Bản Đồ Tâm Hồn Con Người Của Jung

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Bản ngã (Bản ngã-ý thức)

❊ ❊ ❊

Tôi bắt đầu mở ra tấm bản đồ tâm thần của Jung bằng cách xem xét sự mô tả của ông về ý thức con người và đặc điểm quan trọng nhất của nó, bản ngã (Ego). “Bản ngã” là một thuật ngữ bắt nguồn từ một từ Latin có nghĩa là “tôi”. Ý thức là trạng thái tỉnh thức và tại trung tâm của nó có một cái “tôi”. Đây là một điểm khởi đầu rõ ràng, và là con đường dẫn vào không gian nội tâm rộng lớn mà chúng ta gọi là tâm thần. Nó cũng là một đặc điểm phức tạp của tâm thần và chứa đựng nhiều điều khó hiểu và những câu hỏi không lời giải đáp.

Mặc dù Jung quan tâm nhiều đến việc phát hiện những gì nằm dưới ý thức trong các vùng sâu của tâm thần, nhưng ông cũng nhận lấy nhiệm vụ mô tả và giải thích ý thức con người. Ông muốn tạo ra một tấm bản đồ hoàn chỉnh về tâm thần, do vậy đây là điều không thể tránh khỏi: bản ngã ý thức là một đặc điểm quan trọng của vùng mà ông đang khảo sát. Thực sự Jung không thể được gọi là một nhà tâm lí học bản ngã, nhưng ông đã mang được cho nó một giá trị xã hội. Ông đưa ra một giải thích về những chức năng của bản ngã, và ông nhận thấy tầm quan trọng sâu sắc của một sự ý thức lớn hơn đối với tương lai của cuộc sống loài người và văn hóa. Hơn thế nữa, ông nhận thức sâu sắc rằng chính bản ngã ý thức là điều kiện tiên quyết cho sự khảo sát tâm lí. Nó chính là một công cụ. Với tư cách là một con người, kiến thức của chúng ta về bất kì điều gì cũng đều bị quy định bởi những khả năng và giới hạn của ý thức của chúng ta. Do đó, nghiên cứu ý thức, là đê hướng sự chú ý vào một phương tiện dùng cho sự khảo sát và thăm dò tâm lí.

Tại sao lại là quá quan trọng, đặc biệt là trong tâm lí học, việc hiểu được bản chất của bản ngã - ý thức? Nguyên nhân là vì chúng ta cần điều chỉnh trước những sai lạc. Jung nói rằng mọi nền tâm lí học đều là một sự tự thú hay tự bạch có tính cá nhân6. Nhà tâm lí học sáng tạo nào cũng bị giới hạn bởi những thiên kiến cá nhân mình và những giả định không được kiểm chứng. Không phải mọi thứ tưởng như là đúng, ngay cả với ý thức của một người nghiên cứu chân thành và nhiệt tình nhất, đều nhất thiết là tri thức chính xác. Nhiều điều được xem là tri thức thì thật ra khi được kiểm tra kĩ lưỡng và nghiêm ngặt, chúng lại chỉ là những thiên kiến hay niềm tin dựa trên sự bóp méo, định kiến, tin đồn, suy luận, hay thuần túy huyễn tưởng. Những niềm tin được chấp nhận như là tri thức và được bám vào như những điều chắc chắn đáng tin cậy. “Tôi tin để tôi có thể hiểu”, một nhận xét nổi tiếng của Thánh Augustine, nghe có vẻ xa lạ với con người hiện đại ngày nay, nhưng điều này thường đúng khi con người bắt đầu nói về thực tại tâm lí. Jung tìm cách kiểm chứng những cơ sở của tư tưởng của mình một cách nghiêm túc bằng việc nghiên cứu công cụ mà ông sử dụng để có được các khám phá của mình. Ông luận chứng mạnh mẽ rằng sự hiểu biết cơ bản về ý thức là yếu tố cốt yếu cho khoa học cũng giống như nó đã từng là yếu tố cốt yếu cho triết học. Việc hiểu biết chính xác tâm thần hay những gì liên quan tới nó, phụ thuộc vào trạng thái ý thức của một người. Jung muốn đưa ra một sự hiểu biết chính xác về ý thức. Đó là mục tiêu hàng đầu của ông khi viết tác phẩm then chốt, Các loại hình tâm, mô tả tám phong cách nhận thức phân biệt ý thức con người với xử lí thông tin và kinh nghiệm sống một cách khác nhau.

Quan hệ của bản ngã với ý thức

Do vậy, Jung đã viết nhiều về bản ngã ý thức trong các tác phẩm đã công bố của mình. Vì mục đích của tôi ở đây, tôi sẽ nói chủ yếu đến chương đầu có tiêu đề “Bản ngã” của tác phẩm thời kì muộn của ông là Aion cũng như một số những tác phẩm và đoạn văn có liên quan khác. Chúng tóm lược quan điểm của ông một cách đầy đủ và phản ánh suy nghĩ chín chắn của ông về chủ đề này. Phần cuối của chương này tôi cũng sẽ trình bày một số tài liệu tham khảo về Các loại hình tâm lí.

Aion có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó là tác phẩm trong những năm cuối đời của Jung và phản ánh sự gắn bó sâu sắc của ông với lịch sử tri thức và tôn giáo phương Tây và tương lai của nó, cũng như tư tưởng chi tiết nhất của ông về cổ mẫu của tự ngã (self). Bốn chương đầu tiên về sau được đưa thêm vào cuốn sách nhằm cung cấp cho độc giả phần nhập môn lí thuyết tâm lí học đại cương của ông và đưa ra một điểm xuất phát để bước vào kho từ vựng của tâm lí học phân tâm. Dù những trang dẫn nhập này không chi tiết hay đặc biệt chuyên môn nhưng chúng lại chứa đựng những nghị luận cô đọng nhất của Jung về các cấu trúc tâm thần bao gồm bản ngã, bóng dáng vô thức trái ngược với ý thức (shadow), phần tâm thần nữ tính (anima), phần tâm thần nam tính (animus), và tự ngã.

Ở đây, Jung định nghĩa bản ngã như sau: “Nó hình thành nên, có thể nói, trung tâm của trường ý thức, và trong chừng mực trường này bao hàm nhân cách kinh nghiệm thì bản ngã là chủ thể của tất cả mọi hành vi ý thức của cá nhân”7. Ý thức là một “trường” và cái mà Jung gọi là “nhân cách kinh nghiệm” ở đây chính là nhân cách của chúng ta như chúng ta nhận thức được và trải nghiệm được nó trực tiếp. Bản ngã, như “chủ thể của tất cả những hành vi ý thức của cá nhân”, giữ địa vị trọng tâm trong trường này. Thuật ngữ “bản ngã” nói tới kinh nghiệm về bản thân của một người như là một trung tâm của ý chí, khát vọng, suy nghĩ, và hành động. Định nghĩa về bản ngã như trung tâm của ý thức nói trên xuyên suốt nhất quán trong mọi tác phẩm của Jung.

Jung tiếp tục bằng việc bình luận về chức năng của bản ngã bên trong tâm thần “Quan hệ của một nội dung tâm thần với bản ngã tạo nên tiêu chuẩn của ý thức của nó, vì không có nội dung nào có thể được ý thức trừ khi nó được phản ánh cho một chủ thể”8. Bản ngã là một “chủ thể”, còn những nội dung tâm thần được “phản ánh” cho nó. Nó giống như một cái gương. Hơn thế nữa, một sự gắn liền với bản ngã là điều kiện cần thiết để làm cho bất kì điều gì trở nên có ý thức - cảm xúc, suy nghĩ, tri giác hay huyễn tưởng. Bản ngã là một loại gương mà tâm thần có thể soi mình và có thể trở nên có ý thức. Mức độ mà một nội dung tâm thần được nắm lấy và phản ánh bởi bản ngã cũng chính là mức độ mà nó được xem là thuộc về phạm vi ý thức. Khi một nội dung tâm thần mới chỉ được ý thức một cách mơ hồ hời hợt thì nó vẫn chưa được nắm bắt và hiện diện trên bề mặt phản ánh của bản ngã.

Trong các đoạn văn tiếp sau định nghĩa này về bản ngã, Jung đưa ra một sự khác biệt quan trọng giữa những đặc điểm ý thức và vô thức của tâm thần: ý thức là những gì chúng ta biết và vô thức là tất cả những gì mà chúng ta không biết. Trong một tác phẩm khác viết cùng thời, ông nêu ra điều này một cách chính xác hơn: “Vô thức không chỉ đơn thuần là những gì không biết mà thật ra nó là phần tâm thần không được biết; và chúng tôi xác định chúng... là tất cả những gì trong chúng ta mà nếu xuất hiện ở ý thức, sẽ không khác với những nội dung tâm thần được biết”9. Sự khác biệt giữa ý thức và vô thức, là vấn đề cơ bản trong lí thuyết tổng quát của Jung về tâm thần, vì nó hoàn toàn thuộc tâm lí học chiều sâu, nó cho rằng có một số nội dung được phản ánh bởi bản ngã và nằm trong ý thức, ở đó chúng có thể được tiếp tục khảo sát và thao tác, trong khi những nội dung tâm thần khác nằm ngoài ý thức tạm thời hoặc là thường xuyên. Vô thức bao gồm tất cả những nội dung tâm thần nằm ngoài ý thức, bất chấp mọi lí do và thời gian. Thực sự đây là phần rất lớn của thế giới tâm thần. Vô thức là lĩnh vực chủ yếu của việc nghiên cứu trong tâm lí học chiều sâu và mối quan tâm sâu sắc nhất của Jung nằm trong việc khảo sát vùng này. Tôi sẽ đề cập thêm về nó sau này.

Thường trong các tác phẩm của mình, Jung nói tới bản ngã như một “phức cảm”, một thuật ngữ sẽ được thảo luận kĩ hơn ở chương sau. Tuy nhiên, trong đoạn này của Aion, Jung chỉ đơn giản gọi nó là một nội dung đặc thù của ý thức, qua đó ông cho rằng ý thức là một phạm trù rộng hơn bản ngã và bao hàm không chỉ bản ngã.

Vậy thì bản thân ý thức, cái trường mà bản ngã nằm trong đó và chiếm giữ vị trí trung tâm là gì? Nói một cách đơn giản nhất, ý thức là sự nhận thức. Nó là trạng thái tỉnh thức, của quan sát và ghi nhận những gì diễn ra trong thế giới xung quanh và nội tâm. Dĩ nhiên con người không chỉ là sinh vật duy nhất có ý thức trên hành tinh này. Động vật khác cũng có ý thức, bởi vì rõ ràng chúng có thể quan sát và phản ứng trước môi trường sống theo những cách điều chỉnh thích ứng cẩn thận của chúng. Sự nhạy cảm của cây cỏ trước môi trường cũng có thể được coi như một hình thức của ý thức. Tự thân thì ý thức không tách con người ra khỏi những hình thức khác của sự sống. Cũng vậy, ý thức không phải là những gì tách người lớn ra khỏi trẻ con và đứa trẻ sơ sinh. Theo nghĩa chính xác nhất, ý thức con người, tuyệt nhiên, không phụ thuộc chút nào vào tuổi tác hay sự phát triển tâm lí. Một người bạn quan sát sự ra đời của con gái mình đã nói với tôi là anh ta đã xúc động như thế nào lúc mà, sau khi nhau được cắt và mắt đứa bé được lau sạch, bé gái mở mắt và nhìn xung quanh phòng. Rõ ràng đây là một dấu hiệu của ý thức. Con mắt là một chỉ báo sự tồn tại của ý thức. Sự sinh động và chuyển động của nó là tín hiệu của một sinh vật có nhận thức đang quan sát thế giới. Dĩ nhiên ý thức không phải chỉ phụ thuộc vào cái nhìn, mà cả các giác quan khác. Trong tử cung, trước khi mắt của đứa bé hoạt động, nó đã ghi nhớ các âm thanh, phản ứng với những tiếng nói và âm nhạc và biểu lộ một mức độ đáp ứng đáng kể. Chúng ta chưa biết chính xác khi nào thì phôi thai bắt đầu đạt được một mức độ nhận thức và phản ứng mà thực sự có thể gọi là ý thức nhưng nó chắc chắn là sớm và ở trong giai đoạn trước khi đứa trẻ được sinh ra.

Đối lập với ý thức là giấc ngủ sâu không mơ, hoàn toàn không có đáp ứng và nhận thức bằng tri giác. Và sự mất ý thức thường xuyên ở một cơ thể thực sự chính là định nghĩa về cái chết, ngoại trừ trường hợp hôn mê kéo dài. Ý thức, dù chỉ ở dạng tiểm năng cho một ý thức trong tương lai, là một "nhân tố sống”; nó thuộc về những cơ thể sống.

Với ý thức, bất kì sự phát triển nào cũng là bổ sung thêm nội dung đặc thù cho nó. Trên lí thuyết, ý thức con người có thể tách khỏi những nội dung của mình - những suy nghĩ, kí ức, cá tính, huyễn tưởng, tình cảm, hình ảnh, và ngôn từ lầp đầy không gian của nó. Nhưng trên thực tế, điều này gần như là không thể. Trên thực tế, hình như chỉ có những bậc thầy cao minh về tâm thần mới có thể làm được điều đặc biệt này một cách thuyết phục. Thật sự chỉ có một hiền nhân mới có thể tách ý thức khỏi những nội dung của nó và giữ chúng độc lập, ý thức của họ không bị xác định bởi sự đồng nhất với những suy nghĩ và hình ảnh chọn lọc. Với đa phần mọi người, ý thức mà không có một đối tượng ổn định thì chỉ là một điều gì cực kì thoáng qua và tạm thời. Tính thực tế của ý thức và cảm giác về sự vững chắc được quy định một cách điển hình từ những đối tượng và nội dung ổn định như các hình ảnh, kí ức, và suy nghĩ. Bản chất và sự liên tục trong ý thức được tạo dựng từ chúng. Nhưng, như bằng chứng từ những bệnh nhân đột quỵ cho thấy, những nội dung và thậm chí cả những chức năng bản ngã của ý thức - suy nghĩ, ghi nhớ, gọi tên, nói, nhận biết những hình ảnh, gương mặt và con người quen thuộc - thực sự là thoáng qua và mỏng manh hơn chính bản thân ý thức. Một người có thể mất trí nhớ hoàn toàn, nhưng vẫn còn ý thức. Ý thức giống như một căn phòng mà những nội dung tâm thần tạm thời lấp đầy nó. Và ý thức có trước bản ngã, cái sau này sẽ trở thành trung tâm cuối cùng của nó.

Bản ngã, giống ý thức, vượt lên trên và tồn tại lâu hơn những nội dung đặc thù chiếm giữ căn phòng ý thức đó tại một thời điểm nhất định. Bản ngã là tiêu điểm bên trong ý thức, là đặc điểm quan trọng nhất và có lẽ thường xuyên nhất của nó. Trái ngược với quan điểm của phương Đông, Jung cho rằng nếu không có một bản ngã, thì bản thân ý thức sẽ trở nên đáng ngờ. Nhưng quả là có những chức năng nào đó của bản ngã có thể bị tạm ngừng hoặc dường như bị loại bỏ mà không có sự phá hủy ý thức hoàn toàn, và do vậy một loại ý thức “không có bản ngã”, tức một kiểu ý thức cho thấy rất ít biểu hiện của một trung tâm ý chí, tức một “cái tôi”, là một khả năng của con người ít nhất cũng trong một giai đoạn ngắn.

Với Jung, bản ngã hình thành nên trung tâm cơ bản của ý thức và trên thực tế, nó quyết định, trong một phạm vi rộng lớn, những nội dung nào tồn tại trong ý thức và những nội dung nào bị đẩy vào vô thức. Bản ngã có nhiệm vụ duy trì những nội dung trong ý thức và nó cũng có thể loại bỏ những nội dung khỏi ý thức bằng cách ngừng phản ánh chúng. Jung sử dụng một thuật ngữ của Freud mà ông thấy hữu ích là bản ngã có thể “dồn nén” những nội dung nó không thích hay cảm thấy đau đớn không thể chịu được hoặc không thích hợp với những nội dung khác. Nó cũng có thể phục hồi những nội dung đó từ kho dự trữ trong vô thức (tức là kho kí ức) với điều kiện (a) chúng không bị ngăn chặn bởi cơ chế phòng vệ, chẳng hạn như dồn nén nhằm tránh những xung đột không thể chấp nhận được đó, và (b) chúng có một mối liên hệ liên tưởng đủ mạnh với bản ngã - chúng được “hiểu” tương đối đầy đủ.

Bản ngã về cơ bản không được tạo thành và xác định bởi những nội dung được hậu đắc của ý thức, chẳng hạn như những sự đồng nhất nhất thời hoặc thậm chí trường diễn. Nó giống như một cái gương hay nam châm giữ những nội dung này ở tiêu điểm của nhận thức. Nhưng nó cũng thể hiện ý chí và hành động. Là trung tâm sống còn của ý thức, nó có trước sự sở đắc ngôn ngữ, bản sắc cá nhân, và thậm chí trước cả sự nhận biết một cái tên riêng. Những sở đắc về sau của bản ngã, chẳng hạn như sự nhận biết mặt và tên của một người là những nội dung kết hợp chặt chẽ xung quanh trọng tâm này của ý thức, và chúng có tác động trong việc xác định bản ngã và mở rộng phạm vi chi phối hành động và tự nhận thức của nó. Về cơ bản, bản ngã là một trung tâm ảo của sự nhận thức, tồn tại ít nhất từ khi (đứa trẻ) được sinh ra, là con mắt biết nhìn và đã luôn luôn nhìn thấy thế giới từ góc nhìn thuận lợi này, từ cơ thể, và từ quan điểm cá nhân. Tự thân thì nó không là gì cả, tức là, không phải là một vật. Do vậy, nó rất khó nắm bắt và không thể ghim chặt nó lại. Thậm chí chúng ta có thể phủ nhận rằng nó không hề tồn tại. Nhưng nó luôn luôn hiện diện. Nó không phải là sản phẩm của sự dinh dưỡng, trưởng thành hay phát triển. Nó mang tính bẩm sinh. Trong khi có thể thấy nó phát triển và đạt được sức mạnh từ đây trở đi thông qua “những va chạm” với thực tế (xem bên dưới), nhưng hạt nhân của nó đã “có sẵn”. Nó xuất hiện cùng lúc với sự ra đời của đứa trẻ.

Như Jung mô tả về tâm thần, có một mạng lưới những liên tưởng trong số nhiều nội dung của ý thức. Tất cả đều liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với yếu tố trung tâm, tức là bản ngã. Bản ngã là trung tâm của ý thức không phải chỉ xét về địa lí mà còn về mặt động lực. Nó là trung tâm năng lượng làm vận hành những nội dung của ý thức và sắp xếp chúng theo những trật tự ưu tiên. Bản ngã là trung tâm của việc ra quyết định và ý chí tự do. Khi tôi nói “tôi đi đến bưu điện”, bản ngã của tôi đã quyết định và động viên năng lượng thể chất và xúc cảm cần thiết để làm việc ấy. Bản ngã hướng tôi đến bưu điện và mang tôi đến đó. Chính người điều hành đã đưa ra những ưu tiên: “đến bưu điện và không ngẫu hứng tạt sang công việc đi dạo!”. Trong khi bản ngã có thể được coi như trung tâm của chủ nghĩa vị kỉ (lấy bản ngã làm trung tâm), nó cũng là trung tâm của chủ nghĩa vị tha. Bản thân bản ngã như Jung hiểu và mô tả, là trung tính về đạo đức, không phải là một “cái xấu xa” như chúng ta thường được nghe thấy trong ngôn từ hằng ngày (ồ, anh ta có một bản ngã như vậy!) mà là một phần tất yếu của đời sống tâm lí con người. Bản ngã là cái gì tách con người khỏi những sinh vật cũng có ý thức khác; nó cũng tách một con người cá nhân khỏi những người khác. Nó là tác nhân cá thể hóa trong ý thức con người.

Bản ngã tạo tiêu điểm cho ý thức con người và khiến cho hành vi ý thức có tính mục đích và phương hướng. Bởi vì chúng ta có một bản ngã, chúng ta có được sự tự do lựa chọn có thể trái với những bản năng sinh tồn, sinh sản và sáng tạo. Bản ngã có khả năng làm chủ một khối lượng lớn nội dung trong ý thức và nhào nặn chúng. Nó là một yếu tố liên kết mạnh mẽ và là một nhân tố tổ chức. Bởi vì con người có một sức mạnh như vậy ở trung tâm của ý thức nên họ có thể thống nhất và định hướng những khối lượng lớn dữ liệu. Một bản ngã mạnh có thể đạt được và làm chuyển động theo một hướng xác định một khối lượng lớn những nội dung ý thức. Một bản ngã yếu không thể làm được như vậy và dễ khuất phục trước những xung lực và những phản ứng xúc cảm. Một bản ngã yếu dễ bị phân tán và kết quả là ý thức mất đi sự tập trung và động cơ bền vững.

Con người vẫn có thể duy trì ý thức trong lúc ngừng lại nhiều hoạt động bình thường của bản ngã. Bằng ý chí chúng ta có thể khiến cho chính mình trở thành thụ động và không hoạt động, chỉ đơn thuần quan sát thế giới bên trong và bên ngoài, giống như một chiếc máy quay phim. Tuy nhiên, bình thường thì con người không thể duy trì một ý thức quan sát do ý chí kiềm chế như vậy trong một khoảng thời gian dài, bởi vì bản ngã và phần tâm thần rộng hơn thường nhanh chóng gắn ngay với những gì đang quan sát. Chẳng hạn, khi chúng ta xem một bộ phim, có lẽ chúng ta chỉ bắt đầu bằng việc đơn giản xem và hiểu các nhân vật và các cảnh. Nhưng ngay sau đó chúng ta bắt đầu đồng nhất với nhân vật này hay nhân vật khác, và cảm xúc của chúng ta bị xao động. Bản ngã sẵn sàng hoạt động, và nếu ai gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa những hình ảnh trong phim và thực tế (một chức năng khác của bản ngã) thì người đó có thể bị lôi cuốn vào những hành vi thể chất. Cơ thể bị huy động và bản ngã cố gắng tìm một hướng hành động nào đó. Thực sự là chính các bộ phim được xây dựng để người xem cùng nhập vai và ủng hộ hành động mà các nhân vật trong phim đang thực hiện hay cảm nhận. Được nhập cuộc bằng cách ấy, bản ngã được kích hoạt trở thành trung tâm của ước muốn, hi vọng và thậm chỉ cả ý định nữa. Có thể hiểu được cho một người nào đó đã ra một quyết định quan trọng trong cuộc đời khi đang xem một bộ phim, mà nguyên nhân là do kết quả của những cảm xúc và suy nghĩ phát sinh trong ý thức bởi những hình ảnh trong phim. Nhiều người sau khi rời khỏi rạp chiếu phim trở nên bạo lực hay thèm khát nhục dục cũng do kết quả tác động trực tiếp của phim ảnh. Bản ngã trở nên nhập cuộc bằng xúc cảm, sự đồng nhất hóa và ham muốn, và sử dụng chức năng định hướng và năng lượng của mình để hành động.

Hiển nhiên rằng, sự tự do của bản ngã là bị giới hạn. Nó dễ bị ảnh hưởng bởi cả kích thích tâm thần nội tâm lẫn bởi kích thích của môi trường bên ngoài. Bản ngã có thể đáp ứng với một kích thích đe dọa bằng cách giơ tay và chống đỡ; hoặc nó có thể bị kích hoạt và kích thích bởi một lực thúc nội tâm để sáng tạo, để yêu thương, hoặc tìm cách trả thù. Nó cũng có thể đáp ứng một xung lực của cái tôi, tức là theo hướng ái kỷ. Như vậy, có thể nó cũng bị chi phối bởi một nhu câu trả thù, chẳng hạn.

Do đó, ý thức thức tỉnh được hội tụ bởi sự ghi nhận của bản ngã về những kích thích và hiện tượng của nội tâm cũng như môi trường, từ đó làm cho cơ thể hoạt động. Cần nhắc lại rằng nguồn gốc của bản ngã có từ thời ban đầu trẻ con và ấu thơ. Ngay cả một đứa bé sơ sinh cũng lưu ý đến những hình thể ở môi trường xung quanh, một số trong môi trường đó có vẻ thú vị và nó vươn tay để lấy. Những tín hiệu rất sớm này về tính hữu ý của sinh thể hữu cơ là bằng chứng cho những nguồn gốc nguyên sơ của bản ngã, của “Ngã tính” của mỗi người.

Suy nghĩ về bản tính và bản chất của cái “Tôi” này sẽ đưa đến những câu hỏi tâm lí sâu sắc. Về bản chất bản ngã là gì? Tôi là ai? Jung chỉ đơn giản nói rằng bản ngã là trung tâm của ý thức.

Cái “Tôi” có lẽ cảm nhận một cách ngây thơ rằng nó đã tồn tại mãi mãi. Ngay cả những ý niệm về các quãng đời trước đó cũng thể hiện cảm giác sự thật và hiện thực. Một câu hỏi còn bỏ ngỏ là liệu cái “Tôi” có biến đổi lớn trong đời một người hay không. Liệu cái “Tôi” khóc đòi mẹ lúc lên hai có khác gì cái “tôi” khóc vì mất người yêu lúc nó 45 tuổi hay cái tôi khóc cho người bạn đời mất lúc nó 80 tuổi? Trong khi nhiều đặc điểm của bản ngã rõ ràng là phát triển và biến đổi, đặc biệt là sự nhận thức, hiểu biết chính mình, bản sắc tâm lí - xã hội, năng lực v.v. thì chúng ta vẫn cảm thấy một sự liên tục quan trọng trong cốt lõi của bản ngã. Nhiều người thình lình phát hiện thấy một “đứa bé bên trong” mình. Đây chính là sự nhận biết rằng bản ngã lúc lớn cũng chính là bản ngã lúc bé. Có lẽ cốt lõi căn bản của bản ngã không biến đổi trong cả cuộc đời. Điều này có lẽ cũng giải thích cho trực giác và niềm tin mạnh mẽ của nhiều người rằng cốt lõi của bản ngã không biến mất khi thể chất con người chết đi mà chỉ hoặc là đi vào một nơi an nghỉ vĩnh hằng (Thiên đường, Niết bàn) hoặc sẽ tái sinh ở một con người khác trong một cuộc đời khác (tái sinh theo thuyết luân hồi).

Đứa trẻ lần đầu tiên cất lên tiếng nói “Tôi” vào lúc hai tuổi. Trước đó nó nói đến mình bằng ngôi thứ ba hay bằng tên: “Timmie muốn” hay “Sarah đi”. Khi đứa trẻ có thể nói “tôi” và nghĩ về chính mình, đặt mình một cách có ý thức ở vị trí trung tâm của thế giới cá nhân và dành cho mình vị trí của ngôi thứ nhất đặc thù, đó là một bước tiến lớn trong ý thức. Nhưng đây hoàn toàn không phải là sự khai sinh của bản ngã nguyên sơ. Từ trước đó rất lâu, ý thức và hành vi đã được tổ chức xung quanh một trung tâm. Rõ ràng bản ngã đã tồn tại trước khi ta nói đến nó một cách có ý thức và có suy nghĩ, và quá trình nhận biết nó là dần dần và tiếp diễn trong suốt đời người. Phát triển đến tự thức (self-consciousness) là một quá trình kéo dài qua nhiều giai đoạn từ tuổi thơ tới tuổi trưởng thành. Jung đã mô tả khá chi tiết một phần của điều này trong Kí ức, Giấc mơ, Suy nghĩ khi ông nói về việc mình chợt bừng tỉnh lúc mười ba tuổi và lần đầu tiên nhận ra “giờ thì tôi là chính mình”10.

Do khả năng đạt được một mức độ nhận thức và tự ý thức cao - tức là, một bản ngã tự phản tư - ý thức con người khác với ý thức con vật, ít nhất theo những gì chúng ta biết hiện nay. Sự khác biệt này không chỉ do khả năng có thể nói của con người khiến chúng ta có thể nói về “cái tôi” của mình và do đó làm tăng sự phức tạp của nó, mà chính là chức năng tự phản ánh hiện diện trong ý thức con người. Chức năng này vừa có trước vừa có sau ngôn ngữ. Nó biết con người đang sống (và sau đó con người sẽ chết). Do có một bản ngã - “tấm gương” sẵn có trong ý thức - chúng ta có thể biết mình đang sống và mình là gì. Các loài vật khác rõ ràng cũng muốn sống và kiểm soát môi trường và chúng cho thấy dấu hiệu của cảm xúc, ý thức cũng như ý muốn, kiểm nghiệm thực tế, tự kiểm soát mình và v.v. mà chúng ta gắn với chức năng bản ngã. Nhưng các con vật không có, hoặc có rất ít chức năng tự phản ánh bên trong ý thức. Nó có bản ngã ít hơn. Liệu chúng có biết chúng đang sống và chúng sẽ chết, chúng có phải là những cá thể độc lập? Đây là điều đáng nghi ngờ. Nhà thơ Rilke cho rằng loài vật không đương đầu với cái chết như cách của con người, và điều này khiến chúng có thuận lợi là được sống tròn đầy trong giây phút hiện tại. Loài vật không có ý thức bản thân giống như con người và vì không có ngôn ngữ nên chúng không thể biểu hiện được bất kì sự tự ý thức nào của mình với bất kì mức độ tinh tế nào hay phân biệt chúng khỏi những loài khác bằng loại công cụ ngôn ngữ như con người có được11.

Đến một lúc nào đó trong quá trình phát triển, bản ngã và ý thức con người được xác định và định hình bởi thế giới văn hóa trong đó con người trưởng thành và được giáo dục. Đây là một lớp, hay một vỏ bọc, của cấu trúc bản ngã xung quanh bản ngã trung tâm. Khi một đứa trẻ lớn lên trong một nền văn hóa và học những hình thức và thói quen thông qua những tương tác gia đình và những kinh nghiệm giáo dục ở trường học, lớp vỏ bọc của bản ngã này trở nên ngày càng dày hơn. Jung nói tới hai đặc điểm này của bản ngã như “nhân cách số 1” và “nhân cách số 2”12. Nhân cách số 1 là bản ngã gốc và bẩm sinh còn nhân cách số 2 là lớp văn hóa hậu đắc của bản ngã lớn lên qua thời gian.

Một số nội dung đặc thù của ý thức bản thân của một người cho thấy tính chất ổn định của nó trong thời gian. Tên riêng của một người thông thường là một đặc điểm bền vững của ý thức. Dường như đến một lúc nào đó nó được gắn vào bản ngã. Mặc dù tên là một dấu hiệu phi cá nhân và thuộc về xã hội như một phần của persona của một người (xem chương 5) nhưng khi nó được gọi bởi cha mẹ, đứa bé hay người yêu thì nó chạm vào nơi thầm kín nhất của sự cảm nhận bản thân của chúng ta. Nhưng cần phải nhận ra rằng tên là một sản phẩm văn hóa nhân tạo và vì vậy nó ít gắn sâu vào bản ngã hơn so với, chẳng hạn, cơ thể con người. Mọi người có thể đổi tên nhưng vẫn giữ nguyên chính mình. Hiện nay thì chưa ai có thể biến đổi cơ thể mình hoàn toàn để xem điều này có đúng không; nếu (hoặc khi) điều này được thực hiện, chúng ta sẽ thấy bản ngã có vượt ngoài cơ thể con người hay không. Tôi ngờ rằng câu trả lời có thể là: nó thực sự có thể vượt khỏi cơ thể dù mối liên hệ của nó với cơ thể đối với chúng ta dường như là một.

Chúng ta có thể thấy hấp dẫn khi coi bản ngã, với tư cách là ý thức của cơ thể về chính nó, như một thực thể có ý chí, cá tính, bị giới hạn và duy nhất. Nếu một người bị đặt tên khác đi thì có thể lí luận rằng “bản ngã” chủ yếu vẫn sẽ không khác. Nhưng nếu người đó có một cơ thể khác, liệu bản ngã có khác về bản chất không? Bản ngã gắn chặt với cơ thể, thậm chí nhiều hơn cả văn hóa, chỉ có điều sự gắn bó này sâu sắc như thế nào thì vẫn là vấn đề còn tranh luận. Dẫu vậy bản ngã cực kì sợ cái chết của cơ thể. Đó là nỗi sợ rằng bản ngã cũng sẽ bị biến mất cùng cái chết của cơ thể. Nhưng theo Jung, bản ngã không hoàn toàn gắn vào cơ thể sinh học. Trong Aion, ông nói rằng bản ngã “không chỉ là một nhân tố đơn giản hay sơ đẳng mà là một nhân tố phức tạp, và vì vậy không thể mô tả nó đến cùng được. Kinh nghiệm cho thấy rằng nó dựa trên hai nền tảng có vẻ khác nhau, thể xác và tâm thần”13.

Theo suy nghĩ của Jung, tâm thần không thể quy giản thành biểu hiện thuần túy của cơ thể, như là kết quả của tiến trình sinh hóa trong não bộ hay những quá trình vật lí tương tự như vậy. Vì tâm thần cũng gồm cả tâm trí hay tinh thần (từ Hi Lạp nous thể hiện đúng suy nghĩ của Jung về điều này), và vì vậy nó có thể và thỉnh thoảng vượt qua sự định vị thể chất. Trong những chương sau, chúng ta sẽ thấy rất rõ ràng Jung coi tâm thần bắt nguồn từ sự kết hợp bản chất sinh học và tinh thần hay tâm trí siêu nghiệm, nous. Nhưng hiện nay, đủ để nhận thấy rằng tâm thần và cơ thể không phải là một hay cái này sinh ra từ cái kia. Bản ngã mà Jung coi như đối tượng tâm thần hoàn toàn chỉ dựa một phần trên nền tảng cơ thể. Bản ngã dựa trên cơ thể chỉ là theo nghĩa nó trải nghiệm sự thống nhất với cơ thể, nhưng cơ thể mà bản ngã trải nghiệm mang tính tâm thần. Nó là một hình ảnh về cơ thể, chứ không phải là bản thân cơ thể. Cơ thể được trải nghiệm “từ tất cả những tri giác bên trong cơ thể”14 tức là từ những gì mà một người cảm nhận một cách có ý thức về cơ thể. Sự nhận biết cơ thể này “được tạo ra bởi kích thích bên trong cơ thể, mà chỉ một số vượt qua ngưỡng ý thức. Một phần lớn những kích thích này xảy ra một cách vô thức, tức là thuộc tiềm thức... Việc chúng là thuộc tiềm thức không nhất thiết nghĩa là chúng chỉ đơn thuần có tính sinh lí học, mà thực sự là mang một nội dung tâm thần. Thỉnh thoảng chúng có thể vượt qua ngưỡng ý thức, tức là được nhận biết. Nhưng không nghi ngờ là có một khối lượng lớn kích thích bên trong cơ thể này chỉ đơn giản là không thể được ý thức và sơ khai tới mức không có lí do gì để gán cho chúng một bản tính tâm thần”15.

Trong đoạn này, chúng ta thấy Jung đã phác họa phạm vi của tâm thần bao gồm ý thức cái Tôi và vô thức, chứ không bao gồm cơ sở thể xác xét như là thể xác đơn thuần. Nhiều quá trình sinh lí học không bao giờ xâm nhập vào tâm thần, dù là tâm thần vô thức. Về nguyên tắc, chúng không bao giờ có thể trở thành ý thức. Chẳng hạn, một điều rõ ràng là hệ thần kinh giao cảm, phần lớn không thể đạt tới ý thức. Khi trái tim đập, máu tuần hoàn và neuron hoạt động thì chỉ một số chứ không phải tất cả quá trình thân thể có thể được ý thức. Có điều không rõ ràng là khả năng của bản ngã xâm nhập vào cơ sở thể xác có thể sâu đến đâu. Các nhà yoga qua tập luyện tuyên bố có thể thực hiện việc kiểm soát rất nhiều các quá trình thể xác. Họ được biết tới như những người có khả năng thách thức cái chết hay chỉ đơn giản là làm tim ngừng đập theo ý muốn. Khả năng của một nhà yoga biến đổi nhiệt độ mặt ngoài của lòng bàn tay bằng ý chí đã được kiểm tra và xác nhận: họ có thể chủ động biến đổi nó mười hay hai mươi độ. Điều này chứng tỏ khả năng tâm thần xâm nhập và kiểm soát cơ thể đáng kể nhưng vẫn còn những vùng chưa ai đụng tới. Bản ngã có thể xâm nhập vào cấu trúc tế bào sâu đến mức nào? Chẳng hạn liệu một bản ngã qua luyện tập có thể thu nhỏ một khối u ung thư hay không, hay chữa trị được căn bệnh cao huyết áp hay không? Còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp.

Chúng ta nên nhớ là có hai ngưỡng: ngưỡng đầu tiên phân li ý thức khỏi vô thức, ngưỡng thứ hai phân li tâm thần (cả ý thức và vô thức) khỏi cơ sở thân thể. Tôi sẽ nói về những ngưỡng này chi tiết hơn ở các chương sau, còn bây giờ cần phải lưu ý rằng chúng là những ngưỡng rộng và nên coi chúng như những ranh giới linh hoạt chứ không phải là những rào chắn cố định và cứng nhắc. Với Jung, tâm thần được coi là gồm cả ý thức và vô thức nhưng không bao gồm tất cả cơ thể xét dưới khía cạnh thuần túy sinh lí học. Bản ngã, Jung cho rằng được dựa trên phần thân thể của tâm thần, tức là hình ảnh thân thể chứ không phải là cơ thể tự nó. Do đó, bản ngã về bản chất là một nhân tố tâm thần.

Định vị bản ngã

Toàn bộ lĩnh vực tâm thần gần như trùng với vùng tiềm năng của bản ngã. Tâm thần, theo Jung xác định trong đoạn này, bị hạn chế và giới hạn trong vùng mà bản ngã, về nguyên tắc, có thể đi đến được. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng tâm thần và bản ngã là đồng nhất, bởi vì tâm thần bao gồm cả vô thức còn bản ngã thì ít nhiều bị hạn chế trong phạm vi ý thức. Nhưng ít nhất thì vô thức có tiềm năng tiếp xúc được bản ngã, dù là thực tế bản ngã chưa trải nghiệm nó nhiều. Vấn đề ở đây chính là bản thân tâm thần có một giới hạn và giới hạn này là điểm mà tại đó những kích thích hay những nội dung ngoài tâm thần, về nguyên tắc, không bao giờ có thể được trải nghiệm trong ý thức. Trong triết học của Kant mà Jung là người tin theo, yếu tố không thể được trải nghiệm này được gọi là Dingan sich, “vật tự nó”. Kinh nghiệm con người là bị giới hạn. Tâm thần bị giới hạn. Jung không phải là một người theo thuyết phiếm tâm thần (pan-psychist), tức là một người coi tâm thần hiện diện ở mọi nơi và tạo nên tất cả. Cơ thể nằm ngoài tâm thần, và thế giới thì rộng lớn hơn tâm thần nhiều.

Tuy nhiên, chúng ta không nên quá chú ý tới sự chính xác trong việc sử dụng thuật ngữ của Jung, đặc biệt là những thuật ngữ như tâm thầnvô thức. Nói cách khác, chúng ta cần tạo ra những khớp nối ở những khoảng trống và khe hở mà Jung chủ tâm để lại. Tâm thần không hoàn toàn có cùng ngoại diên với vùng kết hợp giữa vô thức và ý thức và nó cũng không bị giới hạn chính xác trong phạm vi lĩnh vực của bản ngã. Ở hai đầu nơi mà tâm thần và thân thể kết hợp với nhau và nơi mà tâm thần và thế giới gặp nhau, có những vùng mờ ảo giữa “bên trong/bên ngoài”. Những vùng xám này Jung gọi là psychoid (giống tâm thần). Đây là một vùng hoạt động giống như tâm thần nhưng không phải hoàn toàn là tâm thần. Nó hầu như là tâm thần (quasi-psychic). Chẳng hạn, trong những vùng xám này có những câu hỏi nan giải về tâm-thể. Tâm thần và cơ thể ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào? Ở đâu thì phần này kết thúc và phần kia bắt đầu? Những vấn đề này vẫn chưa có câu trả lời.

Jung rút ra những phân biệt tinh tế này trong một đoạn của Aion, khi ông mô tả cơ sở tâm thần của bản ngã như sau: “một mặt, bản ngã dựa vào toàn bộ trường ý thức, và mặt khác, dựa vào tổng số những nội dung vô thức. Những nội dung này gồm ba phần: thứ nhất là những nội dung tạm thời dưới ngưỡng ý thức và có thể tái hiện theo ý muốn (trí nhớ)... thứ hai, những nội dung vô thức không thể tái hiện theo ý muốn... và thứ ba là những nội dung tuyệt đối không bao giờ có thể trở thành ý thức”16. Nhóm thứ ba này, theo những định nghĩa trước đây, là nằm ngoài tâm thần, nhưng ở đây Jung đặt nó bên trong vô thức. Rõ ràng ông nhận thấy vô thức đã đạt tới mức không còn là tâm thần nữa và mở rộng sang những miền phi tâm thần, tức là vào “thế giới” bên ngoài tâm thần. Nhưng ở một chừng mực nào đó thì ít nhất là thế giới phi tâm thần này nằm bên trong vô thức. Ở đây chúng ta đã đạt tới ranh giới của những bí ẩn lớn: cơ sở cho tri giác ngoại tâm thần, tính đồng thời tương ứng (Synchronicity), những cách kì diệu làm lành bệnh cơ thể, và những cái khác.

Là một nhà khoa học, Jung buộc phải đưa ra những lập luận và bằng chứng cho những giả thuyết táo bạo như là sự tồn tại của vô thức, ở cả hai phương diện cá nhân và tập thể. Ở đây ông mới chỉ ngụ ý tới những lập luận này, và trong các tác phẩm khác thì được phát triển chi tiết hơn nhiều “Nhóm hai có thể được suy ra từ sự đột nhập tự phát của những nội dung dưới ngưỡng ý thức vào ý thức”17. Điều này cho thấy những tác động của các phức cảm tới ý thức như thế nào. “Nhóm ba có tính giả thuyết. Nó là sự suy luận logic từ những sự kiện làm cơ sở cho nhóm hai”18. Những hình thức bền vững nhất định nào đó trong phức cảm đã dẫn Jung tới giả định về các cổ mẫu. Nếu những tác động nào đó là đủ mạnh và kéo dài thì một nhà khoa học xây dựng một giả thuyết được hi vọng sẽ giải thích cho những tác động này và dẫn tới việc nghiên cứu sâu hơn19.

Bản ngã, Jung tiếp tục nói đến trong văn bản Aion, dựa trên hai nền tảng: một là thân thể (cơ thể) và hai là tâm thần. Mỗi cơ sở này lại gồm nhiều lớp và tồn tại phần nào trong ý thức, nhưng chủ yếu trong vô thức. Nói rằng bản ngã dựa vào chúng cũng có nghĩa là nói rằng những gốc rễ của bản ngã ở tận vô thức. Trong cấu trúc bên trên của mình, bản ngã là lí tính, nhận thức, và hướng về thực tại, nhưng bên trong những lớp ẩn sâu hơn của mình, nó phụ thuộc vào dòng cảm xúc, huyễn tưởng và xung đột cũng như vào những sự xâm nhập từ những mức thể chất và tâm thần của vô thức. Do đó, bản ngã dễ dàng bị quấy rối bởi cả những vấn đề về cơ thể lẫn những xung đột tâm thần. Là một thực thể tâm thần thuần túy, một trung tâm sống còn của ý thức, là quê hương của bản sắc và ý chí, nên, bản ngã, ở những lớp sâu hơn của mình, dễ bị tổn thương trước những khuấy động từ nhiều nguồn khác.

Như tôi đã chỉ ra ở trên, bản ngã cần phải được phân biệt với trường ý thức nơi nó “làm tổ”, và vì vậy nó hình thành nên trọng điểm quy chiếu cho trường ý thức này. Jung viết: “Khi tôi nói rằng bản ngã “dựa” trên toàn bộ trường ý thức, tôi không có ý muốn nói nó chỉ là trường này. Nếu như vậy, nó không thể phân biệt được khỏi trường ý thức xét như một tổng thể”20. Giống như William James phân biệt giữa “bản ngã” (the “I”) và “cái mình” (the “me”)21. Jung phân biệt giữa bản ngã với cái mà James gọi là “dòng ý thức”. Bản ngã là một điểm hay một chấm được nhúng vào trong dòng ý thức đó, và có thể tự tách biệt khỏi dòng ý thức này và nhận thức về dòng ý thức như là cái gì khác với bản thân mình. Ý thức không hoàn toàn chịu sự kiểm soát của bản ngã ngay cả khi bản ngã ở cách ý thức một khoảng đủ thuận lợi để quan sát và tìm hiểu dòng chảy ý thức này. Bản ngã di chuyển trong trường ý thức để quan sát, lựa chọn, định hướng sự vận động ở một chừng mực nhưng nó cũng không biết đến một lượng lớn tư liệu mà ý thức chú ý tới. Nếu một người lái một chiếc xe trên một con đường quen thuộc, sự chú ý của bản ngã sẽ thường giảm đi và chú ý tới những chủ đề khác hơn là lái xe. Anh ta vẫn đến nơi an toàn, đi qua đèn đường và vượt qua nhiều tình huống giao thông nguy hiểm, và tự hỏi mình sao lại làm được vậy! Tâm điểm của sự chú ý là ở nơi khác, bản ngã lơ đãng và để việc lái xe cho một ý thức không có bản ngã. Trong khi đó ý thức, tách khỏi bản ngã, vẫn luôn luôn giám sát, tham dự, xử lí, và phản ứng trước các thông tin. Nếu có một chuyện gì xảy ra, bản ngã liền quay trở lại và xử lí. Bản ngã thường tập trung vào một kí ức, một suy nghĩ, cảm xúc hay những kế hoạch được nhặt ra từ dòng ý thức. Còn những hoạt động thông thường khác được nó để lại cho ý thức đã trở thành tập quán. Tính có thể tách biệt của bản ngã khỏi ý thức là một thể nhẹ và không phải bệnh lí của trạng thái phân li. Bản ngã có thể phân li khỏi ý thức ở một mức độ nhất định.

Mặc dù một bản ngã thô sơ hay nguyên thủy dường như hiện diện từ những khoảnh khắc sớm nhất của ý thức như một trung tâm ảo hay một điểm trung tâm, nó lớn dần và phát triển ở nhiều mặt quan trọng trong những giai đoạn đầu của thời ấu thơ và cuối thời thiếu niên. Jung viết: “mặc dù cơ sở của nó tương đối là vô thức và không được biết đến, cả tâm thần lẫn thể xác, bản ngã là một nhân tố ý thức đặc biệt. Nói một cách thường nghiệm, nó được sở đắc trong suốt cuộc đời của một cá nhân. Dường như nó xuất hiện trước tiên từ sự xung đột giữa nhân tố thân thể và môi trường, và khi được xác lập như một chủ thể, nó tiếp tục phát triển từ những xung đột xa hơn với thế giới bên ngoài và bên trong”22. Những gì làm cho bản ngã phát triển, theo Jung, là những gì được ông gọi là “những xung đột”. Nói theo cách khác đó là xung đột, phiền muộn, đau khổ, buồn rầu. Đó là những gì dẫn dắt bản ngã phát triển. Những đòi hỏi đối với con người buộc họ phải thích nghi với môi trường thể chất và tâm thần được dựa trên một trung tâm tiềm năng trong ý thức và tăng cường khả năng hoạt động của nó, nhằm tập trung ý thức và thúc đẩy sinh thể theo một hướng đặc thù. Là một trung tâm ảo của ý thức, bản ngã mang tính bẩm sinh, nhưng với tư cách là một trung tâm hiện thực và có tính hiệu quả, nó phát triển được là do những xung đột giữa cơ thể tâm thể và một môi trường đòi hỏi sự đáp ứng và thích ứng. Do đó, một lượng xung đột vừa phải với môi trường và một hẫng hụt nào, theo Jung, là những điều kiện tốt nhất cho sự lớn mạnh của bản ngã.

Tuy nhiên, những xung đột này có thể là thảm họa và nó đưa tới sự tổn hại nghiêm trọng đối với tâm thần. Do vậy bản ngã bé nhỏ không đủ mạnh mà bị thương tổn và chấn thương quá nhiều sẽ khiến hoạt động sau này của nó bị suy giảm nghiêm trọng. Sự ngược đãi trẻ nhỏ và chấn thương tình dục thời niên thiếu là những ví dụ điển hình của những thảm họa tâm thần như vậy. Do vậy mà bản ngã thường bị suy giảm nghiêm trọng ở khu vực tâm thần thấp hơn. Về mặt nhận thức nó có thể hoạt động bình thường, nhưng ở những miền ít ý thức hơn thì giông tố cảm xúc và sự vắng mặt của cấu trúc cố kết tạo ra những rối loạn nhân cách nghiêm trọng và các xu hướng phân li. Những bản ngã như vậy không chỉ dễ bị tổn thương một cách bình thường - giống các bản ngã khác - mà chúng còn mỏng manh và có tính phòng vệ quá mức. Chúng dễ bị bể vỡ trước áp lực stress và vì vậy có xu hướng hướng về cơ chế phòng vệ nguyên thủy (nhưng rất mạnh) để ngăn chặn thế giới và bảo vệ tâm thần khỏi những sự xâm nhập và khả năng bị thương tổn. Những người như vậy không thể tin những người khác. Thật nghịch lí là họ cũng thường xuyên bị bỏ rơi và bị thất vọng bởi người khác và bởi cuộc đời nói chung. Dần dần những người này cô lập mình khỏi môi trường mà họ nhận thức là gây đe dọa cực kì lớn, và họ sống cuộc đời mình trong sự cô lập có tính phòng vệ.

Bản ngã bé nhỏ có thể được mô tả như tiếng khóc đau khổ của một đứa trẻ báo hiệu sự thiếu hòa hợp giữa nhu cầu và sự thỏa mãn23. Từ đó nó bắt đầu phát triển và cuối cùng trở thành phức cảm. Khi một đứa trẻ lên hai tuổi và bản ngã của nó biết nói “không” với mọi người thì nó không chỉ gặp phải những thách thức từ môi trường, mà nó còn đang cố gắng biến đổi hay để kiểm soát nhiều mặt của môi trường quanh nó. Bản ngã của con người bé nhỏ tìm một cách trong việc củng cố chính mình bằng cách tạo ra nhiều xung đột, và khi những tiếng nói “không! ” hay “tôi sẽ không! ” là những bài tập tăng cường bản ngã như một thực thể riêng biệt và là một trung tâm mạnh mẽ bên trong của ý chí, tính ý hướng và sự kiểm soát.

Một bản ngã đã hoàn thành được sự tự trị ở thời niên thiêu cũng cảm thấy rằng ý thức của mình bị kiếm chế quá mức và bị dẫn dắt bởi ý chí. Sự tự bảo vệ của một người lo lắng quá mức là một chỉ báo rằng bản ngã không hoàn toàn đạt được cấp độ này của sự tự chủ chắc chắn. Sự cởi mở và linh hoạt hơn chỉ có thể có khi bản ngã đạt được một mức độ kiểm soát đủ để đảm bảo sự tồn tại và nhu cầu cơ bản là thỏa mãn.

Quan niệm của Jung về sự phát triển của bản ngã bắt nguồn từ những xung đột với môi trường đưa ra một cách nhìn mới đầy tính sáng tạo về tiềm năng trong tất cả những kinh nghiệm tất yếu của con người về sự hẫng hụt khi phải đối diện với một môi trường không làm thỏa mãn. Khi bản ngã tìm cách sử dụng ý chí, nó gặp phải một mức độ kháng cự nhất định từ môi trường, và nếu sự xung đột này được giải quyết tốt thì kết quả sẽ là sự phát triển của bản ngã. Quan điểm này cũng cảnh báo chúng ta về cố gắng tạo ra sự tách biệt nhiều nhất cho đứa trẻ trước sự tấn công của hiện thực bên ngoài đầy thách thức. Để thúc đẩy sự phát triển của bản ngã, một môi trường thường xuyên bảo vệ quá mức thực sự không hiệu quả.

Các kiểu tâm lí

Chương về cái tôi - ý thức này cũng đề cập ngắn gọn về lí thuyết các loại hình tâm lí của Jung. Những người biên soạn Toàn tập của Jung đã trích lời Jung trong lời giới thiệu của họ về Các loại hình tâm lí khi coi tác phẩm này là “tâm lí học về ý thức được nhìn từ cái gì có thể được gọi là góc nhìn lâm sàng y học”24. Hai kiểu thái độ chính (hướng nội và hướng ngoại) và bốn chức năng (tư duy, cảm xúc, cảm giác, và trực giác) có một ảnh hưởng lớn lên định hướng của bản ngã khi nó thực hiện những đòi hỏi và nhiệm vụ thích ứng của mình. Xu hướng bẩm sinh căn bản của bản ngã hướng tới việc nắm giữ một trong số những chức năng và thái độ hình thành nên một quan điểm đặc trưng cơ bản đối với thế giới và hướng tới việc đồng hóa kinh nghiệm.

Những xung đột với thực tế đánh thức những tiềm năng của bản ngã và thách thức nó liên hệ với thế giới. Những xung đột như vậy cũng làm gián đoạn sự tham dự thần25của tâm thần với thế giới xung quanh. Một khi được đánh thức, bản ngã phải điều chỉnh chính mình thích nghi với thực tế bởi tất cả những phương tiện mà nó có. Jung lí thuyết hóa rằng có bốn phương tiện hay chức năng như vậy của bản ngã và với mỗi cái trong số đó lại có thể định hướng bởi một thái độ hướng nội (tức là nhìn vào bên trong) hay thái độ hướng ngoại (nhìn ra bên ngoài). Sau khi một sự phát triển bản ngã nhất định diễn ra, xu hướng bẩm sinh của một người là hướng ra thế giới, cả bên trong lẫn bên ngoài, sẽ được thể hiện qua những cách xác định nào đó. Jung cho rằng bản ngã có một xu hướng di truyền bẩm sinh thích một loại hình kết hợp giữa thái độ và chức năng và dựa một cách thứ yếu vào một kết hợp bổ sung khác để tạo sự cân bằng, với một loại hình thứ ba hay bốn ít được sử dụng hơn và kết quả là gần như không có hay rất ít phát triển. Những kết hợp này tạo nên cái mà ông gọi là “những loại hình tâm lí”.

Ví dụ, một đứa bé sinh ra với một xu hướng bẩm sinh là giữ một thái độ hướng nội trước thế giới. Điều này trước tiên tự thể hiện ở sự xấu hổ của nó, và sau này phát triển thành một sự ưa thích theo đuổi những sở thích đơn độc như đọc sách hay nghiên cứu. Nếu điều này gắn với một thái độ bẩm sinh hướng tới sự thích nghi với môi trường bằng việc sử dụng chức năng suy nghĩ thì người này tự nhiên sẽ dần có khuynh hướng thích nghi với thế giới bằng cách tìm kiếm những hoạt động nào đó, chẳng hạn như khoa học hay học thuật đáp ứng những khuynh hướng này. Trong những lĩnh vực như vậy, người này làm việc rất tốt, cảm thấy tự tin và tìm được sự thỏa mãn trong hoạt động một cách tự nhiên. Trong những lĩnh vực khác, chẳng hạn như xã hội hóa hay rao bán báo chí dài hạn từ nhà này sang nhà khác, hướng suy nghĩ hướng nội này rất ít hiệu quả và người ấy cảm thấy lúng túng với sự không hài lòng và căng thẳng đi kèm. Nếu người này sinh ra trong một nền văn hóa thích thái độ hướng ngoại hơn hướng nội, hay trong một gia đình làm tăng cường có một cách tiêu cực sự hướng nội, bản ngã buộc phải thích nghi với môi trường bằng cách phát triển hướng ngoại. Điều này phải trả một giá đắt. Người hưởng nội này phải chịu đựng nhiều căng thẳng tâm lí mãn tính để làm được việc. Bởi vì sự thích nghi của bản ngã này không diễn ra tự nhiên, nó cũng sẽ tác động vào người bên ngoài một cách không tự nhiên. Điều này diễn ra không thuận lợi nhưng nó là cần thiết. Người đó sẽ hoạt động với sự thiệt thòi cũng giống như người hướng ngoại bị thiệt thòi trong một nền văn hóa hướng nội.

Những khác biệt về loại hình này giữa con người sẽ đưa tới nhiều xung đột trong các gia đình và các nhóm. Những đứa trẻ khác biệt về loại hình tâm lí với cha mẹ thường bị hiểu nhầm và bị buộc thích nghi với một loại hình sai lầm phù hợp với những mong đợi của cha mẹ. Đứa trẻ với loại hình tâm lí “đúng” sẽ được ưa thích và sẽ trở thành người được yêu mến. Điều này gây ra cành cạnh tranh và ghen tị giữa anh chị em. Mỗi đứa trẻ trong một gia đình lớn sẽ hơi khác nhau xét về loại hình tâm lí, cũng giống như cha mẹ chúng. Những người hướng ngoại có thể tìm cách lôi kéo những người hướng nội còn những người hướng nội thì không giỏi trong việc tạo dựng các nhóm và hội. Ngược lại, những người hướng nội lại giỏi trong việc che giấu. Nếu sự khác biệt về loại hình có thể được nhận biết như một giá trị tích cực và được coi trọng thì đời sống trong gia đình và trong các nhóm chính trị có thể có nhiều sự phong phú. Đóng góp của một người sẽ được những người khác nhìn ra được ích lợi vì bản thân họ không có điều đó. Sự nhận biết và đánh giá tích cực những khác biệt về kiểu tâm lí có thể hình thành nên cơ sở cho sự đa dạng sáng tạo trong đời sống gia đình và văn hóa.

Sự kết hợp này giữa một chức năng cấp cao và một thái độ được ưa thích tạo nên công cụ tốt nhất và duy nhất của bản ngã để thích nghi và tương tác với thế giới bên ngoài và bên trong. Ngược lại, chức năng thứ tư cấp thấp, ít được bản ngã biết đến nhất. Chức năng thứ hai, gần với chức năng cấp cao, là hữu ích nhất với bản ngã, và sự kết hợp cả hai chức năng cấp cao và thứ hai này được sử dụng hiệu quả và thường xuyên nhất cho việc định hướng và hoàn tất. Thông thường, một trong hai chức năng chủ yếu này là hướng ngoại và chức năng còn lại là hướng nội, chức năng hướng ngoại dẫn đến việc diễn giải thực tế bên ngoài và chức năng hướng nội cung cấp thông tin về những gì đang diễn ra bên trong. Bản ngã sử dụng các công cụ này để kiểm soát và chuyển đổi cả thế giới bên ngoài và nội tâm trong khả năng tốt nhất của nó.

Phần lớn những gì mà chúng ta biết về những người khác, và thực sự là tất cả những gì chúng ta nhận biết là thuộc về nhân cách của bản thân mình, thì đều không thuộc về bản ngã - ý thức. Sức sống mà một người có được, những phản ứng tự phát và những đáp ứng cảm xúc trước những người khác và cuộc sống, cơn bùng nổ khí sắc và cảm xúc và những cơn buồn bã, sự bối rối phức tạp của đời sống tâm lí - tất cả những phẩm chất và thuộc tính này sẽ được gán cho những mặt khác của tâm thần rộng lớn, chứ không phải cho bản ngã ý thức như vậy. Do đó thật là không chính xác khi nghĩ về bản ngã như là những gì tương đương với toàn bộ con người. Bản ngã đơn giản chỉ là một tác nhân, một trọng tâm của ý thức, một trung tâm của nhận thức. Chúng ta có thể gán quá ít hay quá nhiều cho nó.

Tự do cá nhân

Một khi bản ngã đạt được một sự tự chủ đầy đủ và một phương tiện kiểm soát ý thức, cảm nghĩ về sự tự do cá nhân trở thành một đặc điểm mạnh mẽ của thực tế chủ quan. Trong thời niên thiếu và thanh niên, phạm vi tự do cá nhân bị kiểm chứng, thách thức và mở rộng. Điển hình là một người trẻ tuổi sống với ảo tưởng về sự tự kiểm soát và ý chí tự do nhiều hơn là với một sự thực về mặt tâm lí. Tất cả những giới hạn với tự do dường như bị áp đặt từ bên ngoài, từ xã hội và những quy định bên ngoài, và người ta nhận biết rất ít về việc bản ngã bị kiểm soát từ bên trong nhiều như thế nào. Việc suy ngẫm sâu hơn bộc lộ rằng bản ngã phụ thuộc vào cấu trúc nhân cách của nó và ma quỷ bên trong cũng nhiều như việc phụ thuộc vào quyền uy bên ngoài. Thường thì điều này không được nhận ra cho đến nửa sau của cuộc đời khi mà nhìn chung con người bắt đầu có sự nhận thức rằng họ chính là kẻ thù lớn nhất, là người chỉ trích mạnh mẽ nhất, người giám sát nghiêm khắc nhất của chính bản thân mình. Số phận bắt nguồn từ bên trong cũng như từ bên ngoài.

Jung có một số suy nghĩ đáng suy ngẫm về vấn đề ý chí tự do thực sự là như thế nào. Như chúng ta thấy trong những chương tới, bản ngã chỉ là một phần nhỏ của thế giới tâm lí rộng lớn hơn nhiều, giống như trái đất chỉ là một phần nhỏ của hệ mặt trời. Hiểu được rằng trái đất xoay xung quanh mặt trời cũng tương tự như việc nhận thức rằng bản ngã xoay xung quanh một thực thể tâm thần lớn hơn, đó là cái tự ngã. Cả hai cái nhìn nội quan đều gây rối và bất ổn với người coi bản ngã là trung tâm. Sự tự do của bản ngã là bị giới hạn. “Bên trong trường ý thức [bản ngã] có, như chúng ta thường nói, một ý chí tự do”, Jung viết vậy. “Nhưng, khi nói tới điều này tôi không có ý nói tới những gì mang tính triết học, mà chỉ là một sự kiện tâm lí mà ai cũng biết về “sự tự do lựa chọn”, hoặc đúng hơn là cảm nhận chủ quan về sự tự do”26. Trong phạm vi của nó, bản ngã - ý thức có số lượng lớn sự tự do biểu kiến. Nhưng phạm vi của nó đến đâu? Và chúng ta có thể lựa chọn trên cơ sở điều kiện hóa và thói quen đến một mức độ nào?

Chọn một cốc Coke thay vì Pepsi thể hiện một mức độ tự do nhưng trên thực tế thì sự lựa chọn này bị giới hạn bởi sự điều kiện hóa trước đó như quảng cáo và khả năng có hay không có những lựa chọn khác. Một đứa bé có thể được khuyến khích thể hiện ý chí tự do và sự nhận thức của mình bằng cách tạo cơ hội lựa chọn giữa ba loại áo sơ mi là một ví dụ. Bản ngã của đứa bé cảm thấy thỏa mãn, vì nó được tự do chọn những gì nó muốn. Nhưng ý chí của đứa bé bị giới hạn bởi nhiều nhân tố: ước vọng tinh tế muốn làm hài lòng cha mẹ, hay ngược lại là sự chống đối cha mẹ, bởi phạm vi những khả năng, bởi áp lực và những đòi hỏi từ nhóm trẻ cùng lứa tuổi. Phạm vi tự do ý chí thực tế của chúng ta, cũng giống như của trẻ con, bị giới hạn bởi thói quen, áp lực, khả năng sẵn có, điều kiện hóa và nhiều nhân tố khác. Theo lời Jung thì “vì ý chí tự do của chúng ta xung đột với sự tất yếu ở thế giới bên ngoài, do vậy ý chí tự do cũng tìm thấy những giới hạn của nó bên ngoài trường ý thức trong thế giới bên trong chủ quan nơi mà nó rơi vào xung đột với những sự thực của bản ngã”27. Thế giới bên ngoài tạo ra những giới hạn kinh tế và chính trị, nhưng những nhân tố chủ quan cũng tạo ra giới hạn tương tự đối với chúng ta trong việc thực hiện sự lựa chọn tự do.

Nói rộng ra, chính nội dung của vô thức đã cắt giảm ý chí tự do của bản ngã. Thánh Paul đã thể hiện điều này một cách kinh điển khi ông tự nhận: “Tôi không hiểu những hành động của mình. Vì tôi không làm những gì tôi muốn mà lại làm chính điều tôi ghét... Tôi có thể muốn làm những gì đúng nhưng tôi không thể làm nó”28. Những sức mạnh ma quái xung đột với bản ngã, Jung đồng tình với Thánh Paul: “giống như những hoàn cảnh và những biến cố bên ngoài “xảy đến” và giới hạn tự do của chúng ta thì tự ngã cũng tác động đến bản ngã giống như một sự kiện khách quan mà ý chí tự do chỉ có thể làm được rất ít để biến đổi”29. Khi tâm thần chiếm lĩnh bản ngã như một tất yếu bên trong không thể kiểm soát nổi, bản ngã cảm thấy bị đánh bại và buộc phải đối diện với đòi hỏi chấp nhận sự bất lực trong việc kiểm soát thực tại bên trong giống như nó đã đi đến kết luận như thế về thế giới vật chất và xã hội rộng lớn hơn xung quanh. Đa phần mọi người trong cuộc đời mình nhận ra rằng họ không thể kiểm soát thế giới bên ngoài, nhưng chỉ ít người ý thức được rằng những quá trình tâm lí bên trong cũng không chịu sự kiểm soát của bản ngã.

Với nghiên cứu này chúng ta bắt đầu bước vào lãnh địa của cái vô thức. Trong các chương sau, tôi sẽ mô tả cách nhìn của Jung về những khu vực vô thức của tâm thần con người, tức những khu vực tạo nên phần rộng lớn nhất của lãnh địa này.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.