huyền thoại chỉ nhận thức này một cách rõ ràng. Khi Moses gặp Chúa bên những bụi cây đang bốc cháy và hỏi “Anh là ai?”, tiếng nói cổ mẫu đáp lại “Tôi là tôi”. Dù điều này có ý nghĩa gì chăng nữa trong thần học thì dường như nó còn chứng tỏ có một ý thức phản thân trong cổ mẫu.
Jung tin rằng có một quan hệ ưu tiên tồn tại giữa bản ngã và tự ngã. Có thể là, tự ngã có một hình thức tự nhận thức cao nhất và nó chia sẻ một phần với bản ngã và ngược lại bản ngã biểu hiện phần này mạnh mẽ nhất trong những lĩnh vực quen thuộc hơn của thế giới tâm thần. Do sự gắn bó thân mật này - giữa bản ngã và tự ngã, có thể cho rằng trên thực tế tự ngã là một hình ảnh của bản ngã, một loại siêu tôi hay một bản ngã lí tưởng. Tuy vậy, Jung muốn nhấn mạnh rằng ông đã phát hiện ra những gì giống tâm thần - tức là giống tâm thần nhưng không hoàn toàn là tâm thần - tồn tại ở một miền vượt ra ngoài chính tâm thần, cái gì đó có ảnh hưởng tới hệ tâm thần thông qua các hình ảnh, nội dung tâm thần, những ý tưởng huyền thoại và những kinh nghiệm khải huyền như của Moses bên những bụi cây đang bốc cháy hoặc việc đón nhận Luật trên đỉnh núi Sinai, nhưng không phải là kết quả của bản ngã hay của những cấu trúc xã hội.
Những kí hiệu tượng trưng của tự ngã
Mặc dù toàn bộ cuốn sách Aion là nói về tự ngã, tuy nhiên tác phẩm còn dành ra hai chương đặc biệt dành riêng cho chủ đề này. Chương đầu tiên, tức chương 4, mà chúng ta vừa xem xét chỉ mang tính dẫn nhập. Về mặt khác, chương cuối cùng của cuốn sách có lẽ là chương chứa đựng những khẳng định toàn diện và sâu sắc nhất của Jung về tự ngã. Nó gồm những thảo luận đan xen nhau về các kí hiệu tượng trưng từ thuyết ngộ đạo, chiêm tinh học, giả kim thuật xuyên qua các biểu hiện của văn hóa phương Tây trong hai ngàn năm qua.
Chương này bắt đầu bằng việc đề cập đến tự ngã như một cổ mẫu là cơ sở bản ngã ý thức. Bản ngã ý thức chỉ là một điểm của ý chí cá nhân, nhận thức và thể hiện mình. Chức năng của nó là canh chừng và giúp cho cá nhân tồn tại. Bản ngã - như tôi đã mô tả ở Chương 1 - là một phức cảm được tổ chức quanh một cái nhân kép, một sang chấn và một cổ mẫu (tự ngã). Nói về tự ngã, Jung đề cập đến nhiều hình ảnh có thể của nó163. Một số trong đó là những hình ảnh biểu hiện trong các giấc mơ và huyễn tưởng, và một số khác biểu hiện trong các mối quan hệ và tương tác với thế giới. Những cấu trúc hình học, chẳng hạn như vòng tròn, hình vuông, và ngôi sao mang tính phổ biến và thường xuyên, chúng có thể xuất hiện trong các giấc mơ mà không gây sự chú ý đặc biệt nào vào cả: mọi người ngồi xung quanh một cái bàn tròn, bốn đồ vật được sắp xếp trong một không gian hình vuông, một sơ đồ về thành phố, một ngôi nhà. Những con số, đặc biệt là số bốn và bội số của bốn, xác định những cấu trúc bốn phần. (Jung không thích số ba vì ông coi nó chỉ là biểu hiện một phần của tự ngã: số ba “cần phải được hiểu như một cấu trúc bốn phần khiếm khuyết hoặc một bước đi hướng tới nó”164. Ông lạc quan hơn về các số ba và cấu trúc ba phần trong các đoạn khác nhưng chủ yếu vẫn coi chúng chỉ là một tiếp cận có tính lí thuyết đến tổng thể nhưng bỏ qua tính vững chắc và cơ sở mà tổng thể đòi hỏi).
Những hình ảnh khác của tự ngã là đá quý, chẳng hạn như kim cương và saphia, các viên đá phản ánh cho giá trị quý hiếm. Nhưng vẫn còn những biểu hiện sâu hơn của tự ngã bao gồm các lâu đài, nhà thờ, những con tàu và những thùng hàng, và dĩ nhiên là bánh xe với một tâm và các nan hoa xòe ra kết thúc ở một hình tròn. Những nhân cách cao hơn bản ngã như cha mẹ, cô chú, vua, hoàng hậu, hoàng tử và công chúa cũng là những biểu tượng có thể của tự ngã. Cũng có những hình ảnh các con vật tượng trưng cho tự ngã: con voi, ngựa, bò, gấu, cá, và rắn. Đó là những con vật tổ totem biểu tượng cho thị tộc của một cá nhân hay mọi người. Những gì thuộc về tập thể thì lớn hơn nhận thức bản ngã.
Tự ngã cũng có thể được phản ánh bởi những hình ảnh hữu cơ, chẳng hạn như cây, và hoa và những hình ảnh phi hữu cơ như núi và hồ. Jung cũng nêu lên dương vật như là một tượng trưng của tự ngã. “Ở đâu có sự đánh giá thấp tình dục thì tự ngã được tượng trưng dưới dạng dương vật. Việc đánh giá thấp có thể là một sự dồn nén thông thường hay hạ giá thấp quá mức. Ở những người đạt được sự phân biệt, một sự diễn giải và đánh giá thuần túy sinh học về tình dục cũng có thể có tác động này”165. Jung phê phán thái độ duy lí quá mức của Freud khi quá nhấn mạnh tình dục. Điều này dẫn Jung tới việc chấp nhận một thái độ thần bí với bản năng này.
Tự ngã bao gồm những mặt đối lập và “có một đặc điểm nghịch lí, loạn cương thường [phi đạo đức]. Nó vừa là nam vừa là nữ, ông già và trẻ con, sức mạnh và bất lực, lớn và nhỏ. [Jung cũng có thể bổ sung thêm tốt và xấu]. Hoàn toàn có thể rằng, điều dường như nghịch lí này lại chính là phản ánh của những biến đổi hai mặt đối nghịch (enantiodromia) của thái độ ý thức mà có thể có một ảnh hưởng có lợi hay bất lợi trên tổng thể”166. Nói theo cách khác, hình thức mà tự ngã được phản ánh bị ảnh hưởng bởi thái độ ý thức của người xem xét nó. Những biến đổi trong thái độ ý thức có thể đưa tới những bước chuyển trong các đặc điểm của tượng trưng tự ngã.
Khi chuyển đến phần tóm lược, Jung bắt đầu vẽ ra những sơ đồ của tự ngã mà ông hi vọng sẽ làm sáng tỏ quan điểm của mình. Những sơ đồ trong các đoạn 390 và 391 của tác phẩm Aion là những nỗ lực tóm tắt một số tư liệu lớn. Quả thực hơi khác thường khi Jung lại dùng sơ đồ để mô tả suy nghĩ của mình, nhưng ông đang vươn lên vì một mức độ phức tạp và tính dễ hiểu có thể nằm ngoài sự hiểu biết của con người. Sơ đồ đầu tiên chỉ ra những gì có thể gọi là cách nhìn cắt ngang các cấp trong tự ngã.

Mỗi cấp được tạo dựng từ một cấu trúc bốn phần và mỗi cấu trúc này biểu hiện tính phức tạp và tổng thể tại cấp đó. Hình bốn cấu trúc bốn phần này, được sắp xếp theo một trật tự tăng dẫn từ cực vật chất đến cực tinh thần trong một liên thể, biểu hiện cho sự tổng thể và tính toàn bộ.
Các cấu trúc bốn phần này nhìn từ một góc độ khác lại là những hình sáu điểm ba chiều gắn với nhau ở mỗi điểm cuối của chúng.

A. The Anthropos Quaternio
(Cấu trúc bốn phần loài người)

B. The Shadow Quaternio(Cấu trúc bốn phần bóng âm)
Mỗi một cặp kim tự tháp ba chiều này có một điểm chung với một cặp bên trên và bên dưới. Có một đường phân chia Chúa cứu thế - Con quỷ (Christus - Diabolos) ở giữa một chồng bốn cặp kim tự tháp đôi, bên trên đường đổ là các kim tự tháp đôi Homo và Anthropos và bên dưới là hai kim tự tháp đôi Lapis và Rotundum. Vòng tròn tại vị trí Homo xác định vị trí của bản ngã ý thức. Ở ngay trên nó là kim tự tháp Anthropos, một biểu hiện của một tổng thể lí tưởng ở cấp tinh thần. Điều này được tượng trưng bởi Gnostic Anthropos hay một Higher Adam, một hình ảnh lí tưởng. Jung cho rằng thời đại lịch sử hiện nay trong hai nghìn năm qua, được bắt đầu với việc tập trung vào kim tự tháp đôi tinh thần này. Con người được coi là một sinh vật tinh thần thể hiện quamột hình ảnh tinh thần lí tưởng Thiên Chúa giáo được phóng chiếu lên một con người lịch sử là Jesus ở Nazareth. Sự biến hình của Jesus thành Christ là kết quả của sự phóng chiếu của con người lên Jesus cái bản ngã tinh thần cao hơn của mình (Anthropos).
Bên dưới vòng tròn Homo (bản ngã ý thức) là một cấu trúc bốn phần biểu hiện cho bóng âm của cấu trúc trên nó. Nó dựa trên vòng tròn Serpent. “Cái tự ngã cấp thấp” này phản chiếu “cái tự ngã cấp cao” trên nó, nhưng tăm tối hơn. Những hình ảnh bóng âm mỗi cái chiếm một trong ở bốn điểm của hình bốn phần đó (Jethro bậc thấp so với Jethro cấp cao...). Jung gọi đây là cấu trúc bốn phần của bóng âm. Từng điểm của nó tương ứng với cấu trúc bốn phần Anthropos nằm bên trên và cho thấy một biểu hiện lí tưởng của cùng một tổng thể. Từ bóng âm, quỹ đạo tiếp tục đi xuống dưới: từ tinh thần đến bản năng và tiếp tục xuống tới bản thân vật chất. Điểm Serpent biểu hiện cơ sở của bóng âm và gắn nó với thế giới vật chất.
Bóng âm là nhân cách cấp thấp, những cấp thấp nhất của nó không thể phân biệt được với tính bản năng của thú vật. Nó gắn cái tổng thể tâm thần lí tưởng với bản chất sinh học động vật của chúng ta. Bất kì ai về mặt ý thức mà không có sự gắn bó với cấu trúc tâm thần bốn phần này sẽ chỉ sống ở trong đầu, tức là trong thế giới của tri thức và những lí tưởng tinh thần và có ít liên hệ với đời sống thường ngày hay tầng sinh học của cuộc sống. Ngược lại, người nào đồng nhất và chỉ sống chủ yếu nguyên thủy theo cấu trúc bóng âm nấy thì ít nhiều ý thức bị hạn chế ở mức đời sống động vật: sự tồn tại của cá thể (sinh dưỡng) và của loài (tình dục), một trạng thái phát triển thấp về đạo đức và tinh thần.
Con rắn (serpent) tượng trưng cho tự ngã ở góc độ nghịch lí mạnh nhất và hiển nhiên nhất. Một mặt, nó phản ánh tất cả những gì là “độc ác” trong bản chất con người: những bản năng tồn tại tàn bạo, chiếm đoạt, sinh học căn bản. Ngược lại, nó tượng trưng cho sự thông thái của con người và những bản năng - sự nhận biết cơ thể, những trực giác bên trong, sự hiểu biết có tính bản năng. Con rắn theo truyền thống là một tượng trưng nghịch lí, biểu hiện cho cả sự thông thái và cái xấu (hay sự cuốn hút theo cái xấu). Do đó, rắn tượng trứng cho sự căng thẳng cao độ nhất của các mặt đối nghịch trong tự ngã.

C. The Paradise Quatemio(Cấu trúc bốn phần của thiên đường)
Tiếp tục đi xuống dưới, cấu trúc Paradise biểu hiện cho sự đi sâu vào mức độ các quá trình vật chất hữu cơ. Con người chia sẻ chung mức độ này không phải chỉ với các động vật mà với cả cây cối. Nó đề cập đến một sự kiện tự nhiên là cuộc sống hữu cơ được tổ chức xung quanh bản chất của nguyên tử carbon là những thuộc tính của nó. Hóa học hữu cơ là ngành khoa học nghiên cứu cấp độ tồn tại này của con người một cách hệ thống. Và bên dưới nó là cấu trúc Lapis, đó là cơ sở thể chất tự nhiên tuyệt đối của sự sống. Ở mức này, nơi mà những nguyên tố hóa học và các hạt cấp nguyên tử phải tạo dựng sự thống nhất và tổ chức, tương tác với nhau theo một cách tương tự để tạo ra một tạo vật ổn định có thể duy trì sự cân bằng thể chất đủ cho cuộc sống ở các cấp hữu cơ, tâm thần và tinh thần.

D. Lapis Quaternio(Cấu trúc bốn phần của đá)
Cấp độ này là nền tảng của tâm thần và cơ thể hữu cơ, xâm nhập vào thế giới vô cơ, và trên thực tế hướng tới mức phân tử. Khi cấu trúc của tự ngã đạt tới mức Rotundum, nó đạt tới mức năng lượng thuần túy, xuyên qua mức nguyên tử để vào và vượt qua mứcdưới nguyên tử. Rotundum, Jung nói, là một ý tưởng siêu việt mang tính trừu tượng: ý tưởng về năng lượng.
Tâm thần thật sự để lại phía sau đường Christus-Diabolus, tại cấp độ Serpent Quaternio. Đường này tương ứng với ranh giới giống tâm thần psyctoid nơi mà tâm thần hòa lẫn với vật chất. Mặc dù con rắn một mức độ nào đó có tính tâm thần, hay gần như tâm thần, vì là độc ác nhưng nó phản ánh một loại năng lượng cũng khác rất xa với bản ngã ý thức và ý chí cá nhân. Nó chỉ rõ sự chuyển động và một loại ý thức nhưng khác rất xa với bản ngã ý thức của con người. Con rắn phản ánh hệ thần kinh tự trị. Có sự thông thái trong cơ thể nhưng ý thức của nó chỉ bao gồm một chút nhận thức mà bản ngã có thể đọc và diễn giải. Về mặt khác, cơ thể cũng là cơ sở cho nhiều giấc mơ. Sự mơ hồ của con rắn như một tượng trưng vừa bắt nguồn từ hai cảm xúc đối nghịch của bản ngã đối với nó - bởi vì chúng ta gắn với mức con người Anthropos cao hơn, với những lí tưởng của chúng ta, và do đó xung đột với những bản năng của cơ thể - hoặc từ khả năng đánh thức nỗi sợ hãi mất tiếp xúc với những cấp ý thức cao hơn, một điều có tính phá hủy. Cấp độ con rắn là một nhân tố tạo dựng ý thức và ở đó nó phản ánh quá trình tâm thần hóa.
Xâm nhập sâu vào cấp độ vô cơ sẽ đưa đến thế giới của năng lượng thuần túy mà vật lí học hiện đại đã khám phá ra rồi. Điều này diễn ra khi chúng ta tiếp tục xâm nhập sâu vào tới tận vật chất cho tới khi cuối cùng đạt tới điểm phân hủy thành năng lượng hóa thuần túy. Nhưng năng lượng là vô hình. Thực tế thì đó làmột ý tưởng, một sự trừu tượng, một khái niệm dùng để mô tả những gì không thể quan sát trực tiếp dù có thể đo lường được đo lường qua các hiệu ứng của nó. Năng lượng tâm thần, như chúng ta đã thấy ở Chương 3, đối với Jung là sức sống, là sinh khí chúng ta dành cho các kế hoạch của mình, sự thích thú mà chúng ta có được từ cuộc sống và những người khác. Đây là một sức mạnh mà chúng ta phải tính đến mà ai đã từng đau khổ vì sự thiếu hụt nó khi bị trầm cảm biết rõ hơn cả. Nó có thể lên cao nhất và có thể xuống thấp đến mức không thể nhận thấy. Do đó, khi xuyên qua các lớp của tâm thần từ những cấp độ cao nhất của ý tưởng và lí tưởng của đời sống thể chất tới sự hiện thực của bản ngã và thực tế của cơ thể vào tới cầu tạo hóa học và phân tử của tồn tại vật chất cuối cùng sẽ đưa tới năng lượng thuần túy và trở ngược lại lĩnh vực của các ý tưởng tức thế giới của nous, của tâm trí, và tinh thần. Vì vậy, các cấu trúc bốn phần đó sẽ chạm nhau tại các cực của sự đối lập mạnh nhất, tại các cực của tinh thần và vật chất. Jung phác họa sơ đồ này như một vòng tuần hoàn động:

Các mũi tên chuyển động theo vòng tròn và cuối cùng Anthropos và Rotundum lại kết hợp với nhau tại đỉnh.
Tự ngã là sự thần bí căn bản của tâm thần
Từ những tác phẩm của Jung, điều rõ ràng là sự thống nhất và tổng thể là những giá trị cao nhất và tự ngã đã tạo nên huyền thoại cá nhân Jung. Nhưng nó là một huyền thoại mà ông đã cố gắng tìm các điểm tựa từ bằng chứng và lí thuyết. Chính xác hơn, lí thuyết về tự ngã - ý niệm cho rằng có một trung tâm siêu việt chi phối tâm thần từ bên ngoài và giới hạn tính toàn thể của nó - là một cách Jung dùng để giải thích cho các hiện tượng tâm lí cơ bản như biểu hiện tự phát của các vòng tròn hay các sơ đồ vũ trụ Mandala, hoạt động tự điều chỉnh của tâm thần mà ông gọi là “bù trừ”, sự phát triển tiến bộ ngày càng tăng của ý thức trong cuộc đời trong quá trình “cá nhân hóa”, và sự tồn tại của nhiều cực đối lập rõ ràng trong đời sống tâm lí tạo nên những cấu trúc gắn kết và sinh ra năng lượng. Jung bị chỉ trích bởi một số những nhà thần học bảo thủ là đã biến tự ngã thành một khái niệm về Chúa và được thờ phụng tại đền thờ mà chính ông tạo ra. Ông chống lại những cáo buộc này bằng cách luận chứng rằng mình với tư cách một nhà khoa học thực nghiệm, chỉ thuần túy quan sát những sự kiện và cố gắng giải thích sự tồn tại cũng như mối quan hệ giữa chúng. Với ông, khái niệm về tự ngã là một sự giải thích tốt nhất mà ông đưa ra để giải thích một trong những sự thần bí căn bản của tâm thần - sự sáng tạo có vẻ kì diệu của nó, các động lực hướng vào trung tâm và những cấu trúc sâu của nó về trật tự và sự gắn kết.
Hệ thống tâm thần nói chung bao gồm nhiều phần. Những ý nghĩ và những hình ảnh cổ mẫu nằm ở cuối của một phổ tâmthần, những biểu tượng của các động cơ và bản năng ở phần cuối kia của phổ và giữa chúng là một số lượng khổng lồ tư liệu cá nhân như những kí ức bị lãng quên và được hồi phục cùng tất cả những phức cảm. Nhân tố chi phối toàn bộ hệ tâm thần và kết hợp chúng với nhau là một tác nhân vô hình được gọi là tự ngã. Nó là yếu tố tạo ra sự cân bằng giữa nhiều nhân tố khác nhau và gắn bó chúng lại thành một tổ chức duy nhất. Tự ngã là trung tâm, và nó thống nhất các phần với nhau. Nhưng nó chỉ thực hiện được điều này từ một khoảng cách nhất định, giống như mặt trời ảnh hưởng tới quỹ đạo của các hành tinh. Bản chất của nó nằm ngoài những ranh giới của tâm thần. Nó là phần giống tâm thần psychoid, và nó mở rộng tới những vùng nằm ngoài kinh nghiệm và hiểu biết của con người. Theo nghĩa này, Jung nói tự ngã là vô tận. Ít nhất chúng ta không thể nói từ bằng chứng thực nghiệm là những ranh giới của nó có thể nằm ở đâu. Đây đã là nơi xa nhất mà Jung có thể đi tới, như ông ghi trong tự truyện, nhưng chắc chắn nó là một khoảng cách tốt.