Burnham, J.S và McGuire, W (biên soạn). 1983: Jelliffe: Nhà phân tâm học và bác sĩ người Mĩ. Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago.
Clark, J.J. 1992. Sự tìm kiếm Jung. London và New York: Routledge.
Csikszentmihalii, M. 1990. Flow. New York: Harper và Row.
Dieckman, H. 1987. Về lí thuyết các phức cảm. Trong Các quá trình cổ mẫu trong liệu pháp tâm lí (biên soạn N. Schwartz-Salant và M. Stein). Wilmette, IL.: Chiron Publications.
Dicckman, H. 1988. Sự hình thành và xử lí những biểu tượng ở những bệnh nhân giáp ranh. Trong Nhân cách giáp ranh trong phân tích (biên soạn N. Schwartz-Salant và M. Stein). Wilmette, IL.: Chiron Publications.
Ellenberger, H. 1970. Sự phát hiện vô thức. New York: Basic Books.
Erikson, E. 1968. Cá tính, Tuổi trẻ và Khủng hoảng. New York: Norton.
Fordham, F. 1953. Nhập môn tâm lí học của Jung. Baltimore: Penguin Books.
Fordham, M. 1970. Trẻ em như là những cá nhân. New York: Putnam.
Fordham, M. 1985. Sự khảo sát bản ngã. London: Nhà xuất bản Academic.
Hannah, B.1976. Jung, Cuộc đời và sự nghiệp. New York: G.P. Putnam’s Sons.
Henderson, J. 1990. Các thái độ văn hóa và vô thức văn hóa. Trong Bóng và Tự ngã. Wilmette, IL.: Chiron Publications.
Hogenson, G. 1994.Cuộc đấu tranh của Jung với Freud.Wilmette, IL.: Chiron Publications.
Jacobi, J. 1943.Tâm lí họccủa C.G. Jung.New Haven, Conn.: Nhà xuất bản Đại học Yale.
James, W. 1902.Sự đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo.New York: Longmans, Green và Co.
James, W 1950.Những nguyên lí tâm lí học.New York: Dover.
Jung, C.G. Ngoại trừ những đoạn trích bên dưới thì các tham khảo nói đếnToàn Tập(TT) theo tập và số đoạn.
Jung, C.G. 1961. Kí ức, giấc mơ, suy nghĩ.New York: Random House.
Jung, C.G. 1973.Những lá thư,Tập 1. Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
Jung, C.G.1974.Nhữnglá thưFreud/Jung.Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
Jung, C.G. 1975.Những lá thư,Tập 2. Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
Jung, C.G. 1977.Nói vềC.G. Jung.Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
Jung, C.G. 1983.Những bài giảng Zofingia.Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
Jung, C.G. 1991.Tâm lí học vô thức.Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton.
Kerr, J. 1993. Một phương pháp nguy hiểm nhất. New York: Knopf.
Maidenbaum, A (biên soạn). 1991. Những bóng hình đeo đẳng: Những người theo Jung, theo Freud và bài Do Thái. Boston: Shambhala.
Chú thích
.
[1]: Jung, Toàn Tập, Tập 6.
[2]: Jung, Sđd, Tập 1, tr.3-88.
[3]: Jung, Sdd, Tập3. tr.1-152.
[4]: Henri Ellenberger, Sự phát hiện vô thức, tr.687.
[5]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr. 182-83.
[6]: Jung, Toàn tập, Tập 4, tr.772.
[7]: Jung, Toàn tập, Tập 9ii, đoạn 1.
[8]: Như trên.
[9]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, đoạn 382.
[10]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr.32.
[11]: Nhiều loài vật hình như cũng có khả năng và năng lực giao tiếp đáng chú ý, dù rằng kì lạ và khó hiểu. Nhưng với kiến thức của chúng ta thì điều này là quá nhỏ ngay cả khi so sánh với khả năng thấp nhất để học ngôn ngữ và sử dụng chúng. Không nghi ngờ gì là nhiều khả năng giao tiếp không lời của chúng vẫn chưa được phát hiện.
[12]: Jung, Kí ức, Giác mơ, Suy nghĩ, tr.45.
[13]: Jung, Toàn Tập, Tập 9/1, đoạn 3.
[14]: Như trên.
[15]: Như trên.
[16]: Như trên.
[17]: Như trên.
[18]: Như trên.
[19]: Bản sắc căn bản của Jung với tư cách một nhà khoa học nằm ở chỗ ông thừa nhận rằng lí thuyết các cổ mẫu chỉ là một giả thuyết. Nếu không thì đó chỉ là tham gia vào việc viết truyện huyền thoại và đưa ra những tuyên bố mang tính dự đoán và đó là cơ sở cho tôn giáo hơn là cho khoa học. Những tác phẩm của Jung có khi bị coi là giáo điều, nhưng điều này không đúng, bởi vì ông dựa vào phương pháp thực nghiệm và khẳng định vai trò của mình như một nhà khoa học chứ không phải là một nhà tiên tri.
[20]: Jung, Toàn Tập,Tập 9/1, đoạn 5.
[21]: William James, Những nguyên lí của tâm lí học, Tập 1, tr.291-400.
[22]: Jung, Toàn Tập, Tập 9/1, đoạn 6.
[23]: Nó rất đói nhưng không được bú nữa - ND.
[24]: Jung, Toàn Tập, Tập 6, tr.v.
[25]: Jung mượn câu này của nhà nhân học người Pháp Levy Bruhl để mô tả mối liên quan nguyên thủy nhất của bản ngã với thế giới và những nhóm hay bộ lạc xung quanh. Tham dự thần bí nói đến trạng thái bản sắc nguyên thủy giữa bản thân và đối tượng, dù đối tượng đó là một đồ vật, một con người hay một nhóm. Những nhà lãnh đạo chính trị có tài năng thiên phú như Mao Trạch Đông tìm cách trau dồi trạng thái ý thức này ở người dân. “Một Trung Quốc, một tinh thần” - có nghĩa là tinh thần của Mao - là một khẩu hiệu của nhà Trung Quốc này trong cuộc Đại cách mạng văn hóa.
[26]: Jung, Toàn Tập, Tập 6, đoạn 9.
[27]: Như trên.
[28]: Như trên.
[29]: Romans 7: 15-18.
[30]: Thực nghiệm Liên tưởng từ là một test do Galton phát minh và được sửa đổi bởi nhà tâm lí học người Đức Wilhelm Wundt, người đã đưa nó vào tâm lí học thực nghiệm ở lục địa châu Âu vào cuối thế kỉ XIX. Trước khi Jung và Bleuler tiếp nhận nó, nó chủ yếu được sử dụng cho những nghiên cứu lí thuyết về tâm trí liên kết các từ và ý tưởng như thế nào (xem Toàn Tập, T.2, tt.730). Tiếp sau sự khởi đầu của Bleuler và cảm hứng của công trình của Freud về tầm quan trọng của các nhân tố vô thức trong đời sống tâm thần, Jung cố gắng biến test này trở nên có ứng dụng thực tế trong bệnh viện tâm thần trong khi vẫn tiếp tục sử dụng những kết quả thu được này trong việc lí thuyết hóa cấu trúc của tâm thần.
[31]: Về những chi tiết về nghiên cứu này, xem Ellenberger, Sự phát hiện vô thức, tr.692 trở đi.
[32]: Xem thảo luận hấp dẫn về việc sử dụng của Freud các thuật ngữ phức cảm và phức cảm cơ bản trong Kerr, Một phương pháp hết sức nguy hiểm, tr.247 trở đi.
[33]: Jung, Toàn Tập, Tạp 2, đoạn 8.
[34]: Như trên, các đoạn 1015 trở đi.
[35]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, các đoạn 194-219.
[36]: Nhiều khía cạnh của quan điểm đang được thảo luận này được xuất bản trong cuốn Những cái bóng đeo đẳng. Những lập luận này được xem xét bởi Anthony Stevens trong cuốn sách Jung, trong đó ông đã giữ một quan điểm mạnh mẽ rằng Jung không có liên quan gì tới hành vi bài Do Thái và ủng hộ Quốc xã. Quan điểm đối lập được Andrew Samuels nêu ra trong nhiều bài viết khác.
[37]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, đoạn 198.
[38]: Như trên.
[39]: Như trên.
[40]: Jung, “Những khía cạnh mới của tâm lí học tội phạm" trong Toàn Tập, Tập 2, các đoạn 1316-1347.
[41]: Joseph Henderson là một trong những người trình bày mạnh mẽ nhất quan điểm này bằng các thuật ngữ của tâm lí học của Jung. Để có một thảo luận chi tiết hơn về vô thức văn hóa và những mặt của nó, xem Henderson “Những thái độ văn hóa và vô thức văn hóa" trong Bóng âm và Tự ngã, tr.103-126.
[42]: Quan điểm này đã được nêu ra rất rõ trong bài viết quan trọng của Hans Dicckmann “Sự hình thành và mối quan hệ với những tượng trưng ở những bệnh nhân tâm thần ranh giới”.
[43]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, đoạn 201.
[44]: Như trên.
[45]: Như trên.
[46]: Như trên, đoạn 202.
[47]: Như trên.
[48]: Như trên.
[49]: Như trên, đoạn 204.
[50]: Như trên.
[51]: Như trên.
[52]: William McGuire (biên soạn), Những lá thư Freud - Jung, tr.6-7.
[53]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr.164.
[54]: Trong Jung, Toàn Tập, Tập 8, các đoạn 1-130.
[55]: McGuire, sđd, tr.461.
[56]: Jung, Tâm lí học vô thức, tr.142-143.
[57]: McGuire, sđd, tr.460.
[58]: Jung, Tâm lí học vô thức, tr.144-145.
[59]: Như trên, tr.156.
[60]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr. 167.
[61]: Jung, Tâm lí học vô thức, tr.480.
[62]: Jung, Toàn Tập, Tập 5.
[63]: Quan điểm của Jung về giá trị của lao động bình thường khá hấp dẫn về mặt này. Theo quan điểm của ông, đạo đức lao động thực sự là một nhân tố giải phóng khỏi sự trói buộc với ham muốn loạn luân. “Sự loại bỏ chế độ nô lệ là điều kiện cần thiết của sự thăng hoa này [tình dục loạn luân], vì thời cổ đại không thừa nhận nghĩa vụ lao động và lao động như một nghĩa vụ, như một nhu cầu xã hội cần thiết có tầm quan trọng căn bản. Lao động của người nô lệ là lao động cưỡng bức, giống với sự cưỡng bức cũng khốc liệt như vậy của tâm năng libido của người chủ có đầy quyền, chỉ khi lao động là nghĩa vụ của cá nhân phải làm việc mới khiến cuối cùng có được sự "dẫn lưu” đều đặn của vô thức vốn bị tràn ngập bởi sự thoái lùi liên tục của libido. Sự lười biếng là khởi đầu của tất cả những cái xấu, bởi vì trong điều kiện mơ mộng thì libido mới có cơ hội dồi dào để chìm ngập vào chính nó, nhằm tạo ra những nghĩa vụ bắt buộc nhờ trung gian của những quan hệ loạn luân sống lại theo cách thoái lùi. Sự giải phóng tốt nhất là thông qua lao động thường nhật”. Nhưng lao động chỉ là sự cứu giúp khi nó là một hành động không ép buộc, và bản thân nó không có sự cưỡng bức ấu trĩ. Xét về mặt này, nghi thức tôn giáo thể hiện ở mức độ cao như là sự không hoạt động được cấu trúc, và đồng thời là dấu hiệu báo trước của lao động hiện đại” (Tâm lí học vô thức, tr.455). Đây là một phiên bản của khái niệm Arbeitmacht fret, được chế độ Quốc xã áp dụng một cách quá đê hèn trong những trại lao động nơi mà chế độ nô lệ hoàn toàn được thiết chế hóa. Chỉ khi lao động được tự do lựa chọn và được chấp nhận như một nghĩa vụ của cuộc sống thì sự biến đổi của libido mới có thể diễn ra. Khi con người được tự do lựa chọn một nghề nghiệp và tình nguyện hi sinh nhiều thích thú và thỏa mãn nhục dục vì lợi ích học tập và thực hành thì sự biến đổi của libido mới thành công.
[64]: George Hoganson đề cập đến vấn đề uy quyền này rất rộng trong tác phẩm của ông Cuộc đấu tranh của Jung với Freud.
[65]: phép đo năng lượng - ND
[66]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, các đoạn từ 6 trở đi.
[67]: Như trên, đoạn 5.
[68]: Như trên, đoạn 58.
[69]: Như trên.
[70]: Như trên.
[71]: Một nhà liệu pháp tâm lí áp dụng quan điểm năng lượng của thuyết mục đích có lẽ thực sự bị xem như phi cá nhân và thiếu đồng cảm. Chỉ có ít chú ý được dành cho những yếu tố nhân quả như những sang chấn thời niên thiếu hay những quan hệ bị lạm dụng và xung đột trong quá khứ. Sự tập trung sẽ hướng vào việc theo dõi luồng năng lượng từ bản ngã vào vô thức (sự thoái lùi) tới sự thích nghi mới (sự tiến triển) và phân tích liên tục thái độ và những cấu trúc nhận thức có thể ngăn cản hay chặn dòng chảy libido bằng việc tìm kiếm gradient hay con đường tự nhiên. Nó là một cách tiếp cận nhận thức rất nhiều. Một nhà phân tích đồng cảm, ngược lại, sẽ tìm kiểm những lí do quá khứ cho những khó khăn hiện tại và thể hiện sự hiểu biết bằng cách nêu ra việc quá khứ tạo ra những vấn đề trong hiện tại như thế nào. Nhìn chung Jung cảm thấy rằng cách tiếp cận theo trường phái Freud mang tính nguyên nhân - cơ chế, mang nhiều tính đồng cảm trong khi cách tiếp cận của riêng ông mang tính phi cá nhân và theo thuyết mục đích - năng lượng nhiều hơn. Nhà phân tích, người khảo sát tâm thần bằng cách phân tích chuyển động của năng lượng và tạo điều kiện cho luồng năng lượng hướng tới mục tiêu ổn định và cân bằng, là người đang sử dụng phương pháp phi cá nhân này. Những người hướng ngoại, theo cách hiểu về loại hình tâm lí của Jung, thường hấp dẫn nhiều hơn với các lí thuyết nhân quả, trong khi người hướng nội thích cách tiếp cận theo thuyết mục đích mang tính trừu tượng nhiều hơn. Nhiều nhà phân tích hiện đại cố gắng kết hợp cả hai.
[72]: Sự khác nhau giữa Adler và Freud là một yếu tố quan trọng trong sự đấu tranh của Jung với Freud, và nỗ lực không ngừng của ông để hiểu những động lực phi cá nhân cũng đã đi vào lí thuyết các kiểu tâm lí của ông. Một lí do khiến Jung bị hút vào việc khảo sát những khác biệt về nhân cách theo các kiểu tâm lí có liên quan với sự hiểu biết sự khác nhau giữa hai quan điểm lí thuyết của Adler và Freud. Cả hai lí thuyết này đều đứa ra nhiều điều và cả hai dường như đều đúng theo nhiều mặt. Nhưng Jung, người khác cả Freud và Adler, kết luận rằng lí thuyết của Freud về cơ bản là hướng ngoại vì nó giả định những động cơ tìm kiếm sự thỏa mãn và sự giải thoát qua những đối tượng, trong khi lí thuyết của Adler cơ bàn là nhu cầu của người hướng nội bởi vì nó nhìn nhận con người về căn bản tìm cách thiết lập sự kiểm soát của bản ngã đối với các đối tượng. Jung coi nhu cầu quyền lực được mô tả trong lí thuyết của Adler về căn bản là nhu cầu của những cá nhân hướng nội để kiểm soát thế giới đối tượng hơn là việc liên hệ và tìm được sự thỏa mãn từ nó. Những người hướng nội bị thúc đầy nhiều hơn bởi động cơ về quyền lực và sự kiểm soát sự đe dọa những đối tượng hơn là tìm kiếm sự thỏa mãn. Ngược lại, những người hướng ngoại, được định hướng bởi nguyên tắc thích thú và họ phù hợp với cách nhìn tâm lí của Freud. Cả Freud, người coi con người về cơ bản là hướng ngoại và bị thúc đẩy bởi nguyên tắc thích thú, và Adler, người coi con người là hướng nội và bị thúc đẩy bởi nhu câu quyền lực, đều đưa ra những giải thích chân thực về hành vi con người, nhưng mỗi người tiếp cận tâm thần từ một cách nhìn khác nhau và vì thể đã mô tả một kiểu cá nhân khác nhau.
[73]: Paranoid: thể giống hoang tưởng; hoang tưởng không hệ thống - ND.
[74]: Jung, Toàn Tập, Tạp 8, các đoạn từ 79 đến 87.
[75]: Như trên, các đoạn từ 88 đến 113.
[76]: Jung, Những lá thư, Tập 2, tr.624.
[77]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, các đoạn từ 818 đến ,968.
[78]: Vùng này - vô thức tập thể - đã khiến những nhà tâm lí học kinh viện tránh xa Jung và coi ông là một nhà thần bí. Chỉ gần đầy khi những công cụ trở nên có sẵn, dưới hình thức những kĩ thuật nghiên cứu sinh học, chủ yếu tập trung vào bộ não và mới liên hệ của sinh hóa não với cảm xúc và tư duy thì mới giải quyết được những già thuyết sâu sắc do Jung nêu ra cách đây nhiều thập kỉ. Nhiều nghiên cứu gần đầy về các cơ sở sinh học của hành vi con người có xu hướng xác nhận quan điểm của Jung rằng chúng ta thừa hưởng rất nhiều hình thức hành vi và tâm thần mà trước đây đã được coi là do được học và là kết quả của sự nuôi dưỡng, không phải bản chất (xem Satinover, Stevens, Tresan). Với Jung, các cổ mẫu giống như những bản năng với cấu trúc di truyền và bẩm sinh.
[79]: Trên thực tế, Jung một số tác giả (chẳng hạn, Philip Rieff) coi như là một người sưu tập đổ cổ về thời cổ thế kỉ 18, khi đó những học giả và nhà khoa học không chuyên chỉ thu thập một ít thông tin kì lạ về mọi thứ trong thế giới và sáng lập ra những thư viện và bảo tàng thể hiện một sự hiểu biết ít ỏi về những gì đang được lưu trữ. Không cần phải nói thêm rằng, Rieff là một người theo trường phái Freud cực đoan.
[80]: Jung, Những lá thư, Tập 1, tr.29.
[81]: Như trên, tr.30.
[82]: Như trên, tr.29.
[83]: Jung, Toàn Tập, Tập 4, đoạn 728.
[84]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr.161.
[85]: Như trên.
[86]: Jung, Toàn Tập, Tập 8, đoạn 400.
[87]: Như trên.
[88]: Như trên, đoạn 401.
[89]: Như trên, đoạn 402.
[90]: Như trên, đoạn 367.
[91]: Như trên, đoạn 368, trích Bleuler.
[92]: tâm thần tràn lan hay thuyết phiếm tâm thần (pan-psychism).
[93]: Như trên, đoạn 376.
[94]: Như trên, đoạn 377.
[95]: Như trên.
[96]: Như trên.
[97]: Như trên.
[98]: Như trên.
[99]: Như trên.
[100]: Như trên.
[101]: Như trên, đoạn 398.
[102]: Như trên, đoạn 404.
[103]: Như trên.
[104]: Như trên, đoạn 405.
[105]: Như trên, đoạn 406.
[106]: Như trên.
[107]: Như trên.
[108]: Như trên.
[109]: Như trên, đoạn 407.
[110]: Như trên, đoạn 408.
[111]: Như trên, đoạn 415.
[112]: Như trên.
[113]: Như trên, đoạn 416.
[114]: Như trên.
[115]: Như trên.
[116]: Những thảo luận đây đủ hơn về quan điểm của Jung về chủ đề cái xấu, xem Jung nói về cái xấu, biên soạn với lời giới thiệu bao quát của Murray Stein.
[117]: Anima: phần tâm thần giao tiếp với vô thức; từ trái nghĩa là persona (cái mặt nạ). Anima là thành tố nữ tính của hình ảnh tâm hồn, trái ngược với thành tố nam tính gọi là animus. Anima thường được dùng như thể nó là thành tố nữ của một người nam và animus chỉ thành tố nam của một người nữ. Nhưng cả hai giới nam và nữ đều có cả hai thành tố đó (ND., theo Horace B. English và Ava C. English).
[118]: Jung, Toàn Tập, Tập 6, đoạn 799.
[119]: Như trên.
[120]: Như trên.
[121]: Như trên, đoạn 687.
[122]: Như trên.
[123]: Như trên, đoạn 798.
[124]: Như trên.
[125]: Như trên.
[126]: Jung, Toàn Tập, Tập 13, đoạn 70.
[127]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, các trang 185-188.
[128]: Như trên, tr. 186.
[129]: Trích từ seminar ảo mộng, trích trong Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr.392.
[130]: Jung, Toàn Tập, Tập 6, đoạn 801.
[131]: Như trên.
[132]: Như trên.
[133]: Như trên, đoạn 801.
[134]: Như trên.
[135]: Như trên, đoạn 802.
[136]: Quan điểm này viết trên tờ Người New York, ngày 9 tháng 9 năm 1996, tr34 khi các ứng cử viên tổng thống đang chuẩn bị cho cuộc bầu cử sắp tới.
[137]: Jung, Toàn Tập, Tập 6, đoạn 804.
[138]: Như trên.
[139]: Như trên.
[140]: Như trên.
[141]: Như trên.
[142]: Như trên.
[143]: Như trên.
[144]: Jung, Toàn Tập, Tập 17, đoạn 338.
[145]: Jung, Toàn Tập, Tập 9i, đoạn 26.
[146]: Như trên, đoạn 41.
[147]: Như trên, đoạn 42.
[148]: Như trên.
[149]: Jung, Toàn Tập, Tập 16, đoạn 521.
[150]: Jung, Toàn Tập, Tập 9ii, đoạn 29.
[151]: Jung, Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, các trang 170-199.
[152]: Như trên, tr.378.
[153]: Như trên, tr.379.
[154]: Ghi chép của Jung về sự kiện ấn tượng này nằm trong Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, các trang 189-191.
[155]: Như trên, các trang 195-197.
[156]: Như trên, tr.199.
[157]: Jung, Toàn Tập, tập 9ii, các đoạn 57-58.
[158]: Như trên, đoạn 59.
[159]: Như trên.
[160]: Như trên.
[161]: Như trên, đoạn 60.
[162]: Như trên.
[163]: Như trên, các đoạn 351-357.
[164]: Như trên, đoạn 351.
[165]: Như trên, đoạn 357.
[166]: Như trên, đoạn 355.
[167]: Jung, Toàn Tập, tập 8, đoạn 778.
[168]: Như trên, đoạn 550.
[169]: Jung, như trên, đoạn 769.
[170]: Jung, Toàn Tập, tập 9i, các trang 290-354.
[171]: Jung, Toàn Tập, tập 13, các trang 199-201.
[172]: Con người hiện đại đi tìm tâm hồn là tên của một cuốn sách nổi tiếng của Jung xuất bản năm 1933.
[173]: Jung, Tâm lí học về Kundalini Yoga.
[174]: Tập sách này, xuất bản năm 1952, có tên WNaturerklarungund Psyche (Studien aus dem C.G. Jung - Institut Zurich, 4).
[175]: Jung, Toàn Tập, tập 13, các đoạn 248-249.
[176]: Jung, Toàn Tập, tập 10, các trang 437-455.
[177]: Jung, Toàn Tập, tập 9i, các trang 275-289.
[178]: Như trên, các trang 290-354.
[179]: Như trên, đoạn 520.
[180]: Như trên, đoạn 221.
[181]: Như trên, đoạn 522.
[182]: Như trên, đoạn 523.
[183]: Như trên, đoạn 525.
[184]: Các bức vẽ màu sắc đẹp của series này nằm trong Toàn Tập, tập 9/1, sau trang 292.
[185]: Như trên, đoạn 538.
[186]: Như trên.
[187]: Như trên.
[188]: Như trên.
[189]: Như trên, đoạn 544.
[190]: Như trên, đoạn 548.
[191]: Như trên, đoạn 545.
[192]: Như trên, đoạn 548.
[193]: Như trên, đoạn 550.
[194]: Như trên, đoạn 549.
[195]: Như trên, đoạn 556.
[196]: Biểu tượng của trẻ con vĩnh cửu - ND.
[197]: Jung, Toàn Tập, tập 9ii, đoạn 410.
[198]: Quaterenio = cấu trúc bốn phần - ND.
[199]: Như trên, đoạn 355.
[200]: Như trên, đoạn 410.
[201]: Synchronicity: Trong bài viết Carl Jung và Wolfgang Pauli, dịch giả Hồng Dương dịch khái niệm Synchronicity thành “lý đồng thời tương ứng”. Trong Vũ trụ nhân linh, tác giả Kim Định gọi đây là “nguyên lý đồng thời”.
[202]: Ông cũng quan tâm đến bằng chứng cho sự hiện diện của ma quỷ và poltergeists, những hiện tượng hoàn toàn giáp ranh. Và khi đó có mối liên hệ đặc biệt mà ông nhận thấy giữa tâm thần (nội tâm) và đối tượng (bên ngoài), như trong “hiện tượng chiếu ngoại xúc tác” ông nhận thấy lúc có sự hiện diện của Freud khi họ nghe thấy một tiếng động lớn từ tủ sách gỗ trong phòng đọc của Freud. Ông nói về sự kiện này trong Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ, tr. 155.
[203]: Còn gọi là “bốc quẻ” - ND.
[204]: Jung, Toàn Tập, tập 8, đoạn 843.
[205]: Như trên, đoạn 515.
[206]: Tiểu luận này nằm trong Toàn Tập, tập 8, các trang 419-519.
[207]: Jung, Những lá thư, tập 2, các trang 108-109.
[208]: Như trên, đoạn 840.
[209]: Như trên, đoạn 439.
[210]: Như trên.
[211]: Như trên, đoạn 440.
[212]: Như trên.
[213]: Như trên.
[214]: Như trên.
[215]: Như trên., đoạn 850.
[216]: Như trên.
[217]: Như trên, đoạn 780.
[218]: Như trên, đoạn 850.
[219]: Như trên, đoạn 960
[220]: Như trên, đoạn 962.
[221]: Như trên, đoạn 964.
[222]: Như trên, đoạn 965.
[223]: Như trên.